1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

thảo luận pháp luật đai cương “Vấn đề chia tài sản chung trong thời kì hôn nhân và phương hướng giải pháp hoàn thiện pháp luật.” . BÀI TẬP LỚN HÔN NHÂN VÀ GIA ĐÌNH

16 1,3K 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 16
Dung lượng 74 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Việc xác lập, thực hiện và chấm dứt giao dịch dân sự liên quan đến tài sản chung có giá trị lớn hoặc là nguồn sống duy nhất của gia đình, việc dùng tài sản chung để đầu tư kinh doanh phả

Trang 1

A.ĐẶT VẤN ĐỀ.

Mỗi gia đình là một tế bào của xã hội sự ổn định và phát triển lành mạnh của gia đình sẽ góp phần vào sự phát triển chung của toàn bộ xã hội Gia đình được xây dựng dựa trên những sợi dây liên kết của hôn nhân, huyết thống và nuôi dưỡng trong đó quan hệ hôn nhân có thể xem là quan hệ nền tảng của mỗi gia đình Trong bối cảnh cuộc sống hiện nay, bên cạnh đời sống tình cảm, tình yêu thương lẫn nhau không thể không quan tâm tới đời sống vật chất Quan hệ tài sản giữa vợ chồng là một vấn đề hết sức quan trọng, nó

là một trong những tiền đề giúp cho vợ chồng xây dựng cuộc sống hạnh phúc, đáp ứng những nhu cầu về vật chất tinh thần cho gia đình Xuất phát từ thực tế này mà đã nảy sinh các quyền và nghĩa

vụ pháp lý giữa họ với nhau mà chia tài sản chung của vợ chồng là một vấn đề không thể thiếu trong pháp luật hôn nhân và gia đình

Chính vì lí do trên mà em xin chọn đề bài: “Vấn đề chia tài sản chung trong thời kì hôn nhân và phương hướng giải pháp hoàn thiện pháp luật.” làm đề tài cho bài viết của mình.

B.Giải quyết vấn đề

I Cơ sở pháp lí về vấn đề chia tài sản chung của vợ chồng trong thời kì hôn nhân.

1 Về chế độ tài sản của vợ chồng theo hệ thống pháp luật hôn nhân và gia đình Việt Nam

Trang 2

Trước hết, chế độ tài sản của vợ chồng cũng đã được quy định

tại các điều 14, 15 Luật Hôn nhân gia đình năm 1986: “Điều 14 :

Tài sản chung của vợ chồng gồm tài sản do vợ hoặc chồng tạo ra, thu nhập về nghề nghiệp và những thu nhập hợp pháp khác của vợ chồng trong thời kỳ hôn nhân, tài sản mà vợ chồng được thừa kế

chung hoặc được cho chung Điều 15: Tài sản chung được sử

dụng để bảo đảm những nhu cầu chung của gia đình.Vợ, chồng có quyền và nghĩa vụ ngang nhau đối với tài sản chung Việc mua bán, đổi, cho, vay, mượn, và những giao dịch khác có quan hệ đến tài sản mà có giá trị lớn thì phải được sự thoả thuận của vợ, chồng.” Kế thừa các điều trên Điều 27, 28 Luật hôn nhân và gia

đình năm 2000 quy định về tài sản chung của vợ chồng: “Điều 27 Tài sản chung của vợ chồng

1 Tài sản chung của vợ chồng gồm tài sản do vợ, chồng tạo

ra, thu nhập do lao động, hoạt động sản xuất, kinh doanh và những thu nhập hợp pháp khác của vợ chồng trong thời kỳ hôn nhân; tài sản mà vợ chồng được thừa kế chung hoặc được tặng cho chung và những tài sản khác mà vợ chồng thoả thuận là tài sản chung.

Quyền sử dụng đất mà vợ chồng có được sau khi kết hôn là tài sản chung của vợ chồng Quyền sử dụng đất mà vợ hoặc chồng có được trước khi kết hôn, được thừa kế riêng chỉ là tài sản chung khi

vợ chồng có thoả thuận.

Trang 3

Tài sản chung của vợ chồng thuộc sở hữu chung hợp nhất.

2 Trong trường hợp tài sản thuộc sở hữu chung của vợ chồng

mà pháp luật quy định phải đăng ký quyền sở hữu thì trong giấy chứng nhận quyền sở hữu phải ghi tên của cả vợ chồng.

3 Trong trường hợp không có chứng cứ chứng minh tài sản

mà vợ, chồng đang có tranh chấp là tài sản riêng của mỗi bên thì tài sản đó là tài sản chung.

