Từ tháng 4 năm 1975, với thắng lợi hoàn toàn triệt để của sự nghiệp chống Mỹ cứu nước, cách mạng Việt Nam chuyển sang giai đoạn mới. Do đó hệ thống chính trị cũng chuyển sang giai đoạn mới: từ hệ thống chuyên chính dân chủ nhân dân sag hệ thống chuyên chính vô sản trong phạm vi cả nước. Tuy nhiên việc sử dụng chuyên chính vô sản để tiếp tục đấu tranh giai cấp dưới hình thức mới dẫn đến nhiều hạn chế, sai lầm cùng với những yêu cầu đổi mới đã thúc đẩy nước ta tiến hành đổi mới, chuyển sang hệ thống chính trị trong thời kỳ mới, Đổi mới hệ thống chính trị ở Việt Nam, Đường lối cách mạng của Đảng cộng sản Việt Nam
Trang 1MỞ ĐẦU
Từ tháng 4 năm 1975, với thắng lợi hoàn toàn triệt để của sự nghiệp chống
Mỹ cứu nước, cách mạng Việt Nam chuyển sang giai đoạn mới Do đó hệ thống chính trị cũng chuyển sang giai đoạn mới: từ hệ thống chuyên chính dân chủ nhân dân sag hệ thống chuyên chính vô sản trong phạm vi cả nước Tuy nhiên việc sử dụng chuyên chính vô sản để tiếp tục đấu tranh giai cấp dưới hình thức mới dẫn đến nhiều hạn chế, sai lầm cùng với những yêu cầu đổi mới đã thúc đẩy nước ta tiến hành đổi mới, chuyển sang hệ thống chính trị trong thời kỳ mới
Trong bài tập học kì, em xin trình bày đề tài: “Đổi mới hệ thống chính trị ở Việt Nam” để làm rõ hơn vấn đề này.
NỘI DUNG
I. Khái niệm hệ thống chính trị
1. Khái niệm “hệ thống chính trị”
Khái niệm “Hệ thống chính trị” bắt đầu được sử dụng từ Hội nghị Trung ương 6 khóa VI (tháng 3-1989), để thay cho khái niệm “Hệ thống chuyên chính
vô sản” Sau đó được thể chế hóa trong Hiến pháp năm 1992 và các văn bản khác Đây là một bước nhận thức mới của Đảng ta về vai trò, vị trí, tính chất của
hệ thống quyền lực trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam
Hệ thống chính trị là một bộ phận kiến trúc thượng tầng xã, bao gồm các
tổ chức, các thiết chế có quan hệ với nhau về mặt mục đích, chức năng trong việc thực hiện, tham gia thực hiện quyền lực chính trị hoặc đưa ra các quyết định chính trị Nếu coi thể chế phát triển là những quy tắc chính thức và không chính thức quy định sự vận hành của các yếu tố nhằm đạt được mục đích phát triển đất nước, thì thể chế chính trị giữ vai trò trung tâm, quyết định
2. Các thành tố của hệ thống chính trị
Trang 2Cấu trúc của hệ thống chính trị rất đa dạng nhưng cơ bản gồm ba bộ phận: đảng chính trị, nhà nước và các tổ chức chính trị xã hội của nhân dân
Hệ thống chính trị ở Việt Nam hiện nay bao gồm: Đảng Cộng sản Việt Nam, Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các tổ chức chính trị xã hội (Tổng Liên đoàn Lao động Việt Nam, Đoàn Thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh, Hội Liên hiệp Phụ nữ Việt Nam, Hội Cựu chiến binh Việt Nam, Hội Nông dân Việt Nam, …) và các mối quan hệ giữa các thành tố trong hệ thống
II. Mục tiêu, quan điểm về đổi mới hệ thống chính trị ở nước ta
1. Mục tiêu xây dựng hệ thống chính trị
Mục tiêu chủ yếu của đổi mới hệ thống chính trị là nhằm thực hiện tốt hơn dân chủ chủ xã hội chủ nghĩa, phát huy đầy đủ quyền làm chủ của nhân dân Toàn bộ tổ chức và hoạt động của hệ thống chính trị ở nước ta trong giai đoạn mới là nhằm xây dựng và hoàn thiện nền dân chủ xã hooim chủ nghĩa, đảm bảo quyền lực thuộc về nhân dân
2. Quan điểm xây dựng hệ thống chính trị
Thứ nhất, kết hợp chặt chẽ giữa đổi mới kinh tế và đổi mới chính trị.
