Hôn nhân và gia đình là những hiện tượng xã hội phát sinh trong quá trình phát triển của xã hội loài người, biểu hiện những quan hệ mang tính tự nhiên. Cũng như những hiện tượng xã hội khác, hôn nhân gia đình chịu sự tác động có tính quyết định bởi các điều kiện kinh tế xã hội. Lịch sử xã hội loài người đã chứng kiến quá trình phát sinh, thay đổi những hình thái hôn nhân và gia đình. Đó là quá trình vận động tất yếu trên cơ sở sự phát triển của các điều kiện kinh tế xã hội. Từ khi trong xã hội có Nhà nước, sự liên kết của các cá nhân nhằm xây dựng gia đình được coi là sự kiện pháp lý làm phát sinh những quan hệ pháp luật hôn nhân và gia đình. Chế độ hôn nhân tiến bộ theo từng thời kỳ phát triển của xa hội loài người mà chế độ mà xã hội đang hướng tới và tất yếu sẽ đạt được là chế độ hôn nhân một vợ một chồng. Vậy ở nước ta nguyên tắc hôn nhân một vợ một chồng được ghi nhận và thực hiện như thế nào? Để trả lời cho câu hỏi này em xin thực hiện đề tài số 05 “Nguyên tắc một vợ một chồng được bảo đảm như thế nào ở Việt Nam”.
Trang 1MỞ ĐẦU Hôn nhân và gia đình là những hiện tượng xã hội phát sinh trong quá trình phát triển của xã hội loài người, biểu hiện những quan hệ mang tính tự nhiên Cũng như những hiện tượng xã hội khác, hôn nhân gia đình chịu sự tác động có tính quyết định bởi các điều kiện kinh tế - xã hội Lịch sử xã hội loài người đã chứng kiến quá trình phát sinh, thay đổi những hình thái hôn nhân và gia đình Đó là quá trình vận động tất yếu trên cơ sở sự phát triển của các điều kiện kinh tế - xã hội Từ khi trong xã hội có Nhà nước, sự liên kết của các cá nhân nhằm xây dựng gia đình được coi là sự kiện pháp lý làm phát sinh những quan hệ pháp luật hôn nhân và gia đình Chế độ hôn nhân tiến bộ theo từng thời kỳ phát triển của xa hội loài người
mà chế độ mà xã hội đang hướng tới và tất yếu sẽ đạt được là chế độ hôn nhân một
vợ một chồng Vậy ở nước ta nguyên tắc hôn nhân một vợ một chồng được ghi nhận và thực hiện như thế nào? Để trả lời cho câu hỏi này em xin thực hiện đề tài
số 05 “Nguyên tắc một vợ một chồng được bảo đảm như thế nào ở Việt Nam”
Trang 2NỘI DUNG
I Cơ sở khoa học của nguyên tắc một vợ một chồng
1 Cơ sở lý luận về nguyên tắc một vợ một chồng
Cơ sở lý luận của chế độ hôn nhân một vợ một chồng bắt nguồn từ cơ sở của
nề kinh tế xã hội của loài người, sự tiến bộ của xã hội Pháp luật nước ta quy định
về chế độ hôn nhân gia đình trên cơ sở của nguyên lý chủ nghĩa Mác –Lê Nin và các chủ trương đường lối của Đảng ta trong chính sách về hôn nhân và gia đình Chủ nghĩa Mác - Lê nin nhìn nhận hôn nhân và gia đình là những hiện tượng xã hội có quá trình phát sinh, phát triển, do các điều kiện kinh tế - xã hội quyết định Trong tác phẩm “Nguồn gốc của gia đình, của chế độ tư hữu và của Nhà nước”, Mác và Enghen đã phân tích: lịch sử gia đình là lịch sử của quá trình xuất hiện chế
độ quần hôn, chuyển sang gia đình đối ngẫu, phát triển lên gia đình một vợ một chồng - là quá trình không ngừng hoàn thiện hình thức gia đình, trên cơ sở sự phát triển của các điều kiện sinh hoạt vật chất của con người Mác và Enghen đã chỉ ra cho chúng ta thấy rằng, hình thức hôn nhân một vợ một chồng ra đời trên cơ sở sự xuất hiện chế độ chiếm hữu tư nhân về tư liệu sản xuất và những tài sản khác trong
xã hội Được củng cố bởi chính sách, pháp luật của giai cấp thống trị bóc lột, ngay
