1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

CÂU CÁ MÙA THU - Nguyễn Khuyến-

7 13 0

Đang tải... (xem toàn văn)

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 7
Dung lượng 280,48 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

CÂU CÁ MÙA THU - Nguyễn Khuyến- I. MỞ BÀI Nguyễn Khuyến là một trong những đại diện lớn nhất và cuối cùng của văn học trung đại Việt Nam ở giai đoạn cuối thế kỉ XIX. Sáng tác của Nguyễn Khuyến được viết bằng cả chữ Hán, chữ Nôm và ở nhiều thể loại khác nhau, nhưng ông được biết đến chủ yếu qua thơ. Thơ Nguyễn Khuyến thể hiện tình yêu sâu sắc với quê hương, đất nước, gia đình, bạn bè. Ông thường mang vào trang thơ của mình những cảnh sắc đẹp đẽ, bình dị của làng quê yên bình. Thơ Nguyễn Khuyến nức danh nhất là chùm thơ thu gồm ba bài: Thu vịnh, Thu ẩm và Thu điếu. Ba bài thơ này bài nào cũng hay, cũng đẹp cho thấy một tình quê dào dạt. Riêng bài "Thu điếu", nhà thơ Xuân Diệu đã khẳng định là "điển hình hơn cả cho mùa thu của làng cảnh Việt Nam". Ao thu lạnh lẽo nước trong veo, Một chiếc thuyền câu bé tẻo teo. Sóng biếc theo làn hơi gợn tí, Lá vàng trước gió khẽ đưa vèo. Tầng mây lơ lửng trời xanh ngắt. Ngõ trúc quanh co khách vắng teo. Tựa gối, ôm cần lâu chẳng được, Cá đâu đớp động dưới chân bèo. II. THÂN BÀI 1. Khái quát 1.1. Đề tài: Ở nhiều nơi trên thế giới vào mùa thu lá trổ màu vàng, đỏ, cam, nâu rất đẹp. Buổi sáng mùa thu thường có nhiều sương mù, cảnh vật mờ ảo. Buổi trưa có nắng vàng hanh và gió heo may rơi rụng lá vàng. Những buổi chiều thê lương, cây cối khẳng khiu bên hè phố vắng, mùi hương nào nồng nàn trong gió thoảng qua … thật thơ mộng, làm xao xuyến hồn ta. Nhưng cái đẹp, cái diễm ảo mùa thu không phải chỉ ở thiên nhiên, cảnh vật, ở lá vàng rực rỡ và rơi theo gió, mà còn ở tình thu. Lạc vào thế giới huyền diệu của cảnh đẹp mùa thu, người ta thường có những rung cảm, bâng khuâng, mơ hồ, một nỗi buồn man mác, gợi nhớ hay nuối tiếc về một cái gì đó xa xôi, đầy bí ẩn. Và đôi khi, thu gợi nỗi buồn của chia li, của những mối tình dang dở. Nhạc sĩ tài hoa Trịnh Công Sơn đã đầy cảm xúc về mùa thu như thế: "Nhìn những mùa thu đi Em nghe sầu lên trong nắng Và lá rụng ngoài song Nghe tên mình vào quên lãng Nghe tháng ngày chết trong thu vàng…”. Dường như không ai có thể vô tình trước vẻ đẹp của cảnh thu, tình thu, nhờ thế mà mùa thu là một đề tài rất phong phú trong thi ca, âm nhạc trên thế giới cũng như ở Việt Nam. Nguyễn Khuyến, một nhà thơ trung đại cũng hoài cảm về mùa thu ở vùng đồng bằng chiêm trũng Bắc bộ quê hương mình mà sáng tác chùm thơ thu nổi tiếng, làm say đắm lòng biết bao nhiêu thế hệ. 1.2. Nhan đề: Nhan đề của bài thơ là “Câu cá mùa thu” nhưng nhân vật trữ tình lại chẳng mấy bận tâm đến chuyện câu cá, nói chuyện “câu cá” thực ra là để đón nhận bức tranh cảnh mùa thu và gửi gắm tâm sự. Khi Nguyễn Khuyến viết bài thơ này, gót giày quân xâm lược Pháp đã đặt lên nhiều nơi trên đất nước, xã hội thuộc địa đã được lập nên ở vài đô thị. Nhưng làng quê ông vẫn giữ được vẻ đẹp thanh sơ, giản dị, duyên dáng như cô gái chân quê xứ Bắc với “cái áo tứ thân, cái khăn mỏ quạ, cái quần nái đen”. Nguyễn Khuyến đi câu cá là để tắm mình trong vẻ đẹp nguyên sơ ấy của mùa thu quê hương cho khuây khỏa nỗi thương đau trong lòng. 1.3. Điểm nhìn: Bức tranh toàn cảnh mùa thu trong bài thơ được cảm nhận qua một điểm nhìn cụ thể. Từ vị trí ngồi câu trên chiếc thuyền ở cái ao thu mà nhà thơ quan sát bức tranh cảnh vật mùa thu gần đến xa, từ thấp lên caọ, từ hẹp đến rộng... Dưới nhiều góc độ như vậy, cảnh sắc mùa thu được mở ra thật sinh động và gợi cảm. Từ ao thu đến trời thu, rồi đến đường làng ngõ xóm..., cảnh vật xiết bao quen thuộc, thấm đượm nỗi buồn man mác và mang đậm phong vị mùa thu của làng quê Bắc Bộ. 2. Hai câu đề: Không gian mùa thu không được mở ra khoáng đạt như trong bài “Thu vịnh” với “Trời thu xanh ngắt mấy tầng cao” mà cảnh sắc mùa thu đồng quê được thu lại trong một cái ao nhỏ: Ao thu lạnh lẽo nước trong veo, Một chiếc thuyền câu bé tẻo teo. Trước mắt người đọc là cái ao vùng chiêm trũng đất Bắc. Người đi câu cá không ngồi trên bờ ao để buông câu mà ngồi trên chiếc thuyền câu để mở rộng góc nhìn không gian, cảnh vật mùa thu. Từ vị trí của người đi câu, có thể nhìn thấy rất rõ ao mùa thu nước “trong veo”, vì mùa thu gió chỉ hiu hiu nên sóng nhỏ và bùn lắng xuống, nước trong đến mức có thể nhìn được rong rêu tận đáy. Mùa thu còn là khi cái nắng chói chang của mùa hè đã lắng dịu, trong gió thu đã chớm mang một chút lạnh, chút rét mướt. Các thi sĩ là người nhạy cảm trước sự đổi thay của tạo vật nên dễ nắm lấy khoảnh khắc xao động của mùa. Xuân Diệu đã từng cảm nhận về cái chớm lạnh của mùa thu: Đã nghe rét mướt luồn trong gió Đã vắng người sang những chuyến đò. (Đây mùa thu tới)