Trong đó lấy đổi mới kinh tế là trọng tâm đồng thời từng bước đổi mới chính trị Đối với sự phát triển của một đất nước thì nền kinh tế chiếm vị trí trọng điểm, vì vậy muốn đổi mới hệ thống chính trị thì trước hết phải đổi mới kinh tế Trên cơ
sở đổi mới kinh tế có hiệu quả thì mới có thể đổi mới hệ thống chính trị
Thứ hai, đổi mới hệ thống chính trị không phải là thay đổi bản chất mà
làm hệ thống chính trị hoạt động hiệu quả hơn, phù hợp với đướng lối đởi mới, với nền kinh tế thị trường và hội nhập quốc tế Đổi mới tổ chức và phương thức hoạt động của hệ thống chính trị là nhằm tăng cường vai trò lãnh đạo của Đảng,
Trang 3Thứ ba, đổi mới hê thống chính trị đảm bảo tính toàn diện, đồng bộ, tính
kế thừa, có hình thức và bước đi cụ thể trong đổi mới hệ thống chính trị Đổi mới không có nghĩa là bỏ hết cái cũ đi thay cái mới mà vừa đổi mới vừa kế thừa những kinh nghiệm của thế hệ đi trước Việc đổi mới phải có kế hoạch, chủ trương, đường lối rõ rang, xác định những nhiệm vụ cụ thể và lâu dài, từng bước đổi mới
Thứ tư, đổi mới mối quan hệ giữa các thành tố trong hệ thống chính trị Đó
là: đổi mới sự lãnh đạo của Đảng đối với Nhà nước và xã hội, đổi mới vai trò quản lý của Nhà nước, đổi mới tổ chức và hoạt động của Mặt trậ Tổ quốc và các
tổ chức chính trị xã hội
III. Chủ trương của Đảng về đổi mới hệ thống chính trị
1. Xây dựng Đảng trong hệ thống chính trị
Về phương thức lãnh đạo:
Đảng Cộng sản Việt Nam là đội tiên phong của giai cấp công nhân, đồng thời là đội tiên phong của của nhân dân lao động và của dân tộc Việt Nam; đại biểu trung thành lợi ích của giai cấp công nhân, nhân dân lao động và của dân
tộc Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kì quá độ lên chủ nghĩa xã hội (bổ sung, phát triển năm 2011) xác định: “Đảng lãnh đạo xã hội bằng cương lĩnh,
chiến lược, các định hướng về chính sách và chủ trương lớn; bằng công tác tuyên truyền, thuyết phục, vận động, tổ chức, kiểm tra, giám sát và bằng hành động gương mẫu của đảng viên”
Về vị trí, vai trò của Đảng trong hệ thống chính trị:
Cương lĩnh (bổ sung, phát triển năm 2011) xác định: “Đảng lãnh đạo hệ thống chính trị, đồng thời là bộ phận của hệ thống ấy Đang gắn bó mật thiết với nhân dân, tôn trọng và phát huy quyền làm chủ của nhân dân, dựa vào nhân dân
Trang 4để xây dựng Đảng, chịu sự giám sát của nhân dân, hoạt động trong khuôn khổ Hiến pháp và pháp luật”
2. Xây dựng nhà nước pháp quyền trong hệ thống chính trị
Nhân thức của Đảng về xây dựng nhà nước pháp quyền: khái niệm “nhà nước pháp quyền” lần đầu xuất hiện trong văn kiện Hội nghị Trung ương 2 khóa VII (năm 1991) Đảng bắt đầu chủ trương xây dựng nhà nước pháp quyền tại Hội nghị Đại biểu toàn quốc giữa nhiệm kì của Đảng và được phát triển tại Hội nghị Trung ương 8 khóa VII (năm 1995), Hội nghị Trung ương 3 khóa VIII (năm 1997) Nhận thức của Đảng về nhà nước pháp quyền được bổ sung và hoàn thiện qua nhiều Đại hội