từ khi mới ra đời, chế độ hôn nhân một vợ một chồng đó đã bộc lộ tính giả dối và tiêu cực đối với số đông những người dân lao động Chế độ một vợ một chồng ở những thời kỳ này thể hiện công khai quyền gia trưởng của người chồng, người cha trong gia đình Cuộc cách mạng xã hội chủ nghĩa là cuộc cách mạng sâu sắc và triệt để nhất Về vấn đề này, Enghen đã khẳng định: “Chế độ đó chẳng những sẽ không biến đi, mà trái lại, chỉ có bắt đầu từ lúc đó, nó mới được thực hiện trọn vẹn Thật vậy, các tư liệu sản xuất mà được chuyển thành tài sản xã hội thì chế độ lao động làm thuê, giai cấp vô sản cũng sẽ biến mất, và đồng thời cũng sẽ không còn tình trạng một số phụ nữ - con số này có thể thống kê được - cần thiết phải bán
Trang 3mình vì đồng tiền nữa Tệ mại dâm sẽ mất đi và chế độ một vơ một chồng không những suy tàn, mà cuối cùng lại còn trở thành hiện thực, ngay cả đối với đàn ông nữa” Lúc này, hôn nhân mới có điều kiện thể hiện đúng bản chất của nó là hôn nhân một vợ một chồng đích thực, phát sinh và tồn tại trên cơ sở tình yêu chân chính giữa nam và nữ, bình đẳng nhằm xây dựng gia đình để cùng nhau thỏa mãn nhu cầu về tinh thần và vật chất Theo đó, chế độ hôn nhân một vợ một chồng là chế độ hôn nhân tiến bộ nhất, phù hợp với sự phát triển của xã hội
Xuất phát từ cơ sở lý luận của chủ nghĩa Mác – Lênin về hôn nhân và gia đình tiến bộ, những nguyên tắc cơ bản của chế độ hôn nhân và gia đình xã hội chủ nghĩa được hình thành trong hệ thống các nước xã hội chủ nghĩa trước đây và nó trở thành nền tảng của mọi chế độ hôn nhân và gia đình tiến bộ Ở nước ta, trong lĩnh vực hôn nhân và gia đình, nhiệm vụ, mục tiêu được đặt ra là phải xóa bỏ tận gốc rễ những tàn dư, hủ tục lạc hậu do chế độ hôn nhân và gia đình phong kiến để lại, chống lại những ảnh hưởng tiêu cực của hôn nhân và gia đình tư sản, đồng thời xây dựng những quan hệ hôn nhân và gia đình mới xã hội chủ nghĩa Trong những giai đoạn khác nhau, Đảng và nhà nước có những chủ trương, chính sách về hôn nhân và gia đình phù hợp, nhằm tập trung thực hiện những nhiệm vụ và mục tiêu nói trên
2 Cơ sở thực tiễn của nguyên tắc một vợ một một chồng
Trong xã hội hiện nay, đặc biệt khi nhà nước chú trọng đến chính sách bình đẳng giới thì chế độ hôn nhân một vợ một là một điều tất yếu Để đảm bảo gia đình hạnh phúc, các thành viên trong gia đình không bị đối xử phận biệt và bảo vệ lợi ích cho các con thì nước ta đã quy định chế độ hôn nhân gia đình như một chế định
Trang 4cơ bản nhất về hôn nhân gia đình được quy định trong các văn bản pháp luật mà cao nhất là Hiến pháp 2013 và Luật hôn nhân gia đình 2014
II Bảo đảm thực hiện nguyên tắc một vợ một chồng theo pháp luật nước ta
1 Nguyên tắc một vợ một chồng trong kết hôn
Kết hôn là sự thể hiện ý chí của hai bên nam nữ: “ Không ai bị bộc phải kết hôn nhưng khi kết hôn cũng phải tuân theo những điều kiện nhất định của luật” Sự kiện kết hôn làm phát sinh mối quan hệ giữa vợ và chồng Pháp luật nước ta đã quy định cụ thể về điều kiện kết hôn, trong đó có điều kiện để đảm bảo nguyên tắc hôn nhân một vợ một chồng
Nguyên tắc một vợ một chồng chi phối điều kiện kết hôn giữa các chủ thể Khi đăng ký kết hôn tại cơ quan có thẩm quyền thì phải tiến hành xác minh tình trạng hôn nhân của các đương sự Bởi trong một thời gian chỉ tồn tại một quan hệ hôn nhân hợp pháp Và chỉ có người chưa có vợ, chưa có chồng hoặc tuy đã kết hôn nhưng hôn nhân đó đã chấm dứt thì mới được kết hôn và chỉ được kết hôn với người đang không có vợ, không có chồng
