Hãy phân tích về các hình phạt được áp dụng đối với người chưa thành niên phạm tội và cho ví dụ minh họa. Xuất phát từ đặc điểm riêng biệt của người chưa thành niên – đối tượng chưa phát triển đầy đủ về tâm sinh lí, chưa thể nhận thức đầy đủ về tính chất nguy hiểm cho xã hội của hành vi mình đã thực hiện, do vậy, việc xử lý đối với người chưa thành niên phạm tội có đặc thù riêng, không giống như người đã thành niên phạm tội. Vì vậy, pháp luật đã có những quy định riêng cho người chưa thành niên phạm tội vừa để đảm bảo tính nghiêm minh của pháp luật, vừa bảo vệ hiệu quả người chưa thành niên.
Trang 1MỞ ĐẦU
Xuất phát từ đặc điểm riêng biệt của người chưa thành niên – đối tượng chưa phát triển đầy đủ về tâm sinh lí, chưa thể nhận thức đầy đủ về tính chất nguy hiểm cho xã hội của hành vi mình đã thực hiện, do vậy, việc xử lý đối với người chưa thành niên phạm tội có đặc thù riêng, không giống như người đã thành niên phạm tội Vì vậy, pháp luật đã có những quy định riêng cho người chưa thành niên phạm tội vừa để đảm bảo tính nghiêm minh của pháp luật, vừa bảo vệ hiệu quả người chưa thành niên Trong bài tập học kỳ, em xin trình bày
đề số 6: “Hãy phân tích về các hình phạt được áp dụng đối với người chưa thành niên phạm tội và cho ví dụ minh họa” để làm rõ hơn vấn đề này.
NỘI DUNG I.Khái niệm của người chưa thành niên phạm tội
1 Khái niệm của người chưa thành niên
Trong khoa học xã hội nói chung và khoa học luật hình sự nói riêng có rất nhiều quan điểm khác nhau về khái niệm người chưa thành niên Công ước Quốc
tế và Quyền trẻ em được Đại hội đồng Liên Hiệp Quốc thông qua ngày
20/11/1989, tại Điều 1 quy định: “Trong phạm vi Công ước này, trẻ em có nghĩa
là người dưới 18 tuổi, trừ trường hợp pháp luật áp dụng đối với trẻ em có quy định tuổi thành niên sớm hơn” Một số quy định khác, điển hình như: “Quy tắc
Bắc Kinh” (1985), “Hướng dẫn Riyadh” (1990) … đều có cùng quan điểm người chưa thành niên là những người dưới 18 tuổi Theo pháp luật Việt Nam, Điều 21
Bộ luật dân sự năm 2015 quy định: “Người chưa thành niên là người chưa đủ mười tám tuổi” Bộ luật hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017 thay đổi thuật ngữ “người chưa thành niên” thành “người dưới 18 tuổi”
Từ những phân tích trên, có thể hiểu: “Người chưa thành niên là người dưới 18 tuổi” Người chưa thành niên là người chưa phát triển đầy đủ về thể chất
và tinh thần, cũng như chưa có đầy đủ quyền và nghĩa vụ công dân
Trang 22 Khái niệm người chưa thành niên phạm tội
Bộ luật hình sự năm 2015 quy định chỉ có người chưa thành niên từ đủ 14 tuổi đến dưới 18 tuổi mới phải chịu trách nhiệm hình sự về hành vi phạm tội của
họ gây ra, còn người chưa đủ 14 tuổi trở xuống thì Bộ luật hình sự không quy định họ phải chịu trách nhiệm hình sự
Có thể hiểu: Người chưa thành niên phạm tội là người từ đủ 14 tuổi đến dưới 18 tuổi, có năng lực trách nhiệm hình sự, đã thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội được quy định trong Bộ luật hình sự”.