Điều 28 Chiếm hữu, sử dụng, định đoạt tài sản chung

1 Vợ, chồng có quyền và nghĩa vụ ngang nhau trong việc chiếm hữu, sử dụng, định đoạt tài sản chung.

2 Tài sản chung của vợ chồng được chi dùng để bảo đảm nhu cầu của gia đình, thực hiện các nghĩa vụ chung của vợ chồng.

3 Việc xác lập, thực hiện và chấm dứt giao dịch dân sự liên quan đến tài sản chung có giá trị lớn hoặc là nguồn sống duy nhất của gia đình, việc dùng tài sản chung để đầu tư kinh doanh phải được vợ chồng bàn bạc, thoả thuận, trừ tài sản chung đã được chia để đầu tư kinh doanh riêng theo quy định tại khoản 1 Điều 29 của Luật này.”

Theo đó, việc xác định tài sản chung của vợ chồng phải dựa

vào thời điểm phát sinh tài sản chung mà cụ thể là từ khi có sự kiện kết hôn hợp pháp ; và nguồn gốc tài sản gồm: các tài sản do

vợ chồng tạo ra trong thời kì hôn nhân, những thu nhập hợp pháp của vợ chồng trong thời kì hôn nhân, các tài sản mà vợ chồng được

Trang 4

thừa kế chung, được tặng cho chung, tài sản của vợ chồng bao gồm quyền sử dụng đất mà vợ chồng có được sau kết hôn (Điều 688 Bộ luật dân sự năm 2005), tài sản chung của vợ chồng còn gồm những tài sản được vợ chồng thỏa thuận là tài sản chung, tài sản mà không đủ chứng cứ để xác định là tài sản riêng thì nó sẽ được suy đoán là tài sản chung

Tiếp đó theo như những điều khoản đã nêu và căn cứ vào điều

219 Bộ luật dân sự năm 2005 thì chúng ta có thể thấy vợ chồng có quyền bình đẳng trong việc chiếm hữu, sử dụng, định đoạt tài sản chung

2.Về vấn đề chia tài sản chung trong thời kì hôn nhân.

Gắn liền với thực tiễn cuộc sống, nhiều cặp vợ chồng muốn được chia tài sản chung trong thời kỳ hôn nhân (có thể xuất phát từ mâu thuẫn giữa vợ chồng trong quản lý sử dụng, định đoạt tài sản chung xuất phát từ mâu thuẫn về tình cảm, song họ không muốn ly hôn nhưng muốn được độc lập về tài sản để tránh phát triển mâu thuẫn và được độc lập trong cuộc sống…) luật Hôn nhân và gia đình năm 2000 trên cơ sở kế thừa Luật Hôn nhân và gia đình năm

1986 (Điều 18) tiếp tục quy định chia tài sản chung của vợ chồng trong thời kì hôn nhân, cụ thể là:

“Điều 29 Chia tài sản chung trong thời kỳ hôn nhân

1 Khi hôn nhân tồn tại, trong trường hợp vợ chồng đầu tư kinh doanh riêng, thực hiện nghĩa vụ dân sự riêng hoặc có lý do

Trang 5

chính đáng khác thì vợ chồng có thể thoả thuận chia tài sản chung; việc chia tài sản chung phải lập thành văn bản; nếu không thoả thuận được thì có quyền yêu cầu Toà án giải quyết.

2 Việc chia tài sản chung của vợ chồng nhằm trốn tránh thực hiện nghĩa vụ về tài sản không được pháp luật công nhận.

Điều 30 Hậu quả chia tài sản chung của vợ chồng

Trong trường hợp chia tài sản chung của vợ chồng thì hoa lợi, lợi tức phát sinh từ tài sản đã được chia thuộc sở hữu riêng của mỗi người; phần tài sản còn lại không chia vẫn thuộc sở hữu chung của vợ chồng.”

