Vận dụng vai trò của thực tiễn đối với nhận thức để nhận thức và giải quyết vấn đề thực trạng xã hội và nhu cầu hoàn thiện hệ thống pháp luật ở Việt Nam hiện nay, thực trạng xã hội của pháp luật, thực trạng hệ thống pháp luật Việt Nam và nhu cầu hoàn thiện hệ thống pháp luật Việt Nam.
Trang 1MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 1
NỘI DUNG 1
I Lí luận Mác-Lenin về vai trò của thực tiễn với nhận thức 1
1 Thực tiễn và nhận thức 1
2 Vai trò của thực tiễn đối với nhận thức 2
II Vận dụng vai trò của thực tiễn đối với nhận thức để nhận thức và giải quyết vấn đề thực trạng xã hội và nhu cầu hoàn thiện hệ thống pháp luật ở Việt Nam hiện nay 3
1.Khái niệm pháp luật, hệ thống pháp luật 3
2 Thực trạng xã hội về pháp luật 5
3 Thực trạng hệ thống pháp luật Việt Nam hiện nay 7
4 Vận dụng vai trò của thực tiễn đối với nhận thức để giải quyết vấn đề nhu cầu hoàn thiện hệ thống pháp luật Việt Nam 9
KẾT LUẬN 11
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 12
Trang 2MỞ ĐẦU
Trong cuộc sống, mọi người đều không thể tồn tại một cách biệt lập mà phải tham gia vào các mối quan hệ với người khác, tạo nên hệ thống các mối quan hệ xã hội vô cùng phức tạp, đan xen chằng chịt với nhau Trong điều kiện để đảm bảo lợi ích của mỗi cá nhân cũng như sự ổn định, trật tự của xã hội các công cụ điều chỉnh quan hệ xã hội xuất hiện Khi điều kiện kinh tế, xã hội thay đổi, trong xã hội xuất hiện các quan hệ xã hội mới, tương đối đa dạng phức tạp mà các quy tắc đạo đức, phong tục tập quán… không điều chỉnh hết hoặc điều chỉnh không hiệu quả hoặc không điều chỉnh được thì một loại quy tắc ứng mới ra đời, đó chính là pháp luật Pháp luật xuất hiện một cách khách quan, là sản phẩm của sự phát triển tự nhiên của đời sống xã hội và ngày càng khẳng định vai trò chủ đạo trong việc điều chỉnh
các quan hệ xã hội Trong bài tập học kì, người viết xin trình bày đề tài: “Vận dụng vai trò của thực tiễn đối với nhận thức để nhận thức và giải quyết vấn đề thực trạng xã hội và nhu cầu hoàn thiện hệ thống pháp luật ở Việt Nam hiện nay”
để làm rõ thực trạng xã hội của pháp luật, thực trạng hệ thống pháp luật Việt Nam
và nhu cầu hoàn thiện hệ thống pháp luật Việt Nam
NỘI DUNG
I Lí luận Mác-Lenin về vai trò của thực tiễn với nhận thức
1 Thực tiễn và nhận thức
1.1 Thực tiễn và các hình thức cơ bản của thực tiễn
Thực tiễn là toàn bộ hoạt động vật chất có mục đích, mang tính lịch sử - xã hội của con người nhằm cải biến tự nhiên và xã hội Hoạt động thực tiễn là loại hoạt động mà con người sử dụng những công cụ vật chất tác động vào những đối tượng vật chất nhất định làm biến đổi chúng theo mục đích của mình Đó là những
Trang 3hoạt động đặc trưng và bản chất của con người Nó được thực hiện một cách tất yếu khách quan và không ngừng phát triển bởi con người qua các thời kì lịch sử
Thực tiễn biểu hiện rất đa dạng với nhiều hình thức ngày càng phong phú, song có ba hình thức cơ bản là: hoạt động sản xuất vật chất, hoạt động chính trị
-xã hội và hoạt động thực nghiệm khoa học Mỗi hình thức hoạt động cơ bản của thực tiễn có một chức năng quan trọng khác nhau, không thể thay thế cho nhau, song chúng có mối liên hệ chặt chẽ, tác động qua lại
1.2 Nhận thức và các trình độ nhận thức
Nhận thức là một quá trình phản ánh tích cực, tự giác và sang tạo thế giới khách quan vào bộ óc con người trên cơ sở thực tiễn, nhằm sáng tạo ra những tri thức về thế giới khách quan
Theo quan điểm duy vật biện chứng, nhân thức là một quá trình Đó là quá trình đi từ trình độ nhận thức kinh nghiệm đến trình độ nhận thức lý luận, từ trình
độ nhận thức thông thường đến trình độ nhận thức khoa học, v.v
2 Vai trò của thực tiễn đối với nhận thức
Thứ nhất, thực tiễn đóng vai trò là cơ sở, động lực, mục đích của nhận thức.
