CA DAO VIỆT NAM 1. Khái niệm: Theo sgk: là lời thơ trữ tình dân gian, thường kết hợp với âm nhạc khi diễn xướng, được sáng tác nhằm diễn tả thế giới nội tâm của con người. Ca dao là một trong những thể loại nổi bật trong văn học dân gian. Nó diễn tả một cách trực tiếp tâm hồn, tình cảm của nhân dân lao động. Nhắc đến nội dung của ca dao thì thường rất đa dạng từ cuộc sống sinh hoạt, đến tình cảm của con người. Đặc điểm về nghệ thuật trong ca dao từ ngôn ngữ đến kết cấu, thủ pháp nghệ thuật, cuối cùng là thể thơ đều mang đậm chất dân gian. 2. Đặc điểm của ca dao 2.1. Đặc điểm nội dung: Ca dao diễn tả đời sống tinh thần, tư tưởng, tình cảm của nhân dân trong các quan hệ đôi lứa, gia đình, quê hương, đất nước,… Nhắc đến nội dung của ca dao thì thường rất đa dạng từ cuộc sống sinh hoạt, đến tình cảm của con người, trong đó, nổi bật là hai mảng ca dao trữ tình và ca dao trào phúng. Ra đời trong xã hội cũ, ca dao trữ tình là những tiếng hát than thân những lời yêu thương tình nghĩa cất lên từ cuộc đời còn nhiều xót xa cay đắng nhưng đằm thắm ân tình của người bình dân Việt Nam sau lũy tre xanh, bên giếng nước, gốc đa, sân đình… Bên cạnh đó còn có những bài ca dao hài hước thể hiện tinh thần lạc quan của người lao động. 2.2. Đặc điểm về nghệ thuật: Ca dao đã vận dụng rất thành công trong việc sử dụng ngôn ngữ dân tộc: Đó là thứ ngôn ngữ rất giản dị, đẹp đẽ và trong sáng để diễn tả được tâm hồn đa dạng phong phú của con người. Trong ca dao đã có sự kết hợp giữa ngôn ngữ nghệ thuật với ngôn ngữ của đời sống và lời ăn tiếng nói hằng ngày. Đêm trăng thanh anh mới hỏi nàng Tre non đủ lá đan sàng hay chưa Vì sử dụng lời ăn tiếng nói hằng ngày nên ca dao sức quyến rũ mạnh với nhân dân lao động. Đó là vẻ đẹp của sự chân thực, giản dị. Ca dao vì thế dễ đi vào lòng người hơn. Ca dao có mang tính nghệ thuật và giàu sức biểu cảm cao. Ngôn ngữ trong ca dao được trau chuốt, tinh luyện dựa trên ngôn ngữ dân tộc: Đèn tà thấp thoáng bóng trăng Ai đem người ngọc thung thăng chốn này Ca dao vì là sáng tác của tập thể, truyền miệng từ đời này sang đời khác nên ngôn ngữ của nó còn mang tính địa phương. Ca dao Bắc Bộ thì được sáng tác một cách trau chuốt, tỉ mỉ, sử dụng nhiều cách so sánh, ví von nói bóng nói gió. Ca dao miền Trung thì lại mang tính chất phóng khoáng, không quá trói buộc bởi những quy tắc chặt chẽ: Anh đến tìm em thì em đã có chồng Em yêu anh như rứa, có mặn nồng chi mô Trong ca dao, tác giả còn sử dụng rất nhiều đại từ nhân xưng nhất là trong các bài ca đối đáp giao duyên để biểu lộ tình cảm quan hệ lứa đôi. Lúc thì anh em, mình ta, có lúc lại vô cùng trang trọng thiếp chàng Mình ơi ta hỏi thật mình Còn không hay đã chung tình với ai Kết cấu ngắn ngọn, có sử dụng lối đối đáp và công thức truyền thống. Kết cấu ngắn ngọn chính là một bài ca dao có khi chỉ từ hai đến bốn dòng thơ (12 cặp lục bát). Ca dao thường sử dụng lối đối đáp: Bây giờ mận mới hỏi đào Vườn hồng đã có ai vào hay chưa? Mận hỏi thì đào xin thưa Vườn hồng rộng mở nhưng chưa ai vào?. Với lối đối đáp này ta có thể hình dung được đây có thể đổi đáp giữa một nam một nữ và thường là ca dao giao duyên, tình yêu đôi lứa. Sử dụng công thức truyền thống tạo thành những công thức quen thuộc. Hàng loạt các bài ca dao với mô tip: + Mở đầu như là Thân em: ca dao than thân của phụ nữ + Chiều chiều gợi khoảng thời gian buổi chiều, tâm trạng buồn + Ngó lên, Trèo lên.. rủ nhau... Rủ nhau xuống bể mò cua Đem về nấu quả mơ chua trên rừng Rủ nhau xem cảnh Kiếm hồ… Các thủ pháp nghệ thuật chủ yếu trong ca dao đó là biện pháp so sánh ẩn dụ + Đó là kiểu so sánh A như B Đôi ta như thể con tằm Cùng ăn một lá, cùng nằm một phòng. Ngoài ra có sử dụng kết cấu so sánh tương hỗ bổ sung đối tượng được nhấn mạnh rong sự đối chiếu với sự vật khác: Đôi ta như lửa mới nhen Như trăng mới mọc, như đèn mới khêu. Có thể hai đối tượng so sánh được đưa ra với những nét tương đồng: Tình anh như nước dâng cao Tình em như dải lụa đào tầm hương. Sử dụng so sánh trong ca dao có ý nghĩa nâng cao giá trị nhận thức và tạo hình ảnh biểu