Các quy định này được hướng dẫn từ điều 6 đến điều 11 NĐ

số 70/2001/NĐ ngày 3/10/2001của Chính phủ quy định chi tiết thi hành Luật hôn nhân và gia đình 2000

Theo như quy định trên, thì việc chia tài sản chung trong thời

kì hôn nhân được chia làm các trường hợp:

Thứ nhất, chia tài sản chung khi vợ chồng đầu tư kinh doanh riêng: Đây là trường hợp khi một bên vợ chồng muốn tự mình kinh doanh hoặc hợp tác với người khác nhưng không muốn việc kinh doanh của mình ảnh hưởng đến tài sản chung cả gia đình khi làm

ăn thất bại; hoặc việc kinh doanh này không được sự đồng ý của bên kia…Và quy định này cũng một mặt thể hiện việc tôn trọng quyền tự do kinh doanh của cá nhân Do đó, để thuận tiện cho việc

Trang 6

đầu tư kinh doanh của riêng của mình vợ chồng có thể yêu cầu chia tài sản chung trong thời kì hôn nhân

Thứ hai, chia tài tài sản chung khi một bên thực hiện nghĩa vụ dân sự riêng: nghĩa vụ này có thể phát sinh từ khoản nợ mà vợ hoặc chồng vay của người khác trước khi kết hôn hoặc trong thời

kì hôn nhân nhưng sử dụng vào mục đích cá nhân mà không vì lợi ích chung của gia đình (như dùng để cấp dưỡng cho con riêng, cho vợ/chồng cũ…; bồi thường thiệt hại do hành vi trái pháp luật của mình gây ra…)

Thứ ba là trường hợp có lí do chính đáng : trong luật không quy định rõ lí do chính đáng ở đây cụ thể là gì? Tuy vậy, từ thực

tế, ta có thể hiểu một số lí do như vợ chồng đời sống tình cảm mâu thuẫn sâu sắc nhưng có thể do tuổi đã cao hoặc do địa vị xã hội ngại với con cháu và dư luận nên không muốn li hôn….Trong trường hợp này để mâu thuẫn không sâu sắc hơn nữa và đảm bảo cuộc sống của cả hai bên thì vấn đề chia tài sản chung được đặt ra Mặt khác, về phương thức chia tài sản, Luật hôn nhân và gia đình năm 1986 quy định chia tài sản chung của vợ chồng khi hôn nhân tồn tại như chia tài sản chung cảu vợ chồng khi li hôn Khác với Luật hôn nhân và gia đình năm 1986, Luật hôn nhân và gia đình năm 2000 không quy định cụ thể phương thức chia tài sản

chung của vợ chồng trong thời kì hôn nhân mà chỉ quy định “vợ chồng có thể thỏa thuận chia tài sản chung” Nếu vợ chồng thỏa

Trang 7

thuận được trong việc chia tài sản thì sự thỏa thuận đó được lập thành văn bản và việc phân chia được pháp luật công nhận Trong

trường hợp vợ chồng “không thỏa thuận được thì có quyền yêu cầu tòa án giải quyết” Ở đây luật hôn nhân và gia đình năm 2000

tôn trọng sự thỏa thuận của vợ chồng Bên cạnh đó Luật hôn nhân

và gia đình đã dự liệu đến những trường hợp có thể vợ chồng lạm dụng quyền của mình trong việc chia tài sản chung có thể gây hậu quả xấu xâm phạm đến lợi ích hợp pháp khác được pháp luật bỏa

vệ Vì vậy, khoản 2 Điều 29 Luật hôn nhân và gia đình năm 2000

quy định : “Việc chia tài sản chung của vợ chồng nhằm trốn tránh thực hiện nghĩa vụ về tài sản không được pháp luật công nhận”.

Các nghĩa vụ ấy có thể là : Nghĩa vụ nuôi dưỡng, cấp dưỡng người khác theo quy định của pháp luật, nghĩa vụ bồi thường thiệt hại, nghĩa vụ thanh toán khi bị Toà án tuyên bố phá sản doanh nghiệp, nghĩa vụ nộp thuế và nghĩa vụ tài chính khác đối với Nhà nước, nghĩa vụ trả nợ cho người khác….Như vậy, nếu vợ chồng đã thỏa thuận hoặc yêu cầu tòa án chia tài sản chung nhưng sau đó có chứng cứ cho rằng việc chia tài sản đó là nhằm trốn tránh thực hiện nghĩa vụ về tài sản thì việc chia tài sản đó là vô hiệu

Xét thấy chia tài sản chung trong thời kì hôn nhân là một trường hợp chia tài sản đặc biệt Vì vậy, vợ chồng có thể thỏa thuận hoặc yêu cầu tòa án chia toàn bộ hoặc một phần tài sản chung Khi chia tài sản chung trong thời kì hôn nhân quan hệ nhân

Trang 8

thân giữa vợ chồng không thay đổi Đây chính là điểm khác biệt cơ bản nhất của chế định này so với chế định li thân của một số nước phương Tây Tuy nhiên, quan hệ sở hữu giữa vợ và chồng đối với tài sản đã có sự thay đổi rất nhiều Theo điều 30 Luật hôn nhân và gia đình và theo điều 8 NĐ số 70/2001/NĐ ngày 3/10/2001 phần tài sản mà vợ chồng được chia hoa lợi từ tài sản riêng, thu nhập do lao động, hoạt động sản xuất kinh doanh và những thu nhập hợp pháp khác của vợ chồng sau khi chia tài sản chung là tài sản riêng của mỗi người trừ khi vợ chồng có thỏa thuận khác

II.Cơ sở thực tiễn về vấn đề chia tài sản chung trong thời

kì hôn nhân.