Thực tiễn là điểm xuất phát trực tiếp của nhận thức; nó đề ra nhu cầu, nhiệm vụ, cách thức, khuynh hướng vận động và phát triển của nhận thức Chính con người
có nhu cầu tất yếu khách quan là phải giải thích thế giới nên con người tất yếu phải tác động vào các sự vật, hiện tượng bằng hoạt động thực tiễn của mình Sự tác động đó làm cho các sự vật, hiện tượng bộc lộ những thuộc tính, những mối liên hệ
và quan hệ khác nhau giữa chúng, đem lại những tài liệu cho nhận thức, giúp cho nhận thức nắm bắt được bản chất, các quy luật vận động phát triển của thế giới Trên cơ sở đó hình thành nên các lý thuyết khoa học Chẳng hạn xuất phát từ nhu cầu thực tiễn quan sát các vật ở xa mà con người đã sáng tạo ra ống nhòm, kính
Trang 4viễn vọng Nhờ có hoạt động thực tiễn mà các giác quan của con người ngày càng hoàn thiện, năng lực tư duy logic không ngừng được củng cố và phát triển, các phương tiện nhận thức ngày càng hiện đại, có tác động “nối dài” các giác quan của con người trong việc nhận thức thế giới
Thứ hai, thực tiễn đóng vai trò là tiêu chuẩn của chân lý, kiểm tra tính chân
lý của quá trính nhận thức Thực tiễn là thước đo giá trị của những tri thức đã đạt được trong nhận thức Đồng thời thực tiễn không ngừng bổ sung, sửa chữa, phát triển và hoàn thiện nhận thức C.Mác đã từng khẳng định: “Vấn đề tìm hiểu xem tư duy của con người có thể đạt tới chân lý khách quan không, hoàn toàn không phải
là một vấn đề lý luận mà là một vấn đề thực tiễn Chính trong thực tiễn mà con người phải chứng minh chân lý”
Như vậy, thực tiễn chẳng những là điểm xuất phát của nhận thức, là yếu tố đóng vai trò quyết định đối với sự hình thành và phát triển của nhận thức mà còn là nơi nhận thức cần hướng tới để nghiệm tính đúng đắn của mình Vai trò của thực tiễn đối với nhận thức đòi hỏi chúng ta phải luôn luôn quan tâm đến thực tiễn, không nên tách rời hoạt động thực tiễn với nhận thức Nếu xa rời thực tiễn sẽ dẫn đến sai lầm của bệnh chủ quan, duy ý chí, giáo điều, máy móc, quan lieu Ngược lại, nếu tuyệt đối hóa vai trò của thực tiễn sẽ rơi vào chủ nghĩa thực dụng và kinh nghiệm chủ nghĩa Vì vậy nguyên tắc thống nhất, song hành giữa thực tiễn và nhận thức phải là nguyên tắc cơ bản trong hoạt động thực tiễn và hoạt động nhận thức
II Vận dụng vai trò của thực tiễn đối với nhận thức để nhận thức và giải quyết vấn đề thực trạng xã hội và nhu cầu hoàn thiện hệ thống pháp luật
ở Việt Nam hiện nay
1.Khái niệm pháp luật, hệ thống pháp luật
1.1 Khái niệm pháp luật
Trang 5Pháp luật là hệ thống quy tắc xử sự chung do nhà nước đặt ra hoặc thừa nhận
và đảm bảo thực hiện để điều chỉnh các quan hệ xã hội theo mục đích, định hướng của nhà nước
Pháp luật có các đặc điểm sau:
Thứ nhất, pháp luật có tính quyền lực nhà nước Đây là đặc điểm riêng có
của pháp luật Với tính cách là những quy tắc xử sự chung do nhà nước ban hành thì pháp luật chính là những yêu cầu, đòi hỏi hoặc cho phép của nhà nước đối với hành vi con người
Thứ hai, pháp luật có tính quy phạm phổ biến Các quy định của pháp luật là
chuẩn mực, khuôn mẫu định hướng cho nhận thức và hành vi con người thông qua pháp luật, các cá nhân, tổ chức trong xã hội biết phải làm gì, được làm gì và không được làm gì
