1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Bài tập lớn hôn nhân và gia đình điều kiện nuôi con nuôi theo luật nuôi con nuôi 2010 trong mối liên hệ với điều kiện nuôi con nuôi theo luật hôn nhân

16 196 1

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 16
Dung lượng 37,19 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

- Dưới góc độ pháp lí: con nuôi là người có đủ điều kiện do pháp luật quy định được một hoặc hai người là vợ, chồng công nhận làm con qua những thủ tục pháp lí nhất định mà giữa hai bên

Trang 1

LỜI MỞ ĐẦU

Nuôi con nuôi là một hiện tượng xã hội, một chế định pháp luật đã xuất hiện

từ lâu trong lịch sử pháp luật Việt Nam Nuôi con nuôi là việc xác lập quan hệ cha, mẹ và con giữa người nhận nuôi con nuôi và người được nhận làm con nuôi…; dựa trên ý chí chủ quan của các chủ thể tham gia quan hệ nuôi con nuôi Nuôi con nuôi thể hiện tính nhân đạo, nhân văn sâu sắc, tinh thần tương thân, tương ái giúp đỡ lẫn nhau giữa con người với con người Đặc biệt, đối với những trẻ em mồ côi, không ai nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục thì việc nuôi con nuôi được xem là vấn đề cấp thiết, đảm bảo cho hầu hết trẻ em được nuôi dưỡng giáo dục tốt và được sống trong môi trường gia đình Pháp luật Việt Nam cũng đã ban hành nhiều văn bản quy phạm về vấn đề nuôi con nuôi cũng như tham gia các công ước quốc tế về trẻ em Luật Nuôi con nuôi năm 2010 ra đời đã xây dựng được một khung pháp luật thống nhất và tương đối ổn định, có giá trị áp dụng lâu dài với hiệu lực pháp luật điều chỉnh các quan hệ trong lĩnh vực nuôi con nuôi Tuy nhiên không thể tránh khỏi sự khác biệt, đối lập giữa các quy định pháp luật với nhau.Vì vậy giữa chế định nuôi con nuôi trong Luật HN và GĐ năm 2000 và Luật nuôi con nuôi năm 2010 có rất nhiều điểm khác nhau Chính vì vậy em xin

chọn đề tài: “Điều kiện nuôi con nuôi theo luật nuôi con nuôi 2010 trong mối liên hệ với điều kiện nuôi con nuôi theo luật hôn nhân gia đình năm 2000” Do

sự hạn chế về kiến thức và hiểu biết nên bài làm còn nhiều sai sót Kính mong sự đóng góp ý kiến của thầy cô để bài làm được hoàn chỉnh hơn Em xin chân thành

cảm ơn!

Trang 2

NỘI DUNG

I KHÁI NIỆM CHUNG

1 Khái niệm “Con nuôi”

- Dưới góc độ xã hội: con nuôi là con của người khác nhưng được một người

hoặc hai người là vợ chồng nhận làm con và coi như con đẻ, nhằm thỏa mãn những nhu cầu, lợi ích nhất định của các bên

- Dưới góc độ pháp lí: con nuôi là người có đủ điều kiện do pháp luật quy định

được một hoặc hai người là vợ, chồng công nhận làm con qua những thủ tục pháp

lí nhất định mà giữa hai bên không có quan hệ huyết thống trực hệ, không sinh thành ra nhau và không phải là anh chị em ruột của nhau

2 Khái niệm “Nuôi con nuôi”

Trong khoản 1 Điều 67 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2000 có quy định:

“Nuôi con nuôi là việc xác lập quan hệ cha mẹ và con giữa người nhận nuôi con nuôi và người được nhận làm con nuôi, bảo đảm cho người được nhận làm con nuôi được trông nom, nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục phù hợp với đạo đức xã hội” Trong khoản 1 Điều 3 Luật nuôi con nuôi 2010 cũng có quy định tương tự:

“Nuôi con nuôi là việc xác lập quan hệ cha, mẹ và con giữa người nhận con nuôi

và người được nhận làm con nuôi”.