Trang 1

1

CÂU CÁ MÙA THU

- Nguyễn Khuyến-

I MỞ BÀI

Nguyễn Khuyến là một trong những đại diện lớn nhất và cuối cùng của văn học trung đại Việt Nam ở giai đoạn cuối thế kỉ XIX Sáng tác của Nguyễn Khuyến được viết bằng cả chữ Hán, chữ Nôm và ở nhiều thể loại khác nhau, nhưng ông được biết đến chủ yếu qua thơ Thơ Nguyễn Khuyến thể hiện tình yêu sâu sắc với quê hương, đất nước, gia đình, bạn bè Ông thường mang vào trang thơ của mình những cảnh sắc đẹp đẽ, bình dị của làng quê yên bình Thơ Nguyễn Khuyến nức danh nhất là chùm thơ thu gồm ba bài: Thu vịnh, Thu ẩm và Thu điếu Ba bài thơ này bài nào cũng hay, cũng đẹp cho thấy một tình quê dào dạt Riêng bài "Thu điếu", nhà thơ Xuân Diệu đã khẳng định là "điển hình hơn cả cho mùa thu của làng cảnh Việt Nam"

Ao thu lạnh lẽo nước trong veo, Một chiếc thuyền câu bé tẻo teo

Sóng biếc theo làn hơi gợn tí,

Lá vàng trước gió khẽ đưa vèo

Tầng mây lơ lửng trời xanh ngắt

Ngõ trúc quanh co khách vắng teo

Tựa gối, ôm cần lâu chẳng được,

Cá đâu đớp động dưới chân bèo

II THÂN BÀI

1 Khái quát

1.1 Đề tài:

Ở nhiều nơi trên thế giới vào mùa thu lá trổ màu vàng, đỏ, cam, nâu rất đẹp Buổi sáng mùa thu thường có nhiều sương mù, cảnh vật mờ ảo Buổi trưa có nắng vàng hanh và gió heo may rơi rụng lá vàng Những buổi chiều thê lương, cây cối khẳng khiu bên hè phố vắng, mùi hương nào nồng nàn trong gió thoảng qua … thật thơ mộng, làm xao xuyến hồn

ta Nhưng cái đẹp, cái diễm ảo mùa thu không phải chỉ ở thiên nhiên, cảnh vật, ở lá vàng rực rỡ và rơi theo gió, mà còn ở tình thu Lạc vào thế giới huyền diệu của cảnh đẹp mùa thu, người ta thường có những rung cảm, bâng khuâng, mơ hồ, một nỗi buồn man mác, gợi nhớ hay nuối tiếc về một cái gì đó xa xôi, đầy bí ẩn Và đôi khi, thu gợi nỗi buồn của chia

li, của những mối tình dang dở Nhạc sĩ tài hoa Trịnh Công Sơn đã đầy cảm xúc về mùa thu như thế:

"Nhìn những mùa thu đi

Em nghe sầu lên trong nắng

Và lá rụng ngoài song Nghe tên mình vào quên lãng

Trang 2

2

Nghe tháng ngày chết trong thu vàng…”

Dường như không ai có thể vô tình trước vẻ đẹp của cảnh thu, tình thu, nhờ thế mà mùa thu là một đề tài rất phong phú trong thi ca, âm nhạc trên thế giới cũng như ở Việt Nam Nguyễn Khuyến, một nhà thơ trung đại cũng hoài cảm về mùa thu ở vùng đồng bằng chiêm trũng Bắc bộ quê hương mình mà sáng tác chùm thơ thu nổi tiếng, làm say đắm lòng biết bao nhiêu thế hệ

1.2 Nhan đề: Nhan đề của bài thơ là “Câu cá mùa thu” nhưng nhân vật trữ tình lại

chẳng mấy bận tâm đến chuyện câu cá, nói chuyện “câu cá” thực ra là để đón nhận bức tranh cảnh mùa thu và gửi gắm tâm sự Khi Nguyễn Khuyến viết bài thơ này, gót giày quân xâm lược Pháp đã đặt lên nhiều nơi trên đất nước, xã hội thuộc địa đã được lập nên ở vài

đô thị Nhưng làng quê ông vẫn giữ được vẻ đẹp thanh sơ, giản dị, duyên dáng như cô gái

chân quê xứ Bắc với “cái áo tứ thân, cái khăn mỏ quạ, cái quần nái đen” Nguyễn Khuyến

đi câu cá là để tắm mình trong vẻ đẹp nguyên sơ ấy của mùa thu quê hương cho khuây

khỏa nỗi thương đau trong lòng

1.3 Điểm nhìn:

Bức tranh toàn cảnh mùa thu trong bài thơ được cảm nhận qua một điểm nhìn cụ thể

Từ vị trí ngồi câu trên chiếc thuyền ở cái ao thu mà nhà thơ quan sát bức tranh cảnh vật mùa thu gần đến xa, từ thấp lên caọ, từ hẹp đến rộng Dưới nhiều góc độ như vậy, cảnh sắc mùa thu được mở ra thật sinh động và gợi cảm Từ ao thu đến trời thu, rồi đến đường làng ngõ xóm , cảnh vật xiết bao quen thuộc, thấm đượm nỗi buồn man mác và mang đậm phong vị mùa thu của làng quê Bắc Bộ

2 Hai câu đề:

Không gian mùa thu không được mở ra khoáng đạt như trong bài “Thu vịnh” với

“Trời thu xanh ngắt mấy tầng cao” mà cảnh sắc mùa thu đồng quê được thu lại trong một cái ao nhỏ:

Ao thu lạnh lẽo nước trong veo, Một chiếc thuyền câu bé tẻo teo

Trước mắt người đọc là cái ao vùng chiêm trũng đất Bắc Người đi câu cá không ngồi trên bờ ao để buông câu mà ngồi trên chiếc thuyền câu để mở rộng góc nhìn không gian, cảnh vật mùa thu Từ vị trí của người đi câu, có thể nhìn thấy rất rõ ao mùa thu nước

“trong veo”, vì mùa thu gió chỉ hiu hiu nên sóng nhỏ và bùn lắng xuống, nước trong đến mức có thể nhìn được rong rêu tận đáy Mùa thu còn là khi cái nắng chói chang của mùa hè

đã lắng dịu, trong gió thu đã chớm mang một chút lạnh, chút rét mướt Các thi sĩ là người nhạy cảm trước sự đổi thay của tạo vật nên dễ nắm lấy khoảnh khắc xao động của mùa Xuân Diệu đã từng cảm nhận về cái chớm lạnh của mùa thu:

Đã nghe rét mướt luồn trong gió

Đã vắng người sang những chuyến đò

(Đây mùa thu tới)

Trang 3

3

Nhà thơ Nguyễn Đình Thi sau này cũng nhận ra chút lạnh ấy trong buổi sáng mùa thu ở phố phường Hà Nội:

Sáng chớm lạnh trong lòng Hà Nội Những phố dài xao xác hơi may

(Đất nước)

Mùa thu trong thơ Nguyễn Khuyến cũng có chút lạnh như thế Khí thu lành lạnh, nhìn xuống đáy ao nước trong vắt, trong đến mức người ta cứ muốn nhìn mãi xuống đáy rồi cảm thấy cả cái lạnh lẽo của nước ao thu Trên mặt ao là một chiếc thuyền câu rất bé nhỏ "bé tẻo teo" Cái ao và chiếc thuyền câu trở thành trung tâm của bài thơ, cũng là hình ảnh bình dị, thân thuộc, đáng yêu của làng quê Việt Nam Xuân Diệu cho biết ở vùng đồng chiêm trũng Bình Lục, Hà Nam quê hương của Nguyễn Khuyến có cơ man nào là ao, nhiều

ao cho nên ao nhỏ, ao nhỏ thì thuyền câu cũng theo đó mà nhỏ theo Và ở đây, Nguyễn Khuyến đã rất tài tình khi gieo vần “eo” và sử dụng các tính từ “trong veo”, “lạnh lẽo”, “bé tẻo teo” để nhấn mạnh độ trong của làn nước ao, cái bé nhỏ của con thuyền, khiến không gian cảnh vật mùa thu trở nên lành lạnh và nhuốm một chút buồn heo hắt

3 Hai câu thực

Ngồi trên chiếc thuyền giữa ao thu nên vẻ đẹp của mùa dễ được thu vào trong tầm nhìn của thi sĩ Ở hai câu thực cảnh sắc mùa thu hiện lên sống động hơn:

Sóng biếc theo làn hơi gợn tí,

Lá vàng trước gió khẽ đưa vèo

Vẻ đẹp thanh sơ, dịu nhẹ của mùa thu đã được thể hiện thông qua những gam màu nhẹ nhàng với màu "biếc" của sóng hoà hợp với sắc "vàng" của lá vẽ nên bức tranh quê đơn sơ mà lộng lẫy Nhà thơ Xuân Diệu đã nhận xét về cách phối hợp màu sắc trong bài

thơ: “Cái thú vị của bài Thu Điếu ở các điệu xanh, xanh ao, xanh bờ, xanh sóng, xanh tre,

xanh trời, xanh bèo, có một màu vàng đâm ngang của chiếc lá thu rơi ” Người ta vẫn thường nói mùa thu là mùa thay lá, mùa lá vàng và rụng xuống “Lá vàng” thường gợi sự tàn phai, tiêu điều, vốn là biểu tượng cho mùa thu xứ Bắc Bởi thế mà lá vàng đã từng bước vào rất nhiều trang thơ thu Trong thơ về mùa thu, Lưu Trọng Lư có viết:

Con nai vàng ngơ ngác Đạp trên lá vàng khô (Tiếng thu)

Nhà thơ Bích Khê cũng gây ám ảnh với màu vàng ấy:

Ô hay! Buồn vương cây ngô đồng Vàng rơi! Vàng rơi! Thu mênh mông

(Tỳ bà)