Thứ ba, pháp luật có tính hệ thống Pháp luật là một hệ thống quy tắc xử sự
chung điều chỉnh các quan hệ xã hội trên mọi lĩnh vực cuộc sống Các quy định pháp luật không tồn tại biệt lập mà có những mối liên hệ thống nhất với nhau tạo nên một chỉnh thể thống nhất
Thứ tư, pháp luật có tính xác định về hình thức Pháp luật được thể hiện
trong những hình thức xác định như tập quán pháp, tiền lệ pháp, văn bản quy phạm pháp luật Ở dạng thành văn, các quy định của pháp luật được thể hiện một cách rõ rang, cụ thể, không trừu tượng đảm bảo có thể hiểu và thực hiện thống nhất trên toàn xã hội
1.2 Khái niệm hệ thống pháp luật
Hệ thống pháp luật là một chỉnh thể các hiện tượng pháp luật (mà cốt lõi là các quy phạm pháp luật, được thể hiện trong các nguồn pháp luật) có sự liên kết,
Trang 6ràng buộc chặt chẽ, thống nhất với nhau, luôn có sự tác động qua lại lẫn nhau để thực hiện việc điều chỉnh pháp luật đối với các quan hệ xã hội
Hệ thống pháp luật có các đặc điểm sau:
Thứ nhất, hệ thống pháp luật được hình thành một cách khách quan, phụ
thuộc vào các điều kiện kinh tế, xã hội của đất nước, các thành tố của hệ thống pháp luật là do chính các quan hệ xã hội mà chúng điều chỉnh xác lập, không phụ thuộc vào ý chí của chủ thể ban hành pháp luật
Thứ hai, giữa các thành tố của hệ thống pháp luật luôn có mối liên hệ chặt
chẽ, thống nhất, phù hợp với nhau Giữa các thành tố của hệ thống pháp luật không chỉ có sự gắn, liên kết chặt chẽ với nhau mà còn có sự tác động qua lại, phối hợp với nhau, hỗ trợ cho nhau trong việc điều chỉnh các quan hệ xã hội
Thứ ba, hệ thống pháp luật là một tập hợp động, tính ổn định chỉ là tương
đối, nó luôn vận động thay đổi, phát triển qua từng thời kỳ phù hợp với nhu cầu điều chỉnh pháp luật và tiến trình phát triển của pháp luật
2 Thực trạng xã hội về pháp luật
2.1 Pháp luật đang đóng vai trò chủ đạo và vị trí trung tâm trong hệ thống các công cụ điều chỉnh quan hệ xã hội
Pháp luật đang trở thành công cụ quan trọng và hiệu quả trong việc điều chỉnh quan hệ xã hội Pháp luật không chỉ là công cụ để nhà nước quản lí xã hội và còn là công cụ để mỗi người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình Pháp luật
đã không còn là khái niệm của riêng nhà nước mà là quy tắc sử sự chung cho toàn
xã hội Pháp luật có phạm vi tác động rộng lớn đến mọi lĩnh vực đời sống Khi các quan hệ mới nảy sinh, pháp luật có thể dễ dàng thích ứng, thay đổi, bổ sung để kịp thời đáp ứng nhu cầu cuộc sống
Trang 7Pháp luật điều tiết, định hướng cho sự phát triển của các quan hệ xã hội Pháp luật ghi nhận, bảo vệ những quan hệ xã hội phù hợp, ngăn ngừa, loại bỏ những quan hệ xã hội lạc hậu, lỗi thời, tiêu cực đối với nhà nước và xã hội Pháp luật còn là tiêu chuẩn, giới hạn cho hành vi con người, để mọi thành viên trong xã hội biết hành vi nào phải làm, được làm và cấm làm để từ đó có cách ứng xử phù hợp khi gặp tình huống cụ thể
Pháp luật là cơ sở để đảm bảo an toàn xã hội An toàn xã hội là tình trạng của đời sống xã hội, trong đó con người được yên ổn sinh hoạt hằng ngày, trong lao động, học tập, tính mạng, sức khỏe, danh dự, tài sản… không bị xâm hại Nhờ
