LÀNG I. Tác giả Là nhà văn có sở trường về truyện ngắn nổi tiếng trước cách mạng Tháng 8. Đề tài chủ yếu viết về cuộc sống sinh hoạt ở nông thôn, hình ảnh của nông dân trước cách mạng. Truyện ngắn Kim Lân mộc mặc, giản dị, nhưng cũng hết sức sâu sắc. II. Tác phẩm Xuất xứ: viết vào thời kì đầu kháng chiến chống Pháp. Lần đầu tiên đăng trên tạp chí Văn nghệ năm 1948. Nội dung: Tác phẩm viết về người nông dân những năm đầu kháng chiến, cụ thể viết về tình yêu làng, yêu quê hương của họ. III. Khái quát nhân vật ông Hai Là người nông dân có tình yêu làng, yêu nước tha thiết, sâu nặng. Nghệ thuật xây dựng nhân vật Đặt nhân vật trong những trường hợp bất ngờ với nhiều tình huống có tính chất thử thách nội tâm nhân vật, từ đó nhân vật bộc lộ chiều sâu tâm trạng của mình và độc giả cảm nhận tình yêu làng, yêu nước của ông Hai 1 nét đẹp tình cảm phổ biến trong tâm hồn người nông dân lúc bấy giờ. Ngòi bút miêu tả tâm lí nhân vật hết sức tinh tế và sâu sắc. Nhân vật ông Hai thể hiện lên vừa chân thực, vừa sống động, vừa có chiều sâu. Đó là hình ảnh người nông dân vừa có những nét cá tính riêng, vừa mang những đặc điểm chung của người nông dân ở buổi đầu kháng chiến chống Pháp. Sử dụng ngôn ngữ tự nhiên, mộc mạc, đậm đà ý nghĩa của nhân dân. IV. PHÂN TÍCH NHÂN VẬT ÔNG HAI 1. Trước khi nghe làng chợ Dầu theo giặc Ông Hai rất đỗi yêu chợ Dầu mảnh đất mà bao đời gia đình ông lập nghiệp. Đi đâu ông cũng khoe về chợ Dầu là 1 làng kháng chiến sôi nổi nhất vùng. Già trẻ, gái trai đều tham gia đào hào, đắp ụ, sẻ giao thông hào phục vụ kháng chiến. Các bô lão đều bắt gậy đi tập quân sự. Không ai muốn đi tản cư mà quyết tâm 1 lòng ở làng tham gia kháng chiến. Phân tích mở rộng Có thể nói quê hương, làng nước là máu thịt trong tâm hồn người nông dân, dù có đi đâu, ở đâu thì họ cũng “Gánh theo tên xã tên làng trong mỗi chuyến di dân” (Nguyễn Khoa Điềm). Ban đầu, ông khoe lăng mộ của tên Tống đốc, về sau ông biết về lăng mộ đó mà bao nhiêu người phải khổ thì ông không khoe nữa→ sự trưởng thành trong nhận thức của ông. Không biết chữ, ngày nào ông cũng đến phòng đọc nghe đọc báo. Được nghe báo bao điều hay “ruột gan ông như múa cả lên, vui quá”. → Những biểu hiện đầu tiên để chứng minh cho tình yêu làng của ông Hai. 2. Khi nghe làng chợ Dầu theo giặc Sửng sốt, bàng hoàng “Cổ họng ông lão nghẹn ắng hẳn lại, da mặt tê rân rân. Ông lão lặng đi như đến không thở được” → miêu tả tâm trạng ngỡ ngàng, chua chát. Cố trấn tĩnh mình vì lúc đầu chưa dám tin (dẫn chứng) “Một lúc lâu, ông mới rặn è è hẳn đi, nuốt một cái gì vướng ở cổ, ông cất tiếng hỏi, giọng lạc. Ông Hai cảm thấy vô cùng xấu hổ sau những lời xác nhận chắc chắn của những người đàn bà tản cư. + Ông đánh trống lảng câu chuyện sang hướng khác, tìm một tia hy vọng để bấu víu. + Ông vờ vờ lảng ra chỗ khác rồi đi thẳng + Ông Hai cúi gằm mặt xuống mà đi