Dưới góc độ là sự kiện pháp lí, việc nuôi con nuôi là cấu thành sự kiện – sự kiện pháp lí phức hợp

- Sự thể hiện ý chí của người nhận nuôi con nuôi: Người nhận nuôi con nuôi phải thể hiện ý chí của mình về việc mong muốn nhận nuôi đứa trẻ và thiết lập quan hệ cha mẹ và con với đứa trẻ đó Ý chí, mong muốn đó của người nhận nuôi phải được thể hiện qua đơn xin nhận nuôi con nuôi;

- Sự thể hiện ý chí của cha mẹ đẻ hoặc người giám hộ của trẻ em được cho làm con nuôi: ý chí của những người này trong việc cho trẻ em làm con nuôi phải minh bạch, và xuất phát từ sự tự nguyện thật sự của bản thân họ mà không có bất

Trang 3

cứ sự tác động, thúc ép, dụ dỗ, hứa hẹn hoặc một áp lực nào Nói cách khác, ý chí

đó phải hoàn toàn độc lập Nội dung của ý chí đó là đồng ý cho con mình làm con nuôi của người khác Sự đồng ý đó có thể thể hiện bất cứ lúc nào nhưng nó chỉ có

ý nghĩa sau khi đứa trẻ được sinh ra mà còn sống;

- Sự thể hiện ý chí của bản thân người con nuôi: Khoản 2 Điều 71 Luật HN&GĐ

năm 2000 và khoản 1 Điều 21 Luật nuôi con nuôi có quy định: “Việc nhận trẻ em

từ đủ 9 tuổi trở lên làm con nuôi phải được sự đồng ý của trẻ em đó”.

Trong trường hợp này đứa trẻ tuy chưa được coi có năng lực hành vi đầy đủ nhưng đã có khả năng nhận thức nhất định về cuộc sống, có thể nhận biết và bày

tỏ thái độ của mình mong muốn hay không mong muốn làm con nuôi người khác, cũng như cảm nhận được sự an toàn hay không an toàn khi được cho làm con nuôi người khác, khi phải thay đổi môi trường sống… Do đó, pháp luật quy định đứa trẻ từ đủ 9 tuổi trở lên có quyền thể hiện ý chí độc lập, quyết định vấn đề có liên quan trực tiếp đến cuộc sống của mình; sự đồng ý làm con nuôi của đứa trẻ từ

đủ 9 tuổi trở lên là điều kiện bắt buộc để việc nuôi con nuôi có giá trị pháp lí;

- Sự thể hiện ý chí của Nhà nước Ý chí của Nhà nước được thể hiện qua việc công nhận (hay không công nhận) việc nuôi con nuôi, thông qua thủ tục đăng kí việc nuôi con nuôi (hay từ chối việc đăng kí nuôi con nuôi) Việc nuôi con nuôi được công nhận tại cơ quan nhà nước có thẩm quyền làm phát sinh hiệu lực pháp

lí của việc nuôi con nuôi

II Điều kiện nuôi con nuôi theo luật nuôi con nuôi 2010 trong mối liên hệ với điều kiện nuôi con nuôi theo luật hôn nhân gia đình năm 2000.

1 Điều kiện của việc nuôi côn nuôi.

1.1 Điều kiện đối với người được nhận làm con nuôi.

Trước hết, Luật NCN đã thống nhất các điều kiện của người được nhận làm con nuôi trong nước và nước ngoài, vì vậy điều kiện của người được nhận làm con nuôi trong nước và ngoài nước như nhau Theo quy định thì ngoài việc đáp

Trang 4

ứng những điều kiện nuôi con nuôi trong nước, Điều 1 Nghị định 69/2006/

NĐ-CP còn quy định thêm các điều kiện cho trẻ em được nhận làm con nuôi nước ngoài Luật NCN đã quy định chung điều kiện của người được nhận làm con nuôi tại điều 8, không phân biệt nuôi trong nước hay nuôi con nuôi có yếu tố nứơc ngoài Vì vậy sự khác nhau cơ bản giữa Luật NCN và Luật HN&GĐ về vấn đề này ở một số điểm sau:

Thứ nhất, theo Khoản 1 Điều 68 Luật HN và GĐ năm 2000 quy định “ người

được nhận làm con nuôi phải là người từ 15 tuổi trở xuống” còn Luật NCN lại quy định tại Khoản 1 Điều 8 về độ tuổi của người được nhận làm con nuôi là “ Trẻ em dưới 16 tuổi”