có pháp luật mà con người được bảo vệ, pháp luật trừng trị những hành vi xâm hại đến an toàn xã hội, khiến mọi người vững tin hơn để làm tốt công việc của mình
Pháp luật là cơ sở để giải quyết tranh chấp trong xã hội Xã hội luôn biến đổi, nảy sinh tranh chấp là không thể tránh khỏi Với tính cách là quy tắc xử sự chung cho toàn xã hội, pháp luật là công cụ hiệu quả nhất để giải quyết các tranh chấp nảy sinh trong xã hội
Pháp luật là phương tiện bảo đảm, bảo vệ quyền con người Quyền con người là quyền tự nhiên của con người, là quyền thiêng liêng bất khả xâm phạm Trong thời đại ngày nay, pháp luật đang làm rất tốt vai trò của mình trong việc bảo đảm, bảo vệ quyền, tự do, dân chủ của con người Pháp luật ghi nhận các quyền tự
do, dân chủ của con người đồng thời quy định trách nhiệm của cá nhân, tổ chức, đặc biệt là nhà nước trong việc tôn trọng, bảo vệ quyền con người
2.2 Nhu cầu sử dụng pháp luật ngày càng cao của người dân
Ngày nay pháp luật đã không còn xa lạ với đại bộ phận người dân, pháp luật đang ngày càng đi sâu vào đời sống xã hội, trở thành công cụ mà người dân tìm đến khi cần thiết Với tính chất công khai của mình, một khi pháp luật được công
Trang 8bố thì bắt buộc các thành viên trong xã hội phải nắm bắt được chúng Mặt khác chính nhu cầu của đời sống xã hội đòi hỏi con người phải có kiến thức nhất định về pháp luật Vì vậy đối với đa số người dân thì dù ít dù nhiều vẫn có kiến thức về pháp luật
Pháp luật là tiêu chuẩn, giới hạn cho hành vi con người, thông qua pháp luật, người dân biết phải làm gì, được làm gì và không được làm gì Người dân đang ngày càng có ý thức hơn về quyền, nghĩa vụ cũng như trách nhiệm của mình
để có hành vi đúng đắn, phù hợp Người dân dùng pháp luật để bảo vệ quyền của mình như quyền tự do ngôn luận, quyền tự do kinh doanh, quyền biểu tình… Pháp luật là cơ sở hình thành ý thức tuân thủ pháp luật, thái độ tôn trọng pháp luật, sống
và làm việc theo pháp luật thúc đẩy việc hình thành thói quen, suy nghĩ và hành động hợp pháp
Pháp luật đang trở thành công cụ giải quyết tranh chấp hiệu quả Pháp luật là nơi dân tìm đến khi có tranh chấp hay vụ việc cần giải quyết Minh chứng là ngày tiếp dân ở các Ủy ban nhân dân huyện, Ủy ban nhân dân tỉnh luôn đông người để bày tỏ ý kiến và lắng nghe lãnh đạo huyện, tỉnh giải thích, giải quyết vụ việc
3 Thực trạng hệ thống pháp luật Việt Nam hiện nay
3.1 Hệ thống pháp luật Việt Nam đang từng bước đổi mới, có nhiều tiến bộ
Trong thời gian gần đây, chủ trương của Đảng Cộng sản Việt Nam và Nhà nước Việt Nam là xây dựng nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của nhân dân,
do nhân dân, vì nhân dân và thực hiện hội nhập quốc tế sâu rộng đã đặt ra nhiệm
vụ hoàn thiện hệ thống pháp luật, tăng tính cụ thể, khả thi của các quy định trong văn bản pháp luật Sự thay đổi tư duy, nhất là tư duy pháp lí đã làm cho hệ thống
Trang 9pháp luật Việt Nam hoàn thiện hơn, kịp thời điều chỉnh, giải quyết tốt các quan hệ
xã hội, đặc biệt là các quan hệ xã hội mới phát sinh