Trang 1LÀNG
I Tác giả
- Là nhà văn có sở trường về truyện ngắn nổi tiếng trước cách mạng Tháng 8
- Đề tài chủ yếu viết về cuộc sống sinh hoạt ở nông thôn, hình ảnh của nông dân trước cách mạng
- Truyện ngắn Kim Lân mộc mặc, giản dị, nhưng cũng hết sức sâu sắc
II Tác phẩm
- Xuất xứ: viết vào thời kì đầu kháng chiến chống Pháp Lần đầu tiên đăng trên tạp chí Văn nghệ năm 1948
- Nội dung: Tác phẩm viết về người nông dân những năm đầu kháng chiến, cụ thể viết về tình yêu làng, yêu quê hương của họ
III Khái quát nhân vật ông Hai
- Là người nông dân có tình yêu làng, yêu nước tha thiết, sâu nặng
* Nghệ thuật xây dựng nhân vật
- Đặt nhân vật trong những trường hợp bất ngờ với nhiều tình huống có tính chất thử thách nội tâm nhân vật, từ đó nhân vật bộc lộ chiều sâu tâm trạng của mình và độc giả cảm nhận tình yêu làng, yêu nước của ông Hai- 1 nét đẹp tình cảm phổ biến trong tâm hồn người nông dân lúc bấy giờ
- Ngòi bút miêu tả tâm lí nhân vật hết sức tinh tế và sâu sắc Nhân vật ông Hai thể hiện lên vừa chân thực, vừa sống động, vừa có chiều sâu Đó là hình ảnh người nông dân vừa có những nét cá tính riêng, vừa mang những đặc điểm chung của người nông dân ở buổi đầu kháng chiến chống Pháp
- Sử dụng ngôn ngữ tự nhiên, mộc mạc, đậm đà ý nghĩa của nhân dân
Trang 2IV PHÂN TÍCH NHÂN VẬT ÔNG HAI
1 Trước khi nghe làng chợ Dầu theo giặc
- Ông Hai rất đỗi yêu chợ Dầu - mảnh đất mà bao đời gia đình ông lập nghiệp Đi đâu ông cũng khoe về chợ Dầu là 1 làng kháng chiến sôi nổi nhất vùng
- Già trẻ, gái trai đều tham gia đào hào, đắp ụ, sẻ giao thông hào phục vụ kháng chiến Các bô lão đều bắt gậy đi tập quân sự
- Không ai muốn đi tản cư mà quyết tâm 1 lòng ở làng tham gia kháng chiến
*Phân tích mở rộng
- Có thể nói quê hương, làng nước là máu thịt trong tâm hồn người nông dân, dù có đi đâu, ở đâu thì họ cũng “Gánh theo tên xã tên làng trong mỗi chuyến di dân” (Nguyễn Khoa Điềm)
- Ban đầu, ông khoe lăng mộ của tên Tống đốc, về sau ông biết về lăng mộ đó mà bao nhiêu người phải khổ thì ông không khoe nữa→ sự trưởng thành trong nhận thức của ông
- Không biết chữ, ngày nào ông cũng đến phòng đọc nghe đọc báo Được nghe báo bao điều hay “ruột gan ông như múa cả lên, vui quá!”