Tại sao lại có sự khác biệt này? Đó là bởi vấn đề về độ tuổi của người được nhận làm con nuôi, với mục đích chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục trẻ em được nhận làm con nuôi trong môi trường gia đình nên độ tuổi của trẻ em được nhận làm con nuôi trong Luật NCN có quan hệ và gắn bó mật thiết với độ tuổi được coi

là trẻ em trong Luật chăm sóc, giáo dục và bảo vệ trẻ em Vì vậy, Luật NCN tăng

độ tuổi của người được làm con nuôi thành “dưới 16 tuổi”( Điều 8 Khoản 1), nhằm phù hợp với độ tuổi của trẻ em được quy định trong Luật Chăm sóc, bảo vệ

và giáo dục trẻ em năm 2005 (theo điều 1, trẻ em theo quy định của luật này là công dân Việt Nam từ 16 tuổi trở xuống) Như vậy, trừ các trường hợp ngoại lệ được quy định tại khoản 2 điều 8, đối tượng điều chỉnh chủ yếu của Luật này chính là trẻ em, quy định này phù hợp với mục đích nuôi con nuôi Quy định này nhằm đảm bảo tính thống nhất của hệ thống pháp luật trong nước đồng thời vẫn đảm bảo thực hiện nghiêm chỉnh cam kết quốc tế với trường hợp người nước ngoài nhận nuôi

Thứ hai, theo Khoản 1 Điều 68 Luật HN và GĐ năm 2000 quy định: Người trên

15 tuổi có thể đựơc nhận làm con nuôi nếu là thương binh, người tàn tật, người mất năng lực hành vi dân sự hoặc làm con nuôi người già yếu cô đơn Còn tại

Trang 5

Khoản 2 Điều 8 Luật NCN lại quy định trường hợp ngoại lệ về độ tuổi người được nhận làm con nuôi là người từ 16 tuổi đến dưới 18 tuổi, nếu được cha dượng, mẹ kế hoặc cô, cậu, dì, chú, bác ruột nhận làm con nuôi

Ở đây có 2 sự khác nhau, đó là:

+ Luật NCN không quy định vấn đề “được nhận làm con nuôi nếu là thương binh,

người tàn tật, người mất năng lực hành vi dân sự hoặc làm con nuôi người già yếu

cô đơn” Vì những trường hợp này chỉ là quan hệ vì mục đích chăm sóc, phụng dưỡng

Việc loại bỏ các trường hợp này phù hợp với mục đích và nguyên tắc nuôi con nuôi là để tìm mái ấm gia đình cho trẻ em, bảo đảm cho trẻ em được chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục trong môi trường gia đình; còn công tác đảm bảo cuộc sống cho thương binh, người tàn tật, người già yếu cô đơn sẽ do pháp luật về an sinh xã hội điều chỉnh

+ Phần lớn những người ở độ tuổi từ 16 đến 18 chưa thể tự nuôi sống bản thân,

tâm sinh lí cũng chưa phát triển hoàn thiện Vì vậy pháp luật quy định người ở độ tuổi này có thể được cha dượng, mẹ kế hoặc cô, cậu, dì, chú, bác ruột nhận làm con nuôi để đảm bảo tính nhân đạo của việc nuôi con nuôi Hiện nay có tương đối nhiều hồ sơ xin nhận trẻ em là con riêng của vợ hoặc chồng làm con nuôi Việc giải quyết cho trẻ em làm con nuôi của người cha dượng hoặc mẹ kế nhằm đảm bảo cho trẻ em được hưởng đầy đủ các quyền và nghĩa vụ giữa cha mẹ và con cái khi trẻ em có cha mẹ kết hôn với người nước ngoài và người cha, người mẹ kế của trẻ em muốn nhận trẻ em đó làm con nuôi

Thứ ba, theo khoản 2 điều 68 Luật HN và GĐ năm 2000: “ Một người chỉ có thể

làm con nuôi một người hoặc của cả hai vợ chồng” còn tại khoản 3 Điều 8, Luật NCN năm 2010 lại quy định: “ một người chỉ được làm con nuôi của một người độc thân hoặc của cả hai người là vợ chồng” Quy định của luật HN và GĐ chưa làm rõ vấn đề một người đã có vợ hoặc chồng có được phép nhận con nuôi riêng