Với chủ trương hoàn thiện hệ thống pháp luật đáp ứng yêu cầu phát triển mới của đất nước, Quốc hội đã thông qua nhiều Luật như Luật tổ chức Quốc hội, Luật tổ chức Chính phủ, Luật tổ chức Viện kiểm sát nhân dân, Luật Tiếp cận thông tin, Luật Trưng cầu ý dân…, đặc biệt là Luật ban hành văn bản quy phạm pháp luật góp phần khắc phục những hạn chế, bất cập trong thực tiễn xây dựng và thi hành pháp luật thời gian qua Hệ thống pháp luật được bổ sung thêm các quy phạm mới, loại bỏ dần những quy phạm lạc hậu, không còn phù hợp; nguồn pháp luật được củng cố mở rộng; ý thức pháp luật ngày càng được nâng cao, hoạt động đào tạo nguồn nhân lực được chú trọng… Có thể nói hệ thống pháp luật Việt Nam đang ngày càng hoàn thiện, tiến bộ
3.2 Những hạn chế của hệ thống pháp luật Việt Nam
Một bộ phận người dân vẫn chưa có sự hiểu biết về pháp luật hoặc một bộ phận hiểu sai về luật Tuy nói luật pháp đang ngày càng đi sâu vào nhận thức của người dân nhưng tình trạng không hiểu biết hay hiểu sai là không thể tránh khỏi Khi xảy ra vấn đề hoặc có tranh chấp, nhiều người dân không biết đi đâu để giải quyết hoặc phải giải quyết như thế nào Có những trường hợp dân không hiểu biết
rõ chỉ nghe người khác nói mà có những lời lẽ, hành động không phù hợp, thậm chí là trái pháp luật Chẳng hạn như khi Luật An ninh mạng được công bố, rất nhiều người không biết cụ thể trong luật này quy định những gì những vẫn dấy lên làn sóng phản đối dữ dội Hay khi dự thảo Luật đặc khu kinh tế được đưa ra, đa phần người dân không hiểu rõ mà chỉ bị kích thích bởi những thế lực khác mà giăng cờ biểu tình, đập phá tài sản, cố ý gây thương tích và để lại nhiều hậu quả nặng nề
Trang 10Hệ thống pháp luật Việt Nam vẫn còn thiếu đồng bộ, nhiều nội dung chưa đáp ứng xây dựng nhà nước pháp quyền, còn chồng chéo, tính công khai, minh bạch, khả thi, ổn định còn hạn chế Việc ban hành luật, pháp lệnh còn tùy tiện do luật, pháp lệnh không quy định chi tiết, chủ yếu là “luật khung” Trong quá trình soạn thảo văn bản pháp luật “thiếu phương pháp soạn thảo văn bản hợp nhất và kỹ thuật pháp điển hóa trong quá trình soạn thảo, ban hành văn bản” Về đội ngũ cán
bộ thực hiện công tác xây dựng và ban hành văn bản pháp luật chưa nắm vững nhu cầu và thực tế xã hội, luật ban hành ra không phù hợp gây ra nhiều tranh cãi, phản đối từ người dân Chẳng hạn như giấy chứng minh ghi tên bố mẹ, nhà hàng chỉ tổ chức tiệc cưới khi có giấy đăng ký kết hôn, chỉ được bán thịt trong vòng tám giờ sau khi giết mổ… hàng loạt quy định không thực tế, không khả thi đã khiến dư luận phán đối, không chấp hành
4 Vận dụng vai trò của thực tiễn đối với nhận thức để giải quyết vấn đề nhu cầu hoàn thiện hệ thống pháp luật Việt Nam
4.1 Hoàn thiện hệ thống pháp luật Việt Nam phù hợp với yêu cầu xây dựng nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân
Pháp luật đang đóng vai trò chủ đạo trong hệ thống công cụ điều chỉnh quan
hệ xã hội, nhu cầu sử dụng pháp luật ngày càng cao của người dân đòi hỏi phải hoàn thiện hệ thống pháp luật để phục vụ cho nhà nước và nhân dân
Thứ nhất, nâng cao tính toàn diện của hệ thống pháp luật Hệ thống pháp
luật phải từng bước đáp ứng nhu cầu điều chỉnh pháp luật trên tất cả mọi lĩnh vực đời sống xã hội Các quy phạm pháp luật phải có khả năng bao quát, các quan hệ
xã hội cần có sự điều chỉnh thì đều có pháp luật điều chỉnh