cảm cao cho ca dao. So sánh làm cho hình tượng của ca dao thêm rõ nét hơn. Ngoài ra, giúp cho ca dao biểu đạt được chức năng biểu cảm có nghĩa là bộc lộ cảm xúc. + Biện pháp thứ hai chính là biện pháp ẩn dụ. Thực chất, ẩn dụ là cách so sánh ngầm mà đối tượng so sánh được ẩn đi Em tưởng nước giếng sâu, em nối sợi dây dài Ai ngờ giếng cạn, em tiếc hoài sợi dây. Biện pháp ẩn dụ trong ca dao giúp cho tác giả dân gian có thể diễn tả được những điều thầm kín, khó nói nhưng vẫn mang tính giản dị và giàu chất thơ. Thể thơ Ca dao thường sử dụng thể thơ lục bát và lục bát biến thể, có một số ít theo thể song thất lục bát. Thể thơ lục bát giúp cho con người biểu lộ được trạng thái tình cảm phong phú và tinh tế. Đặc điểm của thể thơ vô cùng dễ nhớ bởi cách hiệp vần, nhịp. Cách hiệp vần được thể hiện ở chữ cuối của câu sáu vần với chữ thứ sáu của câu tám, và chữ cuối của câu tám vần với chữ cuối câu sáu. Cổ tay em trắng như ngà Con mắt em liếc như là con dao Ca dao cũng có luật bằng trắc và cách ngắt nhịp. Có thể theo luật 222, câu 8 là 2222. Nhưng cách ngắt nhịp trong ca dao cũng vô cùng linh hoạt. Ngoài ra, ca dao còn dùng các thể như thể vãn, thể song thất lục bát, thể hỗn hợp. Vì những đặc điểm trên về nghệ thuật của ca dao mà ta thấy được ca dao đã đi vào tâm hồn của con người một cách tự nhiên. Nó đã là một sản phẩm tinh thần có giá trị và được truyền từ đời này qua đời khác và được lưu giữ cả trong tài liệu. Ca dao quả là một thể loại có giá trị đến muôn đời. LUYỆN ĐỀ Đề số 1: Phân tích một số bài ca dao có mô típ ”Thân em...” để thấy thân phận và vẻ đẹp của người phụ nữ trong xã hội xưa. I. MỞ BÀI: Văn học dân gian là dòng sữa mát lành nuôi dưỡng tâm hồn người Việt Nam. Trong kho tàng văn học dân gian Việt Nam đồ sộ, bên cạnh những câu truyện cổ tích huyền diệu, những truyền thuyết về lịch sử xa xưa, những sử thi hào hùng về những người anh hùng khai hoang, mở cõi... thì ca dao là một trong những thể loại hấp dẫn và chiếm số lượng nhiều nhất. Trải qua bao năm tháng, ca dao vẫn là tiếng nói ân tình, thổ lộ những tâm tư tình cảm của người bình dân. Ca dao diễn tả tâm hồn, tư tưởng, tình cảm của nhân dân trong các mối quan hệ lứa đôi, gia đình, quê hương, đất nước... Bên cạnh đó, ca dao còn là tiếng hát than thân cất lên từ cuộc đời xót xa, cay đắng, đặc biệt là của người phụ nữ. Những bài ca dao than thân của người phụ nữ trong xã hội xưa thường bắt đầu bằng một mô típ quen thuộc “Thân em.... II. THÂN BÀI 1. Mô típ Thân em... Xét về mặt hình thức: + Các bài ca dao thuộc môtip Thân em... thường bắt đầu bằng cụm từ thân em. Chỉ riêng cụm từ này đã tạo âm hưởng buồn thương, da diết; gợi nỗi đau cũng như những liên tưởng về số phận người phụ nữ trong xã hội cũ là những thân phận cuộc đời hầm hiu, bạc bẽo, thiệt thòi, gian nan, vất vả.. + Những câu ca dao thuộc mô típ Thân em... thường sử dụng lối nói ví von, so sánh. Trong đó, phép tu từ so sánh thường gồm hai vế. Vế so sánh thứ nhất là thân em chỉ người phụ nữ, vế so sánh thứ hai thường là một sự vật nào đó, ở giữa hai vế là từ so sánh
Trang 11
CA DAO VIỆT NAM
1 Khái niệm:
- Theo sgk: là lời thơ trữ tình dân gian, thường kết hợp với âm nhạc khi diễn xướng, được sáng tác nhằm diễn tả thế giới nội tâm của con người
Ca dao là một trong những thể loại nổi bật trong văn học dân gian Nó diễn tả một cách trực tiếp tâm hồn, tình cảm của nhân dân lao động Nhắc đến nội dung của ca dao thì thường rất đa dạng từ cuộc sống sinh hoạt, đến tình cảm của con người Đặc điểm về nghệ thuật trong ca dao từ ngôn ngữ đến kết cấu, thủ pháp nghệ thuật, cuối cùng là thể thơ đều mang đậm chất dân gian
2 Đặc điểm của ca dao
2.1 Đặc điểm nội dung:
Ca dao diễn tả đời sống tinh thần, tư tưởng, tình cảm của nhân dân trong các quan hệ đôi lứa, gia đình, quê hương, đất nước,… Nhắc đến nội dung của ca dao thì thường rất đa dạng từ cuộc sống sinh hoạt, đến tình cảm của con người, trong đó, nổi bật là hai mảng ca dao trữ tình và ca dao trào phúng Ra đời trong xã hội cũ, ca dao trữ tình là những tiếng hát than thân những lời yêu thương tình nghĩa cất lên từ cuộc đời còn nhiều xót xa cay đắng nhưng đằm thắm ân tình của người bình dân Việt Nam sau lũy tre xanh, bên giếng nước, gốc đa, sân đình… Bên cạnh đó còn có những bài ca dao hài hước thể hiện tinh thần lạc quan của người lao động
