1. Trang chủ
  2. » Tất cả

Hình phạt áp dụng đối với người chưa thành niên phạm tội theo quy định của pháp luật hình sự một số nước và kinh nghiệm cho việt nam

101 18 1
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Hình Phạt Áp Dụng Đối Với Người Chưa Thành Niên Phạm Tội Theo Quy Định Của Pháp Luật Hình Sự Một Số Nước Và Kinh Nghiệm Cho Việt Nam
Tác giả Đỗ Thu Uyên
Người hướng dẫn Ths. Phan Thị Phương Hiền
Trường học Trường đại học Luật thành phố Hồ Chí Minh
Chuyên ngành Luật hình sự
Thể loại Báo cáo tốt nghiệp
Năm xuất bản 2022
Thành phố Thành phố Hồ Chí Minh
Định dạng
Số trang 101
Dung lượng 1,96 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Nhận thức được cần có biện pháp xử lý phù hợp hơn với người chưa thành niên phạm tội, có tính đến các đặc điểm về tâm – sinh lý của người phạm tội, Bộ luật Hình sự BLHS Việt Nam qua các

Trang 1

ĐỖ THU UYÊN

HÌNH PHẠT ÁP DỤNG ĐỐI VỚI NGƯỜI CHƯA THÀNH NIÊN

PHẠM TỘI THEO QUY ĐỊNH CỦA PHÁP LUẬT HÌNH SỰ

MỘT SỐ NƯỚC VÀ KINH NGHIỆM CHO VIỆT NAM

KHOÁ LUẬN TỐT NGHIỆP CỬ NHÂN LUẬT

NIÊN KHOÁ: 2018 – 2022 GVHD: THS PHAN THỊ PHƯƠNG HIỀN

THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH – NĂM 2022

Trang 2

ĐỖ THU UYÊN

1853801015254

HÌNH PHẠT ÁP DỤNG ĐỐI VỚI NGƯỜI CHƯA THÀNH NIÊN PHẠM TỘI THEO QUY ĐỊNH CỦA PHÁP LUẬT HÌNH SỰ MỘT SỐ NƯỚC VÀ KINH NGHIỆM CHO VIỆT NAM

KHOÁ LUẬN TỐT NGHIỆP CỬ NHÂN LUẬT

NIÊN KHOÁ: 2018 – 2022

GVHD: THS PHAN THỊ PHƯƠNG HIỀN

Giảng viên khoa Luật Hình sự

THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH – NĂM 2022

Trang 3

CHƯƠNG I NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VÀ QUY ĐỊNH CỦA PHÁP LUẬT HÌNH SỰ VIỆT NAM VỀ

HÌNH PHẠT ĐỐI VỚI NGƯỜI CHƯA THÀNH NIÊN PHẠM TỘI 6

1.1 Những vấn đề lý luận về hình phạt đối với người chưa thành niên phạm tội 6

1.1.1 Khái quát chung về hình phạt 6

1.1.2 Khái niệm về hình phạt đối với người chưa thành niên phạm tội 12

1.2 Quy định hình phạt đối với người chưa thành niên phạm tội trong pháp luật hình sự Việt Nam 17

1.2.1 Quy định hình phạt đối với người chưa thành niên phạm tội trước Cách mạng tháng Tám năm 1945 17 1.2.2 Quy định hình phạt đối với người chưa thành niên phạm tội từ sau Cách mạng tháng Tám năm 1945 đến trước năm 1985 19

1.2.3 Quy định hình phạt đối với người chưa thành niên phạm tội trong Bộ luật hình sự năm 1985 20

CHƯƠNG 2 QUY ĐỊNH HÌNH PHẠT ĐỐI VỚI NGƯỜI CHƯA THÀNH NIÊN PHẠM TỘI TRONG PHÁP LUẬT HÌNH SỰ MỘT SỐ NƯỚC 40

2.1 Hình phạt đối với người chưa thành niên phạm tội theo pháp luật hình sự Liên Bang Nga 40

2.1.1 Khái quát chung về hình phạt đối với người chưa thành niên phạm tội trong pháp luật hình sự Liên Bang Nga 40

2.1.2 So sánh với pháp luật Việt Nam 46

2.2 Hình phạt đối với người chưa thành niên phạm tội theo pháp luật hình sự Cộng hoà Nhân dân Trung Hoa 52

2.2.1 Khái quát chung về hình phạt đối với người chưa thành niên phạm tội trong pháp luật hình sự Cộng hoà Nhân dân Trung Hoa 52

2.2.2 So sánh với pháp luật Việt Nam 58

2.3 Hình phạt đối với người chưa thành niên phạm tội theo pháp luật hình sự Ukraine 62

2.3.1 Khái quát chung về hình phạt đối với người chưa thành niên phạm tội trong pháp luật hình sự Ukraine 62

2.3.2 So sánh với pháp luật Việt Nam 67

CHƯƠNG 3 KINH NGHIỆM CỦA PHÁP LUẬT HÌNH SỰ MỘT SỐ NƯỚC TRÊN THẾ GIỚI VỀ QUY ĐỊNH HÌNH PHẠT ĐỐI VỚI NGƯỜI CHƯA THÀNH NIÊN PHẠM TỘI, THỰC TRẠNG VÀ KIẾN NGHỊ HOÀN THIỆN QUY ĐỊNH CỦA PHÁP LUẬT HÌNH SỰ VIỆT NAM 72

3.1 Thực trạng áp dụng hình phạt đối với người chưa thành niên phạm tội ở Việt Nam 72

3.2 Một số kinh nghiệm về việc quy định hình phạt đối với người chưa thành niên phạm tội từ một số nước trên thế giới 78

3.3 Kiến nghị hoàn thiện quy định của pháp luật thình sự Việt nam về hình phạt đối với người chưa thành niên phạm tội 84

3.3.1 Bổ sung hình phạt áp dụng với người chưa thành niên phạm tội 84

Trang 4

DANH MỤC THAM KHẢO 92

Trang 5

Th.S Phan Thị Phương Hiền Các nội dung, thông tin được trình bày trong Khoá luận là trung thực

Tôi xin chịu hoàn toàn trách nhiệm về lời cam đoan trên của mình

Thành phố Hồ Chí Minh, ngày tháng năm 2022

Sinh Viên

Đỗ Thu Uyên

Trang 7

Một trong những vấn đề cần phải chú ý là hiện tượng trẻ hóa tội phạm diễn ra ở Việt Nam Trong những năm gần đây, tỷ lệ trẻ dưới 18 tuổi phạm tội đang ngày một tăng

so với những năm trước đây Theo thống kê gần nhất của Bộ Công an, tỷ lệ gây án ở tuổi

vị thành niên trên địa bàn cả nước là 5,2% đối với người dưới 14 tuổi, 24,5% đối với người từ 14 tuổi đến dưới 16 tuổi và 70,3% đối với người từ 16 đến dưới 18 tuổi Không những tuổi của chủ thể phạm tội có xu hướng trẻ hoá mà hành vi của nhóm tội phạm này cũng ngày càng hung hăng, nguy hiểm hơn

Người chưa đủ tuổi vị thành niên thực hiện hành vi phạm tội ngày một tăng nhưng các hình phạt áp dụng xử lý đối tượng tội phạm này vẫn còn nhiều bất cập, chưa giải quyết thỏa đáng dẫn đến nhiều vấn đề nhức nhối trong xã hội Nhận thức được cần có biện pháp xử lý phù hợp hơn với người chưa thành niên phạm tội, có tính đến các đặc điểm về tâm – sinh lý của người phạm tội, Bộ luật Hình sự (BLHS) Việt Nam qua các thời kỳ nói chung và BLHS hiện hành nói riêng đều xây một chương riêng, những chính sách riêng có phần khoan hồng hơn để quy định hình phạt đối với người chưa thành niên phạm tội Hiện nay BLHS năm 2015 quy định hình phạt đối với người chưa thành niên

phạm tội tại Chương XII – Những quy định đối với người dưới 18 tuổi phạm tội, từ Điều

98 đến Điều 101

Trong quá trình áp dụng các quy định pháp luật về hình phạt đối với người chưa thành niên phạm tội, mặc dù có những tìn hiệu tích cực song vẫn còn tồn đọng nhiều bất cập, hạn chế Chẳng hạn như nguyên tắc hạn chế tối đa việc áp dụng các hình phạt hạn chế tự do đối với người chưa thành niên nhưng trên thực tế mặc dù hình phạt đối với người chưa thành niên có 04 loại hình phải: cảnh cáo, phạt tiền, cải tạo không giam giữ,

tù có thời hạn, thì chỉ có 01 hình phạt phạt tù có thời hạn là hạn chế tự do của người phạm tội nhưng tỉ lệ người chưa thành niên bị kết án này lại chiếm tỉ trọng rất cao Nguyên nhân dẫn đến vấn đề này là do các quy định về điều kiện áp dụng hình phạt không tước tự do chưa thật sự hợp lý, và hệ thống hình phạt với người chưa thành niên còn thiếu sự đa dạng

Trang 8

Để hoàn thiện hơn hệ thống hình phạt áp dụng đối với người chưa thành niên phạm tội ở Việt Nam trong khuôn khổ phát triển, hội nhập với hệ thống pháp luật của các nước tiên tiến trên thế giới chúng ta cần phải tìm hiểu, nghiên cứu và tự rút ra những bài học kinh nghiệm quý báu cho hệ thống hình phạt nước nhà bằng cách tiếp thu có chọn lọc những kinh nghiệm, điểm tiến bộ trong lập pháp của các nước bạn

Vì những lẽ trên, tác giả đã lựa chọn đề tài “Hình phạt áp dụng đối với người

chưa thành niên phạm tội theo quy định của pháp luật hình sự một số nước và kinh nghiệm cho Việt Nam” làm đề tài Khoá luận tốt nghiệp cử nhân Luật của mình

2 Tình hình nghiên cứu

Hình phạt áp dụng với người chưa thành niên phạm tội là một đề tài nhận được

sự quan tâm và nghiên cứu của nhiều tác giả, có nhiều công trình đã nghiên cứu đề tài này:

Về giáo trình, sách chuyên khảo: Giáo trình Luật Hình sự Việt Nam (Phần chung),

Trường Đại học Luật Thành phố Hồ Chí Minh, NXB, Hồng Đức – Hội Luật gia Việt Nam, 2019, Giáo trình Luật Hình sự Việt Nam (Phần chung), Trường Đại học Luật Hà Nội, Nxb Công an nhân dân, 2019; Trần Quang Vinh - Vũ Thị Thúy – Luật Hình sự Việt Nam, Nxb Đại học quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh, 2018; Lê Trung Kiên – Hệ thống hình phạt trong Luật hình sựViệt Nam và Trung Hoa, Nxb Tư pháp, 2018,…

Về luận án tiến sĩ: Lương Ngọc Trâm – Quyết định hình phạt đối với người chưa

thành niên phạm tội ở Thành phố Hồ Chí Minh, Luận án Tiến sĩ Luật học, Học viện Khoa học xã hội, Hà Nội năm 2017,…

Về luận văn thạc sĩ: Lưu Ngọc Cảnh – Các hình phạt và biện pháp tư pháp áp

dụng đối với người chưa thành niên phạm tội theo luật hình sự Việt Nam (trên cơ sở nghiên cứu số liệu thực tiễn địa bàn Thành phố Hà Nội), Luận văn Thạc sĩ Luật học, Trường Đại học quốc gia Hà Nội năm 2010; Trần Thị Ngọc Thu – Hình phạt đối với người chưa thành niên phạm tội theo pháp luật hình sự Việt Nam từ thực tiễn Thành phố

Hà Nội, Luận văn Thạc sĩ Luật học, Học viện Khoa học xã hội, Hà Nội năm 2017; Nguyễn Thanh Vũ – Quyết định hình phạt đối với người chưa thành niên phạm tội theo luật hình sự Việt Nam (trên cơ sở số liệu thực tiễn địa bàn tỉnh Đắk Lắk), Luận văn Thạc

sĩ Luật học, Trường Đại học quốc gia Hà Nội năm 2015,

Về khóa luận tốt nghiệp cử nhân luật: Hồ Thị Thùy Trang – Quyết định hình phạt

đối với người dưới 18 tuổi phạm tội trong Bộ luật Hình sự 2015, Khóa luận tốt nghiệp

cử nhân luật, Trường Đại học Luật Thành phố Hồ Chí Minh năm 2017; Võ Ngọc Oanh, Hình phạt đối với người chưa thành niên phạm tội theo quy định của pháp luật hình sự

một số nước và kinh nghiệm cho Việt Nam, Khoá luận tốt nghiệp cử nhân Luật, TP Hồ

Chí Minh 2021

Trang 9

Về bài báo, tạp chí: Trần Văn Dũng – Quyết định hình phạt đối với người chưa

thành niên phạm tội,Tạp chí Tòa án dân dân, số10/2003; Lê Cảm, Đỗ Thị Phượng – Tư pháp hình sự đối với người chưa thành niên phạm tội: những khía cạnh pháp lý hình sự,

tố tụng hình sự, tội phạm học và so sánh luật học, Tạp chí Tòa án nhân dân, số20/2004; Phạm Văn Báu – So sánh quy định về hệ thống hình phạt trong luật hình sự Việt Nam

và luật hình sự Trung Hoa,Tạp chí Luật học, số 08/2013,

Các công trình nghiên cứu nói cho thấy một cách tổng quát những khía cạnh liên quan đến quy định pháp luật về hình phạt áp dụng đối với người chưa thành niên phạm tội Tuy nhiên, công trình đề cập một cách tương đối có hệ thống, đồng bộ và toàn diện

về các hình phạt áp dụng với người chưa thành niên phạm tội theo quy định của BLHS năm 2015 trên cơ sở tham khảo, so sánh kinh nghiệm pháp luật nước ngoài, hiện chỉ

có Khoá luận tốt nghiệp cử nhân Luật của tác giả Võ Ngọc Oanh về “Hình phạt đối với

người chưa thành niên phạm tội theo quy định của pháp luật hình sự một số nước và kinh nghiệm cho Việt Nam”

BLHS năm 2015 đã thi hành được 04 năm, từ thực tiễn áp dụng cho thấy một số vấn đề và chỉ mới có 01 công trình nghiên cứu về vấn đề hình phạt áp dụng đối với người chưa thành niên phạm tội dựa trên việc so sánh đối chiếu pháp luật của các nước khác,

vì vậy tác giả chọn đề tài này để góp phần làm rõ hơn những quy định về hình phạt áp dụng với người chưa thành niên phạm tội của pháp luật hình sự một số nước trên thế giới trong sự tương quan so sánh với pháp luật hình sự Việt Nam, từ đó đưa ra những kiến nghị, đề xuất khả thi góp phần hoàn thiện hệ thống hình phạt của Việt Nam nói chung

và hệ thống hình phạt áp dụng với người chưa thành niên phạm tội nói riêng

3 Mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu của đề tài

Mục đích nghiên cứu của Khóa luận là thông qua nghiên cứu quy định của BLHS một số nước trên thế giới về hình phạt áp dụng với người chưa thành niên phạm tội từ