Đảng chủ trương xây dựng nhà nước pháp quyền do thực trang mô hình nhà nước trước thời kỳ đổi mới quản lý kinh tế xã hội chủ yếu bằng mệnh lệnh hành chính dẫn tới hệ thống pháp luật rất thiếu và yếu; nhu cầu đổi mới đồng bộ toàn diện của đất nước; quá trình hội nhập quốc tế và xu thế hóa đời sống xã hội trên thế giới tác động
Quan điểm của Đảng về nhà nước pháp quyền:
Một là, nhà nước pháp quyền Việt Nam là nhà nước của dân, do dân, vì
dân, tất cả quyền lực thuộc về nhân dân Đây là mục tiêu của Đảng trong xây dựng nhà nước pháp quyền
Hai là, nhà nước pháp quyền Việt Nam là nhà nước vận hành theo nguyên
tắc: quyền lực nhà nước là thống nhất, có sự phận công, phối hợp và kiểm soát giữa các cơ quan trong việc thực hiện ba quyền lập pháp, hành pháp và tư pháp
Ba là, nhà nước pháp quyền được tổ chức và hoạt động trên cơ sở hiến
pháp và pháp luật, đảm bảo cho pháp luật giữ vị trí thượng tôn
Trang 5Năm là, nhà nước pháp quyền xây dựng theo thể chế có môt Đảng lãnh
đạo và có sự giám sát của nhân dân
3. Xây dựng Mặt trận Tổ quốc và các tổ chức chính trị-xã hội trong hệ thống chính trị
Mặt trân Tổ quốc Việt Nam và cá tổ chức chính trị có vai trò quan trọng việc tập hợp, vận động, đoàn kết rộng rãi các tang lớp nhân dân; đại diện cho quyền và lợi ích hợp pháp của nhân dân, đề xuất các chủ trương, chính sách về kinh tế, văn hóa, xã hội, an ninh, quốc phòng
Nhà nước ban hành cơ chế để Mặt trận Tổ quốc và các tổ chức chính trị-xã hội thực hiên tốt vai trò giám sát và phản biện xã hội
Đổi mới hoạt động của Mặt trân Tổ quốc và tổ chức chính trị-xã hội, khắc phục tính trạng hành chính hóa, nhà nước hóa, phô trương, hình thức; nâng cao chất lượng hoạt động, làm tốt công tác đan vận theo phong cách trọng dân, gần dân, hiểu dân, học dân và có trách nhiệm với dân, nghe dân nói, nói dân hiểu, làm dân tin
IV. Những thành tựu đạt được và hạn chế trong đổi mới
1. Những thành tựu đạt được trong đổi mới
Trong mấy nhiệm kỳ Đại hội Đảng gần đây, Ban Chấp hành Trung ương,
Bộ Chính trị đã có nhiều chủ trương nhằm đổi mới, kiện toàn tổ chức bộ máy hệ thống chính trị gắn với tinh giản biên chế, cải cách tiền lương và tập trung lãnh đạo, chỉ đạo thực hiện, như: Nghị quyết Trung ương 7 (khóa VIII) “Một số vấn
đề về tổ chức, bộ máy của hệ thống chính trị và tiền lương, trợ cấp xã hội thuộc ngân sách nhà nước”; Nghị quyết Trung ương 5 (khóa IX) về “Đổi mới và nâng cao chất lượng hệ thống chính trị cơ sở xã, phường, thị trấn”; Nghị quyết Trung ương 4 (khóa X) về “Đổi mới, kiện toàn tổ chức bộ máy các cơ quan đảng, định
Trang 6hướng đổi mới, kiện toàn tổ chức bộ máy các cơ quan Nhà nước, Mặt trận Tổ quốc và các đoàn thể chính trị - xã hội”,…