2.2 Đặc điểm về nghệ thuật:
* Ca dao đã vận dụng rất thành công trong việc sử dụng ngôn ngữ dân tộc:
- Đó là thứ ngôn ngữ rất giản dị, đẹp đẽ và trong sáng để diễn tả được tâm hồn
đa dạng phong phú của con người Trong ca dao đã có sự kết hợp giữa ngôn ngữ nghệ
thuật với ngôn ngữ của đời sống và lời ăn tiếng nói hằng ngày
"Đêm trăng thanh anh mới hỏi nàng Tre non đủ lá đan sàng hay chưa"
Vì sử dụng lời ăn tiếng nói hằng ngày nên ca dao sức quyến rũ mạnh với nhân dân lao động Đó là vẻ đẹp của sự chân thực, giản dị Ca dao vì thế dễ đi vào lòng người hơn Ca dao có mang tính nghệ thuật và giàu sức biểu cảm cao
- Ngôn ngữ trong ca dao được trau chuốt, tinh luyện dựa trên ngôn ngữ dân tộc:
"Đèn tà thấp thoáng bóng trăng
Ai đem người ngọc thung thăng chốn này"
- Ca dao vì là sáng tác của tập thể, truyền miệng từ đời này sang đời khác nên ngôn ngữ của nó còn mang tính địa phương Ca dao Bắc Bộ thì được sáng tác một cách trau chuốt, tỉ mỉ, sử dụng nhiều cách so sánh, ví von nói bóng nói gió Ca dao miền Trung thì lại mang tính chất phóng khoáng, không quá trói buộc bởi những quy tắc chặt chẽ:
"Anh đến tìm em thì em đã có chồng
Em yêu anh như rứa, có mặn nồng chi mô"
Trang 22
- Trong ca dao, tác giả còn sử dụng rất nhiều đại từ nhân xưng nhất là trong các bài ca đối đáp giao duyên để biểu lộ tình cảm quan hệ lứa đôi Lúc thì "anh - em",
"mình - ta", có lúc lại vô cùng trang trọng "thiếp - chàng"
"Mình ơi ta hỏi thật mình Còn không hay đã chung tình với ai"
* Kết cấu ngắn ngọn, có sử dụng lối đối đáp và công thức truyền thống
- Kết cấu ngắn ngọn chính là một bài ca dao có khi chỉ từ hai đến bốn dòng thơ (1-2 cặp lục bát)
- Ca dao thường sử dụng lối đối đáp:
"Bây giờ mận mới hỏi đào Vườn hồng đã có ai vào hay chưa?
Mận hỏi thì đào xin thưa Vườn hồng rộng mở nhưng chưa ai vào?"
Với lối đối đáp này ta có thể hình dung được đây có thể đổi đáp giữa một nam - một nữ và thường là ca dao giao duyên, tình yêu đôi lứa
- Sử dụng công thức truyền thống tạo thành những công thức quen thuộc Hàng loạt các bài ca dao với mô tip:
+ Mở đầu như là "Thân em": ca dao than thân của phụ nữ
+ "Chiều chiều" gợi khoảng thời gian buổi chiều, tâm trạng buồn
+ "Ngó lên", "Trèo lên" "rủ nhau"
"Rủ nhau xuống bể mò cua Đem về nấu quả mơ chua trên rừng"
"Rủ nhau xem cảnh Kiếm hồ…
* Các thủ pháp nghệ thuật chủ yếu trong ca dao đó là biện pháp so sánh ẩn dụ
+ Đó là kiểu so sánh A như B "Đôi ta như thể con tằm/ Cùng ăn một lá, cùng nằm một phòng" Ngoài ra có sử dụng kết cấu so sánh tương hỗ bổ sung đối tượng được nhấn mạnh rong sự đối chiếu với sự vật khác: "Đôi ta như lửa mới nhen/ Như trăng mới mọc, như đèn mới khêu" Có thể hai đối tượng so sánh được đưa ra với những nét tương đồng: "Tình anh như nước dâng cao/ Tình em như dải lụa đào tầm hương" Sử dụng so sánh trong ca dao có ý nghĩa nâng cao giá trị nhận thức và tạo hình ảnh biểu cảm cao cho ca dao So sánh làm cho hình tượng của ca dao thêm rõ nét hơn Ngoài ra, giúp cho ca dao biểu đạt được chức năng biểu cảm có nghĩa là bộc lộ cảm xúc
+ Biện pháp thứ hai chính là biện pháp ẩn dụ Thực chất, ẩn dụ là cách so sánh ngầm mà đối tượng so sánh được ẩn đi " Em tưởng nước giếng sâu, em nối sợi dây dài/ Ai ngờ giếng cạn, em tiếc hoài sợi dây" Biện pháp ẩn dụ trong ca dao giúp cho tác giả dân gian có thể diễn tả được những điều thầm kín, khó nói nhưng vẫn mang tính giản dị và giàu chất thơ
* Thể thơ
Trang 33
Ca dao thường sử dụng thể thơ lục bát và lục bát biến thể, có một số ít theo thể song thất lục bát Thể thơ lục bát giúp cho con người biểu lộ được trạng thái tình cảm
phong phú và tinh tế Đặc điểm của thể thơ vô cùng dễ nhớ bởi cách hiệp vần, nhịp Cách hiệp vần được thể hiện ở chữ cuối của câu sáu vần với chữ thứ sáu của câu tám,
và chữ cuối của câu tám vần với chữ cuối câu sáu