đó rút ra kinh nghiệm để hoàn thiện hệ thống hình phạt cho pháp luật hình sự Việt Nam

Để đạt được mục đích nghiên cứu, Khoá luận xác định các nhiệm vụ sau:

- Làm rõ các vấn đề lý luận về người chưa thành niên, người chưa thành niên phạm tội, mục đích của hình phạt và hệ thống hình phạt áp dụng với người chưa thành niên phạm tội

- Nghiên cứu khái quát quy định, chính sách áp dụng đối với người chưa thành,

hệ thống hình phạt đối với người chưa thành niên trong lịch sử lập pháp của Việt Nam

- Nghiên cứu, phân tích các quy định của BLHS Liên Bang Nga, Cộng hoà nhân dân Trung Hoa và Ukraine về khái niệm người chưa thành niên phạm tội, hình phạt đối với người chưa thành niên phạm tội từ đó chỉ ra những điểm tương đồng, khác biệt so với BLHS Việt Nam hiện hành

Trang 10

- Khái quát thực trạng về áp dụng hình phạt đối với người chưa thành niên phạm tội tại Việt Nam hiện nay và chỉ ra những điểm bất cập, hạn chế còn tồn đọng

- Đề xuất kiến nghị, giải pháp hoàn thiện quy định hình phạt áp dụng đối với người chưa thành niên tại Việt Nam trên cơ sở những kinh nghiệm của Liên Bang Nga, Cộng hoà nhân dân Trung Hoa và Ukraine

4 Đối tượng, phạm vi nghiên cứu của đề tài

¨ Đối tượng nghiên cứu

Quy định về hình phạt áp dụng đối với người chưa thành niên phạm tội trong pháp luật hình sự Việt Nam và các nước: Liên Bang Nga, Cộng hoà nhân dân Trung Hoa và Ukraine

¨ Phạm vi nghiên cứu

- Về nội dung: Đề tài nghiên cứu những vấn đề lý luận về hình phạt áp dụng đối với người chưa thành niên phạm tội; quy định về hình phạt áp dụng đối với người chưa thành niên phạm tội ởViệt Nam và các nước: Liên Bang Nga, Cộng hoà nhân dân Trung Hoa và Ukraine; thực tiễn và những bất cập trong quá trình áp dụng pháp luật đối với người chưa thành niên ở Việt Nam

- Về thực tiễn: Đề tài nghiên cứu thực tiễn áp dụng quy định về hình phạt đối với người chưa thành niên phạm tội ở Việt Nam trong giai đoạn từ năm 2006 đến năm 2021 trên phạm vi cả nước

5 Phương pháp nghiên cứu

- Phương pháp phân tích và tổng hợp được sử dụng để làm sáng tỏ các quy định

về hình phạt áp dụng với người chưa thành niên phạm tội trong pháp luật hình sự Việt Nam và một số nước; những bất cập, vướng mắc về áp dụng hình phạt với người chưa thành niên phạm tội ở Việt Nam và đề ra phương án hoàn thiện pháp luật

- Phương pháp so sánh được sử dụng để phân tích những điểm tương đồng và khác biệt trong quy định về hình phạt áp dụng đối với người chưa thành niên phạm tội của BLHS Việt Nam với các quốc gia khác

- Phương pháp thống kê được sử dụng để xác định tình hình tội phạm và thực tiễn

áp dụng hình phạt của Tòa án đối với người chưa thành niên phạm tội

- Phương pháp lịch sử được sử dụng để khái quát quy định hình phạt áp dụng đối với người chưa thành niên phạm tội ở Việt Nam từ trước Cách mạng tháng Tám cho đến nay

6 Ý nghĩa khoa học và giá trị ứng dụng của đề tài

Trang 11

Khoá luận làm rõ hơn những vấn đề về lý luận liên quan đến khái niệm người chưa thành niên, người chưa thành niên phạm tội, hệ thống hình phạt đối với người chưa thành niên phạm tội ở Việt Nam qua các thời kỳ dựa trên cơ sở phân tích các Văn bản pháp luật của Liên Hợp Quốc, các Công ước Quốc tế và pháp luật Việt Nam từ trước Cách mạng tháng Tám đến nay Trong đó đặc biệt chú trọng vào các vấn đề về hệ thống hình phạt, khái niệm, đặc điểm, mục đích của hình phạt đối với NCTNPT theo BLHS năm 2015, BLHS năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017 Khóa luận còn là tài liệu tham khảo cho những nhà nghiên cứu, sinh viên và những người quan tâm đến hình phạt áp dụng đối với người chưa thành niên phạm tội

Đối với hoạt động thực tiễn: Khóa luận góp phần nâng cao nhận thức của người

có thẩm quyền trong hoạt động thực tiễn áp dụng pháp luật trong việc áp dụng hình phạt đối với người chưa thành niên phạm tội

Đối với hoạt động lập pháp: tác giả hi vọng những sửa đổi, bổ sung của tác giả

sẽ góp một phần vào việc hoàn thiện quy định pháp luật, nâng cao hiệu quả thực thi của hình phạt áp dụng đối với người chưa thành niên phạm tội trong thực tiễn, đóng góp cho

sự nghiệp đấu tranh phòng, chống tội phạm chưa thành niên cũng như công tác giáo dục, cải tạo người chưa thành niên phạm tội ở nước ta hiện nay

7 Kết cấu của Khoá luận

Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo và phụ lục, nội dung Khóa luận gồm có ba chương:

Chương 1 Những vấn đề lý luận và quy định của pháp luật hình sự Việt Nam về hình phạt đối với người chưa thành niên phạm tội

Chương 2 Quy định hình phạt đối với người chưa thành niên phạm tội trong pháp luật hình sự một số nước

Chương 3 Kinh nghiệm của pháp luật hình sự một số nước trên thế giới về quy định hình phạt đối với người chưa thành niên phạm tội, thực trạng và kiến nghị hoàn

thiện quy định của pháp luật hình sự Việt Nam

Trang 12

CHƯƠNG I NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VÀ QUY ĐỊNH CỦA PHÁP LUẬT HÌNH SỰ VIỆT NAM VỀ HÌNH PHẠT ĐỐI VỚI NGƯỜI CHƯA THÀNH NIÊN

PHẠM TỘI 1.1 Những vấn đề lý luận về hình phạt đối với người chưa thành niên phạm tội

1.1.1 Khái quát chung về hình phạt

1.1.1.1 Khái niệm hình phạt

¨ Định nghĩa hình phạt

Hình phạt là một hình thức chủ yếu của TNHS, là một trong những chế định cơ bản của luật hình sự, để định nghĩa chính xác khái niệm của hình phạt cần đặt vào mối quan hệ giữa Nhà nước - Tội phạm – Hình phạt Khi có tội phạm xuất hiện Nhà nước sẽ quy định những biện pháp cưỡng chế để trừng trị, răn đe và phòng ngừa người phạm tội Những biện pháp này chính là hình phạt

Theo định nghĩa của Từ điển Tiếng Việt, hình phạt là “hình thức trừng trị người

phạm tội phải chịu”.1 Còn theo định nghĩa của Từ điển Luật học, hình phạt được hiểu là

“biện pháp cưỡng chế do nhà nước quy định trong luật hình sự, đã được toà án áp dụng

cho người đã thực hiện tội phạm”.2

Theo quy định tại Điều 30 của Bộ luật Hình sự hiện hành, hình phạt được định

nghĩa là “biện pháp cưỡng chế nghiêm khắc nhất của Nhà nước được quy định trong Bộ

luật này, do Tòa án quyết định áp dụng đối với người hoặc pháp nhân thương mại phạm tội nhằm tước bỏ hoặc hạn chế quyền, lợi ích của người, pháp nhân thương mại đó”

¨ Đặc điểm của hình phạt

Dựa theo khái niệm được quy định ở Bộ luật Hình sự hiện hành, hình phạt có bốn đặc điểm sau:

Một là, hình phạt là biện pháp cưỡng chế nghiêm khắc nhất của Nhà nước Hình

phạt là công cụ của Nhà nước sử dụng để phòng chống tội phạm, bảo vệ lợi ích hợp pháp của công dân và lợi ích của Nhà nước Hình phạt mang tính cưỡng chế nghiêm khắc nhất xuất phát từ mối quan hệ giữa tính nguy hiểm cho xã hội của vi phạm pháp luật và tính nghiêm khắc của biện pháp cưỡng chế cần áp dụng đối với hành vi phạm tội Tội phạm

là hành vi của người phạm tội mang đến một mức độ nguy hiểm nhất định cho xã hội vì thế Nhà nước cần phải có những biện pháp nghiêm khắc tương ứng để phòng ngừa, ngăn

1 Hoàng Phê (1988), Từ điển Tiếng Việt, NXB Từ điển Bách Khoa, Hà Nội

2 Bộ Tư Pháp – Việc Khoa học Pháp lý (2016), Từ điển Luật học, NXB Từ điển Bách Khoa

Trang 13

chặn thậm chí là loại bỏ người phạm tội khỏi xã hội Chính tính nghiêm khắc cao mới tạo nên sự răn đe của hình phạt so với các loại biện pháp khác

Một cá nhân phạm tội Toà án thể bị áp dụng các hình phạt khác nhau từ nhẹ đến nặng như cảnh cáo, phạt tiền, hay bị áp dụng một số hình phạt hạn chế quyền tự do như cải tạo không giam giữ, trục xuất, tù có thời hạn, tù chung thân, và nghiêm khắc nhất đó

là hình phạt tước bỏ quyền được sống của công dân - tử hình Khi một pháp nhân thương mại phạm tội có thể bị phạt tiền, bị đình chỉ hoạt động có thời hạn hay thậm chí là đình chỉ hoạt động vĩnh viễn

Ngoài các hình phạt chính, tội phạm có thể chịu thêm các hình phạt bổ sung theo quy định của pháp luật Chính tính chất có thể hạn chế hoặc tước bỏ các quyền nhân thân, quyền tự do, quyền được sống của tội phạm đã hình thành nên đặc điểm về tính cưỡng chế nghiêm khắc nhất của Nhà nước

Hai là, hình phạt là biện pháp cưỡng chế được quy định trong Bộ luật hình sự

Đặc điểm này xuất phát từ tính trừng trị của hình phạt, vì mang tính trừng trị nghiêm khắc nhất trong hệ thống hình phạt nên việc áp dụng hình phạt sẽ ảnh hưởng trực tiếp đến quyền và lợi ích của người bị kết án Chính vì vậy Nhà nước cần quy định các hình phạt trong BLHS để đảm bảo việc áp dụng hình phạt với cá nhân và pháp nhân thương mại phạm tội đúng với những chỉ định chặt chẽ của pháp luật, tránh sự lạm quyền gây thiệt hại đến lợi ích chính đáng của người phạm tội Bên cạnh đó việc quy định cụ thể,

rõ ràng là một sự bảo đảm cho hình phạt phải có mức độ nghiêm khắc vừa đủ để thực hiện chức năng là công cụ quyền lực Nhà nước trong đấu tranh phòng chống tội phạm Ngoài ra việc quy định trong BLHS thể hiện dấu hiệu hình thức của hình phạt, cho phép phân biệt hình phạt với những biện pháp khác của Nhà nước

Hình phạt được quy định ở cả Phần chung và Phần các tội phạm Đối với Phần chung, BLHS quy định những vấn đề mang tính nguyên tắc khái quát, nguyên tắc chung liên quan đến hình phạt như khái niệm hình phạt, mục đích hình phạt, hệ thống hình phạt,

cụ thể: các hình phạt áp dụng đối với người phạm tội (Điều 32 BLHS 2015), hình phạt đối với pháp nhân thương mại (Điều 33 BLHS 2015), quy định cụ thể về hình phạt Cảnh cáo (Điều 34 BLHS năm 2015), Phạt tiền (Điều 35 BLHS năm 2015), Cải tạo không giam giữ (Điều 36 BLHS năm 2015), Trục xuất (Điều 37 BLHS năm 2015), Tù có thời hạn (Điều 38 BLHS năm 2015), Tù chung thân (Điều 39 BLHS năm 2015), Tử hình (Điều 40 BLHS năm 2015), Cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định (Điều 41 BLHS năm 2015), Cấm cư trú (Điều 42 BLHS năm 2015), Quản chế (Điều 43 BLHS năm 2015), Tước một số quyền công dân (Điều 44 BLHS năm 2015), Tịch thu tài sản (Điều 45 BLHS năm 2015), căn cứ quyết định hình phạt (Điều 50, Điều

83 BLHS 2015) Đối với Phần các tội phạm, BLHS đi sâu vào quy định về loại và mức hình phạt đối với các tội phạm cụ thể dưới hình thức chế tài Để áp dụng hình phạt thì tội phạm phải thoả mãn đủ bốn yếu tố cấu thành tội phạm: khách thể, chủ thể, mặt khách

Trang 14

quan, mặt chủ quan khung hình phạt, từ đó đưa ra mức hình phạt của từng loại tội phạm

cụ thể

Khách thể của tội phạm là quan hệ xã hội được luật Hình sự bảo vệ bị tội phạm xâm phạm hoặc đe doạ xâm phạm gây ra các hậu quả nguy hiểm cho xã hội Chủ thể của tội phạm là cá nhân có năng lực trách nhiệm hình sự hoặc pháp nhân thương mại có những điều kiện nhất định đã thực hiện hành vi xâm phạm đến khách thể của tội phạm Mặt khách quan là những biểu hiện bên ngoài của tội phạm bao gồm những biểu hiện của tội phạm diễn ra hoặc tồn tại bên ngoài thế giới khách quan Mặt khách quan phải thoả đủ ba điều kiện: hành vi khách quan, hậu quả, mối quan hệ nhân quả giữa hành vi nguy hiểm và hậu quả Mặt chủ quan của tội phạm là những biểu hiện về mặt tâm lý bên trong của người phạm tội hoặc pháp nhân thương mại khi thực hiện hành vi phạm tội, bao gồm: lỗi, động cơ, mục đích phạm tội

Với định nghĩa được nêu ở Điều 30 BLHS 2015, hình phạt chỉ được áp dụng đối với những tội phạm được quy định trong BLHS và chỉ được áp dụng những loại hình phạt mà BLHS quy định đối với từng tội phạm cụ thể

Ba là, hình phạt do Toà án áp dụng Theo quy định tại khoản 1 Điều 102 Hiến

pháp năm 2013 quy định “Toà án nhân dân là cơ quan xét xử của nước Cộng hoà xã hội

chủ nghĩa Việt Nam, thực hiện quyền tư pháp”, khoản 3 Điều 102 Hiến pháp năm 2013

“Toà án nhân dân có nhiệm vụ bảo vệ công lý, bảo vệ quyền con người, quyền công dân, bảo vệ chế độ xã hội chủ nghĩa, bảo vệ lợi ích của Nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân”