Tinh tế hơn nữa là thi sĩ còn cảm nhận được những chuyển động của vạn vật mùa thu, mặc dù sự lay động ấy chỉ nhẹ nhàng, khe khẽ Hai từ “hơi gợn” và “khẽ” thể hiện sự chuyển động rất nhẹ nhàng của sóng và lá Gió thổi nhẹ vừa đủ làm sóng lăn tăn, gờn gợn

Trang 4

4

phối cảnh với hình ảnh chiếc lá rơi nghiêng, có tốc độ bay chậm chỉ xoay xoay, khẽ đưa trong gió tạo ra âm thanh rất nhỏ giữa không gian tĩnh lặng Hai câu thơ của thần đồng thi

ca Trần Đăng Khoa sau này cũng miêu tả một chiếc lá rơi như thế:

“Ngoài thềm rơi chiếc lá đa Tiếng rơi rất mỏng như là rơi nghiêng”

Đây chính là khoảnh khắc đầy chất thơ của tạo vật mà phải thật lắng nghe thì mới thấy và cũng chỉ có những tâm hồn thật nhạy cảm mới có thể nắm bắt được Nhưng không chỉ cảm xúc mà ngòi bút Nguyễn Khuyến cũng rất tinh tế Hai câu thực đối rất chỉnh “sóng biếc" đối với “lá vàng”, đều là màu sắc đặc trưng của mùa thu “Hơi gợn tí” đối với “khẽ đưa vèo”, vận động của chiều dọc tương xứng với vận động của chiều ngang thật tài tình khiến bức tranh thiên nhiên bỗng trở nên hài hòa, xứng hợp, xinh xắn đến lạ kì Hơn nữa,

có cả chữ “vèo” là một nhãn tự mà sau này thi sĩ Tản Đà vừa khâm phục, vừa tâm đắc Ông thổ lộ một đời thơ mới có được một câu vừa ý:

“Vèo trông lá rụng đầy sân”

(Cảm thu, tiễn thu)

4 Hai câu luận

Đến hai câu luận, không gian đột ngột được mở rộng lên cao và hướng trước mắt Trước hết là mở rộng lên cao với bầu trời thu “xanh ngắt” với tầng mây “lơ lửng” Từ

“xanh ngắt” gợi một bầu trời mùa thu trong xanh thật đẹp và cao vời vợi Trong chùm thơ thu của Nguyễn Khuyến, bầu trời vẫn luôn xanh ngắt như thế:

"Trời thu xanh ngắt mấy tầng cao"

(Thu vịnh)

"Da Trời ai nhuộm mà xanh ngắt"

(Thụ ẩm)

"Tầng mây lơ lửng trời xanh ngắt"

(Thu điếu)

Từ “lơ lửng” trong câu thơ lại gợi cho ta một cảm giác về một chuyển động mà ngỡ như là đứng yên Gió thổi nhè nhẹ, nên những áng mây không trôi mà lơ lửng, bồng bềnh trên bầu trời Cảnh vật sau đó được mở ra theo chiều rộng Từ vị trí ngồi câu, nhà thơ quan sát thấy trước mặt là đường làng ngõ xóm quanh co, vắng vẻ và hai bên đường là những rặng tre, rặng trúc tỏa bóng mát rượi Ở quê tác giả, trên đường làng người ta thường trồng tre nhưng bao giờ trong thơ Nguyễn Khuyến cũng nói đến trúc:

“Cần trúc lơ phơ gió hắt hiu”

(Thu vịnh)

“Ngõ trúc quanh co khách vắng teo”

(Thu điếu)

Trang 5

5

“Dặm thế, ngõ đâu từng trúc ấy Thuyền ai khách đợi bến đâu đây?”