"Cổ tay em trắng như ngà Con mắt em liếc như là con dao"
Ca dao cũng có luật bằng trắc và cách ngắt nhịp Có thể theo luật 2/2/2, câu 8 là 2/2/2/2 Nhưng cách ngắt nhịp trong ca dao cũng vô cùng linh hoạt Ngoài ra, ca dao còn dùng các thể như thể vãn, thể song thất lục bát, thể hỗn hợp
Vì những đặc điểm trên về nghệ thuật của ca dao mà ta thấy được ca dao đã đi vào tâm hồn của con người một cách tự nhiên Nó đã là một sản phẩm tinh thần có giá trị và được truyền từ đời này qua đời khác và được lưu giữ cả trong tài liệu Ca dao quả là một thể loại có giá trị đến muôn đời
LUYỆN ĐỀ
Đề số 1: Phân tích một số bài ca dao có mô típ ”Thân em ” để thấy thân phận và
vẻ đẹp của người phụ nữ trong xã hội xưa
I MỞ BÀI:
Văn học dân gian là dòng sữa mát lành nuôi dưỡng tâm hồn người Việt Nam Trong kho tàng văn học dân gian Việt Nam đồ sộ, bên cạnh những câu truyện cổ tích huyền diệu, những truyền thuyết về lịch sử xa xưa, những sử thi hào hùng về những người anh hùng khai hoang, mở cõi thì ca dao là một trong những thể loại hấp dẫn và chiếm số lượng nhiều nhất Trải qua bao năm tháng, ca dao vẫn là tiếng nói ân tình, thổ lộ những tâm tư tình cảm của người bình dân Ca dao diễn tả tâm hồn, tư tưởng, tình cảm của nhân dân trong các mối quan hệ lứa đôi, gia đình, quê hương, đất nước Bên cạnh đó, ca dao còn là tiếng hát than thân cất lên từ cuộc đời xót xa, cay đắng, đặc biệt là của người phụ nữ Những bài ca dao than thân của người phụ nữ trong xã hội xưa thường bắt đầu bằng một
mô - típ quen thuộc “Thân em "
II THÂN BÀI
1 Mô - típ " Thân em "
- Xét về mặt hình thức:
+ Các bài ca dao thuộc mô-tip "Thân em " thường bắt đầu bằng cụm từ "thân em" Chỉ riêng cụm từ này đã tạo âm hưởng buồn thương, da diết; gợi nỗi đau cũng như những liên tưởng về số phận người phụ nữ trong xã hội cũ là những thân phận cuộc đời hầm hiu, bạc bẽo, thiệt thòi, gian nan, vất vả
+ Những câu ca dao thuộc mô típ "Thân em " thường sử dụng lối nói ví von, so sánh Trong đó, phép tu từ so sánh thường gồm hai vế Vế so sánh thứ nhất là "thân em" chỉ người phụ nữ, vế so sánh thứ hai thường là một sự vật nào đó, ở giữa hai vế là từ so sánh
Trang 44
thường là từ "như" So sánh được thiết lập dựa trên cơ sở so sánh tương đồng, để từ sự giống nhau giữa "thân em" và đối tượng so sánh làm nổi bật thân phận và vẻ đẹp của người phụ nữ trong xã hội xưa
- Về ý nghĩa nội dung, ca dao than thân đã trở thành nơi để người phụ nữ giải phóng tâm hồn mình Ở đó, người phụ nữ được sống thật với lòng mình, được thể hiện những xót
xa, đớn đau trong cuộc đời, sự tự ý thức về giá trị bản thân và cả những nỗi niềm khao khát hạnh phúc Thông qua ca dao than thân, người ta biết được những nỗi bất công mà người phụ nữ phải gánh chịu, biết được nhiều tiếng nói, nhiều số phận, nhiều cuộc đời, nhiều vẻ đẹp và phẩm chất của người phụ nữ
2 Ca dao than thân thể hiện thân phận của người phụ nữ trong xã hội cũ
2.1 Thể hiện số phận bấp bênh, lệ thuộc
Trong xã hội trọng nam, khinh nữ số phận người phụ nữ luôn bị lệ thuộc Họ bị trói buộc bởi lễ giáo phong kiến, bởi tam tòng, tứ đức Người phụ nữ từ lúc sinh ra đến lúc chết
đi đều bị lệ thuộc, họ không được tự quyết định số phận của mình "Tại gia tòng phụ, xuất giá tòng phu, phu tử tòng tử" Có lẽ vì thế mà những câu ca dao than thân viết về số phận bấp bênh, lệ thuộc người phụ nữ rất nhiều Chẳng hạn như những câu ca dao:
Thân em như hạt mưa rào Hạt rơi xuống giếng hạt vào vườn hoa
Thân em như hạt mưa sa Hạt vào đài các hạt ra cánh đồng
Thân em như thể bèo trôi Sóng dập gió dồi biết tấp vào đâu
Hay:
Thân em như giếng giữa đàng
Người khôn rửa mặt, người phàm rửa chân
Ở những câu ca dao trên người phụ nữ được so sánh với các hình ảnh như hạt mưa rào, hạt mưa sa, cánh bèo trôi, giếng nước giữa đàng Các hình ảnh so sánh này gợi liên tưởng đến hình ảnh người phụ nữ bị lệ thuộc vào sự rủi may của số phận Số phận, cuộc đời của họ phụ thuộc vào người khôn hay kẻ phàm Nếu họ gặp người khôn, cuộc đời họ sẽ tươi đẹp, ấm êm, hạnh phúc Nhưng nếu gặp phải người thô, kẻ phàm thì họ phải chấp nhận cuộc đời bất hạnh, bẽ bàng Không được làm chủ bản thân, người phụ nữ buộc phải lâm vào cảnh: "Cũng đành nhắm mắt đưa chân - Mà xem con tạo đưa vần đến đâu"