→ Những biểu hiện đầu tiên để chứng minh cho tình yêu làng của ông Hai
2 Khi nghe làng chợ Dầu theo giặc
- Sửng sốt, bàng hoàng “Cổ họng ông lão nghẹn ắng hẳn lại, da mặt tê rân rân Ông lão lặng
đi như đến không thở được” → miêu tả tâm trạng ngỡ ngàng, chua chát
- Cố trấn tĩnh mình vì lúc đầu chưa dám tin (dẫn chứng) “Một lúc lâu, ông mới rặn è è hẳn đi, nuốt một cái gì vướng ở cổ, ông cất tiếng hỏi, giọng lạc
- Ông Hai cảm thấy vô cùng xấu hổ sau những lời xác nhận chắc chắn của những người đàn
bà tản cư
+ Ông đánh trống lảng câu chuyện sang hướng khác, tìm một tia hy vọng để bấu víu + Ông vờ vờ lảng ra chỗ khác rồi đi thẳng
+ Ông Hai cúi gằm mặt xuống mà đi
Trang 3→ Tình yêu làng, niềm tự hào trong ông bị sụp đổ, ông tổn thương Còn gì để đau hơn khi lòng tự tôn của mình lại bị 1 sự thật bẽ bàng làm sụp đổ
- Ông cảm thấy đau đớn, tủi nhục vô cùng
+ Về đến nhà ông nằm vật ra giường, nhìn lũ con, tủi thân, nước mắt ông cứ trào ra + Trong ông xảy ra 1 cuộc xung đột nội tâm
● Một mạch ông thuyết phục mình rằng những người làng chợ Dầu không hề làm việc gian (Dẫn Chứng) Ông kiểm điểm lại từng người trong óc, thấy họ đều có tinh thần cả “có đời nào lại cam tâm làm điều nhục nhã”
● Mặt khác, ông không thể phủ nhận lời những người đàn bà tản cư (Dẫn chứng)
→ Nghệ thuật độc thoại nội tâm diễn tả cụ thể qua những câu đối thoại, câu hỏi giằng xé trong tâm ông Hai
→ Ông căm thù những kẻ theo Tây, phẫn nộ làng, ông nắm chặt hai tay và rít lên “Chúng bay ăn miếng cơm hay miếng gì vào mồm mà đi làm cái giống Việt gian bán nước để nhục nhã thế này
→ Chỉ có tình yêu tha thiết, sâu nặng với quê hương thì mới chạm được đến những cảm xúc mãnh liệt đến như vậy
- Tin làng chợ Dầu theo Tây trở thành nỗi ám ảnh đến mức thành nỗi sợ hãi thường trực trong ông Hai khiến ông đau khổ vô cùng
+ Ông đâm ra cáu gắt với vợ
+ Ông trằn trọc không sao ngủ được
+ Sợ nhất là mụ chủ nhà biết chuyện vì sẽ bị đuổi mình và gia đình không có nơi an cư, nỗi nhục của 1 thằng đàn ông không lo được cho gia đình nên cứ nghe thấy hai tiếng chợ Dầu là khiếp sợ
- Trong tình thế bế tắc, tuyệt vọng khi bà chủ nhà có ý định đuổi gia đình ông vì lý do không chứa người của làng Việt gian, ông đau đớn tột cùng
Trang 4+ Trong lúc tưởng tuyệt đường sống, ông thoáng nghĩ “Hay là quay về làng”, suy nghĩ lóe lên rồi vụt mất
+ Lập tức gạt bỏ “Về làm gì cái làng ấy nữa Chúng nó theo Tây cả rồi Về làng tức là bỏ kháng chiến, bỏ cụ Hồ” hay là cam chịu làm nô lệ cho thằng Tây
+ Đưa ra một quyết định, một sự lựa chọn đau đớn và dứt khoát “Làng thì yêu thật nhưng làng theo Tây cả rồi thì phải thù”
→ Không thể dứt bỏ tình cảm đối với quê hương
- Trong tâm trạng bị dồn nét và bế tắc ấy, ông chỉ biết tâm sự với đứa con trai nhỏ Nói với con nhưng như ông đang trút nỗi lòng
+ Ông hỏi con nhà ở đâu để nhận lại câu trả lời “ở làng chợ Dầu” → tình yêu làng vẫn tha thiết trong ông Hai
+ Ông nhắc nhở mình phải luôn trung thành với cụ Hồ, với cách mạng, kháng chiến và không bao giờ được làm Việt gian
→ Tình yêu làng, yêu nước hòa làm một, thống nhất trong ông Hai Tấm lòng của ông với đất nước là sâu nặng, thiêng liêng
3 Khi tin làng chợ Dầu theo giặc được cải chính
- Tâm trạng ông Hai vui như một đứa trẻ được quà
+ Vẽ mặt buồn thiu mọi ngày nay bỗng vui tươi hẳn lên
+ Ông mua bánh rán cho con
+ Lật đật đi khoe với mọi người
+ Đi đến đâu cũng nghe “Tây nó đốt nhà tôi rồi các bác ạ Đốt nhẵn!”