Khoản 2 Điều 2 Luật Tổ chức Toà án nhân dân năm 2014 quy định nhiệm vụ của

Toà án:“Toà án nhân danh nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam xét xử các vụ án

hình sự, dân sự, hôn nhân và gia đình, kinh doanh, thương mại, lao động, hành chính và giải quyết các việc khác theo quy định của pháp luật”

Như vậy, theo quy định của Hiến pháp và các văn bản pháp luật khác có thể thấy Toà án là cơ quan duy nhất có quyền nhân danh nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam xét xử và áp dụng các hình phạt đối với tội phạm

Bốn là, hình phạt chỉ áp dụng với người hoặc pháp nhân thương mại phạm tội

Hình phạt được xây dựng với ý nghĩa là một công cụ quyền lực của Nhà nước dùng để đấu tranh chống tội phạm và nhiệm vụ chính của hình phạt là bảo vệ những quan hệ xã hội quan trọng, để thực hiện được nhiệm vụ đó hình phạt phải hướng trực tiếp đến người phạm tội, pháp nhân thương mại phạm tội để họ có thể được cải tạo, giáo dục trở thành người lương thiện, có ý thức tuân thủ pháp luật và các quy tắc của cuộc sống xã hội chủ nghĩa Với đặc điểm này, hình phạt chỉ có thể áp dụng đối với người hoặc pháp nhân thương mại bị Toà án tuyên là có tội và bản án đã có hiệu lực pháp luật, những hình phạt

áp dụng chỉ áp dụng đối với tội phạm, không mang tính “di truyền” sang gia đình, người thân trong trường hợp tội phạm bỏ trốn hoặc không thực hiện được nghĩa vụ, trừ một số

Trang 15

trường hợp đặc thù Hình phạt không được áp dụng đối với người thân của tội phạm cũng như pháp luật Việt Nam không cho phép cá nhân chấp hành hình phạt thay cho người hoặc pháp nhân thương mại khác, kể cả đó là sự tự nguyện

Nguyên tắc của pháp luật hình sự Việt Nam hiện nay là “đúng người đúng tội”

nên không cho phép việc chấp hành thay hay việc một cá nhân phạm tội sẽ ảnh hưởng đến các cá nhân khác

¨ Mục đích của hình phạt

Điều 31 BLHS năm 2015 quy định mục đích hình phạt là “Hình phạt không chỉ

nhằm trừng trị người, pháp nhân thương mại phạm tội mà còn giáo dục họ ý thức tuân theo pháp luật và các quy tắc của cuộc sống, ngăn ngừa họ phạm tội mới; giáo dục người, pháp nhân thương mại khác tôn trọng pháp luật, phòng ngừa và đấu tranh chống tội phạm.”

Mục đích là kết quả mong muốn nhận được khi đề ra biện pháp, hình phạt có vai trò là một trong những biện pháp cưỡng chế của Nhà nước Nên có thể hiểu rằng mục đích của hình phạt chính là đạt được một kết quả nhất định trong việc đấu tranh phòng, chống tội phạm Hay nói cách khác mục đích của hình phạt là kết quả cuối cùng mà Nhà nước mong muốn đạt được khi quy định hình phạt đối với tội phạm và áp dụng hình phạt đối với người phạm tội, pháp nhân thương mại phạm tội.3

Tuy nhiên, hiện nay vẫn còn nhiều luồng quan điểm xoay quanh về vấn đề mục đích chủ yếu của hình phạt là trừng trị hay cải tạo giáo dục người phạm tội, hay thiết lập lại công bằng xã hội

Quan điểm thứ nhất cho rằng, hình phạt có mục đích trừng trị nhưng đồng thời

vẫn mang tính giáo dục, cải tạo người phạm tội Trừng trị vừa là mục đích vừa là phương tiện để cải tạo, giáo dục người phạm tội Người phạm tội là người đã thực hiện hành vi

có tính nguy hiểm cao cho xã hội nên cần áp dụng những biện pháp có tính cưỡng chế mạnh để trừng trị họ, để họ hiểu được những tổn thất về thể chất và tinh thần mà họ đã gây ra cho người khác, từ đó có thể sửa chữa, khắc phục Với quan điểm này, Nhà nước cần phải quy định và áp dụng một mức hình phạt có tính nghiêm khắc tương xứng với hậu quả quả mà người phạm tội gây ra.4

Quan điểm thứ hai cho rằng, hình phạt không có mục đích trừng trị mà chỉ mang

mục đích cải tạo, giáo dục người phạm tội và phòng ngừa tội phạm Cesar Beccaria -

nhà tội phạm học, nhà luật học, nhà triết học, chính trị gia người Ý - cho rằng: mục đích

của hình phạt không phải là hành hạ và tra tấn con người mà là ngăn cản người phạm

3 Trường Đại học Luật TP Hồ Chí Minh, Giáo trình Luật Hình sự Việt Nam - Phần chung, NXB Hồng Đức - Hội Luật gia Việt Nam,, năm 2019, tr.262

4 Vũ Thị Thuý, Bàn về mục đích của hình phạt tử hình trong Luật hình sự Việt Nam, Tạp chí Khoa học Pháp lý

Việt Nam, 04 (47)/2008, tr 20 – 28

Trang 16

tội thực hiện tội phạm và kiềm giữ những người khác tránh thực hiện tội phạm Với quan

điểm này Nhà nước chỉ cần quy định và áp dụng một mức hình phạt không cần quá nghiêm khắc mà chỉ cần mang tính răn đe tội phạm có thể cải tạo lại lần nữa thành người

có ích.5

Quan điểm thứ ba cho rằng, mục đích chính của hình phạt là lập lại công bằng xã

hội, còn trừng trị và cải tạo, giáo dục chỉ là nội dung của hình phạt Luồng quan điểm này cho rằng xã hội được vận hành theo quy luật công bằng, người có tội bị phạt và người có công sẽ được hưởng, hình phạt được tạo ra nhằm mục đích chính là phạt những người có tội, giúp cán cân công bằng được duy trì ổn định Với quan điểm này Nhà nước phải quy định và áp dụng hình phạt sao cho vừa cải tạo giáo dục người được phạm tội trở thành người có ích cho xã hội, đồng thời phải giáo dục mọi người ý thức tuân theo pháp luật và các quy tắc của cuộc sống, từ đó xây dựng một xã hội công bằng.6

Tác giả đồng tình với quan điểm thứ nhất – quan điểm cho rằng hình phạt vừa có mục đích trừng vừa có mục đích cải tạo, giáo dục người phạm tội Bởi lẽ trừng trị vừa là mục đích vừa chính là phương tiện, là tiền đề để cải tạo, giáo dục người phạm tội Quan điểm này rất phù hợp với quy định của PLHS Việt Nam hiện hành về mục đích của hình phạt, BLHS năm 2015 đã chỉ ra rõ ràng mục đích của hình phạt dưới góc độ của Nhà nước là “Hình phạt không chỉ nhằm trừng trị người, pháp nhân thương mại phạm tội mà còn giáo dục ”

Điều 31 BLHS 2015 quy định về mục đích của hình phạt: “Hình phạt không chỉ

nhằm trừng trị người, pháp nhân thương mại phạm tội mà còn giáo dục họ ý thức tuân theo pháp luật và các quy tắc của cuộc sống, ngăn ngừa họ phạm tội mới; giáo dục người, pháp nhân thương mại khác tôn trọng pháp luật, phòng ngừa và đấu tranh chống tội phạm” Dựa theo điều này có thể thấy Nhà nước quy định hình phạt với hai mục đích

chính là (1) mục đích phòng ngừa riêng và (2) mục đích phòng ngừa chung

(1) Mục đích phòng ngừa riêng

“Hình phạt trước hết thể hiện sự lên án, sự phạt của Nhà nước, của xã hội đối với người phạm tội Nhưng đó không phải là sự lên án, sự phạt đơn thuần mà là biện pháp đặc biệt để răn đe (răn đe bằng tác động cưỡng chế nhà nước) để giáo dục, cải tạo (giáo dục, cải tạo bằng tác động cưỡng chế nhà nước) người bị kết án, ngăn ngừa họ phạm tội lại Hình phạt cũng còn là biện pháp đặc biệt để hạn chế (có thể đến loại trừ) điều kiện phạm tội lại của người bị kết án”

Mục đích phòng ngừa riêng được thể hiện chủ yếu ở hình phạt áp dụng đối với chính người phạm tội hoặc pháp nhân thương mại phạm tội, bằng việc áp dụng các hình

5 Vũ Thị Thuý, Bàn về mục đích của hình phạt tử hình trong Luật hình sự Việt Nam, Tạp chí Khoa học Pháp lý

Việt Nam, 04 (47)/2008, tr 20 – 28

6 Vũ Thị Thuý, Bàn về mục đích của hình phạt tử hình trong Luật hình sự Việt Nam, Tạp chí Khoa học Pháp lý

Việt Nam, 04 (47)/2008, tr 20 – 28

Trang 17

phạt Nhà nước sẽ tước bỏ hoặc hạn chế một số quyền và lợi ích hợp pháp của tội phạm theo quy định của pháp luật hình sự Trừng trị và giáo dục người hoặc pháp nhân thương mại phạm tội hướng tới ngăn ngừa phạm tội là hai mục đích tồn tại song song và có mối quan hệ biện chứng với nhau, chỉ có cách áp dụng hình phạt công minh, đúng người đúng tội mới có thể giúp đạt được mục đích cuối cùng mà nhà làm luật mong muốn khi

áp dụng hình phạt

(2) Mục đích phòng ngừa chung

Phòng ngừa chung thể hiện ở mục đích ngăn ngừa người khác phạm tội Khi áp dụng hình phạt đối với tội phạm, trong một số trường hợp đặc thù việc áp dụng hình phạt không chỉ tác động trực tiếp đối với người bị kết án mà nó còn gián tiếp tác động tâm lý của những người thân trong gia đình tội phạm, đến tâm lý xã hội Bằng mục đích phòng ngừa chung, nhà làm luật mong muốn tác động đến những cá nhân, pháp nhân đang có

ý định phạm tội trong cuộc sống thường nhật nhìn thấy được những hậu quả nếu vi phạm pháp luật gây ra, từ đó răn đe, ngăn ngừa ý định phạm tội của họ

Để đạt được mục đích phòng ngừa chung của hình phạt, Nhà nước cần nhất quán trong việc ban hành các biện pháp tuyên truyền, giáo dục pháp luật và nâng cao ý thức chấp hành pháp luật của cộng đồng

1.1.1.2 Khái niệm hệ thống hình phạt

Luật hình sự mỗi nước đều có nhiều loại hình phạt khác nhau và tuỳ thuộc vào giai đoạn, chế độ chính trị, tình hình xã hội và mục đích Nhà nước muốn đạt được trong thời gian đó mà Nhà nước sẽ ban hành, thay đổi những loại hình phạt khác nhau cho những tội danh khác nhau

Khi quy định hệ thống hình phạt, nhà làm luật không chỉ liệt kê các hình phạt mà bên cạnh đó còn xác định nội dung, mức độ nghiêm trọng của hậu quả để đặt ra các điều kiện áp dụng từng hình phạt Cho nên có thể nói rằng hệ thống hình phạt không chỉ bị ảnh hưởng bởi sự thay đổi danh mục hình phạt mà còn bị tác động bởi sự thay đổi nội dung tội danh, mức độ nguy hiểm của hành vi đối với xã hội và điều kiện áp dụng của hình phạt Hiện nay hệ thống hình phạt ở Việt Nam nói riêng và thế giới nói chung đang

có xu hướng ưu tiên áp dụng các hình phạt không tước tự do và giảm dần các hình phạt tước tự do, hình phạt tù chung thân và hình phạt tử hình

Hệ thống hình phạt ở Việt Nam được chia thành hình phạt đối với người phạm tội

và hình phạt đối với pháp nhân thương mại phạm tội, trong đó với mỗi chủ thể phạm tội

sẽ có hai hình thức hình phạt được áp dụng là hình phạt chính và hình phạt bổ sung Cơ

sở để phân biệt hình phạt chính và hình phạt bổ sung là hình phạt chính được áp dụng độc lập, không phụ thuộc vào việc có áp dụng hình phạt bổ sung không và đối với mỗi tội danh chỉ áp dụng một hình phạt chính Ngược lại, hình phạt bổ sung chỉ được áp dụng kèm theo hình phạt chính và Toà án có thể tuyên người phạm tội phải chịu hình phạt bổ

Trang 18

sung hoặc không phải chịu hình phạt này tuỳ theo mức độ tội phạm gây ra và quy định

cụ thể của Bộ luật hình sự

Hình phạt chính đối với người phạm tội gồm: Cảnh cáo, phạt tiền, cải tạo không giam giữ, trục xuất, tù có thời hạn, tù chung thân, tử hình Các hình phạt chính này có thể được phân thành các hình phạt không tước tự do như cảnh cáo, phạt tiền, cải tạo không giam giữ và trục xuất; và các hình phạt tước tự do như tù có thời hạn, tù chung thân và hình phạt đặc biệt - tử hình Hình phạt bổ sung đối với người phạm tội bao gồm: Cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định; cấm cư trú; quản chế; tước một số quyền công dân; tịch thu tài sản; phạt tiền và trục xuất

Hình phạt chính đối vói pháp nhân thương mại phạm tội bao gồm: Phạt tiền; đình chỉ hoạt động có thời hạn; đình chỉ hoạt động vĩnh viễn Hình phạt bổ sung đối với pháp nhân thương mại phải chịu trách nhiệm hình sự bao gồm: cấm kinh doanh, cấm hoạt động trong một số lĩnh vực nhất định; cấm huy động vốn; phạt tiền

Trong hệ thống hình phạt hiện nay, trục xuất và phạt tiền là hai hình phạt mang tính lưỡng tính, vừa được quy định là hình phạt chính mà cũng có thể áp dụng theo hình thức hình phạt bổ sung Hệ thống hình phạt được thể hiện qua sự liên kết và sự tăng dần

về mức độ nghiêm khắc giữa các hình phạt chính và các hình phạt bổ sung

1.1.2 Khái niệm về hình phạt đối với người chưa thành niên phạm tội

1.1.2.1 Định nghĩa về hình phạt đối với người chưa thành niên phạm tội

Hình phạt đối với người chưa thành niên phạm tội là những những hình phạt được

áp dụng đối với người chưa thành niên khi họ thực hiện hành vi phạm tội

¨ Định nghĩa về người chưa thành niên phạm tội

Để hiểu đúng khái niệm về hình phạt đối với người chưa thành niên phạm tội trước hết phải xác định được thế nào là người chưa thành niên

Theo các văn kiện quốc tế, khái niệm về người chưa thành niên được đề cập thông

qua:

Các quy tắc tiêu chuẩn tối thiểu của Liên Hợp Quốc về hoạt động tư pháp đối với người chưa thành niên (Quy tắc Bắc Kinh) được thông qua theo Nghị quyết 40/33 ngày 29/11/1985 của Đại Hội đồng Liên Hợp Quốc đã quy định tuổi chịu trách nhiệm hình sự

theo nguyên tắc thứ 4 như sau: “Người chưa thành niên là trẻ em hay thanh thiếu niên

mà tuỳ theo từng hệ thống pháp luật có thể bị xử lý khi phạm tội, theo một phương thức khác với người lớn” Theo cách quy định của Quy tắc Bắc Kinh, có thể thấy người chưa

thành niên có thể là trẻ em hoặc thanh thiếu niên

Điều 1 Công ước Liên hợp quốc về quyền trẻ em 1989 được Đại Hội đồng Liên

Hợp Quốc thông qua ngày 20/11/1989, đã ghi nhận “Trong phạm vi Công ước này, trẻ

em có nghĩa là bất kỳ người nào dưới 18 tuổi, trừ trường hợp pháp luật có thể được áp

Trang 19

dụng với trẻ em đó quy định tuổi thành niên sớm hơn” Công ước này trẻ em được hiểu

là người dưới 18 tuổi, tuy nhiên các quốc gia thành viên có thể dựa vào tình hình thực tiễn trong nước mà quy định độ tuổi của trẻ em trong quốc gia mình

Bộ Quy tắc của Liên hợp quốc về bảo vệ người chưa thành niên bị tước tự do

được Đại Hội đồng Liên hợp quốc thông qua ngày 14/12/1990 nêu rõ “Người chưa thành

niên là người dưới 18 tuổi Giới hạn độ tuổi thấp hơn mức này theo đó không được phép tước tự do của trẻ em cần được pháp luật quy định” 7

Dựa theo các quy định của Hiến chương Liên Hợp Quốc và các quy tắc trên nhìn chung pháp luật quốc tế đồng thời sử dụng khái niệm trẻ em và người chưa thành niên

để gọi người dưới 18 tuổi Đặc biệt là CRC còn mở ra ngoại lệ cho phép các quốc gia thành viên được quyền quy định độ tuổi của người chưa thành niên sớm hơn 18 tuổi tùy thuộc vào các chính sách phát kinh tế, nền văn hóa – xã hội, các tư tưởng, quan niệm về đạo đức, tập quán về độ tuổi, khả năng nhận thức tâm sinh lý quốc gia của mình

Theo pháp luật Việt Nam hiện hành, thuật ngữ “người chưa thành niên” có thể

tìm thấy ở một số văn bản quy phạm pháp luật như:

Bộ luật dân sự năm 2015 “người chưa thành niên là người chưa đủ 18 tuổi”.8

Bộ luật Lao động năm 2019 “Lao động chưa thành niên là người lao động chưa

“trẻ em” được dùng để chỉ những người dưới 16 tuổi và thuật ngữ “người chưa thành niên” dùng để chỉ người dưới 18 tuổi Nghĩa là người chưa thành niên ở Việt Nam được quy định là người dưới 18 tuổi Việc quy định độ tuổi của trẻ em thấp hơn so với khung tiêu chuẩn của Liên Hợp quốc là do CRC đã mở ra một ngoại lệ cho các nước thành viên Theo quy định của pháp Luật Việt Nam, trẻ em đều là người chưa thành niên, nhưng người chưa thành niên không phải luôn luôn là trẻ em NCTNPT theo PLHS Việt Nam

là người từ đủ 14 tuổi đến dưới 18 tuổi thực hiện hành vi thoả mãn các yếu tố cấu thành tội phạm

7 Quy tắc số 2.2 mục a

8 Khoản 1 Điều 21 Bộ luật dân sự 2015

9 Khoản 1 Điều 143 Bộ luật Lao động năm 2019

10 Điều 1 Luật Trẻ em năm 2016

Trang 20

¨ Định nghĩa về hình phạt đối với người chưa thành niên phạm tội

Theo Quy tắc Bắc Kinh người chưa thành niên phạm tội được hiểu là “Người

chưa thành niên phạm tội là trẻ em hay thanh thiếu niên bị cáo buộc, hay bị kết luận là

đã phạm tội” 11

Theo pháp luật hình sự Việt Nam, ở các Bộ luật hình sự trước năm 2015 đều sử

dụng thuật ngữ “người chưa thành niên phạm tội”, tuy nhiên Bộ luật hình sự năm 2015

đã thay thế thuật ngữ “người chưa thành niên phạm tội” thành “người dưới 18 tuổi phạm

tội” Đây là một sự thay đổi phù hợp với các chuẩn mực quốc tế cũng như hài hoà hơn

với các văn bản quy phạm pháp luật hiện hành Vì Việt Nam sử dụng cả hai thuật ngữ

“trẻ em” và “người chưa thành niên” khác với các quy định tiêu chuẩn của quốc tế, nên nếu dùng thuật ngữ “người chưa thành niên phạm tội” như luật cũ sẽ dễ gây áp dụng

pháp luật sai lầm vì người dưới 16 tuổi cũng là người chưa thành niên nhưng từ đủ 16 tuổi đến dưới 18 tuổi cũng là người chưa thành niên nhưng không được xem là trẻ em

Như vậy NCTNPT là người từ đủ 14 tuổi đến dưới 18 tuổi có năng lực TNHS và

thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội là tội phạm được quy định trong BLHS

Tóm lại, “hình phạt đối với người chưa thành niên phạm tội là những biện pháp

cưỡng chế nghiêm khắc nhất của Nhà nước được quy định trong BLHS, do Toà án quyết định áp dụng đối với người từ đủ 14 tuổi đến dưới 18 tuổi phạm tội”

1.1.2.2 Đặc điểm hình phạt đối với người chưa thành niên phạm tội

Hình phạt đối với người chưa thành niên phạm tội cũng có 04 đặc điểm tương tự hình phạt đã được phân tích ở trên: là biện pháp cưỡng chế nghiêm khắc của Nhà nước;

là biện pháp cưỡng chế được quy định trong BLHS; là biện pháp cưỡng chế do Toà án

áp dụng; chỉ được áp dụng đối với cá nhân, pháp nhân thương mại phạm tội Tuy nhiên hình phạt đối với người chưa thành niên phạm tội có một số đặc điểm đặc biệt hơn

Đối với người chưa thành niên phạm tội, hình phạt vẫn là một biện pháp cưỡng chế nghiêm khắc nhất của Nhà nước nhưng tính nghiêm khắc khi áp dụng với người dưới

18 tuổi phạm tội có sự khoan hồng hơn so với người thành niên phạm tội Bộ luật hình

sự 2015 dành ra một chương riêng (Chương XII) để quy định những hình phạt và mức

độ áp dụng hình phạt đối với người dưới 18 tuổi phạm tội Tại Điều 91 Bộ luật hình sự năm 2015 về nguyên tắc xử lý đối với người dưới 18 tuổi phạm tội có quy định:

“1 Việc xử lý người dưới 18 tuổi phạm tội phải bảo đảm lợi ích tốt nhất của người dưới 18 tuổi và chủ yếu nhằm mục đích giáo dục, giúp đỡ họ sửa chữa sai lầm, phát triển lành mạnh, trở thành công dân có ích cho xã hội

11 Quy tắc số 2.2 mục c Quy tắc Bắc Kinh

Trang 21

Việc xử lý người dưới 18 tuổi phạm tội phải căn cứ vào độ tuổi, khả năng nhận thức của họ về tính chất nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội, nguyên nhân và điều kiện gây ra tội phạm

[…]

3 Việc truy cứu trách nhiệm hình sự người dưới 18 tuổi phạm tội chỉ trong trường hợp cần thiết và phải căn cứ vào những đặc điểm về nhân thân của họ, tính chất nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội và yêu cầu của việc phòng ngừa tội phạm

4 Khi xét xử, Tòa án chỉ áp dụng hình phạt đối với người dưới 18 tuổi phạm tội nếu xét thấy việc miễn trách nhiệm hình sự và áp dụng một trong các biện pháp quy định tại Mục 2 hoặc việc áp dụng biện pháp giáo dục tại trường giáo dưỡng quy định tại Mục

3 Chương này không bảo đảm hiệu quả giáo dục, phòng ngừa

5 Không xử phạt tù chung thân hoặc tử hình đối với người dưới 18 tuổi phạm tội

6 Tòa án chỉ áp dụng hình phạt tù có thời hạn đối với người dưới 18 tuổi phạm tội khi xét thấy các hình phạt và biện pháp giáo dục khác không có tác dụng răn đe, phòng ngừa

Khi xử phạt tù có thời hạn, Tòa án cho người dưới 18 tuổi phạm tội được hưởng mức án nhẹ hơn mức án áp dụng đối với người đủ 18 tuổi trở lên phạm tội tương ứng và với thời hạn thích hợp ngắn nhất

Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với người dưới 18 tuổi phạm tội

7 Án đã tuyên đối với người chưa đủ 16 tuổi phạm tội, thì không tính để xác định tái phạm hoặc tái phạm nguy hiểm.”

Từ quy định trên có thể thấy hình phạt chỉ được áp dụng khi Toà án thấy việc miễn trách nhiệm hình sự và áp dụng các biện pháp giám sát, giáo dục hoặc áp dụng các biện pháp giáo dục tại trường giáo dưỡng không đảm bảo hiệu quả giáo dục, phòng ngừa

Khi quyết định hình phạt với NCTNPT, Toà án phải cân nhắc áp dụng các hình phạt không tước quyền tự do trước, hình phạt tước tự do – hình phạt tù có thời hạn chỉ được áp dụng khi Toà án nhận thấy các hình phạt và biện pháp giáo dục khác không đạt được mục đích răn đe, phòng ngừa Việc quyết định hình phạt đối với NCTN là một vấn

đề rất quan trọng, khi thực hiện quá trình này Toà án phải đánh giá dựa trên tinh thần nhân đạo, coi mục đích giáo dục, cải tạo đối tượng là chủ yếu Quy định về việc hình phạt tù có thời hạn là hình phạt được áp dụng cuối cùng với NCTNPT của Việt Nam rất phù hợp với quy chuẩn của Công ước Liên hợp quốc về Quyền trẻ em, tại khoản 2 Điều

37 Công ước quy định “việc bắt, giam giữ hoặc bỏ tù trẻ em phải được tiến hành phù

hợp với pháp luật và chỉ được coi là biện pháp cuối cùng và áp dụng trong thời hạn thích hợp ngắn nhất” Khi quyết định hình phạt tù có thời hạn Toà án phải lựa chọn mức

phạt cụ thể đối với NCTNPT dựa trên cơ sở cân nhắc đến lợi ích tốt nhất của người bị

Trang 22

kết án, thời hạn chấp hành phải thấp hơn so với NĐTN phạm tội tương đương và trong thời hạn thích hợp ngắn nhất

Ngoài ra, đối với người chưa thành niên phạm tội, Nhà nước không áp dụng chế tài tước đoạt vĩnh viễn tự do hoặc tước đoạt quyền được sống (khoản 5 Điều 91 BLHS năm 2015) Quy định này tác giả đánh giá là một quy định rất văn minh và tiến bộ, theo kịp xu hướng của Quốc tế về việc hạn chế áp dụng hình phạt tử hình đối với tội phạm, đặc biệt là đối với NCTN Đây không phải là một quy định mới trong lịch sử pháp luật quốc tế, tại khoản 5 Điều Công ước quốc tế về các quyền dân sự, chính trị năm 1966 quy

định “Không được phép tuyên hình phạt tử hình đối với người phạm tội dưới 18 tuổi”; Điều 37(a) Công ước Liên hợp quốc về Quyền trẻ em cũng quy định “Hình phạt tử hình

hoặc tù chung thân sẽ không được áp dụng với những người dưới 18 tuổi ở thời điểm thực hiện hành vi phạm tội”

Toà án không được áp dụng hình phạt bổ sung đối với nhóm chủ thể này vì mục đích của hình phạt bổ sung là nhằm cưỡng chế hỗ trợ cho hình phạt chính trong việc đạt đến mục đích của hình phạt và có tác dụng hạn chế, loại bỏ những điều kiện mà người phạm tội có thể khai thác vào việc tái thực hiện tội phạm.12 Việc không áp dụng hình phạt bổ sung là đang thể hiện tính nhân đạo trong chính sách của Nhà nước đối với NCTNPT

Một điểm đáng chú ý khác đó là án đã tuyên với người từ đủ 14 tuổi đến dưới 16 tuổi sẽ không xem là căn cứ để xác định tái phạm hoặc tái phạm nguy hiểm theo Điều

53 BLHS 2015 Tái phạm hoặc tái phạm nguy hiểm dùng để phản ánh tình trạng nhân thân xấu của một người hoặc phản ánh tính chống đối xã hội của người đó Hành vi phạm tội của NCTN từ đủ 14 tuổi đến dưới 16 tuổi thường mang tính bồng bột, do bị bạn bè, người xấu lôi kéo, dụ dỗ, kích động phạm tội vì vậy nếu sử dụng tình tiết đã bị kết án để xác định tái phạm hoặc tái phạm nguy hiểm là không phù hợp với quan điểm nhân đạo

và khoan hồng của Nhà nước

1.1.3 Ý nghĩa của hình phạt đối với người chưa thành niên phạm tội

Khoản 1 Điều 91 có quy định về việc xử lý người dưới 18 tuổi phạm tội như sau:

“Điều 91 Nguyên tắc xử lý đối với người dưới 18 tuổi phạm tội

1 Việc xử lý người dưới 18 tuổi phạm tội phải bảo đảm lợi ích tốt nhất của người dưới 18 tuổi và chủ yếu nhằm mục đích giáo dục, giúp đỡ họ sửa chữa sai lầm, phát triển lành mạnh, trở thành công dân có ích cho xã hội

12 Trường Đại học Luật TP Hồ Chí Minh, Giáo trình Luật Hình sự Việt Nam - Phần chung, NXB Hồng Đức - Hội Luật gia Việt Nam,, năm 2019, tr.426 - 427

Trang 23

Việc xử lý người dưới 18 tuổi phạm tội phải căn cứ vào độ tuổi, khả năng nhận thức của họ về tính chất nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội, nguyên nhân và điều kiện gây ra tội phạm.”