Có lẽ số phận hẩm hiu, bấp bênh, lệ thuộc của người phụ nữ được phản ánh tập trung, rõ nét và độc đáo nhất ở câu ca dao Nam Bộ:
Thân em như trái bần trôi Sóng dập gió dồi biết tấp vào đâu
Người bình dân Nam bộ đã so sánh “Thân em ” với hình ảnh trái bần là một thứ trái cây rất bình thường, dân dã Cây bần thường mọc ở ven bờ Trái bần non có vị chua chua, chát chát, xát mỏng chấm mắm ăn thay rau Trái già rụng xuống nước, bập bềnh trôi nổi
Trang 55
theo sóng Trái bần, ngay cái tên gọi cũng chỉ rõ nó là loại cây tầm thường, chẳng có mấy
giá trị Hình ảnh so sánh trở nên đặc biệt hơn khi tên của loại quả này đồng âm với
từ bần có nghĩa là nghèo khó Chỉ riêng việc so sánh thân phận người phụ nữ với trái bần
đã gợi ra bao nhiêu sự hẩm hiu, thiệt thòi Nhưng không chỉ có thế, trái bần còn trôi nổi,
bị gió dập, sóng dồi thành ba chìm bảy nổi chín lênh đênh, bấp bênh, vô định Người phụ
nữ không được quyết định số phận của mình, họ nhỏ bé lẻ loi đơn độc như trái bần trôi để mặc cho sóng gió táp dồi trôi dạt khắp nơi Động từ "dập", “dồi”, “tấp” thể hiện được sự nghiệt ngã của dòng đời Câu ca dao vì thế trở thành lời than thân trách phận buồn đến não
nề của những người phụ nữ lao động nghèo khó phải chịu bao nhiêu sóng gió, cay đắng cuộc đời, đồng thời là câu hỏi, nỗi băn khoăn không có lời giải đáp cho số phận của họ
Cuộc đời người phụ nữ xưa kia bị lệ thuộc, ràng buộc bằng nhiều sợi dây hữu hình
và vô hình, khiến họ không thể vươn lên trong cuộc sống chẳng khác gì con cá vô lờ, mắc lưới, mắc câu:
Thân em như cá vô lờ Mắc hom chật hẹp biết bao giờ mới lộn ra
Thân em như con cá rô thia
Ra sông mắc lưới vào đìa mắc câu
Hay:
Em như con hạc đầu đình Muốn bay chẳng cất nổi mình mà bay
Hình ảnh "hạc đầu đình” là biểu tượng cho sự mất tự do của người phụ nữ trong xã hội phong kiến Hạc đầu đình được dùng để trang trí ở trên nóc, trên tường hoặc ở trong đình làng Hạc trở thành một tinh vật, bị trói buộc muôn đời vào tường, vào nóc đình, không nhấc nổi chân nói gì đến vỗ cánh bay lên Cuộc đời bất hạnh, bị giam hãm, mất tự
do, mất tự chủ của của người phụ nữ khiến chúng ta không khỏi ngậm ngùi, thương cảm
2.1 Thể hiện nỗi khổ cay cực
Người phụ nữ trong xã hội xưa còn cất lên thiếng hát than thân vì những vất vả, khó khăn, những nỗi cay cực mà chỉ có họ mới hiểu Đó là sự cực khổ, tảo tần vất vả, sớm hôm dãi nắng dầm sương qua hình ảnh so sánh chiếc lá đài bi:
Thân em như lá đài bi Ngày thì dãi nắng, đêm thì dầm sương
Đó là khi họ bị coi như một thứ đồ vật không có giá trị như chiếc giẻ chùi chân, chùi
xong người ta đem vứt bỏ không thương tiếc:
Thân em như giẻ chùi chân Chùi rồi lại vứt ra sân…
Người phụ nữ phải chịu bao nhiêu khổ đau, cay cực Ở đâu thì họ cũng phải chịu nhiều bất công:
Thân em như phận con rùa Lên đình đội hạc xuống chùa đội bia
Trang 66
Số phận hẩm hiu, bất hạnh nên dù bên ngoài có tươi thì trong lòng vẫn héo rũ và đầy cay đắng:
Thân em như ớt chín cây Càng tươi ngoài vỏ càng cay trong lòng
Hay:
Thân em như cây sầu đâu Ngoài tươi trong héo giữa sầu tương tư
3 Vẻ đẹp của người phụ nữ qua ca dao than thân
3.1 Người phụ nữ tự ý thức về vẻ đẹp hình thức
Các bài ca dao theo mô-típ "Thân em " không chỉ cho thấy số phận hẩm hiu, vất vả,
lệ thuộc mà còn làm nổi bật vẻ đẹp của người phụ nữ trong xã hội xưa Không phải lúc nào người phụ nữ trong các bài ca dao than thân cũng so sánh mình với những vật tầm thường,
vô giá trị mà ý thức được vẻ đẹp của mình họ tự so sánh mình với những hình ảnh đẹp, quý giá Chẳng hạn:
Thân em như lúa đòng đòng Phất phơ dưới ngọn nắng hồng ban mai
Hình ảnh so sánh chẽn lúa đòng đòng gợi liên tưởng tới một cô gái chớm bước vào tuổi xuân thì đang khoe hết vẻ đẹp của mình giữa khung cảnh tươi đẹp và hẳn cô gái đang
hi vọng một cuộc đời tươi đẹp, rực rỡ phía trước Tương tự như thế hình ảnh người phụ nữ còn được so sánh với hình ảnh tấm lụa đào:
Thân em như tấm lụa đào Phất phơ giữ chợ biết vào tay ai ?