Quá trình thực hiện các nghị quyết của Đảng đã thu được những kết quả quan trọng, đã bước đầu hình thành nhận thức lý luận về tổ chức bộ máy hệ thống chính trị theo quan điểm đổi mới, định hướng tư tưởng cho những giải pháp nhằm đổi mới tổ chức bộ máy hệ thống chính trị ở nước ta trong điều kiện mới Cơ cấu tổ chức bộ máy trong hệ thống chính trị đã được sắp xếp lại một bước, có nhiều tiến bộ
Nghị quyết Đại hội XII của Đảng khẳng định công tác xây dựng Đảng, xây dựng hệ thống chính trị được chú trọng và đạt kết quả quan trọng:
Hệ thống chính trị từng bước được đổi mới để phù hợp hơn với tình trạng
và bối cảnh đất nước Vị trí, vai trò, chức năng, nhiệm vụ của các tổ chức trong hệt thống chính trị được xác định ngày càng rõ ràng và được thể chế hóa trong các quy định của pháp luật Phân định rõ hơn vai trò lãnh đạo của Đảng, vai trò quản lý của Nhà nước và vai trò của Mặt trân Tổ quốc, các tổ chức chính trị, xã hội
Tổ chức bộ máy và cơ chế hoạt động, cơ chế phối hợp giữa các cơ quan trong hệ thống chính trị đã được đổi mới một bước, phát huy tốt hơn vai trò của từng tổ chức Chất lượng đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức trong hệ thống chính trị được nâng lên một bước đáp ứng tốt hơn yêu cầu nhiệm vụ
Hệ thống pháp luật được đổi mới, sửa đổi, bổ sung và xây dựng ngày càng đầy đủ và phù hợp hơn Nguyên tắc quyền lực nhà nước là thống nhất, có sự phấn công phối hợp và kiểm soát từng bước được quy định rõ ràng và triển khai thực hiện trên thực tế
Trang 7Những tiến bộ và kết quả đó đã góp phần vào sự ổn định chính trị, phát triển kinh tế - xã hội của đất nước trong những năm qua Hệ thống chính trị cơ bản ổn định, phù hợp với Cương lĩnh và Hiến pháp; bảo đảm vai trò lãnh đạo của Đảng, quản lý của Nhà nước, phát huy quyền làm chủ của nhân dân, góp phần quan trọng vào những thành tựu to lớn, có ý nghĩa lịch sử của công cuộc đổi mới, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc
2. Những hạn chế trong đổi mới
Bên cạnh những thành tựu đã đạt được, công cuộc đổi mới vẫn có những sai lầm, hạn chế nhất định Cụ thể là:
Đổi mới hệ thống chính trị có phần lúng túng, có mặt còn chậm, chưa theo kịp và đáp ứng tốt yêu cầu của những bước phát triển kinh tế xã hội Tổ chức bộ máy của hệ thống chính trị vẫn còn cồng kềnh, nhiều tầng nấc, nhiều đầu mối; hiệu lực, hiệu quả hoạt động chưa đáp ứng yêu cầu, nhiệm vụ Chức năng, nhiệm
vụ, quyền hạn, tổ chức bộ máy, mối quan hệ của một số cơ quan, tổ chức còn chồng chéo, trùng lặp Việc phân công, phân cấp, phân quyền giữa các ngành, các cấp và trong từng cơ quan, tổ chức chưa hợp lý, chưa mạnh mẽ và đồng bộ; còn tình trạng bao biện, làm thay hoặc bỏ sót nhiệm vụ Số người hưởng lương, phụ cấp từ ngân sách nhà nước rất lớn, nhất là ở các đơn vị sự nghiệp công lập, người hoạt động không chuyên trách cấp xã và ở thôn, tổ dân phố; chính sách tiền lương còn bất cập Việc sắp xếp tổ chức bộ máy chưa thật gắn kết với điều chỉnh chức năng, nhiệm vụ tinh giản biên chế và nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ, công chức Một bộ phận cán bộ, công chức không đáp ứng được yêu cầu nhưng chưa có cơ chế để thay thế kịp thời