II Nguyên tắc xử lý đối với người chưa thành niên phạm tội
Các nguyên tắc xử lý đối với người chưa thành niên phạm tội là những tư tưởng chỉ đạo xuyên suốt cho quá trình xây dựng và áp dụng các quy phạm pháp luật hình sự áp dụng cho đối tượng là người chưa thành niên phạm tội trong đó hướng tới mục đích chủ yếu là giáo dục, hướng thiện cho họ, đảm bảo quyền và lợi ích hợp pháp của người chưa thành niên cũng như đảm bảo lợi ích tốt nhất đối với người chưa thành niên
Các nguyên tắc xử lý đối với người chưa thành niên phạm tội được Điều
91 Bộ luật hình sự năm 2015 quy định
Các nguyên tắc này được xây dựng và quy định trong Bộ luật hình sự nước ta trên cơ sở chính sách nhân đạo của Đảng và nhà nước Xuất phát từ những đặc điểm riêng biệt về nhận thức và tâm sinh lí của người chưa thành niên, do vậy, mục đích chủ yếu của việc xử lí hình sự đối với người chưa thành niên phạm tội là giáo dục, giúp đỡ để giúp họ nhận thức được lỗi lầm của mình
và quyết tâm sửa chữa sai lầm, đồng thời bảo đảm lợi ích tốt nhất đối với họ, vì
tương lai của họ Việc xử lý người dưới 18 tuổi phạm tội phải căn cứ vào độ tuổi, khả năng nhận thức của họ về tính chất nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội, nguyên nhân và điều kiện gây ra tội phạm (Khoản 3 Điều 91) Chỉ áp
dụng hình phạt tù có thời hạn đối với người dưới 18 tuổi phạm tội khi xét thấy
Trang 3các hình phạt và biện pháp giáo dục khác không có tác dụng răn đe, phòng ngừa.
Không xử phạt tù chung thân hoặc tử hình đối với người dưới 18 tuổi phạm tội
(Khoản 5 Điều 91)
Khi xử phạt tù có thời hạn, Tòa án cho người dưới 18 tuổi phạm tội được hưởng mức án nhẹ hơn mức án áp dụng đối với người đủ 18 tuổi trở lên phạm tội tương ứng và với thời hạn thích hợp ngắn nhất (Khoản 6 Điều 91) Các hình
phạt áp dụng đối với người chưa thành niên phạm tội cũng nhẹ hơn mức án áp dụng đối với người đủ 18 tuổi trở lên phạm tội tương ứng
III Các hình phạt được áp dụng đối với người chưa thành niên phạm tội
Bộ luật hình sự năm 2015 đã quy định một chương riêng về xử lí hình sự
đối với người chưa thành niên phạm tội Đó là Chương XII - Những quy định đối với người dưới 18 tuổi phạm tội Khi giải quyết vấn đề trách nhiệm hình sự của
người chưa thành niên phạm tội, ngoài việc vận dụng những quy định chung áp dụng cho người đã thành niên phạm tội thì còn phải áp dụng thêm những quy định riêng biệt áp dụng cho đối tượng phạm tội là người chưa thành niên
1 Phạm vi chịu TNHS của người chưa thành niên phạm tội
Người chưa thành niên là người đang trong quá trình phát triển về thể chất, tâm sinh lý, nhận thức về các vấn đề trong xã hội còn hạn chế Ở độ tuổi trạng thái tâm lý của họ thường biểu hiện ra bên ngoài dưới dạng các hành vi như là cố chấp, ngang bướng, dễ gây gổ, xung đột, thích khám phá, dễ bắt chước,
dễ bị kích động, rủ rê, lôi kéo Do vậy, không thể coi người chưa thành niên có trách nhiệm hình sự tương tự như người đã thành niên
Điều 12 Bộ luật hình sự năm 2015 quy định về tuổi chịu trách nhiệm hình sự:
“1 Người từ đủ 16 tuổi trở lên phải chịu trách nhiệm hình sự về mọi tội phạm, trừ những tội phạm mà Bộ luật này có quy định khác.