Có thể thấy, hình phạt đối với người chưa thành niên không lấy mục đích trọng tâm là trừng trị, răn đe người phạm tội mà chủ yếu mang mục đích giáo dục, cải tạo người chưa thành niên Vì nhóm chủ thể này chưa phát triển toàn diện về thể chất, tinh thần nên không phải bất kỳ lúc nào người từ đủ 14 tuổi đến dưới 18 tuổi cũng có thể nhận thức hết được tính nguy hiểm và hậu quả do hành vi của mình gây ra cho xã hội Năng lực nhận thức và năng lực điều khiển hành vi của người phạm tội nói chung và của người phạm tội từ đủ 14 tuổi đến dưới 18 tuổi nói riêng trong từng trường hợp phạm tội

cụ thể là không đồng nhất Bằng cách ưu tiên áp dụng các biện pháp giáo dục, giáo dưỡng Nhà nuớc mong muốn rằng người phạm tội nhận ra được những hành vi sai trái của bản thân, có cái nhìn đúng hơn về hành vi của mình và thông qua sự cải tạo có thể giúp người chưa thành niên có cơ hội làm lại cuộc đời Tuy nhiên không phải hình phạt đối với người chưa thành niên không mang tính răn đe, trừng trị, trên thực tế cách hình phạt đối với người chưa thành niên vẫn mang tính hạn chế một số quyền công dân Ví dụ như hình phạt có thời hạn được quy định tại khoản 4 Điều 98 và Điều 101 BLHS năm 2015, theo đó người chưa thành niên vẫn có thể bị phạt tù tối đa 18 năm

1.2 Quy định hình phạt đối với người chưa thành niên phạm tội trong pháp luật hình sự Việt Nam

1.2.1 Quy định hình phạt đối với người chưa thành niên phạm tội trước Cách mạng tháng Tám năm 1945

Nước ta có một bề dày lịch sử kéo dài thời kỳ Văn Lang - Âu Lạc đến thời nhà

Đinh, Lê, Lý, Trần đến thời kì Tiền Lê và thời nhà Nguyễn đồng thời hệ thống pháp luật

cũng được hình thành qua giai đoạn khác nhau Trong thời kì phong kiến, nước ta có tất

cả 4 bộ luật thành văn bao gồm: Hình Thư của nhà Lý, Hình Luật của nhà Trần, Quốc

triều Hình luật của nhà Lê và Hoàng Việt luật lệ của nhà Nguyễn

Theo tác giả Phan Huy Chú đã đánh giá trong "Lịch triều hiến chương loại chí":

"nước Việt ta các triều dựng nước đều định hình Chương: nhà Lý có ban hành Hình thư, nhà Trần có định Hình luật đều đã tham chước xưa nay để nêu thành phép tắc lâu dài Nhưng hình của nhà Lý ở khoan rộng; hình của nhà Trần thì lỗi ở nghiêm khắc, nhẹ nặng không đúng mức đều chưa gọi là phép nước được Đến khi nhà Lê dựng nghiệp mới sửa định lại Hình luật đời Hồng Đức tham dụng các đời Tùy, Đường, xử lý có những điều nhất định nặng nhẹ có những mức cao thấp, các đời tuân theo, dùng làm

Trang 24

phép sẵn, dù các điều mực lặt vặt có thêm bớt, những đại cương chế độ bao giờ vẫn theo

đó, thật là cái mẫu mực để trị nước, cái khuôn phép để buộc dân”.13

Vị vua đầu tiên của triều Nguyễn – Gia Long cũng ra lệnh triều thần biên soạn bộ

luật mà “lấy luật lệ của các triều đại nước ta làm căn cứ, tham chiếu Luật Hồng Đức và

Luật Thanh Triều rút lấy, thêm bớt, cân nhắc biên tập thành bộ luật tiện dụng” Có thể

thấy rằng Bộ Luật Hồng Đức hay Quốc triều Hình luật đã cho thấy được thấy được một

sự phát triển của hệ thống pháp luật thời phong kiến, “là công trình luật mẫu mực” vào lúc bấy giờ, mà từ đó làm nền tảng cho các bộ luật sau tham chiếu, kế thừa và phát triển

Thế kỉ XIV, từ thời Lê Thái Tổ đến thời vua Lê Thánh Tông đã xây dựng Quốc Triều Hình Luật, một trong những bộ luật tiên phong quy định về độ tuổi của người phạm tội Theo Điều 16 của Quốc Triều Hình Luật:

“Những người từ 70 tuổi trở lên, 15 tuổi trở xuống cùng những người bị phế tật,

phạm từ tội lưu trở xuống đều cho chuộc bằng tiền, phạm tội thập ác thì không theo luật này Từ 80 tuổi trở lên, 10 tuổi trở xuống cùng những người bị ác tật, phạm tội phản nghịch, giết người đáng phải tội chết thì cũng phải tâu vua để xét định, ăn trộm và đánh người bị thương thì cho chuộc, còn ra thì không bắt tội Từ 90 trở lên, 7 tuổi trở xuống dẫu có bị tội chết cũng không hành hình, nếu có kẻ nào xui xiểm thì bắt tội kẻ xui xiểm, nếu ăn trộm có tang vật thì kẻ nào chứa chấp tang vật ấy phải bồi thường…”

Có thể hiểu, người từ 15 tuổi trở xuống phạm tội lưu trở xuống thì sẽ được chuộc bằng tiền, trừ trường hợp phạm phải tội thập ác Tội phạm thập ác là một trong những loại tội phạm nghiêm trọng nhất trong chế độ phong kiến và được bắt nguồn từ hệ thống pháp luật Trung Quốc Trong các loại tội phạm được quy định tại Hình Luật thì tội thập

ác (10 tội ác) được xem là 10 loại tội nghiêm trọng Theo Bộ luật Hồng Đức, các tội thập

ác gồm: 04 tội bảo vệ vương quyền (mưu phản, mưu đại nghịch, mưu bạn, đại bất kính),

05 tội bảo vệ quan hệ hôn nhân gia đình phong kiến (ác nghịch, bất hiếu, bất mục, bất nghĩa, nội loạn) và 01 tội trừng trị những hành vi phạm tội vô cùng dã man, tàn ác, xâm hại nghiêm trọng một trong những tiêu chí hàng đầu của đạo Nho

Người từ 10 tuổi trở xuống phạm tội ăn trộm và đánh người bị thương thì cho chuộc bằng tiền Nếu phạm phải tội phản nghịch, giết người thì việc xét xử phải được trình qua vua, còn lại nếu phạm phải những tội khác thì không bị bắt tội

Người từ 07 tuổi trở xuống dù có phạm tội cũng không bị hành hình đối với mọi loại tội

Bộ luật Hồng Đức không dùng khái niệm “người chưa thành niên” để xác định

chủ thể mà phân chia hình phạt theo mức tuổi cụ thể của từng đối tượng Có thể thấy mức hình phạt áp dụng cho người 15 tuổi trở xuống được dựa trên độ tuổi thực tế của

13 Phan Huy Chú, Lịch triều hiến chương loại chí, Tập III, Khoa mục chí, Quốc dụng chí, Hình Luật chí, Nxb Sử học, 1961, tr 95

Trang 25

người phạm tội và có sự khoan hồng hơn so với người 15 tuổi trở lên Mặc dù Bộ luật

Hồng Đức không dùng thuật ngữ “người chưa thành niên”, “người đã thành niên” nhưng

thông qua cách quy định của Bộ luật ta có thể thấy trong hệ thống pháp luật đã có sự phân hoá hình phạt được áp dụng đối với các chủ thể thực hiện tội phạm thông qua độ tuổi và độ tuổi được áp dụng làm ranh giới giữa thành niên và chưa thành niên ở thời phong kiến là 15 tuổi

1.2.2 Quy định hình phạt đối với người chưa thành niên phạm tội từ sau Cách mạng tháng Tám năm 1945 đến trước năm 1985

Trong giai đoạn này, Nhà nước mới hình thành nên hệ thống pháp luật còn non yếu, mặc dù Nhà nước đã ban hành nhiều văn bản pháp luật điều chỉnh quan hệ pháp luật hình sự nhưng vẫn chưa toàn diện, chưa có sự thống nhất giữa các văn bản ban hành trước với văn bản ban hành sau

Cụ thể, về hình phạt đối với người chưa thành niên phạm tội trong giai đoạn này chưa được quy định chính thức trong bất kỳ luật nào mà chỉ được thể hiện gián tiếp thông qua các hướng dẫn áp dụng pháp luật của Toà án,14 điển hình là Chỉ thị số 46-TH ngày

14/01/1969 của Toà án nhân dân tối cao về việc Tăng cường và phát huy hơn nữa tác

dụng của Toà án trong công tác bảo vệ trật tự, trị an, bảo vệ tài sản của nhà nước và quản lý thị trường ở Thành phố Hà Nội:

“Nói chung, đối với trẻ em dưới 14 tuổi thì không đưa ra Toà án xét xử, từ 14 tuổi

đến 18 tuổi, nếu trường hợp phạm pháp cần thiết phải đưa xét xử thì châm chước đến tuổi còn non trẻ của chúng; riêng đối với từ 14 đến 16 tuổi, chỉ nên xét xử trong những trường hợp phạm tội nghiêm trọng”.15

Đây là lần đầu tiên vấn đề về “người chưa thành niên phạm tội” được đề cập đến

trong một văn bản của Toà án Chỉ thị này đặt ra vấn đề về tuổi chịu trách nhiệm hình sự

và phương thức xét xử đối với người chưa thành niên Theo đó, trẻ em dưới 14 tuổi sẽ không bị xét xử bởi Toà án, vấn đề trách nhiệm hình sự chỉ được đặt ra đối với người từ

14 tuổi trở lên, người từ 14 tuổi đến 16 tuổi chỉ chịu trách nhiệm đối với tội nghiêm trọng Theo Chỉ thị số 46 - TH thì độ tuổi của người chưa thành niên là một trong những

cơ sở để xem xét châm chước khi Toà án giải quyết vụ án

Theo Báo cáo tổng kết công tác 04 năm (1965 – 1968) của Toà án nhân dân tối cao có nêu16:

Về độ tuổi chịu TNHS: NCTN phải chịu TNHS khi đủ 14 tuổi tròn trở lên chứ

không phải là đến 14 tuổi

14 Nguyễn Thanh Vũ, Quyết định hình phạt đối với người chưa thành niên phạm tội theo Luật Hình sự Việt Nam

(trên cơ sở số liệu thực tiễn địa bàn tỉnh Đắk Lắk), Luận văn Thạc sĩ Luật học, Hà Nội 2016, tr.29

15 Tập hệ thống hoá luật lệ và hình sự, Tập I, Toà án nhân dân tối cao, Hà Nội 1975, tr.13

16 Tập hệ thống hoá luật lệ và hình sự, Tập I, Toà án nhân dân tối cao, Hà Nội 1975, tr.14

Trang 26

Về phân hoá TNHS: từ 14 tuổi đến 16 tuổi chỉ bị truy tố, xét xử trong những

trường hợp phạm tội nghiêm trọng như giết người, cướp của, hiếp dâm, riêng về hiếp dâm nói chung cũng chỉ nên truy tố, xét xử trong trường hợp nghiêm trọng; đối với ngừoi

từ 16 tuổi đến dưới 18 chỉ xử lý nếu hành vi phạm pháp có tính chất tương đối nghiêm trọng

Về nguyên tắc xử lý NCTNPT: nguyên tắc “so với người lớn cần xử nhẹ hơn” và

“chủ yếu là giáo dục” được áp dụng khi xử lý NCTNPT, 02 nguyên tắc này vẫn được

kế thừa và duy trì trong BLHS hiện hành, tại Điều 91

Theo Bản tổng kết số 452-HS2 ngày 10/8/1970 của Toà án nhân dân tối cao về thực tiễn xét xử loại tội giết người nêu rõ: Vì tội giết người là một tội hết sức nguy hiểm

mà lứa tuổi từ 14 tuổi tròn trở lên đã có thể nhận thức được ít nhiều tính chất, cho nên, nói chung, cần truy tố tội giết người mà can phạm có từ 14 tuổi tròn trở lên, tuy nhiên vì nhận thức còn non nớt nên cần xử nhẹ hơn người đã lớn, mức hình phạt chỉ nên từ khoảng

15 năm tù trở xuống đối với các can phạm đã có từ 16 tuổi tròn trở lên cho đến dưới 18 tuổi cũng có thể xử nhẹ hơn một phần so với người đã lớn và đối với tất cả các loại can phạm nói chung thì không nên áp dụng hình phạt tử hình.17 Bản tổng kết thể hiện rõ người từ đủ 14 tuổi đến dưới 16 tuổi phạm tội giết người hình phạt áp dụng không quá

15 năm tù giam và không áp dụng hình phạt tử hình đối với người dưới 18 tuổi

Như vậy, dù chưa có một hệ thống pháp luật cụ thể quy định về hình phạt đối với người chưa thành niên phạm tội vào giai đoạn này, nhưng các pháp lệnh, các sắc lệnh và các văn bản hướng dẫn áp dụng pháp luật của ngành Toà án cho thấy rằng giai đoạn này pháp luật quy định NCTN là người dưới 18 tuổi, tuổi chịu TNHS là đủ 14 tuổi tròn trở lên, các hình phạt đối với người NCTNPT gồm cảnh cáo, tù có thời hạn tối đa là 15 năm

và không áp dụng hình phạt chung thân, tử hình đối với chủ thể này

1.2.3 Quy định hình phạt đối với người chưa thành niên phạm tội trong Bộ luật hình sự năm 1985

Đến nửa cuối thế kỉ XX, năm 1985, Bộ luật hình sự đầu tiên của Nhà nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam được ban hành Theo Điều 21 BLHS năm 1985 các hình phạt chính có thể áp dụng với người phạm tội gồm: cảnh cáo; phạt tiền; cải tạo không giam giữ; cải tạo ở đơn vị kỷ luật của quân đội; tù có thời hạn; tù chung thân; tử hình Kèm theo hình phạt chính còn có thể áp dụng một hoặc nhiều hình phạt bổ sung như: cấm đảm nhiệm những chức vụ, làm những nghề hoặc công việc nhất định; cấm cư trú; quản chế; tước một số quyền công dân; tước danh hiệu quân nhân; tịch thu tài sản; phạt tiền khi không áp dụng là hình phạt chính (khoản 2 Điều 21 BLHS năm 1985) Ngay từ BLHS năm 1985 đã dành một chương riêng quy định về NCTNPT (Chương 7 - Những quy định đối với người chưa thành niên phạm tội), theo đó những hình phạt được áp

17 Tập hệ thống hoá luật lệ và hình sự, Tập I, Toà án nhân dân tối cao, Hà Nội 1975, tr.19

Trang 27

dụng đối với NCTN phạm tội quy định tại Điều 60 gồm ba loại hình phạt: Cảnh cáo, cải tạo không giam giữ, tù có thời hạn.18

¨ Hình phạt cảnh cáo

BLHS năm 1985 không có quy định riêng về việc áp dụng hình phạt này đối với NCTN phạm tội nên hình thức và nội dung áp dụng hình phạt này vẫn được áp dụng theo quy định chung tại Điều 22 BLHS 1985 Theo quy định tại Điều 22 BLHS năm 1985 về hình phạt cảnh cáo:

“Cảnh cáo được áp dụng đối với người phạm tội ít nghiêm trọng và có nhiều tình tiết giảm nhẹ, nhưng chưa đến mức miễn hình phạt”

Như vậy có thể hiểu NCTNPT ít nghiêm trọng và có nhiều tình tiết giảm nhẹ nhưng chưa đến mức được miễn hình phạt thì sẽ bị áp dụng hình phạt cảnh cáo Tội phạm ít nghiêm trọng không có quy định riêng về khái niệm của loại tội phạm này trong BLHS năm 1985 nhưng có thể hiểu được nội hàm của khái niệm này thông qua quy định tại Điều 8 BLHS năm 1985:

"Điều 8: Khái niệm tội phạm

[…]

2- Tội phạm nghiêm trọng là tội phạm gây nguy hại lớn cho xã hội mà mức cao nhất của khung hình phạt đối với tội ấy là trên năm năm tù, tù chung thân hoặc tử hình

Những tội phạm khác là tội phạm ít nghiêm trọng.”