→ Lời khoe rất kì lạ bởi đó như một minh chứng cho việc làng không theo giặc Mất hết
cơ nghiệp nhưng ông không buồn tiếc nuối mà thậm chí là vui sướng và hạnh phúc vì trong
sự cháy rụi của ngôi nhà riêng là sự hồi sinh về danh dự cho làng chợ Dầu
→Thể hiện tình yêu làng, yêu nước một cách xót xa, cảm động
Trang 5→ Đó là tinh thần hi sinh vì cách mạng của người dân Việt Nam trong kháng chiến
chống kẻ thù xâm lược
*Tài liệu tham khảo
A Dẫn chứng
Đất Nước – Nguyễn Khoa Điềm
“Em ơi em
Hãy nhìn rất xa
Vào bốn ngàn năm Đất Nước
Năm tháng nào cũng người người lớp lớp
Con gái, con trai bằng tuổi chúng ta
Cần cù làm lụng
Khi có giặc người con trai ra trận
Người con gái trở về nuôi cái cùng con
Ngày giặc đến nhà thì đàn bà cũng đánh”
“Họ giữ và truyền cho ta hạt lúa ta trồng
Họ truyền lửa cho mỗi nhà từ hòn than qua con cúi
Họ truyền giọng điệu mình cho con tập nói
Họ gánh theo tên xã, tên làng trong mỗi chuyến di dân
Họ đắp đập be bờ cho người sau trông cây hái trái”
“Có ngoại xâm thì chống ngoại xâm
Có nội thù thì vùng lên đánh bại
Để Đất Nước này là Đất Nước Nhân dân
Đất Nước của Nhân dân, Đất Nước của ca dao thần thoại”
Trang 6Nhân dân quyết tâm vượt qua mọi khó khăn, gian khổ, biến ý chí thành những khẩu hiệu hành động cách mạng:
“Nhà tan cửa nát cũng ừ
Đánh thắng giặc Mỹ cực chừ sướng sau”
Tế Hanh từng viết:
“ Chúng ta sống với 4000 năm lịch sử
Biết đời ta không phải của riêng ta”
B Bài đọc thêm
1 Tâm thức “làng nước” qua nhân vật ông Hai
Văn chương là nghệ thuật ngôn từ, là tấm gương phản chiếu đời sống, văn hóa Cho nên, tiếp cận tác phẩm từ văn hoá cũng là một hướng tiếp cận khả dĩ Ví như đọc truyện ngắn “Làng” của Kim Lân, nếu không hiểu “làng” trong tâm thức văn minh lúa nước có chiều dài tới cả nghìn năm thì cũng khó mà cảm nhận hết vẻ đẹp của những người nông dân “nguyên thuỷ” Nguyên thuỷ trong nếp sống, nếp nghĩ, trong tình cảm, trong ứng xử, trong niềm vui và nỗi buồn…Làng ở đồng bằng Bắc Bộ nói chung được hình thành một cách tự nhiên theo quan niệm dân gian “đất lành chim đậu” để an
cư lạc nghiệp” Làng có luỹ tre bao bọc, đó là “cương giới” giữa làng này với làng khác Làng có đình, chùa, bến sông ( hoặc ao làng), cây đa… Mỗi sự vật là một biểu tượng có ý nghĩa nhất định, nó khiến cho cư dân làng có quyền tự hào về nó
Hiểu theo nghĩa đúng đắn thì “làng” là một tế bào mà mỗi thành viên trong đó đều có quan hệ gắn bó bền vững, đó là quan hệ hàng dọc trong mỗi gia tộc ( đời ông - đời cha
- đời con - đời cháu…) và quan hệ hàng ngang giữa các gia tộc với nhau ( họ Đỗ - họ Nguyễn - họ Trần,…ta quen gọi là quan hệ cộng đồng ) Có thể nói, “làng” là đơn vị
tổ chức hành chính đầu tiên của người Việt, sau đó “làng” được mở rộng thành
“nước” ( gồm nhiều làng liên kết với nhau để chống ngoại xâm hoặc thiên tai…) Mối
Trang 7quan hệ mật thiết giữa “làng” với “nước” có thể gói gọn trong một câu: “Sống ở làng, sang ở nước!”