Trang 42 Người từ đủ 14 tuổi đến dưới 16 tuổi phải chịu trách nhiệm hình sự về tội phạm rất nghiêm trọng, tội phạm đặc biệt nghiêm trọng quy định tại một trong các điều 123, 134, 141, 142, 143, 144, 150, 151, 168, 169, 170, 171, 173,
178, 248, 249, 250, 251, 252, 265, 266, 286, 287, 289, 290, 299, 303 và 304 của
Bộ luật này.”
Từ điều luật này có thể thấy, người dưới 14 tuổi phạm tội thì không phải chịu TNHS Mốc để xác định tuổi bắt đầu chịu trách nhiệm hình sự của người chưa thành niên phạm tội là từ đủ 14 tuổi, tuổi chịu trách nhiệm hình sự đầy đủ của người chưa thành niên phạm tội là từ đủ 16 tuổi đến dưới 18 tuổi
2 Các hình phạt áp dụng với người chưa thành niên phạm tội
Khi xét xử, Tòa án chỉ áp dụng hình phạt đối với người chưa thành niên phạm tội nếu xét thấy việc miễn trách nhiệm hình sự và áp dụng một trong các biện pháp giám sát, giáo dục hoặc việc áp dụng biện pháp tư pháp giáo dục tại trường giáo dưỡng không bảo đảm hiệu quả giáo dục, phòng ngừa
Điều 98 Bộ luật hình sự năm 2015 quy định:
“Người dưới 18 tuổi phạm tội chỉ bị áp dụng một trong các hình phạt sau đây đối với mỗi tội phạm:
1 Cảnh cáo;
2 Phạt tiền;
3 Cải tạo không giam giữ;
4 Tù có thời hạn.”
Đối với người chưa thành niên phạm tội thì Tòa án chỉ có thể áp dụng một trong bốn hình phạt được quy định tại Điều 98 Hình phạt chung thân và tử hình không được áp dụng đối với người chưa thành niên Bởi người chưa thành niên phạm tội có ý thức phạm tội chưa cao, nhận thức còn hạn chế, hơn nữa, họ phạm tội còn do chịu sự ảnh hưởng lớn từ môi trường sống, hoàn cảnh xã hội tiêu cực Điều quan trọng là đối với người chưa thành niên phạm tội, việc xác định hình
Trang 5thức trách nhiệm hình sự phù hợp nhất để đạt được mục đích giáo dục, giúp đỡ người chưa thành niên phạm tội trở thành công dân có ích cho xã hội, đảm bảo lợi ích tốt nhất đối với họ Bộ luật hình sự quy định không áp dụng hình phạt bổ sung đối với người chưa thành niên phạm tội
2.1 Cảnh cáo
Theo Điều 34 Bộ luật hình sự năm 2015: “Cảnh cáo được áp dụng đối với người phạm tội ít nghiêm trọng và có nhiều tình tiết giảm nhẹ, nhưng chưa đến mức miễn hình phạt.”
Đối với những hành vi phạm tội ít nghiêm trọng, mức độ nguy hiểm không cao, căn cứ vào các tình tiết giảm nhẹ và độ tuổi của người chưa thành niên, nhận thức của họ còn chưa đầy đủ thì có thể áp dụng hình phạt cảnh cáo Với tính chất là sự khiển trách công khai của Nhà nước đối với người phạm tội nhằm tác động về mặt tinh thần đối với họ, hình phạt cảnh cáo không có những định lượng nhất định nên không thể giảm nhẹ hay tăng nặng Hình phạt cảnh cáo được Tòa án tuyên một cách công khai tại phòng xét xử, tại thời điểm đó coi như người chưa thành niên đã bị kết án và đã chấp hành xong hình phạt
2.2 Phạt tiền
Điều 99 Bộ luật hình sự năm 2015:
1 Phạt tiền được áp dụng là hình phạt chính đối với người từ đủ 16 tuổi đến dưới 18 tuổi, nếu người đó có thu nhập hoặc có tài sản riêng.
2 Mức tiền phạt đối với người từ đủ 16 tuổi đến dưới 18 tuổi phạm tội không quá một phần hai mức tiền phạt mà điều luật quy định.
Phạt tiền được áp dụng là hình phạt chính đối với người chưa thành niên phạm tội nhằm tước bỏ ở họ khoản tiền nhất định sung quỹ nhà nước Khi áp dụng mức phạt tiền cụ thể nào đó, Tòa án dựa vào tính chất, mức độ nghiêm trọng của tội phạm, tình hình tài chính của người chưa thành niên để kết án nhằm đảm bảo mức hình phạt đó tương xứng với tính chất, mức độ nguy hiểm của
Trang 6hành vi tội phạm, nhân thân người phạm tội, các tình tiết giảm nhẹ, tăng nặng trách nhiệm hình sự và hoàn cảnh của người chưa thành niên phạm tội để đảm bảo tính khả thi của hình phạt
Điều kiện để áp dụng phạt tiền là hình phạt chính đối với người chưa thành niên phạm tội là:
+ Người chưa thành niên phạm tội ở độ tuổi từ đủ 16 tuổi đến dưới 18 tuổi;
+ Người chưa thành niên phạm tội có thu nhập hoặc có tài sản riêng
Bộ luật hình sự quy định chỉ áp dụng hình phạt tiền với người từ đủ 16 tuổi trở lên là để phù hợp với quy định của luật lao động về độ tuổi tham gia hợp đồng lao động (từ đủ 15 tuổi) Tuy nhiên, không phải ai từ đủ 16 tuổi thì đều có tài sản riêng hoặc có thu nhập, nên Bộ luật hình sự còn quy định hình phạt này dựa trên khả năng tài chính của người chưa thành niên Phải có thu nhập hoặc có tài sản riêng hợp pháp thì mới áp dụng hình phạt phạt tiền
Mức phạt tiền đối với người chưa thành niên phạm tội không quá một phần hai mức tiền phạt mà điều luật quy định Quy định giảm nhẹ mức phạt tiền của người chưa thành niên phạm tội so với người đã thành niên phạm tội thể hiện chính sách khoan hồng với người chưa thành niên phạm tội
Ví dụ: A (17 tuổi) phạm tội theo Khoản 1 Điều 191 BLHS năm 2015 về tội tàng trữ, vận chuyển hàng cấm Nếu A thoả mãn hai điều kiện nói trên cũng như quy định khác của Bộ luật hình sự, xét thấy việc tuyên phạt tiền là phù hợp thì Toà án có thể tuyên mức tiền phạt không quá một phần hai của 300 triệu đồng nghĩa là không quá 150 triệu đồng (Khoản 1 Điều 191 quy định mức phạt tiền là
từ 50 triệu đồng đến 300 triệu đồng)
2.3 Cải tạo không giam giữ
Điều 100 Bộ luật hình sự năm 2015 quy định:
Trang 7“1 Hình phạt cải tạo không giam giữ được áp dụng đối với người từ đủ
16 tuổi đến dưới 18 tuổi phạm tội rất nghiêm trọng do vô ý hoặc phạm tội ít nghiêm trọng, phạm tội nghiêm trọng hoặc người từ đủ 14 tuổi đến dưới 16 tuổi phạm tội rất nghiêm trọng.
2 Khi áp dụng hình phạt cải tạo không giam giữ đối với người dưới 18 tuổi phạm tội, thì không khấu trừ thu nhập của người đó.
Thời hạn cải tạo không giam giữ đối với người dưới 18 tuổi phạm tội không quá một phần hai thời hạn mà điều luật quy định.”