Đầu tiên là xuất phát từ các mối quan hệ phức tạp của mỗi cá nhân trong xã hội hiện nay, vợ chồng với tài sản riêng của có thể không đủ tiêu dùng cho mục đích cá nhân, và giải quyết các vấn đề

tế nhị như : giúp đỡ họ hàng, bạn bè… lúc khó khăn mà vẫn giữ được không khí gia đình đầm ấm

Sau đó, theo Điều 57 Hiến pháp 1992 có ghi : “ Mọi công dân

có quyền tự do kinh doanh theo quy định của pháp luật” Việc đầu

tư kinh doanh là do ý chí mỗi cá nhân quyết định, nếu giữa vợ chồng không cùng chung ý định kinh doanh một lĩnh vực nào đó

mà tài sản riêng của bên muốn đầu tư kinh doanh không đủ thì việc chia tài sản chung là cần thiết

Trang 9

Cuối cùng, xã hội phát triển đời sống tinh thần của con người càng phức tạp Có nhiều cặp cợ chồng tuy tình cảm đã không còn như xưa nhưng vì hòa khí gia đình, không muốn con cái buồn, lo lắng nên không li hôn; họ chỉ muốn chia tài sản chung ra để tiện cho việc sinh hoạt riêng của mỗi bên

Chính vì những thực tiễn ấy mà việc quy định chia tài sản chung trong thời kì hôn nhân trong Luật hôn nhân và gia đình 1986

và năm 2000 là một điểm phát triển so với Luật hôn nhân và gia đình năm 1959 Tuy nhiên bên cạnh đó cũng có những hạn chế và vướng mắc mà chúng ta cần xem xét

III Một số hạn chế trong việc quy định chia tài sản chung trong thời kì hôn nhân trong luật hôn nhân và gia đình.

Một là, việc pháp luật hôn nhân và gia đình chỉ công nhận vợ, chồng hoặc cả hai vợ chồng có quyền yêu cầu Toà án chia tài sản chung trong thời kỳ hôn nhân, quyền khởi kiện của người thứ ba có liên quan đến tài sản chung (chủ nợ, con riêng của một bên đã thành niên nhưng vẫn cần cấp dưỡng…) trong trường hợp này không được thừa nhận (Điều 29 Luật hôn nhân và gia đình năm 2000), là hoàn toàn phù hợp về mặt nguyên tắc Tuy nhiên, nếu áp dụng qui định này vào thực tiễn vẫn còn vấn đề bất cập cần phải có

sự vận dụng linh hoạt hơn Theo luật hiện hành, khi vợ, chồng có nghĩa vụ tài sản riêng thì nghĩa vụ tài sản đó được thực hiện bằng tài sản riêng của họ, tài sản chung của vợ chồng không sử dụng

Trang 10

cho việc thanh toán các khoản nợ này trừ khi vợ chồng có thoả thuận (Điều 33 Luật hôn nhân và gia đình năm 2000) Vấn đề đặt

ra là, rất có thể người có nghĩa vụ tài sản không có hoặc không đủ tài sản riêng để thanh toán các khoản nợ và vợ chồng đã không có thỏa thuận hoặc yêu cầu Tòa án chia tài sản chung để trốn tránh việc thực hiện nghĩa vụ tài sản Trong trường hợp này, nếu không thừa nhận quyền yêu cầu của người có quyền (chủ nợ) về chia tài sản chung của vợ chồng để lấy phần tài sản của người có nghĩa vụ thanh toán nợ, thì quyền lợi của họ được đảm bảo như thế nào? Hai là, Khoản 1 Điều 29 Luật hôn nhân và gia đình qui định,

vợ, chồng có thể yêu cầu Toà án giải quyết việc chia tài sản chung trong thời kỳ hôn nhân nếu không có hoặc không thoả thuận được Tuy nhiên, Luật hôn nhân và gia đình và các văn bản hướng dẫn có liên quan chưa qui định cụ thể nguyên tắc chia tài sản chung của

vợ chồng trong thời kỳ hôn nhân khi việc chia tài sản chung đó thuộc thẩm quyền của Toà án Do đó, trong thực tiễn áp dụng, Toà