Diễn giải dài dòng như trên để nói rằng: từ hàng nghìn năm qua, người nông dân Việt Nam luôn có niềm tự hào hồn nhiên và chân thành về ngôi làng của mình ( có đình to, chùa đẹp, cây đa xum xuê, bến sông nhộn nhịp, có nhiều người đỗ đạt cao, có nhiều anh hùng, tướng tá, danh nhân) Khi có giặc ngoại xâm thì làng nào đánh giặc giỏi, làng ấy sẽ được tôn vinh, ngưỡng mộ; ngược lại làng nào theo giặc sẽ bị xa lánh, tẩy chay
Những hiểu biết trên sẽ góp phần không nhỏ vào việc tìm hiểu vẻ đẹp của nhân vật ông Hai trong truyện ngắn “Làng” của Kim Lân
Ở truyện ngắn “Làng”, tình huống làm bộc lộ sâu sắc lòng yêu làng, yêu nước ở nhân vật ông Hai là: trong khi ở nơi tản cư, lúc nào ông cũng da diết nhớ về làng với một niềm tự hào không giấu giếm thì bỗng nghe tin làng mình đã lập tề theo giặc Chính tình huống này đã cho thấy lòng yêu nước và tinh thần kháng chiến luôn bao trùm và chi phối tình cảm quê hương ở ông Hai, đồng thời làm bộc lộ sâu sắc và cảm động tình yêu làng, yêu nước của ông
Trong lúc tâm trạng đang phấn chấn vì những tin tức kháng chiến vừa nghe được trong phòng thông tin thì cái tin làng Chợ Dầu theo giặc đến với ông Hai quá đột ngột
Từ đây bắt đầu những diễn biến tâm trạng căng thẳng với nhiều nỗi day dứt ở nhân vật được ngòi bút miêu tả tâm lí tinh tường của tác giả thể hiện rất sinh động
Ban đầu là những cảm xúc đột ngột hiện ra bằng các trạng thái cơ thể: cổ nghẹn ắng lại, da mặt tê rân rân, lặng đi tưởng chừng không thở được Rồi tiếp đó là nỗi xấu hổ, đau xót khiến ông cúi gằm mặt mà đi Nỗi đau đớn, tủi hổ về việc làng mình theo giặc khiến ông Hai cảm thấy như mình cũng là kẻ có tội, lúc nào cũng nơm nớp lo sợ, không dám ló mặt ra đến ngoài Sau cùng thì tâm trạng của ông Hai được biểu hiện dưới hình thức trò chuyện với đứa con út, mà thực chất là lời tự minh oan và khẳng định tấm lòng thuỷ chung của mình đối với kháng chiến để làm vợi bớt phần nào nỗi khổ tâm nặng nề từng dằn vặt ông
Trang 8Ở đoạn kết, khi cái tin làng Chợ Dầu theo giặc được cải chính thì một lần nữa tình yêu làng, yêu nước ở ông Hai lại được thể hiện một cách thành thực và cảm động Ông đã thay đổi hẳn: “cái mặt buồn thỉu mọi ngày bỗng tươi vui, rạng rỡ hẳn lên Mồm bỏm bẻm nhai trầu, cặp mắt hung hung đỏ, hấp háy…” Ông vui mừng phô với bác Thứ về cái tin làng Chợ Dầu theo giặc là sai sự thật Và ông còn hào hứng khoe cả việc nhà mình bị Tây đốt nhẵn Rồi ông vội vã, lật đật đến các nhà trong xóm để kể, để khoe về những điều đó
Tác giả đã rất am hiểu tâm lí của người nông dân, đặc biệt là tình cảm với làng quê, và tâm lí cộng đồng của họ Tâm lí nhân vật ông Hai được thể hiện từ ngoại hình, cử chỉ đến ngôn ngữ, hành động Không chỉ diễn tả chính xác, tinh tế các trạng thái tâm lí mà tác giả còn miêu tả thành công quá trình vận động, chuyển biến trong tâm trạng của nhân vật
Nét riêng của truyện ngắn này trong việc khai thác đề tài về tình yêu quê hương là đã nêu được mối quan hệ giữa tình cảm làng quê và tình yêu nước trong hoàn cảnh chiến tranh Bằng cách tạo ra một tình huống có sự xung đột giữa hai tình cảm ấy, truyện đã cho thấy lòng yêu nước là tình cảm lớn bao trùm trong con người kháng chiến, nó chi phối các tình cảm khác Tình yêu làng quê, dù có sâu nặng đến đâu cũng phải nằm trong tình yêu nước, không thể đi ngược lại với lòng yêu nước, với quyền lợi của cả dân tộc
Ngoài nhân vật ông Hai cũng phải kể đến những nhân vật phụ chỉ thoáng qua trong tác phẩm nhưng vẫn kịp lưu lại cái tâm thức “làng nước” thật sâu sắc và cảm động, ví như nhân vật bà chủ nhà nơi gia đình ông Hai tản cư hoặc một nhân vật vô danh là
“người đàn bà cho con bú” Bà chủ nhà có hai câu nói ngắn gọn, một là khi có tin đồn làng Chợ Dầu theo giặc và một là sau khi tin đồn ấy được cải chính Trước, bà nói:
“Trên này họ đồn giăng giăng ra rằng thì là làng dưới nhà ta đi Việt gian theo Tây đấy, ông bà đã biết chưa nhỉ? Nghe nói, bảo có lệnh đuổi hết những người làng Chợ Dầu khỏi vùng này không cho ở nữa”
Sau, bà nói: “A, thế chứ! Thế mà tớ cứ tưởng dưới nhà đi Việt gian thật, tớ ghét ghê ấy…Thôi, bây giờ thì ông bà lại cứ ở tự nhiên ai bảo sao Ăn hết nhiều chứ ở hết bao nhiêu”
Trang 9Còn “người đàn bà cho con bú” thì thật ngoa ngoắt, quyết liệt: “Cha mẹ tiên sư nhà chúng nó! Đời khổ ăn cắp ăn trộm được người ta còn thương Cái giống Việt gian bán nước thì cứ cho mỗi đứa một phát!”
“Làng nước” không chỉ là không gian sinh tồn của mọi con dân nước Việt, mà còn là nơi thờ cúng tổ tiên và các bậc tiên liệt - tức là cõi tâm linh thiêng liêng bất khả xâm phạm; do đó nỗi đau đớn nhất là nỗi đau bị giặc ngoại xâm giày xéo mồ mả tổ tiên và nỗi nhục lớn nhất là nỗi nhục cam tâm làng tay sai cho giặc Và tình cảm yêu làng yêu nước là một tình cảm tự nhiên, nhưng trong truyện ngắn “Làng” thì tình cảm đó
dường như đã trở thành một chuẩn mực đạo đức để đối nhân xử thế , có thể coi đây là
sự trưởng thành về ý thức của những người nông dân như ông Hai, bà chủ nhà, “người đàn bà cho con bú”… Họ có thể ít chữ nghĩa nhưng lại có một sự mách bảo cực kì nhạy bén của tình cảm và lương tâm Từ khía cạnh này mà xét thì truyện ngắn “Làng” của Kim Lân không chỉ là một tác phẩm văn học đơn thuần, mà còn có dáng dấp của một tuyên ngôn chính luận, rằng: Có thể chấp nhận mất tất cả, hi sinh tất cả ( nhà ông Hai bị “đốt nhẵn”), nhưng không thể để mất nước, mất tự do!
Theo Hoàng Dân
2.LÝ GIẢI GIỌT NƯỚC MẮT ÔNG HAI TRONG TRUYỆN NGẮN
“LÀNG” CỦA NHÀ VĂN KIM LÂN
Ông Hai là một nhân vật độc đáo mang nhiều đặc điếm chung tiêu biểu cho người nông dân Việt Nam trong kháng chiến chống Pháp nhưng đồng thời cũng mang những đặc điểm tính cách rất riêng, rất thú vị Ông đã trở thành linh hồn của Làng và thể hiện trọn vẹn tư tưởng của nhà văn và tác phẩm
“Làng” của nhà văn Kim Lân là một truyện ngắn đặc sắc về chủ đề tình yêu quê
hương đất nước của người nông dân Việt Nam trong kháng chiến chống Pháp Nhân vật chính của tác phẩm – ông Hai – chẳng những là một người nông dân chất phác, hồn hậu như bao người nông dân khác mà còn là một người có tình yêu làng quê, đất nước thật đặc biệt
Trang 10Tác phẩm ra đời năm 1948 lấy bối cảnh là cuộc tản cư kháng chiến của nhân dân ông Hai là người dân làng Chợ Dầu nhưng để phục vụ kháng chiến ông cùng gia đình tản
cư đến một nơi khác Chính tại nơi đây ông luôn trăn trở về cái làng thân yêu của mình với bao tình cảm, suy nghĩ vô cùng cảm động…
Trước hết, ông là một người nông dân chất phác, nồng hậu, chân chất… như bao người nông dân khác Đến nơi tản cư mới, ông thường đến nhà hàng xóm để cởi mở giãi bày những suy nghĩ tình cảm của mình về cái làng Chợ Dầu thân yêu, về cuộc kháng chiến của dân tộc Ông đi nghe báo, ông đi nghe nói chuyện, ông bàn tán về những sự kiện nổi bật của cuộc kháng chiến… Ông Hai không biết chữ, ông rất ghét những anh nào “ra vẻ ta đây” biết chữ đọc báo mà chỉ đọc thầm không đọc to lên cho người khác còn biết Ông ít học nhưng lại rất thích nói chữ, đi đính chính tin làng mình theo giặc ông sung sướng nói to với mọi người: “Toàn là sai sự mục đích cả!”… Tất cả những điều đó không làm ông Hai xấu đi trong mắt người đọc mà chỉ càng khiến ông đáng yêu, đáng mến hơn
Không chỉ vậy, điều đáng quý nhất ở ông Hai chính là tấm lòng yêu làng tha thiết Và biểu hiện của tấm lòng ấy cũng thật đặc biệt
Cái làng đối với người nông dân quan trọng lắm Nó là ngôi nhà chung cho cộng đồng, họ mạc Đời này qua đời.khác, người nông dân gắn bó với cái làng như máu thịt, ruột rà Nó là nhà cửa, đất đai, là tổ tiên, là hiện thân cho đất nước đối với họ Trước Cách mạng tháng Tám, ông Hai thuộc loại “khố rách áo ôm”, từng bị “bọn hương lí trong làng truất ngôi trừ ngoại xiêu dạt đi, lang thang hết nơi này đến nơi khác, lần mò vào đến tận đất Sài Gòn, Chợ Lớn kiếm ăn Ba chìm bảy nổi mười mấy năm trời mới lại được trở về quê hương bản quán Nên ông thấm thía lắm cái cảnh tha hương cầu thực Ông yêu cái làng của mình như đứa con yêu mẹ, tự hào về mẹ, tôn thờ mẹ, một tình yêu hồn nhiên như trẻ thơ Cứ xem cái cách ông Hai náo nức, say mê khoe về làng mình thì sẽ thấy Trước Cách mạng tháng Tám, ông khoe cái dinh phần của viên tổng đốc làng ông: “Chết! Chết, tôi chưa thấy cái dinh cơ nào mà lại được như cái dinh cơ cụ thượng làng tôi.” Và mặc dù chẳng họ hàng gì nhưng ông cứ gọi viên tổng đốc là “cụ tôi” một cách rất hả hê! Sau Cách mạng, “người ta không còn thấy ông đả động gì đến cái lăng ấy nữa”, vì ông nhặn thức được nó làm khổ mình,