Người phụ nữ ý thức được nhan sắc rạng rỡ, tuổi xuân phơi phới của mình và được
so sánh với hình ảnh “tấm lụa đào” lộng lẫy, nền nã, thắm tươi và quý giá Lụa đào đẹp từ chất liệu, dáng vẻ đến màu sắc bởi được dệt từ loại tơ tằm tốt nhất rất nhẹ, mềm mại và mát
mẻ Lụa lại mang màu hoa đào vừa đẹp vừa quý Hình ảnh tấm lụa đào gợi lên sắc đẹp, vẻ thanh xuân mơn mởn, tràn đầy sức sống của một cô gái trong độ tuổi thanh xuân Nhưng hình ảnh tấm lụa đào phất phơ giữa chợ lại như có một cái gì đó thật trớ trêu, tội nghiệp Nỗi đau xót của nhân vật trữ tình trong lời than thân trên là vì khi người con gái bước vào lứa tuổi đẹp nhất, hạnh phúc nhất đời, hoàn toàn ý thức được vẻ đẹp của mình mà vẫn luôn phải băn khoăn lo lắng về thân phận
3.2 Người phụ nữ tự ý thức về phẩm hạnh, giá trị của bản thân
Người phụ nữ trong xã hội xưa dẫu trải qua bao giông tố cuộc đời, số kiếp có hẩm hiu, bạc bẽo, bất hạnh đến đâu thì họ vẫn vẹn toàn đức hạnh Họ vẫn thấy được sự cần thiết, giá trị của mình và vẫn son sắt, dào dạt tình thương:
Thân em như cây cải mùa đông Non thì làm ghém, có ngồng làm dưa Thân em như cam quýt bưởi bòng Ngoài tuy cay đắng trong lòng ngọt ngon
Họ khẳng định tấm lòng thơm thảo, thủy chung son sắc:
Trang 77
Thân em như cây quế trên non Trăm năm khô rụi vỏ còn dính cây
Thậm chí, dẫu cho vẻ ngoài có đôi chút xấu xí đi chăng nữa nhưng người phụ nữ vẫn mang một tâm hồn đẹp:
Thân em như củ ấu gai, Ruột trong thì trắng, vỏ ngoài thì đen
Ai ơi nếm thử mà xem!
Nếm ra mới biết rằng em ngọt bùi
Người phụ nữ trong bài ca dao thừa nhận ngay cái thua thiệt hiển nhiên, có tính định mệnh của mình: "Thân em như củ ấu gai" Củ ấu gai góc đến nhọn hoắt lại đen đủi sống dưới bùn sâu, tuy bên ngoài nó gai góc xấu xí nhưng bên trong nó vừa trắng, vừa ngọt, vừa bùi Không phải ai cũng nhận ra vẻ đẹp ẩn giấu bên trong của họ nên họ phải mời chào
"nếm thử" để mọi người biết đến vẻ đẹp của mình Và như thế bài ca dao như một lời than, một tiếng nói khẳng định mình, một bài học về cách thẩm định các giá trị, một nhu cầu và khát vọng yêu đương của người phụ nữ
Người phụ nữ Việt Nam trong khó khăn, thử thách mới bộc lộ bản lĩnh Trong xã hội trọng nam khinh nữ họ vẫn tự hào về vẻ đẹp và giá trị của mình Họ thấy mình cao quý như chim phượng hoàng, như chuông vàng, cá hóa long:
Thân em như chim phượng hoàng Khi bay qua bể, khi đậu ngàn sơn lâm Thân em như thể chuông vàng
Ở trong thành nội có một ngàn quân lính hầu
Thân em như cá hóa long Chín tầng mây phủ, ở trong da trời
Vẫn là “tấm lụa đào” nhưng họ không rơi vào cảnh “phất phơ giữa chợ” mặc cho thiên
hạ kẻ bán người mua mà được bao người ưa chuộng, có cơ hội được bộc lộ vẻ đẹp của mình:
Thân em như tấm lụa đào
Đã đông nơi chuộng lại nhiều nơi ưa
Ý thức về giá trị bản thân và thể hiện sự phản kháng trước xã hội bất công, coi rẻ giá trị người phụ nữ nên nhiều khi họ tự đặt mình lên trên và dám thách thức cánh mày râu:
Thân em như thể xuyến vàng Thân anh như manh chiếu rách bạn hàng bỏ quên
Thân em như hột gạo lắc trên sàng Thân anh như hột lúa lép giữa đàn gà bươi
Họ than thở về những ông chồng bất tài, vô dụng:
Thân em như cánh hoa hồng Lấy phải thằng chồng như đống cỏ khô!