Trong các trường hợp cấm kết hôn quy định tại điểm d khoản 1 Điều 8 Luật hôn nhân gia đình 2014 quy định kết hôn phải không thuộc một trong các trường hợp quy định tại điểm c khoản 2 Điều 5 Luật hông nhân và gia đình 2014 quy định cấm hành vi: “ người đang có vợ, có chồng mà kết hôn hoặc chung sống như vộ chồng với người khác hoặc người chưa có vợ, có chồng mà kết hôn hoặc chung sống như vợ chồng với người đang có chồng, có vợ.” Như vậy, nguyên tắc một
vợ một chồng cấm người đang có vợ, có chồng kết hôn hoặc chung sống như vợ chồng với người khác và ngược lại
Người đang có vợ, có chồng ở đây được hiểu là người đang tồn tại quan hệ hôn nhân hợp pháp Theo quy định của Luật hôn nhân và gia đình 2014, hai bên
Trang 5nam nữ được pháp luật thừa nhận có quan hệ hôn nhân hợp pháp là trường hợp các bên kết hôn đáp ứng đầy đủ các điều kiện kết hôn theo quy định của pháp luật
Nguyên tắc hôn nhân một vợ một chồng không cho phép người đang có quan hệ vợ chồng kết hôn hoặc có quan hệ như vợ chồng với người khác và ngược lại Pháp luật không quy định cụ thể “ người khác” có thể bao gồm những ai, tuy nhiên có thể hiểu người khác ở đây có thể là người chưa có vợ, có chồng hoặc người đang có vợ có chồng Pháp luật cũng không quy định rõ “người khác” phải
là người khác giới tính Liệu có thể có quan hệ như vợ chồng với người cùng giới tính hay không, và nếu có thì sẽ giải quyết như thế nào, về vấn đề này thì pháp luật chưa quy định rõ
2 Trong xử lý vi phạm xâm phạm chế độ hôn nhân một vợ môt chồng
Nguyên tắc hôn nhân một vợ một chồng là nguyên tắc cơ bản của pháp luật nước ta, vì vậy việc đảm bảo chế độ một vợ một chồng được thực hiện khá triệt để
Cụ thể được thể hiện qua các biện pháp của luật hôn nhân gia đình đề giải quyết hậu quả, các biện pháp phạt hành chính, truy cứu trách nhiệm hình sự
2.1 Các hành vi xâm phạm chế độ hôn nhân một vợ một chồng
Vi phạm nguyên tắc một vợ một chồng được hiểu là hành vi trái pháp luật,
do chủ thể thực hiện một cách cố ý xâm phạm chế độ hôn nhân một vợ một chồng đang được pháp luật bảo vệ Theo quy định của pháp luật hiện hành thì hai hành vi
cơ bản vi phạm nguyên tắc một vợ một chồng là: Người đang có vợ, có chồng kết hôn với người khác và ngược lại; Người đang có vợ, có chồng chung sống như vợ chồng với người khác và ngược lại
2.1.1: Người đang có vợ, có chồng mà kết hôn với người khác và ngược lại
Trang 6Trong trường hợp trên có hai chủ thể là người đang có vợ, có chồng tức là người đang trong một quan hệ hôn nhận hợp pháp với vợ hoặc chồng chồng của người đó Người khác ở đây mặc dù pháp luật không nói rõ nhưng có thể hiểu là người khác giới, có thể đã có chồng, có vợ hoặc chưa có chồng, có vợ Cho dù chủ thể khác là ai thì kết hôn với người đang có vợ, có chồng đều bị coi là vi phạm quy định về điều kiện kết hôn, vi phạm nguyên tắc một vợ một chồng
Việc kết hôn của người đang có vợ có chồng với người khác mặc dù có đăng
kí kết hôn tại cơ quan nhà nước có thẩm quyền thì việc kết hôn của họ bị coi là trái pháp luật, vi phạm nguyên tắc một vợ một chồng
2.1.2: Người đang có vợ, có chồng mà chung sống như vợ chồng với người khác
và ngược lại
Chung sống như vợ chồng được hiểu là nam nữ tổ chức cuộc sống chung và coi nhau như vợ chồng
Việc sống cung như vợ chồng được giải thich khá rõ bởi thông tư liên tịch số 01/2001/TTLT-BTP-BCA-TANDTC-VKSNDTC Theo đó hành vi chung sống như vợ chồng với người khác khi đang có vợ, có chồng được hướng dẫn như sau:
“ là việc người đã có vợ, có chồng chung sống với người khác hoặc người chưa có
vợ, có chồng mà lại chung sống với người mà mình biết rõ là đang có chồng, có vợ một cách công khai hoặc không công khai nhưng cùng sinh hoạt chung như một gia đình Việc chung sống như vợ chồng thường được chứng minh bằng việc có con chung, được hàng xóm, xã hội xung quanh coi như vợ chồng, có tài sản chung…”
Người đang có vợ, có chông mà chung sông như vợ chồng với người khác
và ngược lại sẽ làm ảnh hưởng đến quyền, đến việc thực hiện quyền, nghĩa vụ nhân thân và tài sản với vợ hợp pháp Đồng thời việc sống chung như vợ chồng là một
Trang 7hành vi vi phạm đạo đước, thuần phong mỹ tục Vì vậy, việc sống chung như vợ chồng với người đang có vợ hoặc đang có chồng là hành vi trái pháp luật, vi phạm nguyên tắc một vợ một chồng
2.2 Xử lý các trường hợp vi phạm nguyên tắc một vợ một chồng
2.2.1: Giải quyết hậu quả các trường hợp vi phạm theo Luật hôn nhân và gia đình
2.2.1.1 Xử lý việc người đã có vợ, có chồng kết hôn với người khác
Việc kết hôn của người đang có vợ, có chồng với người khác mặc dù có đăng ký kết hôn tại cơ quan đăng ký kết hôn nhưng đã vi phạm về điều kiện kết hôn (khoản 3 điều 8) và thuộc một trong các trường hợp cấm kết hôn giữa người đang có vợ, có chồng với người khác là kết hôn trái pháp luật, vi phạm nguyên tắc hôn nhân một vợ một chồng và phải bị xử hủy Tòa án là cơ quan có thẩm quyền xem xét và ra quyết định hủy kết hôn trái pháp luật trên cơ sở người có quyền yêu cầu theo quy định của pháp luật
Về nguyên tắc, Tòa án hủy kết hôn trái pháp luật với các trường hợp quy định tại khoản 1 điều 10 Khi Tòa án ra quyết định tuyên bố hủy kết hôn giữa người đang có vợ, có chồng với người khác thì quan hệ giữa hai bên sẽ không có giá trị pháp lý và không được coi là có quan hệ vợ chồng kể từ thời điểm kết hôn cho đến khi có yêu cầu Tòa án hủy theo khoản 1 điều 12 Đối với hôn nhân hợp pháp thì khi cảm thấy đời sống hôn nhân không thể duy trì được thì hai bên có thể yêu cầu tòa án cho ly hôn theo thủ tục chung Về nguyên tắc, các trường hợp kết hôn vi phạm khoản 1 điều 10 thì Tòa giải quyết theo hướng hủy kết hôn trái pháp luật
2.2.1.2: Người đang có vợ, có chồng mà chung sống như vợ chồng với người khác
Trang 8Việc chung sống như vợ chồng với người đang có vợ hoặc có chồng có thể được gia đình chấp thuận hoặc không chấp thuận; có thể tố chức lễ cưới hay không tổ chức Hai bên chung sống với nhau có thể công khai, được hàng xóm coi như vợ chồng và có con chung, có tài sản chung hoặc không có tính chất công khai mà lén lút, nên những người xung quanh không phát hiện ra Việc người đang có vợ hoặc đang có chồng chung sống như vợ chồng với người khác là chung sống trái pháp luật, vi phạm nguyên tắc hôn nhân một vợ một chồng, xâm phạm đến quan hệ hôn nhân hợp pháp được nhà nước bảo hộ Khi giải quyết các trường hợp vi phạm nguyên tắc hôn nhân một vợ một chồng, Tòa án không thể xử hủy quan hệ chung sống trái pháp luật vì họ chỉ chung sống với nhau như vợ chồng mà không đăng ký kết hôn, nên quan hệ của họ không phải là kết hôn trái pháp luật Tòa án có thể ra quyết định không công nhân quan hệ giữa người đang có vợ, có chồng với người thứ ba là quan hệ vợ chồng và yêu cầu hai bên chấm dứt hành vi chung sống như
vợ chồng
2.2.2: Các biện pháp hành chính, hình sự xử lý hành vi xâm phạm chế độ hôn nhân một vợ một chồng
2.2.2.1: xử lý theo pháp luật hành chính
Hành vi vi phạm nguyên tắc một vợ một chồng chưa gây ra hậu quả nghiêm trọng có thể bị xử phạt hành chính chủ yếu xử phạt theo nghị định
110/2013/NĐ-CP (sửa đổi, bổ sung bởi nghị định 67/2015/NĐ-110/2013/NĐ-CP)
Hành vi vi phạm chế độ hôn nhân một vợ một chồng có thể bị xử lý như sau
“Điều 48 Hành vi vi phạm quy định về kết hôn, ly hôn và vi phạm chế độ
hôn nhân một vợ, một chồng
1 Phạt tiền từ 1.000.000 đồng đến 3.000.000 đồng đối với một trong các hành vi sau:
Trang 9a) Đang có vợ hoặc đang có chồng mà kết hôn với người khác, chưa có vợ hoặc chưa có chồng mà kết hôn với người mà mình biết rõ là đang có chồng hoặc đang có vợ;
b) Đang có vợ hoặc đang có chồng mà chung sống như vợ chồng với người khác;
c) Chưa có vợ hoặc chưa có chồng mà chung sống như vợ chồng với người
mà mình biết rõ là đang có chồng hoặc đang có vợ;
d) Kết hôn hoặc chung sống như vợ chồng giữa những người có họ trong phạm vi ba đời;
đ) Kết hôn hoặc chung sống như vợ chồng giữa cha mẹ nuôi với con nuôi; e) Kết hôn hoặc chung sống như vợ chồng giữa người đã từng là cha, mẹ nuôi với con nuôi, bố chồng với con dâu, mẹ vợ với con rể, bố dượng với con riêng của vợ, mẹ kế với con riêng của chồng;
2 Phạt tiền từ 10.000.000 đồng đến 20.000.000 đồng đối với một trong các hành vi sau:
a) Lợi dụng việc ly hôn để trốn tránh nghĩa vụ tài sản, vi phạm chính sách, pháp luật về dân số hoặc để đạt được mục đích khác mà không nhằm mục đích chấm dứt hôn nhân;
b) Kết hôn hoặc chung sống như vợ chồng với người có cùng dòng máu về trực hệ.””
Như vậy, hành vi vi phạm chế độ hôn nhân một vợ một chồng thông thường
có thể bị phạt tối đa lên đế 3.000.000 đồng và trường hợp khác có thể lên đến 20.000.000 đồng
2.2.2.2: Xử Lý theo pháp luật hình sự
Gia đình là một tế bào của xã hội, vì vậy để có một xã hội tốt thì phải chăm
lo gia đình thật tốt Đề cao vai trò của gia đfinh pháp luật hình sự nước ta hiện nay
Trang 10đã quy định các chế tài hình sự để xử lý các vi phạm nghiêm trọng các quy định của luật hôn nhân gia đình gây hậu quả nghiêm trọng
Mỗi người thực hiện hành vi xâm phạm chế độ hôn nhân một vợ một chồng
sẽ bị truy cứu trách nhiệm hình sự về “tội vi phạm chế độ hôn nhân một vợ một chồng” theo quy định tại Điều 182 Bộ luật Hình sự 2015 (sửa đổi, bổ sung 2017) quy định như sau:
“Điều 182 Tội vi phạm chế độ một vợ, một chồng
1 Người nào đang có vợ, có chồng mà kết hôn hoặc chung sống như vợ chồng với người khác hoặc người chưa có vợ, chưa có chồng mà kết hôn hoặc chung sống như vợ chồng với người mà mình biết rõ là đang có chồng, có vợ thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt cảnh cáo, phạt cải tạo không giam giữ đến 01 năm hoặc phạt tù từ 03 tháng đến 01 năm:
a) Làm cho quan hệ hôn nhân của một hoặc hai bên dẫn đến ly hôn;
b) Đã bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi này mà còn vi phạm.
2 Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm:
a) Làm cho vợ, chồng hoặc con của một trong hai bên tự sát;
b) Đã có quyết định của Tòa án hủy việc kết hôn hoặc buộc phải chấm dứt việc chung sống như vợ chồng trái với chế độ một vợ, một chồng mà vẫn duy trì quan hệ đó.”
Như vậy, nếu người thực hiện hành vi vi phạm chế độ hôn nhân một vợ một chồng mà đủ yếu tố cấu thành tại Điều 183 thì sẽ bị truy cứu trách nhiệm hình sự
và mức án cao nhất có thể lên đến 3 năm tù giam Quy định của Luật hình sự đã