Cải tạo không giam giữ áp dụng đối với người chưa thành niên phạm tội nhằm giáo dục, cải tạo họ mà không cần thiết phải cách lí họ khỏi đời sống xã hội Trong thời gian chấp hành hình phạt cải tạo không giam giữ, người chưa thành niên phạm tội phải tuân thủ các quy định của Nhà nước về cải tạo không giam giữ
Hình phạt cải tạo không giam giữ được áp dụng đối với người từ đủ 16 tuổi đến dưới 18 tuổi phạm tội rất nghiêm trọng do vô ý hoặc phạm tội ít nghiêm trọng, phạm tội nghiêm trọng hoặc người từ đủ 14 tuổi đến dưới 16 tuổi phạm tội rất nghiêm trọng
Xuất phát từ chính sách nhân đạo sâu sắc đối với người chưa thành niên phạm tội, Bộ luật hình sự nước ta quy định khi áp dụng cải tạo không giam giữ đối với đối tượng này thì không khấu trừ thu nhập của người đó Người chưa thành niên phạm tội bị áp dụng hình phạt cải tạo không giam giữ thì không khấu trừ vào thu nhập của họ, bởi vì họ còn phụ thuộc vào gia đình, họ chưa có thu nhập cá nhân, nếu có thì thu nhập cũng không đáng kể và không ổn định Vì vậy, nếu khấu trừ thu nhập đối với họ sẽ gây cản trở, khó khăn trong quá trình thi hành án, cũng không đạt được mục đích của hình phạt Thời hạn cải tạo không giam giữ đối với người chưa thành niên phạm tội không quá một phần hai thời hạn mà điều luật quy định
Trang 8Ví dụ: A (17 tuổi) phạm tội cố ý gây thương tích (theo Khoản 1 Điều 134
Bộ luật hình sự năm 2015), A bị toà tuyên phạt cải tạo không giam giữ thì mức hình phạt cao nhất Toà có thể áp dụng đối với A là không quá một phần hai của
3 năm cải tạo không giam giữ nghĩa là không quá 1,5 năm (18 tháng) cải tạo không giam giữ (khoản 1 Điều 134 quy định hình phạt là cải tạo không giam giữ đến 3 năm hoặc bị phạt tù từ 6 tháng đến 3 năm)
2.4 Tù có thời hạn
Trong những loại hình phạt được áp dụng đối với người chưa thành niên phạm tội thì hình phạt tù có thời hạn là hình phạt mang tính cưỡng chế cao nhất nên việc áp dụng hình phạt tù có thời hạn đối với người chưa thành niên phạm tội được quy định rất chặt chẽ tại Điều 101 Bộ luật hình sự năm 2015:
“Mức phạt tù có thời hạn áp dụng đối với người dưới 18 tuổi phạm tội được quy định như sau:
1 Đối với người từ đủ 16 tuổi đến dưới 18 tuổi khi phạm tội, nếu điều luật được áp dụng quy định hình phạt tù chung thân hoặc tử hình, thì mức hình phạt cao nhất được áp dụng không quá 18 năm tù; nếu là tù có thời hạn thì mức hình phạt cao nhất được áp dụng không quá ba phần tư mức phạt tù mà điều luật quy định;
2 Đối với người từ đủ 14 tuổi đến dưới 16 tuổi khi phạm tội, nếu điều luật được áp dụng quy định hình phạt tù chung thân hoặc tử hình, thì mức hình phạt cao nhất được áp dụng không quá 12 năm tù; nếu là tù có thời hạn thì mức hình phạt cao nhất được áp dụng không quá một phần hai mức phạt tù mà điều luật quy định.”