3.3 Người phụ nữ dám sống thật với những khát vọng của mình
Trong những câu ca dao bắt đầu mô-típ “Thân em ” người phụ nữ trong xã hội xưa còn thể hiện khát khao về một tình yêu đẹp, một cuộc hôn nhân hạnh phúc Hình ảnh người
Trang 88
phụ nữ trở nên thật dịu dàng, tâm hồn bay bổng lãng mạn khi mơ ước một tình yêu, một cuộc hôn nhân đẹp:
Thân em như trến mít chạm rồng Thân anh như kèo chua chạm phụng, đẹp vô cùng anh ơi!
Thế mới biết người phụ nữ Việt Nam thật đáng yêu, không phải họ chỉ đẹp bằng hình ảnh khăn nhung, mỏ quạ của xứ kinh kỳ, bằng chiếc nón lá rất Huế hay bằng một chiếc áo bà ba dịu dàng Nam bộ mà họ còn đẹp về tâm hồn, phẩm hạnh và những khát khao rất phụ nữ Quả thật, họ như bông sen mọc giữa đầm lầy, đậm màu sắc và ngát hương thơm
4 Đánh giá chung
4.1 Nghệ thuật
Ca dao là sáng tác tập thể, vì vậy nó kết tinh nghệ thuật ngôn từ của nhân dân Những bài ca dao than thân của người phụ nữ theo mô-típ "Thân em " cũng mang những đặc trưng chung của ca dao về thể thơ, kết cấu, ngôn ngữ, hình ảnh như:
+ Về kết cấu: Đặc điểm của ca dao trước hết là kết cấu ngắn ngọn, có sử dụng lối đối đáp và công thức truyền thống Kết cấu ngắn ngọn chính là một bài ca dao có khi chỉ từ hai đến bốn dòng thơ (1-2 cặp lục bát) Ca dao thường có sự lặp lại mô thức câu mở đầu (Thân
em như ), "Chiều chiều " "Trèo lên ", lặp lại biểu tượng (cây đa, bến nước, con thuyền, cái cầu )
+ Về thể loại: Chủ yếu là thể thơ lục bát và lục bát biến thể, có một số ít theo thể song thất lục bát Với hình thức thể loại như vậy cùng với vần nhịp, hình ảnh ca dao trở thành một thể loại văn học giúp người bình dân dễ dàng bày tỏ tâm tư, tình cảm, với người đọc người nghe thì dễ nhớ, dễ thuộc và dễ đi vào lòng người
+ Về ngôn ngữ, ca dao đã vận dụng rất thành công trong việc sử dụng ngôn ngữ dân tộc Đó là thứ ngôn ngữ rất giản dị, đẹp đẽ và trong sáng để diễn tả được tâm hồn đa dạng phong phú của con người Trong ca dao đã có sự kết hợp giữa ngôn ngữ nghệ thuật với ngôn ngữ của đời sống, lời ăn tiếng nói hằng ngày.Vì sử dụng lời ăn tiếng nói hằng ngày nên ca dao sức quyến rũ mạnh với nhân dân lao động Đó là vẻ đẹp của sự chân thực, giản
dị khiến ca dao dễ đi vào lòng người hơn
+ Các biện pháp nghệ thuật chủ yếu trong ca dao là biện pháp so sánh, ẩn dụ Các bài ca dao than thân theo mô-típ "Thân em " chủ yếu sử dụng biện pháp so sánh Hình ảnh
so sánh, ẩn dụ quen thuộc, gần gũi, thường được lấy từ cuộc sống đời thường hoặc từ thiên nhiên như tấm lụa đào, củ ấu gai, hạt mưa, trái bần Các biện pháp nghệ thuật này có ý nghĩa nâng cao giá trị nhận thức và làm cho ca dao trở nên gợi hình, gợi cảm
4.2 Về nội dung:
Ca dao phản ánh tâm tư, tình cảm, thế giới tâm hồn của người lao động Những câu
ca dao có mô-típ "Thân em " đã thể hiện rõ tâm tư tình cảm, thân phận và vẻ đẹp của người phụ nữ trong xã hội xưa Người phụ nữ xưa phải chịu nhiều bất công, số phận hẩm hiu, bạc bẽo nên cất lên tiếng hát than thân, trách phận Bên cạnh đó, các bài ca dao này còn thể hiện sự cảm thông, ca ngợi vẻ đẹp của người phụ nữ, đấu tranh cho quyền lợi của họ
Trang 99
Ca dao bộc lộ giá trị hiện thực và nhân đạo sâu sắc, góp phần khơi nguồn cho các giá trị truyền thống của văn học Việt Nam và làm cho văn học Việt Nam trở nên giàu có
Đề bài 2: Phân tích bài ca dao "Khăn thương nhớ ai
Lo vì một nỗi không yên một bề"
I MỞ BÀI
Ca dao là cây đàn muôn điệu rung lên những tiếng tơ lòng của người dân đất Việt Ca dao cũng là kho tàng văn hoá của dân tộc, là viên ngọc lấp lánh mà thời gian qua đi, viên ngọc càng ngày càng thêm toả sáng Qua ca dao, giá trị truyền thống và tâm hồn người Việt Nam được thể hiện và lưu giữ một cách rõ nét nhất Những câu ca dao đằm thắm, chân tình đã trở thành một món ăn tinh thần không thể thiếu của biết bao thế hệ người Việt Nam Ca dao, dân ca Việt Nam rất phong phú về đề tài, nội dung thể hiện và có đến hơn một nửa thuộc đề tài tình yêu đôi lứa Trong số đó chúng