Theo quy định này, tội phạm ít nghiêm trọng là những tội phạm không phải là loại tội phạm nghiêm trọng Hay nói cách khác tội phạm ít nghiêm trọng là là tội phạm không gây nguy hại lớn cho xã hội mà mức cao nhất của khung hình phạt đối với tội đó

là từ năm năm tù trở xuống Đây là hình phạt nhẹ nhất trong các loại hình phạt được áp dụng đối với NCTNPT và thời điểm Hội đồng xét xử tuyên án tại phiên Toà thì người bị kết án đã chấp hành xong bản án

¨ Hình phạt cải tạo không giam giữ

18 ‘Điều 60 Các biện pháp tư pháp và hình phạt đối với người chưa thành niên phạm tội

Trang 28

Chương 7 BLHS năm 1985 không quy định điều kiện và mức áp dụng hình phạt này nên điều kiện và mức hình phạt áp dụng với NCTNPT sẽ được căn cứ theo Điều 24 BLHS năm 1985 quy định về Cải tạo không giam giữ:

“Điều 24 Cải tạo không giam giữ

1- Cải tạo không giam giữ được áp dụng từ sáu tháng đến hai năm đối với người phạm tội ít nghiêm trọng

Nếu người bị kết án đã bị tạm giam thì thời gian tạm giam được trừ vào thời hạn chấp hành hình phạt cải tạo không giam giữ, cứ một ngày tạm giam bằng ba ngày cải tạo không giam giữ

2- Toà án giao người bị phạt cải tạo không giam giữ cho cơ quan nhà nước hoặc

tổ chức xã hội nơi người đó làm việc hoặc thường trú để giám sát, giáo dục

3- Người bị kết án phải thực hiện một số nghĩa vụ theo các quy định về cải tạo không giam giữ và có thể bị khấu trừ một phần thu nhập từ 5% đến 20% để xung quỹ Nhà nước

4- Đối với người phạm tội là quân nhân tại ngũ, trong trường hợp Điều luật quy định hình phạt cải tạo không giam giữ thì áp dụng hình phạt cải tạo ở đơn vị kỷ luật của quân đội quy định ở Điều 70”

Bên cạnh đó Điều 63 BLHS năm 1985 cũng có quy định thêm một nguyên tắc khi

áp dụng hình phạt cải tạo không giam giữ với NCTNPT bị kết án này:

“Điều 63 Cải tạo không giam giữ

Khi áp dụng hình phạt cải tạo không giam giữ đối với người chưa thành niên phạm tội thì không khấu trừ thu nhập của người đó.”

Như vậy qua Điều 24 và Điều 63 có thể hiểu: “Cải tạo không giam giữ đối với

NCTNPT được áp dụng từ sáu tháng đến hai năm đối với người phạm tội ít nghiêm trọng, khi áp dụng hình phạt này thì không khấu trừ thu nhập của NCTN”

Đây là hình phạt mang tính răn đe cao hơn hình phạt cảnh cáo nhưng thấp hơn hình phạt tù có thời hạn, vì hình phạt này hạn chế quyền tự do của người phạm tội vì họ

có thể thấy rằng việc làm của mình không được tự do như bình thường mà luôn có sự giám sát, theo dõi nhất định Để có thể được Toà tuyên hình phạt này người phạm tội phải là người chưa thành niên phạm tội ít nghiêm trọng – là tội mà mức cao nhất của khung hình phạt đối với tội đó là từ năm năm tù trở xuống

Điều 58 BLHS quy định về độ tuổi chịu TNHS, theo đó người từ 14 tuổi trở lên đến dưới 16 tuổi chịu TNHS về tội phạm nghiêm trọng do cố ý, người từ đủ 16 tuổi trở

Trang 29

lên chịu TNHS về mọi tội phạm,19 như vậy hình phạt này và hình phạt cảnh cáo chỉ áp dụng đối với NCTN từ đủ 16 tuổi đến dưới 18 tuổi

¨ Hình phạt tù có thời hạn

Quy định tại Điều 64 BLHS năm 1985 quy định:

“Người chưa thành niên phạm tội có thể bị phạt tù có thời hạn như sau:

1 Nếu điều luật quy định hình phạt cao nhất là tù chung thân hoặc tử hình, thì mức hình phạt cao nhất áp dụng đối với người chưa thành niên từ đủ 16 tuổi trở lên khi phạm tội là hai mươi năm tù và đối với người đủ 14 tuổi trở lên nhưng chưa đủ 16 tuổi khi phạm tội là mười lăm năm tù

2 Nếu điều luật quy định hình phạt cao nhất là hai mươi năm tù thì mức hình phạt cao nhất áp dụng đối với người chưa thành niên phạm tội là không quá mười hai năm tù”

Có thể chia ra làm hai trường hợp áp dụng hình phạt: Trường hợp 1, phạm tội có

khung hình phạt cao nhất là tù chung thân hoặc tử hình thì căn cứ vào độ tuổi của chủ thể thực hiện tội phạm để áp dụng khung hình phạt Nếu chủ thể là người từ đủ 16 tuổi trở lên thì mức hình phạt cao nhất Toà án có thể tuyên là 20 năm tù, nếu chủ thể là người

từ đủ 14 tuổi đến dưới 16 tuổi thì mức hình phạt cao nhất là 15 năm tù Trường hợp 2,

phạm tội có khung hình phạt cao nhất là 20 năm tù thì mức hình phạt tối đa được áp dụng với NCTNPT là không quá 12 năm tù

Tóm lại, ở giai đoạn BLHS năm 1985 đã có một chương riêng (Chương 7) về

những quy định đối với NCTNPT, tuy nhiên chương này chưa giải quyết được toàn bộ vấn đề mà chỉ mới giới hạn một số hình phạt được áp dụng đối với NCTNPT Chương 7

là cơ sở đầu tiên để Toà án căn cứ vào mà đưa ra những hình phạt cho NCTNPT, nếu những quy định ở phần chung có khác với quy định của Chương 7 thì Chương 7 sẽ được

ưu tiên áp dụng cho nhóm chủ thể này vì mục đích cuối cùng của hình phạt dành cho NCTNPT là nhằm răn đe, giáo dục nên các biện pháp hình phạt mang tính khoan hồng hơn so với các hình phạt áp dụng với người đã thành niên NCTNPT ở giai đoạn này chỉ chịu các hình phạt như cảnh cáo, cải tạo không giam giữ, phạt tù có thời hạn với thời hạn tối đa là 15 năm tù đối với người từ đủ 14 tuổi đến dưới 16 tuổi, 20 năm tù đối với người

từ đủ 16 tuổi trở lên Ngoài ra, NCTNPT sẽ không bị xử phạt tiền và không áp dụng các

19 "Điều 8: Khái niệm tội phạm

[…] 2- Tội phạm nghiêm trọng là tội phạm gây nguy hại lớn cho xã hội mà mức cao nhất của khung hình phạt đối với tội ấy là trên năm năm tù, tù chung thân hoặc tử hình

Những tội phạm khác là tội phạm ít nghiêm trọng.”

Trang 30

hình phạt bổ sung, không bị xử phạt hình phạt tù chung thân hoặc tử hình (khoản 4 Điều

áp dụng là hình phạt chính; trục xuất khi không áp dụng là hình phạt chính So với BLHS năm 1985 hình phạt ở BLHS năm 199 có một số thay đổi: bỏ hình phạt cải tạo ở đơn vị

kỷ luật của quân đội trong hệ thống hình phạt chính, bỏ hình phạt tước danh hiệu quân nhân trong hệ thống hình phạt bổ sung, và thêm vào hình phạt trục xuất trong hệ thống hình phạt chính và hệ thống hình phạt bổ sung

Kế thừa từ BLHS năm 1985, BLHS năm 1999 tiếp tục dành ra một chương riêng

để điều chỉnh NCTNPT – Chương X: Những quy định đối với người chưa thành niên phạm tội Điều 71 BLHS năm 1999 quy định NCTNPT chỉ bị áp dụng một trong bốn hình phạt: cảnh cáo, phạt tiền, cải tạo không giam giữ và tù có thời hạn.21

¨ Hình phạt cảnh cáo

Giống như BLHS năm 1985, hình phạt cảnh cáo ở BLHS năm 1999 vẫn không

có quy định riêng về việc áp dụng hình phạt với NCTNPT nên theo quy định tại Điều

68, Toà án sẽ căn cứ vào quy định của Phần chung (Điều 29) để áp dụng hình phạt

Điều 29 quy định: “Cảnh cáo được áp dụng đối với người phạm tội ít nghiêm

trọng và có nhiều tình tiết giảm nhẹ, nhưng chưa đến mức miễn hình phạt”

20 "Điều 59 Những nguyên tắc cơ bản về xử lý những hành vi phạm tội của người chưa thành niên

[…]

4- Không xử phạt tù chung thân hoặc tử hình người chưa thành niên phạm tội Khi phạt tù có thời hạn, Toà án cho người chưa thành niên phạm tội được hưởng mức án nhẹ hơn mức án áp dụng đối với người đã thành niên Người chưa thành niên phạm tội phải được giam riêng

Không xử phạt tiền và không áp dụng các hình phạt bổ sung đối với người chưa thành niên phạm tội.”

21 “Điều 71 Các hình phạt được áp dụng đối với người chưa thành niên phạm tội

Người chưa thành niên phạm tội chỉ bị áp dụng một trong các hình phạt sau đây đối với mỗi tội phạm:

1 Cảnh cáo;

2 Phạt tiền;

3 Cải tạo không giam giữ;

4 Tù có thời hạn.”

Trang 31

Về bản chất, nội dung của hình phạt cảnh cáo ở BLHS năm 1999 không thay đổi

gì so với quy định ở BLHS năm 1985, đây vẫn là loại hình phạt nhẹ nhất trong các loại hình phạt, được BLHS quy định ở Phần chung và chủ thể được áp dụng hình phạt này là NCTNPT ít nghiêm trọng, có nhiều tình tiết giảm nhẹ nhưng chưa đến mức miễn hình phạt

Về khái niệm “tội phạm ít nghiêm trọng” BLHS năm 1999 có cách quy định khác

hơn so với BLHS năm 1985, theo khoản 3 BLHS năm 1999 thì tội phạm ít nghiêm trọng

là tội phạm gây nguy hại không lớn cho xã hội mà mức cao nhất của khung hình phạt đối với tội ấy là đến 03 năm tù trong khi đó BLHS năm 1985 không có quy định cụ thể

về tội phạm ít nghiêm trọng mà BLHS 1985 chỉ loại trừ các trường hợp không phải tội phạm nghiêm trọng

Để áp dụng hình phạt này với NCTNPT cần phải thoả các điều kiện:

Thứ nhất, chủ thể là người chưa thành niên từ đủ 16 tuổi đến dưới 18 tuổi22 thực hiện tội phạm ít nghiêm trọng – tội phạm gây nguy hiểm không lớn cho xã hội mà mức cao nhất của khung hình phạt đối với tội ấy là đến 03 năm tù (khoản 3 Điều 8 BLHS năm 1999)

Thứ hai, tội phạm được thực hiện phải có nhiều tình tiết giảm nhẹ, nghĩa là phải

có từ 02 tình tiết giảm nhẹ trở lên được quy định tại Điều 46 BLHS năm 1999

Thứ ba, tội phạm đó chưa đến mức được miễn hình phạt Điều kiện về miễn hình

phạt là:

“Điều 54 Miễn hình phạt

Người phạm tội có thể được miễn hình phạt trong trường hợp phạm tội có nhiều tình tiết giảm nhẹ quy định tại khoản 1 Điều 46 của Bộ luật này, đáng được khoan hồng đặc biệt, nhưng chưa đến mức được miễn trách nhiệm hình sự.”

Thứ tư, tội danh mà người phạm tội bị kết án có quy định hình phạt cảnh cáo là

hình phạt chính

¨ Hình phạt phạt tiền

Đây là một hình phạt mới áp dụng đối với NCTNPT được BLHS năm 1999 quy định Phạt tiền là hình phạt nhằm tước đi quyền lợi vật chất của NCTNPT để cải tạo và giáo dục người phạm tội Điều 72 BLHS năm 1999 quy định:

22 “Điều 12 Tuổi chịu trách nhiệm hình sự

1 Người từ đủ 16 tuổi trở lên phải chịu trách nhiệm hình sự về mọi tội phạm

2 Người từ đủ 14 tuổi trở lên, nhưng chưa đủ 16 tuổi phải chịu trách nhiệm hình sự về tội phạm rất nghiêm trọng

do cố ý hoặc tội phạm đặc biệt nghiêm trọng”

Trang 32

“Phạt tiền được áp dụng là hình phạt chính đối với người chưa thành niên phạm

tội từ đủ 16 tuổi đến dưới 18 tuổi, nếu người đó có thu nhập hoặc có tài sản riêng

Mức phạt tiền đối với người chưa thành niên phạm tội không quá một phần hai mức tiền phạt mà điều luật quy định”

Để áp dụng hình phạt này với NCTNPT cần phải thoả các điều kiện:

Thứ nhất, tội phạm phải do NCTN từ đủ 16 tuổi đến dưới 18 tuổi thực hiện Thứ hai, NCTNPT từ đủ 16 tuổi đến dưới 18 tuổi phải có thu nhập hoặc tài sản

riêng đủ đảm bảo cho việc thi hành án Thu nhập là khoản thu thực tế từ hợp đồng lao động hoặc từ hoạt động sản xuất kinh doanh, có thể là dạng thu nhập thường xuyên hoặc không thường xuyên Tài sản riêng được hiểu là tài sản thuộc quyền sở hữu của người

bị kết án có được qua lao động, thừa kế, tặng, cho…

Thứ ba, tội danh mà người bị kết án bị tuyên có quy định hình phạt tiền là hình phạt chính

Nếu xét về mức độ răn đe người phạm tội thì hình phạt phạt tiền mang mức độ nghiêm khắc hơn hình phạt cảnh cáo, vì ngoài tác động vào tinh thần, danh dự của người phạm tội thì hình phạt này còn tác động trực tiếp vào vật chất của người phạm tội Hình phạt này được áp dụng đối với người từ đủ 16 tuổi đến dưới 18 tuổi và người đó phải có thu nhập hoặc tài sản riêng Quy định này là phù hợp, đồng bộ với các ngành luật Dân

sự, luật Lao động vào thời điểm đó Bên cạnh đó, NCTN khi bị áp dụng hình phạt này chỉ phải chịu không quá một phần hai mức tiền phạt mà người thành niên phạm tội phải chịu Khi Toà án áp dụng hình phạt này đối với NCTNPT cần tuân thủ các quy định tại Điều 30 và Điều 72 BLHS năm 1999, mức phạt tiền được quyết định dựa trên 03 cơ sở: tính chất, mức độ nghiêm trọng của tội phạm, tình hình tài sản của người phạm tội, sự biến động giá cả

¨ Hình phạt cải tạo không giam giữ

Giống BLHS năm 1985, BLHS năm 1999 cũng không có định nghĩa về hình phạt cải tạo không giam giữ Căn cứ theo Điều 3123 và Điều 7324 BLHS năm 1999 ta có thể

hiểu “Cải tạo không giam giữ đối với NCTNPT là hình phạt chính có thời hạn từ sáu

23 “Điều 31 Cải tạo không giam giữ

1 Cải tạo không giam giữ được áp dụng từ sáu tháng đến ba năm đối với người phạm tội ít nghiêm trọng hoặc phạm tội nghiêm trọng do Bộ luật này quy định mà đang có nơi làm việc ổn định hoặc có nơi thường trú rõ ràng, nếu xét thấy không cần thiết phải cách ly người phạm tội khỏi xã hội…”

24 “Điều 73 Cải tạo không giam giữ

Khi áp dụng hình phạt cải tạo không giam giữ đối với người chưa thành niên phạm tội, thì không khấu trừ thu nhập của người đó

Thời hạn cải tạo không giam giữ đối với người chưa thành niên phạm tội không quá một phần hai thời hạn mà điều luật quy định.”