Trang 6

hay không Luật NCN đã có sự thay đổi, hiểu theo quy định của khoản 3 điều 8, luật chỉ cho phép một người độc thân hoặc cả hai vợ chồng nhận con nuôi Như vậy, Luật NCN không cho phép người đã có vợ hoặc chồng nhận con nuôi riêng, việc nhận con nuôi cần có sự thống nhất của cả hai vợ chồng Đây cũng là một điều luật nhằm đảm bảo cho trẻ được cho làm con nuôi có một môi trường gia đình trọn vẹn, có sự yêu thương của tất cả các thành viên trong gia đình

1.2 Điều kiện đối với người nhận con nuôi

* Nuôi con nuôi trong nước

Nuôi con nuôi vì mục đích xác lập quan hệ cha mẹ - con giữa người nhận nuôi con nuôi với người được nhận nuôi để trẻ em có sự chăm sóc ,giáo dục tốt nhất Pháp luật đảm bảo quyền và lợi ích hợp pháp của các bên trong quan hệ nuôi con nuôi ,trước hết là vì lợi ích của trẻ em được nhận làm con nuôi Điều kiện của người nhận con nuôi là yếu tố quan trọng trong việc đảm bảo cho mục đích của việc nuôi con nuôi trong thực tế

Ngoài các điều kiện để đảm bảo cho việc nuôi con nuôi đạt được mục đích tốt đẹp thì luật quy định việc nuôi con nuôi giữa những người có quan hệ họ hàng với nhau sẽ rất thuận lợi và được khuyến khích nhưng quan hệ huyết thống giữa

họ phải đảm bảo trong một phạm vi nhất định Luật Nuôi con nuôi có quy định thêm về điều kiện đối với người nhận con nuôi ở khoản 2 điều 14 như sau:

“Trường hợp cha dượng nhận con riêng của vợ, mẹ kế nhận con riêng của chồng

làm con nuôi hoặc cô, cậu, dì, chú, bác ruột nhận cháu làm con nuôi thì không áp dụng quy định tại điểm b và điểm c khoản 1 Điều này” Cũng giống như lí giải đối

với người được nhận làm con nuôi trên ,thì việc trẻ em được những người thân trong gia đình nhận nuôi dưỡng là việc rất đáng trân trọng Quy định này cũng phù hợp với Thông tư 08/BTP là quan hệ giữa người xin nhận con nuôi là cô, cậu,

dì, chú, bác với trẻ em là cháu được xin làm con nuôi (theo bên nội hoặc bên ngoại ),…thì không giải quyết Để đảm bảo trật tự gia đình không bị đảo lộn và

Trang 7

lợi ích của trẻ em được nhận làm con nuôi thì quy định trên là hoàn toàn hợp lý Tuy nhiên việc quy định giới hạn tuổi tối đa của cha mẹ nuôi cũng có ý nghĩa không nhỏ Việc nhận nuôi con nuôi là nhằm đem lại một gia đình cho đứa trẻ, gia đình đó càng giống, càng tương hợp với gia đình tự nhiên của trẻ thơ càng tốt,

vì vậy “sẽ không hợp với tự nhiên chút nào nếu trẻ ở với các cặp vợ chồng đã quá tuổi sinh nở” Hơn nữa, khi tuổi đã quá cao thì khả năng nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục con nuôi sẽ giảm dần theo tuổi tác và ảnh hưởng trực tiếp đến lợi ích của trẻ được nhận nuôi Vì vậy, để phù hợp với bản chất của việc nuôi con nuôi và có tính khả thi, pháp luật nên quy định hạn chế tuổi tối đa của người nhận nuôi con nuôi, chẳng hạn người nhận nuôi con nuôi là người không quá 60 tuổi Luật nuôi con nuôi chưa đề cập đến vấn đề này cũng là 1 hạn chế

* Nuôi con nuôi có yếu tố nước ngoài

Ví dụ : Cháu Huỳnh Đức Hiếu sinh ngày 20/5/1999 bị đục giác mạc, vỡ màng

bụng và không có hậu môn Sau nhiều lần được phẫu thuật và chữa trị tại St.Johannes một bệnh viện tại Salzburg, nay cháu đã trở thành một bé trai phát triển tốt trong sự chăm sóc của cha mẹ nuôi người nước ngoài

Ví dụ trên đã cho ta thấy việc trẻ em được người nước ngoài nhận làm con nuôi là điều hết sức tốt đẹp nếu họ có đủ điều kiện chăm lo cho đứa trẻ đó có một mái ấm hạnh phúc và một tương lai tươi sáng Thế nhưng, liệu cho trẻ em nhận làm con nuôi người nước ngoài có đảm bảo được sự an toàn và lợi ích của trẻ em hay không? Vấn đề này chưa được đặt ra trong Luật hôn nhân và gia đình năm

2000.Vì thế, để bảo đảm quyền và lợi ích của trẻ em, về phần nuôi con nuôi có yếu tố nước ngoài, Luật nuôi con nuôi năm 2010 đã quy định về điều kiện đối

với người nhận con nuôi như sau: “1.Người Việt Nam định cư ở nước

ngoài,người nước ngoài thường trú ở nước ngoài nhận người Việt Nam làm con nuôi phải có đầy đủ các điều kiện theo quy định của pháp luật nước nơi người đó thường trú và quy định tại Điều 14 của Luật này.

Trang 8

2 Công dân Việt Nam nhận người nước ngoài làm con nuôi phải có đủ các điều kiện theo quy định tai điều 14 của Luật này và pháp luật của nước nơi người được nhận làm con nuôi thường trú.”

Quy định trên cho thấy việc nuôi con nuôi có yếu tố nước ngoài phải đảm bảo đủ điều kiện pháp luật nơi người nhận nuôi thường trú và đủ điều kiện của người nhận nuôi con nuôi theo điều 14 Luật nuôi con nuôi 2010 Đó là nhằm ngăn chặn việc nhận nuôi trẻ em vào những mục đích xấu như đánh đập, hành hạ hay làm nô lệ…Nó thể hiện sự quan tâm của Đảng và Nhà nước ta nhằm bảo đảm cho trẻ em được sống trong môi trường giáo dục tốt nhất để phát triển cả về thể chất lẫn trí tuệ

Việt Nam hiện đã kí 16 Hiệp định về con nuôi quốc tế với 10 nước và vùng lãnh thổ, có 68 văn phòng đại diện của các Tổ chức Con nuôi quốc tế được Bộ Tư pháp cấp phép hoạt động tại Việt Nam Thông qua các Tổ chức này, cha mẹ nuôi người nước ngoài nộp hồ sơ xin trẻ em Việt Nam làm con nuôi tại Bộ Tư pháp Năm 2006 số trẻ em Việt Nam được cho đi làm con nuôi người nước ngoài là 1.550 em, năm 2007 là 2.000 em

1.3 Điều kiện về ý chí của các bên chủ thể:

Theo Luật NCN, việc cho trẻ em làm con nuôi vẫn cần phải có dự đồng ý của cha mẹ đẻ, người giám hộ của trẻ em từ 09 tuổi trở lên Luật còn quy định rõ

sự đồng ý này là phải hoàn toàn tự nguyện, trung thực không bị ép buộc, không bị

đe doạ hay mua chuộc, không vụ lợi, không kèm theo yêu cầu trả tiền hoặc lợi ích vật chất khác (Điều 21) Luật NCN còn quy định: Cha, mẹ đẻ chỉ được đồng ý cho con làm con nuôi sau khi con đã được sinh ra ít nhất 15 ngày, đây là quy định nhằm tránh các trường hợp cha mẹ đẻ và các cá nhân tổ chức khác có sự thoả thuận cho trẻ làm con nuôi trước khi sinh, hoặc cha mẹ đẻ trong hoàn cảnh đặc biệt đã chấp nhận con vừa sinh ra làm con nuôi mà không có sự suy nghĩ kĩ lưỡng

Trang 9

Luật NCN đề cập vai trò của UBND trong việc tư vấn đối với cha mẹ đẻ hoặc người giám hộ của trẻ theo quy định của Khoản 2 Điều 21, nội dung tư vấn

về các vấn đề như mục đích nuôi con nuôi, quyền và nghĩa vụ giữa các bên liên quan sau khi quan hệ nuôi con nuôi được xác lập Trong Nghị định

19/2011/NĐ-CP hướng dẫn thi hành Luật NCN, trước hết “ công chức tư pháp- hộ tịch phải tư vấn để trẻ em tiếp tục được chăm sóc, nuôi dưỡng giáo dục phù hợp với điều kiện

và khả năng thực tế của gia đình, trường hợp cho trẻ em làm con nuôi là giải pháp cuối cùng vì lợi ích tốt nhất của trẻ em thì công chức tư pháp – hộ tịch phải tư vấn đầy đủ cho những người liên quan về mục đích nuôi con nuôi, quyền và nghĩa vụ giữa các bên sau khi quan hệ nuôi con nuôi được xác lập Quy định này là cần thiết bởi sự tư vấn của UBND sẽ giúp cho cha mẹ đẻ, người giám hộ của trẻ hiểu

rõ các vấn đề về nuôi con nuôi , đặc biệt là những hệ quả pháp lí của việc nuôi con nuôi, từ đó cha mẹ đẻ có suy nghĩ kĩ lưỡng về việc có cho trẻ làm con nuôi hay không Sau khi tư vấn, cán bộ tư pháp – hộ tịch sẽ tiến hành thủ tục lấy ý kiến của những người trên theo quy định tại điều 20 Đối với trường hợp nuôi con nuôi có yếu tố nước ngoài , việc lấy ý kiến của các chủ thể được quy định tại điều

21 Luật NCN sẽ thuộc trách nhiệm của Sở Tư pháp, việc lấy ý kiến phải lập thành văn bản và có chữ kí hoặc điểm chỉ của người được lấy ý kiến Đây là một quy định mới của Luật NCN 2010 so với Luật HN&GĐ 2000 đồng thời cũng tương thích với công ước quốc tế về bảo vệ trẻ em và hợp tác trong lĩnh vực nuôi con nuôi giữa các nước

Như vậy về điều kiện nuôi con nuôi, Luật NCN có sự bổ sung trong các khía cạnh: Điều kiện của người được nhận làm con nuôi, điều kiện của người nhận nuôi con nuôi và điều kiện về ý chí của các bên chủ thể Đối với vấn đề này, Luật NCN có sự kế thừa các quy định hợp lí của Luật HN&GĐ năm 2000, đồng thời

có sự sửa đổi, bổ sung để các quy định cụ thểm rõ ràng hơn

Trang 10

2 Hệ quả pháp lí của việc nuôi con nuôi

Hệ quả pháp lí của việc nuôi con nuôi của Luật Nuôi con nuôi năm 2010 có một số thay đổi so với Luật hôn nhân gia đình năm 2000 Hệ quả chấm dứt việc nuôi con nuôi thì không có gì thay đổi

- Điểm mới thứ nhất: quan hệ giữa con nuôi với các thành viên trong gia

đình cha mẹ muôi.

Theo khoản 1 điều 24: “Kể từ ngày giao nhận con nuôi, giữa cha mẹ nuôi

và con nuôi có đầy đủ các quyền, nghĩa vụ của cha mẹ và con; giữa con nuôi và các thành viên khác của gia đ.nh cha mẹ nuôi cũng có các quyền, nghĩa vụ đối với nhau theo quy định của pháp luật về hôn nhân và gia đình, pháp luật dân sự

và các quy định khác của pháp luật có liên quan”.

Như vậy, theo khoản 1 điều 24 Luật nuôi con nuôi thì giữa con nuôi và các thành viên khác của gia đình cha mẹ nuôi cũng có các quyền, nghĩa vụ đối với nhau theo quy định của pháp luật Như anh, chị em trong gia đình cũng có nghĩa

vụ yêu thương, quan tâm chăm sóc em nuôi như người thân trong gia đình để trẻ

em được sống trong một mái ấm toàn diện về cả mặt vật chất và tinh thần, tránh

sự phân biệt đối xử gây tổn thương tâm lí ở trẻ

- Điểm mới thứ hai: việc xác định dân tộc của con nuôi.

Theo khoản 2 điều 75 Luật hôn nhân và gia đình: “Việc xác định dân tộc

của con nuôi được thực hiện theo quy định của điều 30 Luật dân sự.”

Khoản 2 điều 30 Luật dân sự : “Người đã thành niên có quyền yêu cầu cơ

quan nhà nước có thẩm quyền xác định lại dân tộc trong các trường hợp sau đây: a) Xác định lại theo dân tộc của người cha hoặc người mẹ, nếu cha, mẹ thuộc hai dân tộc khác nhau; b) Xác định lại theo dân tộc của cha đẻ, mẹ đẻ trong trường hợp làm con nuôi của người thuộc dân tộc khác”.

Khoản 3 điều 24 Luật nuôi con nuôi đã quy định lại: “Dân tộc của con nuôi

là trẻ em bị bỏ rơi được xác định theo dân tộc của cha nuôi, mẹ nuôi” Với quy

Ngày đăng: 25/03/2019, 09:40

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w