Việc xây dựng nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa chưa đáp ứng các nguyên tắc cơ bản Cơ chế kiểm soát quyền lực hiệu quả chưa cao; việc công khai, minh bạch và trách nhiệm giải trình còn hạn chế Cải cách hành chính, nhất
Trang 8là cải cách thủ tục hành chính chuyển biến chậm, không đồng bộ, chưa đáp ứng yêu cầu Năng lực quản lý, điều hành và hiệu lực, hiệu quả hoạt động của một số
cơ quan nhà nước cả ở Trung ương và địa phương còn hạn chế Sự phối hợp giữa các cấp, các ngành, các địa phương có lúc, có nơi thiếu chặt chẽ Công tác lập pháp còn nhiều bất cập Hệ thống pháp luật còn nhiều nấc, thiếu đồng bộ, hiệu lực chưa cao, thiếu tính công khai, minh bạch, một số thiếu tính khả thi Tổ chức
bộ máy, phương thức hoạt động của Mặt trận Tổ quốc và các đoàn thể chính trị
-xã hội chậm đổi mới, một số nhiệm vụ còn trùng lắp, vẫn còn tình trạng "hành chính hóa", "công chức hóa
Kết luận
Đổi mới hệ thống chính trị đòi hỏi phải đổi mới đồng bộ, tổng thể, từ đổi mới Đảng lãnh đạo, Nhà nước, Mặt trận Tổ quốc và các tổ chức chính trị-xã hội; đổi mới cơ chế, nguyên tắc hoạt động và quan hệ giữa các bộ phận cấu thành hệ thống chính trị Đổi mới hệ thống chính trị đồng thời phải thực hiện tốt quy chế dân chủ ở cơ sở, dân chủ hóa đời sống xã hội, mở rộng dân chủ trực tiếp, thực hiện tốt hơn dân chủ đại diện, tạo điều kiện cho nhân dân thực sự tham gia ngày càng đông đảo và hiệu quả vào công việc của Nhà nước và xã hội
Trang 9Tài liệu tham khảo
1. Bộ giáo dục và đào tạo, Giáo trình đường lối cách mạng của Đảng Cộng sản Việt Nam”, NXB Chính trị quốc gia.
2. Đảng Cộng sản Việt Nam: Cương lĩnh xây dựng đất nước thời kỳ quá độ lên CNXH (bổ sung, phát triển năm 2011).
3. Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần IX.
4. Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần X.
5. Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XII.
6. Đảng Cộng sản Việt Nam: Chiến lược cán bộ trong thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, Văn kiện Hội nghị lần thứ ba Ban Chấp hành Trung ương khóa VIII, Hà Nội 1997.
7. Đảng Cộng sản Việt Nam: Nghị quyết số 17-NQ/TW, ngày 01/8/2007 về đẩy mạnh cải cách hành chính, nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý của
bộ máy nhà nước.
Đảng Cộng sản Việt Nam: Tiếp tục đổi mới, hoàn thiện hệ thống chính trị từ Trung ương đến cơ sở, Văn kiện Hội nghị lần thứ bảy Ban Chấp hành Trung ương khóa XI, Nxb, CTQG, Hà Nội 2013.
Trang 10MỤC LỤC