Trang 33

tháng đến ba năm, được áp dụng với người phạm tội ít nghiêm trọng hoặc phạm tội nghiêm trọng, có nơi làm việc ổn định hoặc nơi thường trú rõ ràng khi xét thấy không cần thiết phải cách ly người phạm tội khỏi xã hội”

Để áp dụng hình phạt này với NCTNPT cần phải thoả các điều kiện:

Thứ nhất, chủ thể phạm tội phải là người từ đủ 16 tuổi đến dưới 18 tuổi thực hiện

tội phạm ít nghiêm trọng – là tội phạm mà mức cao nhất của khung hình phạt là 03 năm

tù hoặc tội phạm nghiêm trọng – là tội phạm mà mức cao nhất của khung hình phạt lên đến 07 năm tù

Thứ hai, có nơi làm việc ổn định hoặc có nơi cư trú rõ ràng

Thứ ba, Toà án nhận thấy không cần phải cách ly người phạm tội ra khỏi xã hội

mà vẫn có thể đạt được mục đích giáo dục, phòng ngừa Toà án đánh giá việc có cần thiết cách ly hay không dựa trên cơ sở về tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội, những đặc điểm về nhân thân người phạm tội có ảnh hưởng đến khả năng tự cải tạo, giáo dục của họ

Hình phạt này không tước quyền tự do của người phạm tội mà còn tạo điều kiện cho họ được học tập, lao động, giúp đỡ người phạm tội sửa chữa sai lầm ngay trong môi

trường xã hội bình thường dưới sự giám sát, giáo dục của gia đình, cơ quan, tổ chức

So sánh với quy định về hình phạt cải tạo không giam giữ theo quy định của BLHS năm 1985, thì BLHS năm 1999 mở rộng hơn về đối tượng có thể được áp dụng hình phạt này Cụ thể: ở BLHS năm 1985 cải tạo không giam giữ chỉ áp dụng đối với tội phạm ít nghiêm trọng thì ở BLHS năm 1999, cải tạo không giam giữ có thể được áp dụng với phạm tội ít nghiêm trọng hoặc phạm tội nghiêm trọng; Bị cáo phải là người chưa thành niên có nơi làm việc ổn định hoặc có nơi thường trú rõ ràng

Khi xác định thời hạn cụ thể của hình phạt này đối với NCTNPT, Toà án căn cứ

vào tính chất và mức độ nghiêm trọng của tội phạm và dựa trên nguyên tắc “Thời hạn

cải tạo không giam giữ đối với NCTNPT không quá một phần hai thời hạn mà điều luật quy định” (đoạn 2 Điều 73 BLHS năm 1999) Ngoài ra khi áp dụng hình phạt cải tạo

không giam giữ với NCTNPT thì không khấu trừ thu nhập của người đó Đối với NĐTN khi bị kết án này sẽ bị giam giữ từ 06 tháng đến 03 năm và bị khấu trừ một phần thu nhập từ 05% đến 20% để sung quỹ nhà nước, như vậy nếu NCTNPT bị kết án này thì mức hình phạt mà người này có thể chịu là từ 03 tháng 18 tháng và không bị khấu trừ thu nhập Điều này thể hiện rất rõ chính sách khoan hồng của Nhà nước đối với NCTN

¨ Hình phạt tù có thời hạn

Đây là hình phạt nghiêm khắc nhất trong hệ thống hình phạt áp dụng đối với NCTNPT vì hình phạt này tước quyền tự do của người phạm tội trong một khoảng thời

Trang 34

gian nhất định Khi áp dụng hình phạt này Toà án phải thực hiện theo nguyên tắc quy định tại Điều 74 BLHS năm 1999:

“ Người chưa thành niên phạm tội chỉ bị phạt tù có thời hạn theo quy định sau đây:

1 Đối với người từ đủ 16 tuổi đến dưới 18 tuổi khi phạm tội, nếu điều luật được

áp dụng quy định hình phạt tù chung thân hoặc tử hình, thì mức hình phạt cao nhất được

áp dụng không quá mười tám năm tù; nếu là tù có thời hạn thì mức hình phạt cao nhất được áp dụng không quá ba phần tư mức phạt tù mà điều luật quy định;

2 Đối với người từ đủ 14 tuổi đến dưới 16 tuổi khi phạm tội, nếu điều luật được

áp dụng quy định hình phạt tù chung thân hoặc tử hình, thì mức hình phạt cao nhất được

áp dụng không quá mười hai năm tù; nếu là tù có thời hạn thì mức hình phạt cao nhất được áp dụng không quá một phần hai mức phạt tù mà điều luật quy định.”

BLHS năm 1999 căn cứ vào độ tuổi của chủ thể phạm tội để chia thành hai trường

hợp áp dụng mức hình phạt Trường hợp 1, NCTNPT từ đủ 16 tuổi đến dưới 18 tuổi,

phạm tội có khung hình phạt cao nhất là tù chung thân hoặc từ hình thì mức hình phạt cao nhất là 08 năm tù Nếu là tù có thời hạn thì tối đa không quá ¾ mức phạt tù mà tội

danh đó quy định Trường hợp 2, NCTNPT từ đủ 14 tuổi đến dưới 16 tuổi, phạm tội có

khung hình phạt cao nhất là tù chung thân hoặc từ hình thì mức hình phạt cao nhất là 12 năm tù Nếu là tù có thời hạn thì tối đa không quá ½ mức phạt tù mà tội danh đó quy định

Bên cạnh quy định về những hình phạt được áp dụng đối với NCTNPT, BLHS năm 1999 còn quy định về những hình phạt không được áp dụng với NCTNPT tại khoản

4 Điều 69 – Nguyên tắc xử lý đối với người chưa thành niên phạm tội:

“Điều 69 Nguyên tắc xử lý đối với người chưa thành niên phạm tội

[…]

5 Không xử phạt tù chung thân hoặc tử hình đối với người chưa thành niên phạm tội Khi xử phạt tù có thời hạn, Toà án cho người chưa thành niên phạm tội được hưởng mức án nhẹ hơn mức án áp dụng đối với người đã thành niên phạm tội tương ứng

Không áp dụng hình phạt tiền đối với người chưa thành niên phạm tội ở độ tuổi

từ đủ 14 tuổi đến dưới 16 tuổi

Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với người chưa thành niên phạm tội.”

Như vậy, ở BLHS năm 1999 NCTNPT sẽ không bị xử phạt tù chung thân hoặc tử hình và Toà án không được áp dụng hình phạt phạt tiền đối với người từ đủ 14 tuổi đến dưới 16 tuổi, không bị áp dụng hình phạt bổ sung với đối tượng này

Trang 35

Tóm lại, NCTNPT ở giai đoạn BLHS năm 1999 có hiệu lực chịu các hình phạt

như cảnh cáo, phạt tiền, cải tạo không giam giữ, phạt tù có thời hạn với thời hạn tối đa

là 08 năm tù đối với người từ đủ 14 tuổi đến dưới 16 tuổi, 12 năm tù đối với người từ đủ

16 tuổi trở lên NCTNPT tiếp tục không bị xử phạt tiền và không áp dụng các hình phạt

bổ sung (khoản 4 Điều 69), không bị xử phạt hình phạt tù chung thân hoặc tử hình (khoản

4 Điều 69) như quy định của BLHS năm 1985 BLHS năm 1999 đã thể hiện được chính sách khoan hồng của pháp luật đối với NCTNPT khi quy định mức hình phạt của NCTN nhẹ hơn so với NĐTN phạm tội và không áp dụng các hình phạt tước đoạt tự do không thời hạn, loại bỏ người phạm tội khỏi xã hội cũng như không áp dụng các hình phạt bổ sung với NCTN Tuy nhiên BLHS năm 1999 vẫn còn tồn tại một số điểm hạn chế như sau:

Thứ nhất, chưa có một điều luật riêng quy định về nội , điều kiện áp dụng hình

phạt cảnh cáo và cải tạo không giam giữ đối với NCTNPT Việc không quy định một điều luật riêng dẫn đến khi áp dụng hình phạt này đối với NCTN Toà án phải căn cứ vào quy định tại Điều 29 và Điều 31 BLHS năm 1999 – quy định này được áp dụng cho cả NĐTN và NCTN, điều này là chưa thoả đáng vì việc xử lý NCTN luôn dựa trên mục đích chính là giáo dục, cải tạo với chính sách giảm nhẹ đặc biệt hơn so với NĐTN

Thứ hai, việc quy định hình phạt cảnh cáo chỉ áp dụng đối với tội phạm ít nghiêm

trọng và cải tạo không giam giữ chỉ có thể áp dụng đối với tội phạm ít nghiêm trọng hoặc nghiêm trọng, nghĩa là 02 hình phạt này chỉ có thể áp dụng đối với NCTN từ đủ 16 tuổi đến dưới 18 tuổi Điều này là không công bằng, không nhân đạo đối với NCTN từ đủ 14 tuổi đến dưới 16 tuổi và chưa phù hợp với nguyên tắc xử lý NCTNPT của BLHS năm

1999 Bởi lẽ trong nguyên tắc xử lý NCTNPT, BLHS năm 1999 hướng đến việc hạn chế thấp nhất việc truy cứu TNHS đối với NCTN và hạn chế tối đa việc áp dụng hình phạt

tù, ưu tiên áp dụng các hình phạt không tước tự do của NCTN, vì vậy việc quy định điều kiện áp dụng hình phạt cảnh cáo và cải tạo không giam giữ như vậy đã vô tình đi trái lại nguyên tắc mà nhà làm luật xây dựng

1.2.5 Quy định hình phạt đối với người chưa thành niên phạm tội trong Bộ luật hình sự năm 2015 và Bộ luật hình sự 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017

BLHS năm 2015 tiếp tục kế thừa các BLHS trước đây, vẫn dành riêng một chương quy định về những quy định đối với người dưới 18 tuổi phạm tội (Chương XII) Tuy nhiên BLHS năm 2015 đã tiến bộ hơn rất nhiều về kỹ thuật lập pháp khi Chương XII được chia thành 5 Mục, các Mục đi từ những quy định chung đối với người dưới 18 tuổi phạm tội (Mục 1) đến các biện pháp giám sát, giáo dục (Mục 2), biện pháp tư pháp giáo dục (Mục 3), các hình phạt được áp dụng với người dưới 18 tuổi (Mục 4), và cuối cùng

là quyết định hình phạt, tổng hợp hình phạt, miễn giảm hình phạt, xoá án tích (Mục 5)

¨ Quy định hình phạt đối với người chưa thành niên phạm tội trong Bộ luật hình sự năm 2015

Trang 36

BLHS năm 2015 không còn dùng thuật ngữ “người chưa thành niên phạm tội”

mà đã chuyển thành thuật ngữ “người dưới 18 tuổi phạm tội”, đây là sự thay đổi rất phù

hợp với bối cảnh quốc tế hiện nay cũng như đồng bộ hơn với quy định của các ngành luật khác

Nguyên tắc áp dụng hình phạt khi xét xử NCTNPT giữa BLHS năm 1999 và năm

2015 là khác nhau, cụ thể:

Khoản 4 Điều 69 BLHS năm 1999 quy định: “Khi xét xử, nếu thấy không cần

thiết phải áp dụng hình phạt đối với người chưa thành niên phạm tội, thì Toà án áp dụng một trong các biện pháp tư pháp được quy định tại Điều 70 của Bộ luật này” Nghĩa là

khi xét xử NCTNPT thì thứ tự xem xét sẽ là cân nhắc áp dụng hình phạt trước, nếu Toà

án thấy không cần thiết thì mới áp dụng các biện pháp tư pháp

Trong khi đó, khoản 4 Điều 91 BLHS năm 2015 quy định: “Khi xét xử, Tòa án

chỉ áp dụng hình phạt đối với người dưới 18 tuổi phạm tội nếu xét thấy việc miễn trách nhiệm hình sự và áp dụng một trong các biện pháp quy định tại Mục 2 hoặc việc áp dụng biện pháp giáo dục tại trường giáo dưỡng quy định tại Mục 3 Chương này không bảo đảm hiệu quả giáo dục, phòng ngừa” Nghĩa là khi xét xử, thứ tự cân nhắc của Toà án

là miễn TNHS, áp dụng biện pháp giám sát, giáo dục, rồi cuối cùng mới là hình phạt

Thứ tự khi xem xét áp dụng hình phạt giữa 02 giai đoạn là khác nhau, ở giai đoạn BLHS năm 1999 thì Toà án phải cân nhắc xem việc áp dụng hình phạt là có cần thiết hay không, nếu cần thiết thì Toà án quyết định hình phạt, nếu không cần thiết thì mới xem xét tiếp đến việc áp dụng các biện pháp tư pháp Trong khi đó theo nguyên tắc ở BLHS năm 2015 thì thứ tự xem xét của Toà án trước hết là đánh giá xem hành vi phạm tội có đủ điều kiện miễn TNHS không, nếu không đủ điều kiện thì xét tiếp đến việc áp dụng các biện pháp giám sát, giáo dục có đảm bảo hiệu quả hay không, nếu các bước này đều không thoả mãn thì mới xem xét đến việc áp dụng hình phạt

Hình phạt đối với ngưới dưới 18 tuổi phạm tội được quy định tại Điều 98 của BLHS năm 2015, theo đó người dưới 18 tuổi phạm tội Toà án chỉ được tuyên một trong bốn hình phạt: cảnh cáo, phạt tiền, cải tạo không giam giữ, tù có thời hạn Xét về mặt nội dung, BLHS năm 2015 về cơ bản vẫn giống với quy định của BLHS năm 1999 khi quy định các hình phạt với người chưa thành niên chỉ gồm 04 loại là cảnh cáo, phạt tiền, cải tạo không giam giữ và tù có thời hạn

“Điều 98 Các hình phạt được áp dụng đối với người dưới 18 tuổi phạm tội

Người dưới 18 tuổi phạm tội chỉ bị áp dụng một trong các hình phạt sau đây đối với mỗi tội phạm:

1 Cảnh cáo;

2 Phạt tiền;

Trang 37

3 Cải tạo không giam giữ;

Cảnh cáo là sự khiển trách công khai của nhà nước đối với người bị kết án

Đây vẫn là hình phạt nhẹ nhất được áp dụng với người phạm tội, hình phạt này không gây thiệt hại về tài sản hay hạn chế quyền nhân thân của người phạm tội nhưng hình phạt này là biện pháp công khai lên án, phê phán người phạm tội được Toà án tuyên trong bản án nên sẽ tác động trực tiếp đến tinh thần của người phạm tội Để áp dụng hình phạt này với NCTNPT thì phải thoả mãn ba điều kiện:

Thứ nhất, tội phạm phải là tội ít nghiêm trọng Theo khoản 1 Điều 9 BLHS năm

2015, tội ít nghiêm trọng là tội phạm có tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội không lớn mà mức cao nhất của khung hình phạt là phạt tiền, phạt cải tạo không giam giữ hoặc phạt tù tối đa 03 năm Tại quy định về tuổi chịu trách nhiệm hình sự (Điều 12 BLHS năm 2015) thì người từ đủ 16 tuổi trở lên chịu TNHS về mọi tội phạm; người từ đủ 14 tuổi trở lên nhưng chưa đủ 16 tuổi chỉ chịu TNHS về tội giết người, tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác, tội hiếp dâm, tội hiếp dâm người dưới 16 tuổi, tội cưỡng dâm người từ đủ 13 tuổi đến dưới 16 tuổi, tội cướp tài sản, tội bắt cóc nhằm chiếm đoạt tài sản; về tội phạm rất nghiêm trọng, tội phạm đặc biệt nghiêm trọng của một số tội danh được liệt kê tại Điều này.25

25 “Điều 12 Tuổi chịu trách nhiệm hình sự

1 Người từ đủ 16 tuổi trở lên phải chịu trách nhiệm hình sự về mọi tội phạm, trừ những tội phạm mà Bộ luật này

có quy định khác

2 Người từ đủ 14 tuổi trở lên, nhưng chưa đủ 16 tuổi chỉ phải chịu trách nhiệm hình sự về tội giết người, tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác, tội hiếp dâm, tội hiếp dâm người dưới 16 tuổi, tội cưỡng dâm người từ đủ 13 tuổi đến dưới 16 tuổi, tội cướp tài sản, tội bắt cóc nhằm chiếm đoạt tài sản; về tội phạm rất nghiêm trọng, tội phạm đặc biệt nghiêm trọng quy định tại một trong các điều sau đây:

a) Điều 143 (tội cưỡng dâm); Điều 150 (tội mua bán người); Điều 151 (tội mua bán người dưới 16 tuổi);

b) Điều 170 (tội cưỡng đoạt tài sản); Điều 171 (tội cướp giật tài sản); Điều 173 (tội trộm cắp tài sản); Điều 178 (tội hủy hoại hoặc cố ý làm hư hỏng tài sản);

c) Điều 248 (tội sản xuất trái phép chất ma túy); Điều 249 (tội tàng trữ trái phép chất ma túy); Điều 250 (tội vận chuyển trái phép chất ma túy); Điều 251 (tội mua bán trái phép chất ma túy); Điều 252 (tội chiếm đoạt chất ma túy);

d) Điều 265 (tội tổ chức đua xe trái phép); Điều 266 (tội đua xe trái phép);

đ) Điều 285 (tội sản xuất, mua bán, trao đổi hoặc tặng cho công cụ, thiết bị, phần mềm để sử dụng vào mục đích trái pháp luật); Điều 286 (tội phát tán chương trình tin học gây hại cho hoạt động của mạng máy tính, mạng viễn

Trang 38

Thứ hai, có nhiều tình tiết giảm nhẹ Có nhiều tình tiết giảm nhẹ nghĩa là NCTNPT phải có ít nhất từ 02 tình tiết giảm nhẹ được quy định ở khoản 1 và khoản 2 Điều 51 BLHS năm 2015

Thứ ba, chưa đến mức miễn hình phạt Điều kiện về miễn hình phạt được quy định tại Điều 59 BLHS năm 2015, để có thể được xem xét miễn hình phạt thì người phạm tội phải có ít nhất 02 tình tiết giảm nhẹ quy định ở khoản 1 Điều 51 BLHS Đồng thời người phạm tội được xem là đáng khoan hồng đặc biệt nhưng chưa đến mức miễn TNHS BLHS năm 2015 không đưa ra cụ thể về tiêu chí “đáng khoan hồng đặc biệt” nên trong quá trình áp dụng quy định này còn phụ thuộc vào ý chí chủ quan của Hội đồng xét xử

Thứ tư, tội phạm mà người bị kết án có quy định hình phạt cảnh cáo là hình phạt

chính

¨ Hình phạt phạt tiền

“Điều 99 Phạt tiền

Phạt tiền được áp dụng là hình phạt chính đối với người từ đủ 16 tuổi đến dưới

18 tuổi, nếu người đó có thu nhập hoặc có tài sản riêng

Mức tiền phạt đối với người từ đủ 16 tuổi đến dưới 18 tuổi phạm tội không quá một phần hai mức tiền phạt mà điều luật quy định.”

Phạt tiền là hình phạt tước của người bị kết án một khoản tiền nhất định để sung công quỹ nhà nước

Phạt tiền là hình phạt chính đối với NCTNPT từ đủ 16 đến dưới 18 tuổi, nếu người

đó có thu nhập hoặc tài sản riêng, mức phạt tiền đối với NCTNPT không quá ½ mức phạt đối với NĐTN Như vậy, hình phạt phạt tiền ở BLHS năm 2015 không có quy định

gì khác so với BLHS năm 1999 Để áp dụng hình phạt này đối với NCTNPT cần phải thoả mãn 04 điều kiện:

Thứ nhất, đối tượng được áp dụng phải là NCTNT từ đủ 16 tuổi đến dưới 18 tuổi

vào thời điểm thực hiện tội phạm Quy định này là đồng bộ với quy định của các ngành luật khác, đồng thời độ tuổi từ đủ 16 đến dưới 18 tuổi giúp tăng tính khả thi hơn trong

thông, phương tiện điện tử); Điều 287 (tội cản trở hoặc gây rối loạn hoạt động của mạng máy tính, mạng viễn thông, phương tiện điện tử); Điều 289 (tội xâm nhập trái phép vào mạng máy tính, mạng viễn thông hoặc phương tiện điện tử của người khác); Điều 290 (tội sử dụng mạng máy tính, mạng viễn thông, phương tiện điện tử thực hiện hành vi chiếm đoạt tài sản);

e) Điều 299 (tội khủng bố); Điều 303 (tội phá hủy công trình, cơ sở, phương tiện quan trọng về an ninh quốc gia); Điều 304 (tội chế tạo, tàng trữ, vận chuyển, sử dụng, mua bán trái phép hoặc chiếm đoạt vũ khí quân dụng, phương tiện kỹ thuật quân sự).”

Trang 39

việc chấp hành hình phạt của người phạm tội, vì theo quy định hiện hành người từ đủ 15 tuổi mới đủ điều kiện lao động

Thứ hai, người từ đủ 16 tuổi đến dưới 18 tuổi phạm tội phải có thu nhập hoặc có

tài sản riêng đảm bảo cho việc thi hành án Thu nhập ở đây phải là thu nhập thực tế từ hợp đồng lao động hoặc từ hoạt động kinh doanh Tài sản riêng là tài sản thuộc quyền

sở hữu của người đó có được do lao động, thừa kế, tặng cho… Thu nhập hoặc tài sản riêng của người bị kết án phải đủ để thi hành án, nếu không đủ thì Toà án phải quyết định một hình phạt khác

Thứ ba, tội phạm mà người bị kết án có quy định hình phạt tiền là hình phạt chính Thứ tư, mức phạt tiền tối thiểu đối với NCTNPT là 1.000.000 đồng (khoản 3 Điều

BLHS năm 2015 không quy định tối đa mức hình phạt mà NCTNPT phải chịu là bao nhiêu chỉ quy định rằng mức tiền mà NCTN phải chịu tối đa không quá ½ mức tiền

mà NĐTN phải chịu Khi quyết định hình phạt Toà án phải dựa trên nhiều cơ sở để đưa

ra mức hình phạt phù hợp như: tính chất, mức độ nghiêm trọng của tội phạm, tài sản của người phạm tội, sự biến động giá (khoản 3 Điều 35 BLHS năm 2015)

¨ Hình phạt cải tạo không giam giữ

“Điều 100 Cải tạo không giam giữ

1 Hình phạt cải tạo không giam giữ được áp dụng đối với người từ đủ 16 đến dưới 18 tuổi phạm tội ít nghiêm trọng, phạm tội nghiêm trọng hoặc phạm tội rất nghiêm trọng do vô ý hoặc người từ đủ 14 tuổi đến dưới 16 tuổi phạm tội rất nghiêm trọng do

Cải tạo không giam giữ là hình phạt không buộc người bị kết án phải cách ly khỏi

xã hội, mà người bị kết án sẽ được giao cho cơ quan nhà nước, tổ chức xã hội giám sát, giáo dục nhằm phát huy vai trò của quần chúng nhân dân tham gia vào việc cải tạo, giáo dục người phạm tội

26 “Điều 35 Phạt tiền

[…] 3 Mức tiền phạt được quyết định căn cứ vào tính chất và mức độ nguy hiểm của tội phạm, đồng thời có xét đến tình hình tài sản của người phạm tội, sự biến động của giá cả, nhưng không được thấp hơn 1.000.000 đồng.”

Trang 40

Hình phạt cải tạo không giam giữ được áp dụng đối với người từ đủ 16 đến dưới

18 tuổi phạm tội ít nghiêm trọng, phạm tội nghiêm trọng hoặc phạm tội rất nghiêm trọng

do vô ý hoặc người từ đủ 14 tuổi đến dưới 16 tuổi phạm tội rất nghiêm trọng do cố ý Khi áp dụng hình phạt cải tạo không giam giữ đối với người dưới 18 tuổi phạm tội, thì không khấu trừ thu nhập của người đó Thời hạn cải tạo không giam giữ đối với người dưới 18 tuổi phạm tội không quá một phần hai thời hạn đối với NĐTN phạm tội Như vậy để áp dụng hình phạt này đối với NCTNPT thì cần thoả mãn các điều kiện sau:

Thứ nhất, về điều kiện chủ thể có hai loại, BLHS năm 2015 phân loại chủ thể

được áp dụng hình phạt này dựa vào độ tuổi và lỗi của chủ thể Nhóm chủ thể đầu tiên

là người từ đủ 16 tuổi đến dưới 18 tuổi phạm tội ít nghiêm trọng, phạm tội nghiêm trọng hoặc phạm tội rất nghiêm trọng do lỗi vô ý Nhóm thứ hai là người từ đủ 14 tuổi đến dưới 16 tuổi phạm tội nghiêm trọng do lỗi cố ý Căn cứ theo khoản 2 Điều 12 BLHS năm 2015, thì nhóm đối tượng từ đủ 14 tuổi đến dưới 16 tuổi chỉ chịu trách nhiệm hình

sự về phạm tội nghiêm trọng do lỗi cố ý với các tội danh giết người, tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khoẻ của người khác, tội hiếp dâm, tội hiếp dâm người dưới 16 tuổi, tội cưỡng dâm người từ đủ 13 tuổi đến dưới 16 tuổi, tội cướp tài sản, tội bắt cóc nhằm chiếm đoạt tài sản

Thứ hai, người phạm tội có nơi làm việc ổn định hoặc nơi cư trú rõ ràng Nơi cư

trú rõ ràng là nơi cư trú có địa chỉ được xác định cụ thể.27 Điều kiện này nhằm bảo đảm cho việc áp dụng hình phạt có hiệu quả, đồng thời thuận lợi cho người bị kết án Bản chất hình phạt Cải tạo không giam giữ là không tước tự do của người bị kết án nhưng mục đích trừng trị và giáo dục, cải tạo người phạm tội vẫn đạt được khi người đó chịu

sự giám sát của cơ quan Nhà nước, tổ chức xã hội, gia đình.28

Thứ ba, không cần phải cách ly người phạm tội khỏi xã hội nhưng vẫn có căn cứ

để giáo dục, cải tạo người phạm tội thành người có ích Việc xét thấy cần thiết hay không cần thiết phải cách ly người phạm tội khỏi xã hội là điều kiện mở, phụ thuộc vào sự phân tích, đánh giá hồ sơ, nhận định của HĐXX Mặc dù vậy, trong quá trình giải quyết, một trong những căn cứ quan trọng để hầu hết các HĐXX xem xét vấn đề này là căn cứ vào các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự Do đó, để có cơ sở pháp lý, tạo sự thống nhất trong quá trình đánh giá, cần thiết quy định điều kiện về tình tiết giảm nhẹ để làm cơ sở xem xét áp dụng hình phạt cải tạo không giam giữ Cụ thể, người phạm tội phải có từ 2 tình tiết giảm nhẹ trở lên mới được áp dụng hình phạt này.29

27 Khoản 4 Điều 2 Nghị quyết số 01/2018/NQ-HĐTP

28 Văn Linh, Về điều kiện áp dụng và nghĩa vụ của người bị kết án cải tạo không giam giữ, Tạp chí Toà án,

https://tapchitoaan.vn/bai-viet/trao-doi-y-kien/ve-dieu-kien-ap-dung-va-nghia-vu-cua-nguoi-bi-ket-an-cai-tao-khong-giam-giu, truy cập ngày 12/5/2022

29 Văn Linh, Về điều kiện áp dụng và nghĩa vụ của người bị kết án cải tạo không giam giữ, Tạp chí Toà án,

https://tapchitoaan.vn/bai-viet/trao-doi-y-kien/ve-dieu-kien-ap-dung-va-nghia-vu-cua-nguoi-bi-ket-an-cai-tao-khong-giam-giu, truy cập ngày 12/5/2022

Ngày đăng: 11/01/2023, 11:12

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w