Trong các hình phạt áp dụng đối với người chưa thành niên phạm tội thì tù
có thời hạn là hình phạt nghiêm khắc nhất, vì vậy, Tòa án chỉ áp dụng hình phạt
tù có thời hạn đối với người chưa thành niên phạm tội khi xét thấy các hình phạt
và biện pháp giáo dục khác không có tác dụng răn đe, phòng ngừa Khi xử phạt
Trang 9tù có thời hạn, Tòa án cho người chưa thành niên phạm tội được hưởng mức án nhẹ hơn mức án áp dụng đối với người đủ 18 tuổi trở lên phạm tội tương ứng và với thời hạn thích hợp ngắn nhất
Người chưa thành niên phạm tội bị phạt tù có thời hạn phải cải tạo tại trại giam và tuân thủ các quy định của trại về học tập, lao động, sinh hoạt Để đảm bảo hiệu quả của giáo dục, cải tạo, phạm nhân là người chưa thành niên được giam giữ theo chế độ riêng phù hợp với sức khoẻ, giới tính và đặc điểm nhân thân
Về mức hình phạt tù có thời hạn áp dụng đối với người chưa thành niên phạm tội, Điều 101 Bộ luật hình sự năm 2015 sự quy định không được áp dụng hình phạt chung thân hoặc tử hình
+ Đối với người từ đủ 16 tuổi đến dưới 18 tuổi khi phạm tội, nếu điều luật được áp dụng quy định hình phạt tù chung thân hoặc tử hình, thì mức hình phạt cao nhất được áp dụng không quá mười tám năm tù; nếu là tù có thời hạn thì mức hình phạt cao nhất được áp dụng không quá ba phần tư mức phạt tù mà điều luật quy định
+ Đối với người từ đủ 14 tuổi đến dưới 16 tuổi khi phạm tội, nếu điều luật được áp dụng quy định hình phạt tù chung thân hoặc tử hình, thì mức hình phạt cao nhất được áp dụng không quá mười hai năm tù; nếu là tù có thời hạn thì mức hình phạt cao nhất được áp dụng không quá một phần hai mức phạt tù mà điều luật quy định
Ví dụ 1: A (17 tuổi) phạm tội giết 2 người trở lên (A đã giết 5 người) theo khoản 1 Điều 123 Bộ luật hình sự năm 2015 Hình phạt nặng nhất thoe điều luật
là tử hình, do vậy, mức hình phạt cao nhất Toà án có thể áp dụng với A là 18 năm tù
Ví dụ 2: B (15 tuổi) phạm tội cướp tài sản theo điểm b khoản 3 Điều 168
Bộ luật hình sự năm 2015 Khoản 3 Điều 168 quy định về hình phạt tù có thời
Trang 10hạn có mức cao nhất của khung hình phạt là 20 năm tù Do vậy, mức hình phạt cao nhất Toà án có thể áp dụng đối với B không quá một phần hai của 20 năm tù tức là không quá 10 năm tù
KẾT LUẬN
Người chưa thành niên à người chưa phát triển hoàn thiện về mặt thể chất, tâm sinh lý, chưa có đủ nhận thức về xã hồi và cuộc sống Người chưa thành niên dễ bị các tác nhân xung quanh ảnh hưởng, dễ bị rủ rê lôi kéo và thực hiện hành vi phạm tội Xuất phát từ điều đó việc xem xét trách nhiệm hình sự đối với
họ luôn được Đảng và nhà nước ta đặt trong mối quan hệ với vai trò và trách nhiệm bảo vệ, chăm sóc và giáo dục họ để họ trở thành công dân có ích cho xã hội Chế độ trách nhiệm hình sự đối với người chưa thành niên luôn thể hiện yếu
tố khoan hồng so với người thành niên Việc áp dụng hình phạt đối với họ vì vậy cũng được xác định theo hướng giảm nhẹ Các quy định về hình phạt trong Bộ luật hình sự cần ngày càng hoàn thiện hơn để đảm bảo yêu cầu áp dụng chính xác hình phạt đối với người chưa thành niên phạm tội, góp phần hoàn thiện chính sách pháp luật hình sự đối với họ