1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

BÀI tập học kỳ THƯƠNG mại 1

10 4 0

Đang tải... (xem toàn văn)

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 10
Dung lượng 32,13 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

A, MỞ ĐẦU Nền kinh tế hàng hóa hình thành, phát triển đã làm cho mua bán hàng hóa trở thành một hoạt động mang tính chuyên nghiệp va sản xuất hàng hóa không còn là con đường duy nhất dẫn đến lợi nhuận. Việc thực hiện luân chuyển, phân phối hàng hóa từ người sản xuất đến người tiêu dùng, từ thị trường này đến thị trường khác đã trở thành cơ hội thuận lợi tốt cho những người thực hiện nó. Trên cơ sở sự phát triển đó, đã có nhiều nước trên thế giới đưa ra những quy tắc, quy định chung về việc trao đổi hàng hóa trên thị trường. Nhũng quy định pháp luật về thương mại đầu tiên chủ yếu là những quy định điều chỉnh hành vi mua bán hàng hóa, bởi khi mới hình thành khái niệm thương mại chỉ gắn với mua bán hàng hóa và những hành vi có liên quan đến mua bán hàng hóa diễn ra mà chủ yếu là giữa các thương nhân. Tuy nhiên, với việc phát triển các dịch vụ thương mại, các đối tượng liên quan đến thương mại không chỉ dừng lại ở thương nhân, cá nhân mà còn có các tổ chức. Các tổ chức này đã góp phần đẩy mạnh nền kinh tế thị trường, tạo sự tập trung cũng như tính cạnh tranh, chuyên nghiệp hóa trong sản xuất và phân phối. Dù vậy, cần thiết phải đưa ra những quy định dể ràng buộc các tổ chức nhằm hướng đến mục đích hoàn thiện nên kinh tế thị trường, cạnh tranh lành mạnh. Để tìm hiểu rõ hơn về vấn đề này, tiểu luận đã lựa chọn đề tài: “Phân tích cơ cấu quản lý của doanh nghiệp nhà nước.”

Trang 1

MỤC LỤC

A, MỞ ĐẦU 2

B, NỘI DUNG TIỂU LUẬN 3

I, KHÁI NIỆM, ĐẶC ĐIỂM DOANH NGHIỆP NHÀ NƯỚC 3

1, Khái niệm doanh nghiệp nhà nước 3

2, Đặc điểm của doanh nghiệp nhà nước 3

II, CƠ CẤU TỔ CHỨC QUẢN LÝ CỦA DOANH NGHIỆP NHÀ NƯỚC 5

1, Cơ sở pháp lí 5

2, Phân tích cơ cấu quản lí của doanh nghiệp nhà nước 6

C, KẾT LUẬN 9

D, DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 10

Trang 2

A, MỞ ĐẦU

Nền kinh tế hàng hóa hình thành, phát triển đã làm cho mua bán hàng hóa trở thành một hoạt động mang tính chuyên nghiệp va sản xuất hàng hóa không còn là con đường duy nhất dẫn đến lợi nhuận Việc thực hiện luân chuyển, phân phối hàng hóa từ người sản xuất đến người tiêu dùng, từ thị trường này đến thị trường khác đã trở thành cơ hội thuận lợi tốt cho những người thực hiện nó

Trên cơ sở sự phát triển đó, đã có nhiều nước trên thế giới đưa ra những quy tắc, quy định chung về việc trao đổi hàng hóa trên thị trường Nhũng quy định pháp luật về thương mại đầu tiên chủ yếu là những quy định điều chỉnh hành vi mua bán hàng hóa, bởi khi mới hình thành khái niệm thương mại chỉ gắn với mua bán hàng hóa và những hành vi có liên quan đến mua bán hàng hóa diễn ra mà chủ yếu là giữa các thương nhân

Tuy nhiên, với việc phát triển các dịch vụ thương mại, các đối tượng liên quan đến thương mại không chỉ dừng lại ở thương nhân, cá nhân mà còn có các

tổ chức Các tổ chức này đã góp phần đẩy mạnh nền kinh tế thị trường, tạo sự tập trung cũng như tính cạnh tranh, chuyên nghiệp hóa trong sản xuất và phân phối Dù vậy, cần thiết phải đưa ra những quy định dể ràng buộc các tổ chức nhằm hướng đến mục đích hoàn thiện nên kinh tế thị trường, cạnh tranh lành mạnh

Để tìm hiểu rõ hơn về vấn đề này, tiểu luận đã lựa chọn đề tài: “Phân

tích cơ cấu quản lý của doanh nghiệp nhà nước.”

Do hạn chế về mặt thời gian cũng như nhận thức, bài viết không thể tránh khỏi những thiếu sót, rất mong nhận được sự quan tâm, góp ý của thầy cô và các bạn

Xin chân thành cảm ơn!

Trang 3

B, NỘI DUNG TIỂU LUẬN

I, KHÁI NIỆM, ĐẶC ĐIỂM DOANH NGHIỆP NHÀ NƯỚC

1, Khái niệm doanh nghiệp nhà nước

Trên thế giới, quan niệm về doanh nghiệp Nhà nước được hiểu rất khác nhau Liên hợp quốc định nghĩa xí nghiệp quốc doanh là “những xí nghiệp do nhà nước nắm toàn bộ hoặc một phần sở hữu và nhà nước kiểm soát tới một mức độ nhất định quá trình ra quyết định của xí nghiệp” 1 Ngân hàng thế giới lại cho rằng: “Doanh nghiệp nhà nước là các thực thể kinh tế thuộc sở hữu hay thuộc quyền kiểm soát của chính phủ mà phần lớn thu nhập của họ được tạo ra thông qua việc bán các hàng hóa và dịch vụ.”

Ở Việt Nam, doanh nghiệp nhà nước một bộ phận của kinh tế nhà nước

và luôn được xác định giữ vai trò chủ đạo trong nền kinh tế quốc dân Tuy nhiên, quan niệm về doanh nghiệp nhà nước trong các văn bản pháp luật ở nước

ta lại có sự thay đổi theo thời gian Mặc dù vậy, ở thời điểm hiện tại, tiểu luận xin được sử dụng quan điểm có hiệu lực pháp lí hiện hành tại khoản 8 Điều 4 Luật Doanh nghiệp 2014:

“Doanh nghiệp nhà nước là doanh nghiệp do nhà nước nắm giữ 100% vốn điều lệ.”

2, Đặc điểm của doanh nghiệp nhà nước

Thứ nhất, về chủ sở hữu: Nhà nước là chủ sở hữu toàn bộ vốn điều lệ của doanh nghiệp Với tư cách là chủ đầu tư duy nhất vào doanh nghiệp, nhà nước

có toàn quyền quyết định các vấn đề liên quan đến sự hoạt động và tồn tại của từng doanh nghiệp Một là, quyết định về hình thành, tổ chức lại và định đoạt doanh nghiệp như thành lập, chia, tách, hợp nhất, sáp nhập; chuyển nhượng toàn

bộ hoặc một phần vốn cho tổ chức, cá nhân khác; giải thể kinh doanh hoặc một phần vốn cho tổ chức, cá nhân khác; giải thể doanh nghiệp; Hai là, quyết định

Trang 4

mục tiêu, chiến lược phát triển, kế hoạch sản xuất kinh doanh, đầu tư tài chính của doanh nghiệp; Ba là quyết định mô hình tổ chức quản lí doanh nghiệp; quyết định giải thể, tổ chức lại doanh nghiệp; phê duyệt điều lệ hoạt động, sửa đổi bổ sung điều lệ; quyết định việc bổ nhiệm, miễn nhiệm, cách chức, khen thưởng, kỉ luật người quản lí doanh nghiệp (chủ tịch và thành viên Hội đồng thành viên, hoặc chủ tịch công ti, Kiểm soát viên, Tổng giám đốc hoặc giám đốc) Bốn là, quyết định các chỉ tiêu cơ bản để đánh giá hoạt động của doanh nghiệp Năm là, kiểm tra giám sát thực hiện các mục tiêu, nhiệm vụ của doanh nghiệp đã được giao

Thứ hai, về lĩnh vực hoạt động: Để đảm bảo thực hiện đúng vai trò, mục tiêu và chức năng chủ đạo của doanh nghiệp Nhà nước trong nền kinh tế quốc dân, phạm vi đầu tư vốn nhà nước để thành lập doanh nghiệp nhà nước đã được giới hạn trong bốn ngành, lĩnh vực sau:

- Cung ứng sản phẩm, dịch vụ công ích thiết yếu, đảm bảo an sinh xã hội;

- Hoạt động trong lĩnh vực trực tiếp phục vụ quốc phòng, an ninh theo quy định của Chính phủ về tổ chức quản lí và hoạt động của doanh nghiệp quốc phòng, an ninh

- Hoạt động trong lĩnh vực độc quyền tự nhiên

- Hoạt động ứng dụng công nghệ cao, đầu tư lớn, tạo động lực phát triển nhanh cho các ngành, lĩnh vực khác và nền kinh tế

Như vậy, hiện nay pháp luật đã khẳng định, doanh nghiệp nhà nước chỉ được thành lập và hoạt động ở những khâu, công đoạn then chốt trong một số ngành, lĩnh vực nhằm mục tiêu đảm bảo lợi ích cộng đồng, đảm bảo an ninh quốc gia và toàn vẹn lãnh thổ và kinh doanh trong lĩnh vực ứng dụng công nghệ cao, đầu tư lớn mà các thành phần kinh tế khác không muốn hoặc không thể cung cấp

Trang 5

Thứ ba, về hình thức tồn tại: doanh nghiệp nhà nước tồn tại dưới hình thức công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên, bao gồm hai dạng sau:

- Công ti trách nhiệm hữu hạn một thành viên do nhà nước nắm giữ 100% vốn điều lệ là công ti mẹ của tập đoàn kinh tế nhà nước, công ti mẹ của tổng công ti nhà nước, công ti mẹ trong nhóm công ti mẹ - công ti con Trong tập đoàn kinh tế nhà nước, tổng công ti nhà nước, các công ti con

do công ti mẹ đầu tư 100% vốn sẽ không phải là doanh nghiệp nhà nước, không chịu sự ràng buộc của những quy định pháp luật dành riêng cho doanh nghiệp nhà nước

- Công ti trách nhiệm hữu hạn một thành viên độc lập do nhà nước nắm giữ 100% vốn điều lệ

Mặc dù tồn tại dưới hình thức công ti trách nhiệm hữu hạn một thành viên tuân thủ quy định của Luật Doanh nghiệp năm 2014 và các luật khác có liên quan về loại hình công ti này nhưng hiện nay trên thực tế trong giấy chứng nhận đăng kí doanh nghiệp, doanh nghiệp nhà nước tồn tại với những cái tên khác nhau

Thứ tư, về tư cách pháp lí và trách nhiệm tài sản: doanh nghiệp nhà nước

là tổ chức kinh tế tồn tại dưới hình thức công ti trách nhiệm hữu hạn một thành viên, có tư cách pháp nhân kể từ ngày được cấp giấy chứng nhận đăng kí doanh nghiệp Nói đến doanh nghiệp nhà nước cần phân biệt hai chủ thể pháp lí trong việc chịu trách nhiệm đối với các khoản nợ của doanh nghiệp Với tư cách là một chủ thể có tư cách pháp nhân độc lập, có tài sản riêng, doanh nghiệp nhà nước tự chịu trách nhiệm bằng tài sản riêng đó về mọi khoản nợ và các nghĩa vụ tài sản khác của doanh nghiệp

II, CƠ CẤU TỔ CHỨC QUẢN LÝ CỦA DOANH NGHIỆP NHÀ NƯỚC

Trang 6

“Cơ quan đại diện chủ sở hữu quyết định tổ chức quản lý doanh nghiệp nhà nước dưới hình thức công ty trách nhiệm hữu hạn theo một trong hai mô hình quy định tại khoản 1 Điều 78 của Luật này.”

Điều 78 Luật Doanh nghiệp 2014 quy định:

“1 Công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên do tổ chức làm chủ sở hữu được tổ chức quản lý và hoạt động theo một trong hai mô hình sau đây:

a) Chủ tịch công ty, Giám đốc hoặc Tổng giám đốc và Kiểm soát viên;

b) Hội đồng thành viên, Giám đốc hoặc Tổng giám đốc và Kiểm soát viên.

2 Trường hợp Điều lệ công ty không quy định thì Chủ tịch Hội đồng thành viên hoặc Chủ tịch công ty là người đại diện theo pháp luật của công ty.

3 Trường hợp Điều lệ công ty không quy định khác, thì chức năng, quyền và nghĩa vụ của Hội đồng thành viên, Chủ tịch công ty, Giám đốc hoặc Tổng giám đốc và Kiểm soát viên thực hiện theo quy định của Luật này.”

2, Phân tích cơ cấu quản lí của doanh nghiệp nhà nước

Doanh nghiệp nhà nước được tổ chức quản lí theo loại hình công ti trách nhiệm hữu hạn một thành viên nhưng có một số điểm đặc thù phù hợp các nguyên tắc quản trị công ti mà chủ sở hữu là nhà nước, đảm bảo người đại diện trực tiếp cho chủ sở hữu nhà nước và những ngừi khác trong doanh nghiệp nhà nước mang tính chuyên trách và chuyên nghiệp đồng thời chịu sự giám sát, quản lí của nhà nước 2

Cơ quan đại diện chủ sở hữu quyết định tổ chức quản lí doanh nghiệp nhà nước theo một trong hai mô hình: có hội đồng thành viên và không có hội đồng thành viên

a, Doanh nghiệp nhà nước không có hội đồng thành viên

Doanh nghiệp nhà nước không có hội đồng thành viên có cơ cấu quản lí gồm: Chủ tịch công ti, giám đốc hoặc Tổng giám đốc và Kiểm soát viên

2 Trường Đại học Luật Hà Nội, Giáo trình Luật Thương Mại Việt Nam, tập I, tr.267, Nxb.Tư pháp, Hà Nội, 2017

Trang 7

Chủ tịch công ti là người đại diên chủ sở hữu trực tiếptại doanh nghiệp, được cơ quan đại diện chủ sở hữu (bộ quản lí ngành, UBND cấp tỉnh) bổ nhiệm

để thực hiện quyền, trách nhiệm của đại diện chủ sở hữu nhà nước tại doanh nghiệp

Chủ tịch công ti có nhiệm kì không quá 05 năm Chủ tịch công ti có thể được bổ nhiệm lại nhưng không quá 02 năm nhiệm kì và có thể bị miễn nhiệm, cách chức trong các trường hợp theo quy định của pháp luật

Giám đốc là người điều hành cao nhất của công ti và tự chịu trách nhiệm

về toàn bộ hoạt động của công ti Giám đốc do chủ tịch công ti bổ nhiệm hoặc thuê theo phương án nhân sự đa được cơ quan đại diện chủ sở hữu chấp thuận

Với chức năng là người điều hành công ti, giám đốc phải có năng lực trình độ chuyên môn, phẩm chất đạo đức và kinh nghiệm thực tế trong quản trị kinh doanh hoặc trong lĩnh vực ngành, nghề kinh doanh của công ti, không thuộc các trường hợp bị cấm và có các tiêu chuẩn, điều kiện khác quy định tại điều lệ công ti

Giám đốc được bổ nhiệm hoặc kí hợp đồng theo thời hạn không quá năm năm Giám đốc phải chịu trách nhiệm trước pháp luật và chủ tịch công ti về việc thực hiện quyền và nhiệm vụ được giao Giám đốc có thể bị miễn nhiệm hoặc cách chức trong các trường hợp được pháp luật quy định

Căn cứ quy mô của công ti, cơ quan đại diện chủ sở hữu quyết định bổ nhiệm 01 Kiểm sát viên hoặc thành lập Ban kiểm sát viên gồm 03 đến 05 Kiểm sát viên Nhiệm kì của Kiểm sát viên là 03 năm và được bổ nhiệm lại nhưng mỗi cá nhân chỉ được bổ nhiệm làm Kiểm sát viên của một công ti không quá

02 năm nhiệm kì

b, Doanh nghiệp nhà nước có Hội đồng thành viên

Cơ cấu quản lí của Doanh nghiệp nhà nước có Hội đồng thành viên gồm: Hội đồng thành viên, Tổng giám đốc, Kiểm soát viên

Trang 8

nghiệp, có quyền nhân danh doanh nghiệp để quyết định mọi vấn đề liên quan đến việc xác định và thực hiện mục tiêu, nhiệm vụ và quyền lợi của doanh nghiệp

Hội đồng thành viên bao gồm Chủ tịch và các thành viên khác, số lượng không quá 07 người Thành viên Hội đồng thành viên làm việc theo chế độ chuyên trách và do cơ quan đại diện chủ sở hữu quyết định, bổ nhiệm, miễn nhiệm, cách chức hoặc khen thưởng kỉ luật Nhiệm kì của chủ tịch và các thành viên của Hội đồng thành viên không quá 05 năm Thành viên Hội đồng thành viên có thể được bổ nhiệm lại nhưng chỉ được bổ nhiệm làm thành viên Hội đồng thành viên của một công ti không quá 02 nhiệm kì

Để kiểm tra, giám sát hoạt động của công ti, cơ quan đại diện chủ sở hữu thành lập ban kiểm soát gồm 03 đến 05 thành viên Trưởng ban kiểm soát là việc chuyên trách tại công ti, các thành viên khác có thể tham gia Ban kiểm soát của không quá 04 doanh nghiệp nhà nước những phải có sự đồng ý bằng văn bản của cơ quan đại diện chủ sở hữu

Tổng giám đốc doanh nghiệp nhà nước có Hội đồng thành viên do Hội đồng thành viên bổ nhiệm hoặc thuê theo phương án nhân sự đã được cơ quan đại diện của chủ sở hữu chấp nhận

Tổng giám đốc có tiêu chuẩn, điều kiện, quyền và nghĩa vụ giống với Giám đốc công ti không có hội đồng thành viên

Trang 9

C, KẾT LUẬN

Trên đây là phần trình bày của tiểu luận về đề tài “Phân tích cơ cấu quản

lý của doanh nghiệp nhà nước.” Tiều luận đã đưa ra được khái niệm, các đặc

điểm cũng như phân tích làm rõ cơ cấu quản lí của doanh nghiệp nhà nước dựa vào cơ sở lí luận

Có thể thấy so với văn bản pháp luật cũ liên quan đến quản lí doanh nghiệp thì văn bản pháp luật mới đã hoàn thiện hơn, bổ sung nhiều hơn với đối tượng điều chỉnh rộng và hơp lí, mong muốn hướng đến một thị trường lành mạnh đi theo khuôn phép của pháp luật

Trang 10

D, DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO

1 Trường Đại học Luật Hà Nội, Giáo trình luật thương mại (tập 1 và tập 2),

Nxb Công an nhân dân, Hà Nội, 2017

2 Khoa luật - Đại học quốc gia Hà Nội, Giáo trình luật kinh tế (tập 1: Luật

doanh nghiệp), Nxb Đại học quốc gia, Hà Nội, 2006

3 Nguyễn Thị Khế, Pháp luật về các hình thức tổ chức kinh doanh, Nxb Tư

pháp, 2007

4 Đồng Ngọc Ba, Cơ sở lí luận và thực tiễn của việc hoàn thiện pháp luật về

doanh nghiệp ở Việt Nam (khái niệm doanh nghiệp: tr 9 - 22; phân loại doanh

nghiệp: tr 22 - 27), Luận án tiến sĩ luật học, 2005

5 Nghị định của Chính phủ số 96/2015/NĐ-CP ngày 19/10/2015 quy định chi

tiết một số điều của Luật Doanh nghiệp

6 Nghị định của Chính phủ số 78/2015/NĐ-CP ngày 14/9/2015 về Đăng ký

doanh nghiệp

Ngày đăng: 29/03/2022, 18:08

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Trường Đại học Luật Hà Nội, Giáo trình luật thương mại (tập 1 và tập 2), Nxb. Công an nhân dân, Hà Nội, 2017 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình luật thương mại
Nhà XB: Nxb. Công an nhân dân
2. Khoa luật - Đại học quốc gia Hà Nội, Giáo trình luật kinh tế (tập 1: Luật doanh nghiệp), Nxb. Đại học quốc gia, Hà Nội, 2006 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình luật kinh tế
Nhà XB: Nxb. Đại học quốc gia
3. Nguyễn Thị Khế, Pháp luật về các hình thức tổ chức kinh doanh, Nxb. Tư pháp, 2007 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Pháp luật về các hình thức tổ chức kinh doanh
Nhà XB: Nxb. Tưpháp
4. Đồng Ngọc Ba, Cơ sở lí luận và thực tiễn của việc hoàn thiện pháp luật về doanh nghiệp ở Việt Nam (khái niệm doanh nghiệp: tr. 9 - 22; phân loại doanh nghiệp: tr. 22 - 27), Luận án tiến sĩ luật học, 2005 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Cơ sở lí luận và thực tiễn của việc hoàn thiện pháp luật vềdoanh nghiệp ở Việt Nam
5. Nghị định của Chính phủ số 96/2015/NĐ-CP ngày 19/10/2015 quy định chi tiết một số điều của Luật Doanh nghiệp Khác
6. Nghị định của Chính phủ số 78/2015/NĐ-CP ngày 14/9/2015 về Đăng ký doanh nghiệp Khác

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

w