(Nhớ núi Đọi)

Có vẻ như Nguyễn Khuyến cảm loài cây có chí khí của người quân tử “Trúc dầu cháy đốt ngay vẫn thẳng” ấy Những nét trúc thẳng đốì lập với những nét quanh co, ngoằn ngoèo của đường làng thật là gợi cảm Trên con đường quanh co, hun hút lại không có một bóng người qua lại khiến cảnh vật mùa thu trở nên đẹp, buồn và tĩnh lặng “Vắng teo” nghĩa là vô cùng vắng lặng không một tiếng động nhỏ nào, cũng gợi tả cả sự cô đơn, trống vắng Trong bối cảnh ấy, người câu cá như đang lặng ngắm cảnh vật và mơ màng chìm trong một giấc mộng mùa thu Tất cả cảnh vật từ mặt nước "ao thu lạnh lẽo" đến "chiếc thuyền câu bé tẻo teo", từ "sóng biếc" đến "lá vàng", từ "tầng mây lơ lửng" đến "ngõ trúc quanh co" hiện lên với đường nét, màu sắc, âm thanh, đều thoáng một chút buồn bâng

khuâng, man mác, nhưng rất gần gũi và phảng phất cái hồn quê đất Bắc

5 Hai câu kết

Đến hai câu kết thì chủ thể trữ tình mới xuất hiện và xuất hiện trong tư thế của người ngồi câu Đi câu là một cái thú thanh tao của các bậc trí giả Có người đi câu chỉ để hưởng thú nhàn tản, hòa hợp với thiên nhiên, thư giãn tinh thần Nhưng cũng có người lại mượn việc đi câu mà nghĩ đến chuyện năm châu bốn biển, nghĩ đến thế sự đảo điên Lại có người như Khương Tử Nha, một bậc hiền nhân có tài, bất đắc chí đoán biết nhà Thương sắp mạt vận nên dùng lưỡi câu thẳng ngồi câu cá bên sông Vị chờ thời Ngồi câu mà “Cá ăn đứt nhợ vểnh râu ngồi bờ”

Chủ thể trữ tình trong bài thơ câu cá với tư thế ngồi bất động “tựa gối ôm cần”, co lại, thu nhỏ mình để tránh cái” lạnh lẽo” giữa ao thu Tựa đầu vào gối để ngồi cho lâu, cho

khỏi phải thay đổi tư thế mà làm mất đi cái tĩnh lặng trong cõi lòng Nhà thơ Xuân Diệu cũng từng lo sợ những chuyển động nhỏ của mình sẽ làm “đứt dây tơ”như thế:

“ Không gian như có dây tơ Bước đi sẽ dứt, động hờ sẽ tiêu”

( Chiều)

Nhưng sự tĩnh lặng trong cõi lòng của Nguyễn Khuyến là gì thì phải đặt bài thơ vào

hoàn cảnh sáng tác, người đọc mới có thể hiểu Chế độ phong kiến Việt Nam cuối thế kỉ

XIX đã phơi bày ra tất cả mặt tiêu cực của nó Hệ tư tưởng Nho giáo mà nhà thơ từng tôn thờ đã trở nên lạc hậu, lỗi thời Nguyễn Khuyến ý thức sâu sắc sự bất lực của bản thân, bởi vậy ông cáo quan về quê ở ẩn, giữ gìn tiết tháo nhân cách, quên đi việc đời Nhưng muốn quên mà chẳng thể quên được Ở chốn quê nhà, ông vẫn luôn nặng tình với đất nước, với quê hương, với nhân tình thế thái Cũng giống như Nguyễn Trãi năm xưa về Côn Sơn ở ẩn, Nguyễn Khuyến nhàn thân nhưng không nhàn tâm

Người ngồi câu mà như hóa thạch giữa không gian, thời gian, đi câu mà cái chí lại

không đặt ở việc câu cá nên thảng thốt khi tiếng cá “ đớp động dưới chân bèo” Chữ “đâu”

Trang 6

6

được dùng thật thần tình, nó như cái giật mình thảng thốt, lại như cái ngơ ngác kiếm tìm

của người mất phương hướng Ba phụ âm đầu hữu thanh trong ba từ “ đâu đớp động” làm

rung động câu thơ, rung động cả tâm hồn người đang mải suy tư Chỉ tiếng cá đớp mồi dưới chân bèo cũng đủ là thi sĩ giật mình, đó chính là một nét thi pháp quen thuộc của thi pháp trung đại lấy động tả tĩnh Trong không gian tĩnh lặng, tiếng cá đớp động dưới chân bèo rất nhỏ cũng đủ khiến thi sĩ đang đắm chìm trong giấc mộng mùa thu chợt tỉnh giấc mà trở về thực tại

III KẾT LUẬN

"Thu điếu" là một bài thơ tả cảnh ngụ tình rất đặc sắc của Nguyễn Khuyến Bài thơ được viết bằng thể thơ thất ngôn bát cú Đường luật, ngôn ngữ tinh tế, hình tượng và biểu cảm, nghệ thuật gieo vần rất độc đáo Bức tranh mùa thu được miêu tả bằng những hòa sắc tinh tế, những đường nét gợi cảm và đầy nhạc điệu Theo Xuân Diệu, cả bài thơ không lép chữ nào Dưới ngòi bút tài tình của Nguyễn Khuyến, cảnh vật của làng quê Việt Nam thanh sơ, giản dị mà xinh đẹp, tuyệt vời biết bao Cái tình của nhà thơ cũng theo kịp cái tài,

là tình yêu đối với quê hương, với non sông đất nước làm xúc động hết thảy mỗi tâm hồn Việt Nam Thơ là sự cách điệu tâm hồn Mỗi thi sĩ làm thơ, trước hết là phải thổi được cái hồn mình vào đó, phải biết biến hóa những con chữ thô cứng ngập tràn thi vị và “nhảy múa” trong cảm xúc “Đọc một câu thơ hay tức là ta gặp gỡ một tâm hồn con người” (A-tô-ni Phơ-răng) Qua “Thu điếu”, ta thấy được ở Nguyễn Khuyến một tâm hồn gắn bó với thiên nhiên, một tấm lòng yêu nước thuần hậu, thầm kín Thơ Nguyễn Khuyến khiến chúng

ta thêm yêu mùa thu của quê hương, xứ sở và thêm yêu đất nước mình

LUYỆN ĐỀ

Đề bài 1: “Thu điếu” là bức tranh tuyệt đẹp về mùa thu làng cảnh Việt Nam Ý kiến khác lại khẳng định “Bài thơ chất chứa nỗi niềm tâm sự của Nguyễn Khuyến” Bằng cảm nhận về tác phẩm “Thu điếu” (Câu cá mùa thu), anh/chị hãy trình bày suy nghĩ của mình về các ý kiến trên

I MỞ BÀI

- Vài nét về tác giả, tác phẩm

- Dẫn dắt vào hai nhận định

II THÂN BÀI

1 Giải thích

Trang 7

7

- Ý kiến 1: Khẳng định bài thơ là những cảm nhận của Nguyễn Khuyến về mùa thu ở làng

quê Việt Nam Trong bài thơ, vẽ lên bức tranh cảnh vật mùa thu thanh sơ, giản dị mà xinh đẹp, đáng yêu

- Ý kiến 2: Khẳng định bài thơ thể hiện nỗi niềm tâm sự của nhà thơ Nỗi niềm ấy chính là

tâm sự thầm kín về thời thế, là tấm lòng của tác giả đối với quê hương, xứ sở

=> Hai ý kiến là hai nhìn nhận khác nhau về ý nghĩa của bài thơ

2 Phân tích, chứng minh

2.1 Ý kiến 1: “Thu điếu” là bức tranh tuyệt đẹp về mùa thu làng cảnh Việt Nam

(Phân tích 6 câu thơ đầu)

2.2 Ý kiến 2: “Bài thơ chất chứa nỗi niềm tâm sự của Nguyễn Khuyến”

Nỗi niềm thầm sự ấy là:

- Tình yêu quê hương đất nước: Thấm đượm trong từng câu từng chữ của bài thơ là

tình yêu quê hương, đất nước Thể hiện một tâm hồn gắn bó với thiên nhiên, một tấm lòng

yêu nước thiết tha, thầm kín

- Tâm sự trước thời thế: Phân tích hai câu thơ sau (TK bài đã phân tích)

3 Đánh giá hai nhận định:

- Hai nhận định đều đúng những chưa đủ Hai nhận định cần phải bổ sung cho nhau mới có thể thể hiện cái nhìn sâu sắc và toàn diện về bài thơ

- Đánh giá về nội dung và nghệ thuật

III KẾT LUẬN: Suy nghĩ chung của bản thân về vấn đề đã nêu

Ngày đăng: 24/03/2022, 13:21

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w