án sẽ gặp khó khăn khi vận dụng căn cứ pháp lý để giải quyết các tranh chấp phát sinh (như phải chia những gì, cần chia như thế nào)

Ba là, qui định trong thời kỳ hôn nhân, nếu có lý do chính đáng vợ chồng có thể thỏa thuận chia tài sản chung bằng văn bản

mà không qui định trách nhiệm của họ đối với gia đình Vậy khi phát sinh nhu cầu thiết yếu của gia đình thì ai sẽ phải có trách

Trang 11

nhiệmđáp ứng nhu cầu đó, tài sản được lấy từ đâu? Khi đó lợi ích của gia đình liệu có được đảm bảo?

Bốn là, Luật hôn nhân và gia đình năm 2000 và Nghị định số

70 qui định các trường hợp chia tài sản chung trong thời kỳ hôn nhân mà không có lý do chính đáng thì bị Toà án tuyên bố là vô hiệu Tuy nhiên, Luật hôn nhân và gia đình lại không qui định ai là người có thể yêu cầu Toà án hủy bỏ thoả thuận chia tài sản chung trong thời kỳ hôn nhân trong trường hợp thoả thuận này vi phạm các điều kiện được qui định tại Điều 29 Luật hôn nhân và gia đình hoặc gây ảnh hưởng nghiêm trọng đến đời sống gia đình, đến việc trông nom, nuôi dưõng, chăm sóc, giáo dục con chưa thành niên, con đã thành niên bị tàn tật, mất năng lực hành vi dân sự, không có khả năng lao động và không có tài sản để tự nuôi mình

Năm là, việc chia tài sản chung của vợ chồng trong thời kỳ hôn nhân theo qui định của pháp luật không làm thay đổi quan hệ nhân thân giữa vợ và chồng và quan hệ giữa cha mẹ và con Có thể thấy việc vợ chồng áp dụng chế định này đã phản ánh những mâu thuẫn tồn tại trong quan hệ giữa họ Khi động đến vấn đề vật chất thì vấn đềtình cảm dường như đã bị xem nhẹ phần nào Sự độc lập

về tài sản sau khi chia tài sản chung, có thể dẫn đến vợ chồng sống

ly thân hoặc một bên lại lẩn tránh trách nhiệm đối với gia đình, từ

đó có tranh chấp về việc chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục con chưa thành niên hoặc con đã thành niên mất năng lực hành vi dân

Trang 12

sự, không có khả năng lao động, không có thu nhập, không có tài sản để tự nuôi mình

IV Phương hướng, giải pháp hoàn thiện pháp luật.

Với tồn tại đầu tiên, pháp luật cần qui định rõ: Trong trường hợp người có lợi ích liên quan có đủ chứng cứ cho rằng, vợ chồng không có thoả thuận hoặc không yêu cầu Tòa án chia tài sản chung trong thời kỳ hôn nhân nhằm mục đích trốn tránh thực hiện nghĩa

vụ về tài sản, thì người đó có thể yêu cầu Toà án chia tài sản chung của vợ chồng trong thời kỳ hôn nhân để lấy phần tài sản của người

vợ hoặc người chồng có nghĩa vụ thực hiện thanh toán các khoản

nợ Yêu cầu của người đó quyền sẽ bị Toà án bác bỏ, nếu việc chia tài sản chung ảnh hưởng nghiêm trọng đến lợi ích gia đình của người có nghĩa vụ hoặc bản thân vợ, chồng có nghĩa vụ có đủ tài sản riêng đủ để thanh toán các khoản nợ, hay thực hiện nghĩa vụ của mình

Để giải quyết hạn chế thứ hai, như chúng ta đã biết, Điều 18 Luật hôn nhân và gia đình năm 1986 đã qui định: việc chia tài sản trong thời kì hôn nhân giữa vợ và chồng được thực hiện như khi li hôn Trên cơ sở kế thừa qui định đó : Khi chia tài sản chung, Toà

án căn cứ vào lý do, mục đích chia tài sản chung để quyết định phạm vi tài sản chung được chia Việc chia tài sản chung căn cứ vào các nguyên tắc chia tài sản khi ly hôn qui định tại Điều 95 của Luật hôn nhân và gia đình; nếu tài sản là nhà ở và quyền sử dụng

Ngày đăng: 27/06/2015, 08:40

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w