ta không thể không nhắc đến bài ca dao “Khăn thương nhớ ai”, một bài ca dao giao
duyên, diễn tả nỗi niềm thương nhớ của một cô gái với người mình yêu
II THÂN BÀI
1 Khái quát
Tình yêu đôi lứa là đề tài muôn thuở của thi ca, nghệ thuật Trong ca dao, tình yêu được thể hiện vừa chân thành, mộc mạc, chân quê vừa rất kín đáo, tế nhị, uyển chuyển vừa rất lãng mạn, lạc quan Ca dao về tình yêu đôi lứa thường gắn với không gian của làng quê, với những hình ảnh gần gũi, quen thuộc trong cuộc sống của người bình dân Những đêm trăng thanh bên nhịp cầu tre lắt lẻo, bên cây đa, bến nước, sân đình hay trong những đêm hội làng nam nữ hát đối đáp, tỏ tình, giao duyên Bên cạnh
đó cũng có nhiều bài ca dao là nỗi niềm thầm kín của các chàng trai, cô gái trong tình yêu giống như tâm trạng của cô gái trong bài ca dao "Khăn thương nhớ ai "
2 Nỗi nhớ thương qua hình ảnh chiếc khăn (Sáu câu thơ đầu)
Cô gái trong bài ca dao đã bày tỏ nỗi nhớ thương của mình với người mình yêu qua các hình ảnh khăn, đèn, mắt Sáu câu ca dao đầu tiên gợi lên nỗi nhớ thương của
cô gái trẻ thông qua hình ảnh chiếc khăn:
“Khăn thương nhớ ai,
Chiếc khăn là hình ảnh rất quen thuộc, gần gũi, thiết thân và là vật trang điểm cho người con gái, có thể là chiếc khăn tay, khăn để khăn đội đầu hoặc quàng cổ
Cổ tay em trắng như ngà Con mắt em sắc như là dao cau
Trang 1010
Miệng cười như thể hoa ngâu Chiếc khăn đội đầu như thể hoa sen
Khăn cũng là vật trao duyên, vật kỉ niệm gợi nhớ người thương nên các chàng trai, cô gái thường tặng cho nhau để bày tỏ tình cảm:
Gửi khăn, gửi áo, gửi lời Gửi đôi chàng mạng cho người đàng xa
Không chỉ trong ca dao mà sau này trong thơ ca hiện đại, hình ảnh chiếc khăn vẫn gửi gắm rất nhiều tình cảm trong tình yêu đôi lứa như thế:
Gói một chùm hoa trong chiếc khăn tay
Cô gái ngập ngừng sang nhà hàng xóm Bên ấy có người ngày mai ra trận Bên ấy có người ngày mai đi xa
(Phan Thị Thanh Nhàn)
Có thể nhận thấy trong bài ca dao, hình ảnh chiếc khăn đã trở thành vật mang tâm tình của cô gái với người mình yêu Sáu câu thơ về hình ảnh chiếc khăn gồm 24 chữ, thì đã có đến 16 thanh bằng mà hầu hết là thanh không, từ “khăn” được láy lại 6 lần, điệp khúc “khăn thương nhớ ai” lặp lại 3 lần đã diễn tả một nỗi nhớ triền miên, da diết Nhân vật trữ tình đang đắm chìm trong nỗi nhớ thương Mọi cử chỉ, hành động của cô gái như trong vô thức và không tự chủ được Cô mải mê với nỗi nhớ khiến chiếc khăn vô tình rơi xuống đất và trong vô thức cô gái cúi nhặt chiếc khăn vắt hờ hững trên vai Nước mắt nhớ thương tuôn chảy, rất tự nhiên cô gái lấy khăn chùi nước mắt Sự vận động của chiếc khăn rơi, vắt, chùi nước mắt làm hiện lên hình ảnh cô gái hết đứng lên lại ngồi xuống, đứng ngồi không yên, ra ngẩn vào ngơ, lòng rối như tơ vò với nỗi nhớ Đặc biệt hình ảnh "Khăn chùi nước mắt" cho thấy cô gái vừa nhớ thương vừa khóc thầm, nỗi nhớ trong tình yêu của cô gái kèm theo nỗi buồn thương da diết Nỗi nhớ đến khóc thầm của cô gái trong bài ca dao này cũng giống với một cô gái trong ca dao xưa:
Nhớ ai em những khóc thầm Hai hàng nước mắt đầm đầm như mưa
3 Nỗi nhớ thương thể hiện qua hình ảnh ngọn đèn (Câu 7,8)
Nỗi nhớ trong 6 câu trên lan tỏa vào không gian, đến các câu tiếp lại xuyên suốt theo thời gian Nỗi nhớ được đo bằng thời gian là nỗi nhớ sâu sắc, nỗi nhớ không bao giờ lụi tắt luôn thường trực trong trái tim của người đang yêu Nỗi nhớ ban ngày kéo dài sang cả ban đêm:
“Đèn thương nhớ ai
Mà đèn không tắt”
Khi miêu tả tâm trạng con người theo thời gian, nhất là vào ban đêm người ta thường nhắc đến hình ảnh ngọn đèn Đại thi hào Nguyễn Du, khi miêu tả tâm trạng Thúy Kiều trong đêm trước khi lên đường theo Mã Giám Sinh cũng có sử dụng hình ảnh ngọn đèn: