LẶNG LẼ SAPA I. Tác giả Là nhà văn có sở trường về truyện ngắn và bút kí. Ông đặc biệt thành công ở những tác phẩm viết về công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội của nhân dân miền Bắc những năm 6070 thế kỉ XX. Truyện ngắn Nguyễn Thành Long là những trang văn dịu dàng, giàu chất thơ, ánh lên vẻ đẹp cong người mang Việt Nam sâu sắc. II. Tác phẩm Truyện là kết quả của chuyến đi lên Lào Cai của tác giả vào mùa hè năm 1970, được in trong tập “Giữa trong xanh”. Khái quát nhân vật anh thanh niên + Yêu nghề + Cởi mở chân thành hiếu khách, biết quý trọng tình cảm, biết quan tâm tới người khác. + Khiêm tốn Nghệ thuật +Xác định nhân vật bằng ngòi bút tài hoa, tinh tế, bằng tất cả tình yêu thương và sự trân trọng dành cho người lao động. + Người đọc dễ yêu mến, khâm phục về những tấm gương lao động quên minhd cho đất nước. + Anh thanh niên không xuất hiện ngay từ đầu tác phẩm mà chỉ hiện ra trong tình huống gặp gỡ bất ngờ, tình cờ→thực hiện 1 ký họa chân dung về anh. III. PHÂN TÍCH TÁC PHẨM 1. Hoàn cảnh sống và làm việc Là chàng trai 27 tuổi sống một mình trên đỉnh Yên Sơn cao 2600m(ít người, nguy hiểm) quanh năm sống giữa “4 bề cỏ cây và mây mù lạnh lẽo, không 1 bóng người” → hoàn cảnh sống cực kỳ cô đơn và vắng vẻ, hiu quạnh, đơn độc. Công việc của anh là “ làm công tác khí tượng kim vật lý địa cầu” cụ thể là “đo gió, đo mưa, đo nắng, tính mây, đo chấn động mặt đất” nhằm dự vào việc phục vụ chiến đấu → công việc không nặng nề nhưng đòi hỏi phải tỉ mỉ, chính xác đều đặn có tinh thần trách nhiệm và ý thức tự giác cao. Vì vậy đó là 1 công việc gian khổ. Chứng minh: + Gian khổ nhất là lần ghi bão lúc 1h sáng: lạnh, buồn ngủ, tối, nguy hiểm bởi sự bủa vây của thú dữ. + “Chui ra khỏi chăn”, ngọn đèn bão vặn to cỡ nào vẫn không thấy đủ sáng: thách thức của 1 chàng trai ở một mình, không có động lực dậy. + Xách đèn ra vườn... ào ào nó tới: sự nghiệt ngã của thiên nhiên. → Cô đơn, gian khổ là thế nhưng anh thanh niên đã vượt qua tất cả bằng những suy nghĩ thật đẹp, tuy giản dị mà vô cùng sâu sắc. 2. Lòng yêu nghề, tinh thần trách nhiệm và ý thức tự giác cao trong việc cảm nhận được ý nghĩa cao quý công việc của mình. Trong tâm sự của anh với ông họa sĩ và cô kĩ sư + Anh không tô đậm cái gian khổ của công việc mà trái lại ta nghe trong từng lời nói của anh là niềm vui, niềm hạnh phúc khi được làm việc “Khi ta làm việc, ta với công việc là đôi, sao gọi là một mình được? Huống chi việc của cháu gắn liền với bao anh em đồng chí dưới kia. Công việc của cháu gian khổ thế đấy chứ mất nó đi cháu buồn chết mất” → bộc lộ trọn vẹn tình yêu nghề và đam mê cống hiến. +Ta hiểu được quan điểm sống đơn sơ mà đẹp đến vô ngần của anh “Mình sinh ra là gì, mình đẻ ở đâu, mình vì ai mà làm việc”. dù đang một mình nhưng anh tự hiểu mình cùng bao người làm việc, làm việc vì con người, vì cuộc sống. Mở rộng “Đời người chỉ có 1 lần. Phải sống sao cho khỏi xót xa, ân hận vì những năm tháng đã sống hoài sống phí, cho khỏi hổ thẹn vì dĩ vãng ti tiện và hèn đớn của mình. Để khi nhắm mắt xuôi tay, tất cả đời ta, tất cả sức ta, ta đã hiến dâng cho sự nghiệp cao đẹp nhất của loài người.”
Trang 1LẶNG LẼ SAPA
I Tác giả
- Là nhà văn có sở trường về truyện ngắn và bút kí
- Ông đặc biệt thành công ở những tác phẩm viết về công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội của nhân dân miền Bắc những năm 60-70 thế kỉ XX
- Truyện ngắn Nguyễn Thành Long là những trang văn dịu dàng, giàu chất thơ, ánh lên vẻ đẹp cong người mang Việt Nam sâu sắc
II Tác phẩm
- Truyện là kết quả của chuyến đi lên Lào Cai của tác giả vào mùa hè năm 1970, được in trong tập “Giữa trong xanh”
- Khái quát nhân vật anh thanh niên
+ Yêu nghề
+ Cởi mở chân thành hiếu khách, biết quý trọng tình cảm, biết quan tâm tới người khác + Khiêm tốn
- Nghệ thuật
+Xác định nhân vật bằng ngòi bút tài hoa, tinh tế, bằng tất cả tình yêu thương và sự trân trọng dành cho người lao động
+ Người đọc dễ yêu mến, khâm phục về những tấm gương lao động quên minhd cho đất nước
+ Anh thanh niên không xuất hiện ngay từ đầu tác phẩm mà chỉ hiện ra trong tình huống gặp gỡ bất ngờ, tình cờ→thực hiện 1 ký họa chân dung về anh
III PHÂN TÍCH TÁC PHẨM
1 Hoàn cảnh sống và làm việc
- Là chàng trai 27 tuổi sống một mình trên đỉnh Yên Sơn cao 2600m(ít người, nguy hiểm) quanh năm sống giữa “4 bề cỏ cây và mây mù lạnh lẽo, không 1 bóng người”
→ hoàn cảnh sống cực kỳ cô đơn và vắng vẻ, hiu quạnh, đơn độc
Trang 2- Công việc của anh là “ làm công tác khí tượng kim vật lý địa cầu” cụ thể là “đo gió,
đo mưa, đo nắng, tính mây, đo chấn động mặt đất” nhằm dự vào việc phục vụ chiến đấu → công việc không nặng nề nhưng đòi hỏi phải tỉ mỉ, chính xác đều đặn có tinh thần trách nhiệm và ý thức tự giác cao Vì vậy đó là 1 công việc gian khổ * Chứng minh:
+ Gian khổ nhất là lần ghi bão lúc 1h sáng: lạnh, buồn ngủ, tối, nguy hiểm bởi sự bủa vây của thú dữ
+ “Chui ra khỏi chăn”, ngọn đèn bão vặn to cỡ nào vẫn không thấy đủ sáng: thách thức của 1 chàng trai ở một mình, không có động lực dậy
+ Xách đèn ra vườn ào ào nó tới: sự nghiệt ngã của thiên nhiên
→ Cô đơn, gian khổ là thế nhưng anh thanh niên đã vượt qua tất cả bằng những suy nghĩ thật đẹp, tuy giản dị mà vô cùng sâu sắc
2 Lòng yêu nghề, tinh thần trách nhiệm và ý thức tự giác cao trong việc cảm nhận được ý nghĩa cao quý công việc của mình
- Trong tâm sự của anh với ông họa sĩ và cô kĩ sư
+ Anh không tô đậm cái gian khổ của công việc mà trái lại ta nghe trong từng lời nói của anh là niềm vui, niềm hạnh phúc khi được làm việc “Khi ta làm việc, ta với công việc là đôi, sao gọi là một mình được? Huống chi việc của cháu gắn liền với bao anh em đồng chí dưới kia Công việc của cháu gian khổ thế đấy chứ mất nó đi cháu buồn chết mất” → bộc lộ trọn vẹn tình yêu nghề và đam mê cống hiến
+Ta hiểu được quan điểm sống đơn sơ mà đẹp đến vô ngần của anh “Mình sinh
ra là gì, mình đẻ ở đâu, mình vì ai mà làm việc” dù đang một mình nhưng anh tự hiểu mình cùng bao người làm việc, làm việc vì con người, vì cuộc sống
* Mở rộng
“Đời người chỉ có 1 lần Phải sống sao cho khỏi xót xa, ân hận vì những năm tháng
đã sống hoài sống phí, cho khỏi hổ thẹn vì dĩ vãng ti tiện và hèn đớn của mình Để khi nhắm mắt xuôi tay, tất cả đời ta, tất cả sức ta, ta đã hiến dâng cho sự nghiệp cao đẹp nhất của loài người.”
Trang 3(Thép đã tôi thế đấy-Nga Ôx-tơ-xốp-xki)
- Anh vô cùng tự hào và sung sướng khi biết mình đã góp phần phát hiện kịp thời 1 đám mây khô mà nhờ đó không quân ta hạ được bao phản lực Mỹ trên cầu Hàm Rồng→ cái hạnh phúc ấy mộc mạc, đơn sơ nhưng đầy lí tưởng và rất đáng trân quý - Anh biết tổ chức cho mình 1 cuộc sống ngăn nắp, khoa học
+ Biết lấy sách làm bạn tâm tình + Biết trồng hoa, nuôi gà
+ Thế giới riêng của anh là công việc + Ngăn nắp (cuộc đời riêng của anh “thu gọn lại 1 góc trái gian với chiếc giường con, một chiếc bàn học và một chiếc giá sách)
3 Cởi mở, chân thành, hiếu khách, biết quý trọng tình cảm, biết quan tâm đến người khác
- Những ngày đầu mới lên Sapa, anh khao khát được gặp gỡ và trò chuyện với mọi người mặc dù chưa hề quen biết
+ “Thèm người quá”
- Tình thân của anh đối với bác lái xe, anh nhớ cả chuyện vợ bác lái xe vừa ốm dậy để không quên đào củ tam thất làm quà
- Thái độ của anh đối với ông họa sĩ và cô kĩ sư- những người khách phương xa đến thăm bất ngờ
+ Vui mừng đến luống cuống
+ Tiếp đón một cách ân cần
+ Chân thành bộc lộ tình cảm chân thành của mình một cách hồn nhiên và thành thật → khiến người khác cảm động
+ Anh nói những điều người ta chỉ nghĩ
+ Anh trân trọng từng giờ, từng phút được gặp khách
Trang 4+Anh không quên tặng một làn trứng để ông họa sĩ chạy đường dài, cắt thêm một bó hoa tươi cho cô kĩ sư + Anh xúc động đến nỗi phải quay mặt đi khi chia tay với khách, anh không dám tiễn khách ra xe
4 Khiêm tốn
- Ý nghĩa công việc của anh là không hề nhỏ bé bởi đó là sự đóng góp trên cả 2 lĩnh vực: phục vụ chiến đấu bảo vệ Tổ quốc và phục vụ lao động sản xuất xây dựng đất nước Sự lao động thầm lặng quên mình âm thầm cống hiến
“Họ đã sống và chết Giản dị và bình tâm Không ai nhớ mặt đặt tên Nhưng họ đã làm ra đất nước.”
- Nhưng khi ông họa sĩ ký họa chân dung anh, anh lại từ chối vì cho rằng sự đóng góp của mình không đáng là bao
- Anh nhiệt tình giới thiệu cho ông họa sĩ người mà anh cho là đáng vẽ hơn Đó là ông
kĩ sư vườn rau, là đồng chí nghiên cứu sét
- Họ đã sống và chết
- Giản dị và bình tâm
- Không ai nhớ mặt đặt tên
- Nhưng họ đã làm ra Đất nước!
-
- “Một mùa xuân nho nhỏ
- Lặng lẽ dâng cho đời
- Dù là tuổi 20
Trang 5- Dù là khi tóc bạc”
-
- Và tôi sống như đoá hoa này
- Toả ngát hương thơm cho đời
- Sống với nỗi khát khao rằng
- Được hiến dâng cho cuộc đời
- Hôm nay dẫu có gian nan
- Thì ngày mai là ngày tươi sáng hơn
- Tôi sẽ viết nên câu chuyện của cuộc đời riêng tôi
-
- "Con người sinh ra không phải để tan biến đi như một hạt cát vô danh Họ sinh ra để
lưu lại dấu ấn trên mặt đất, trong trái tim người khác" (Xu khôm linxki)
- "Cái quý nhất của con người ta là sự sống Đời người chỉ sống có một lần Phải
sống sao cho khỏi xót xa, ân hận vì những năm tháng đã sống hoài, sống phí, cho khỏi hổ thẹn vì dĩ vãng ti tiện và hèn đớn của mình, để khi nhắm mắt xuôi tay có thể nói rằng: tất cả đời ta, tất cả sức ta, ta đã hiến dâng cho sự nghiệp cao đẹp nhất trên
đời, sự nghiệp đấu tranh giải phóng loài người " (Ostrovxki)
-
Trần Chiến
- Thời nào có văn chương nấy, kiểu cách nghệ thuật riêng Một quãng rất dài, nhân
vật được coi là một trong những tiêu chí thành công Người ta có thể quên Nam Cao nhưng cái anh Chí Phèo còn giãy đành đạch trong cửa miệng bình dân Nghe nói khi Liên Xô làm phim “Sông Đông êm đềm”, đạo diễn tuyển diễn viên đóng Grigôri Mêlêkhốp, thấy anh nọ trước khi nhảy lên ngựa đá vào chân con vật, bèn chấm Cái động tác như vu vơ ấy hứa hẹn rất nhiều “phẩm chất Cô dắc” Tìm được nguyên mẫu để tạc ra nhân vật như vớ được vàng Các chi tiết xung quanh anh ta sẽ vừa làm
Trang 6người đọc dễ nhớ, vừa tải được những gì ta gửi gắm, nhà văn reo lên như vậy sau bao nhiêu vật vã Nhân vật có cuộc sống riêng “bướng bỉnh”, dường như khác với các trào lưu văn chương hiện giờ (Hậu hiện đại được nhắc đến nhiều hơn cả) hay lộn trái phải không gian thời gian tính cách… theo chủ quan tác giả
- Truyện ngắn “Lặng lẽ Sa Pa” của Nguyễn Thành Long để đời lại một anh khí
tượng Hồn nhiên, hơi rụt rè, chu đáo, trong trẻo, anh lại thật mạnh khi lăn gỗ xuống đường cản bánh xe khách, cốt có người nói chuyện Đấy là những chi tiết làm người đọc phải nhớ mãi, nó “đính” theo cuộc sống heo hút trên đỉnh đèo Nhân vật thứ hai, người họa sĩ già đầy tâm trạng, có lẽ Nguyễn Thành Long chỉ việc “đẽo” từ mình ra
Mờ nhạt đằng sau là cô kỹ sư đi nhận việc, ông xe ca, nhanh chóng rụng khỏi trí nhớ người đọc
- Lọ mọ đi tìm lại nguyên mẫu của một nhân vật nổi tiếng để đối chiếu đôi bên, là
một cái thú Để xem mức độ hư cấu, tưởng tượng, tiếp tục sống theo nhân vật của nhà văn thế nào, thử đặt mình vào “vai” này “vai” nọ “cương” tiếp Biết đâu, ta nhặt được vô khối mảnh quý giá để khai thác tiếp Từ lâu, dân khí tượng Hoàng Liên Sơn truyền nhau về một đồng nghiệp đã gặp Nguyễn Thành Long trong hoàn cảnh như trong truyện Rất đáng để tìm đến Cũng còn một thôi thúc khác: “Lặng lẽ Sa Pa” viết năm 1970, giữa buổi cả nước hát hành khúc đọc thơ Tố Hữu, cái “tông” trữ tình ấy rất lạ, rất khó dựng “Chảy ngược” chứ còn gì Vài nhà văn nay ngót nghét bẩy chục kể năm ấy đưa đàn em đi thực tế, gặp chàng khí tượng nọ, Nguyễn Thành Long bần thần rồi cuống lên đòi quay lại Hà Nội ngay, bỏ luôn “sứ mạng” dẫn dắt Nhà văn sẵn ý tưởng gặp “mẫu” như mây dông phải sét, thế là đắm ngay cháy ngay, để lâu thời niềm riêng nó ĩu ra, cảm hứng tơi tả mà giọng điệu cũng rời rạc
- Tôi lên huyện lỵ Than Uyên, Lai Châu Nguyên mẫu của chàng khí tượng ngày nào
là ông Lê Văn Sử, đã nghỉ hưu, sống ở đây Bà vợ có sạp hàng khô ngoài chợ thị trấn, ông ngồi chữa đồ điện sinh hoạt bên cạnh, lủng cũng những bếp từ quạt máy hỏng Tôi được người quen ông giới thiệu, và ông cũng cởi mở, việc “khai thác” trở nên dễ Té ra là còn một cuộc sống khác lắm đỗi lắm nỗi, sôi nổi thăng trầm đủ cả, xin chép lại mà không đưa chủ quan vào…
- Về cuộc gặp gỡ làm nên thiên truyện để đời, Lê Văn Sử kể:
Trang 7- - Năm 1970 tôi ở trạm Hoàng Liên Sơn thuộc đài Vật lý Địa cầu Sa Pa, đóng trên
đèo Ủ Quây Hồ, tức “Năm con hổ quây lại”, cùng với Nguyễn Xuân Tỵ Tỵ là “con sóc Hoàng Liên Sơn”, mình bắc bếp chưa chín nồi cơm anh ấy đã kiếm được rổ nấm Bấy giờ xe ca Lai Châu tuần một chuyến, ông lái dẫn Nguyễn Thành Long lên trạm lần đầu gặp Tỵ Lần sau lên, cũng xe ca, ông Long hỏi ngay “Anh Tỵ đâu?” Ông ấy xưng họa sĩ, có cô kỹ sư đi nhận việc, nhưng không có đoạn để quên khăn tay như một lời trao tặng đâu Hoa không trồng, tôi dứt bông bách hợp từ vách đá tặng Người hay lăn gỗ để tán chuyện là tôi Tôi cũng không đun nước pha chè, nhưng luộc trứng gà tặng Ít lâu sau nghe “đọc truyện đêm khuya” trên đài “Ô Sao giống mình thế!”
- Vậy là có hai nguyên mẫu (gọi là “nguyên cớ” chắc cũng chả sai) cho chàng thanh
niên trong truyện Ông Tỵ sau về quê Thái Bình chẳng sủi tăm Ông Sử không quá bẽn lẽn, hồn nhiên, mỏng manh như nhà văn nặn, cũng thảo tính, quý người, nhưng nghịch tinh, bản năng sinh tồn mạnh mẽ Có khi ông “hiện đại” giống cô kỹ sư trong truyện hơn, thế chăng? Truyện viết “Lặng im chỉ chực mình ra là ào ào xô tới”, ông bảo “ thèm người thực, nhưng thế mãi sống sao được” Những trạm Tam Đường 180 bậc dốc đứng, trạm Sơn La 270 bậc trông sang nhà tù cũ ông nhớ như
in Đời cắm trạm “mọc” ra đến lắm nghề: làm thuốc, cơ khí, điện máy, hướng dẫn
du lịch, mỗi thứ mỗi tý
- Ở tuổi 75, ông Sử còn giữ được tầm dong dỏng, thời trẻ chắc vào loại cao ráo Ông
dẫn tôi về nhà, dáng đi bơi bơi, có lẽ hợp với biển mây hơn phố huyện Kho chuyện
mở ra, chả biết Nguyễn Thành Long sống lại nghe có thêm được mấy thiên “Lặng lẽ” nữa…
- “Quê tôi Bình Lục Hà Nam, đúng làng Ngọc Lũ trống đồng Tôi sinh 1937, thầy
tướng bảo đoạn giữa đời khổ lắm Học tiếng Pháp qua ông ngoại, không thuộc phải đấm lưng, đấm cả trưa rất hãi nên phải thuộc Năm Cải cách bị quy địa chủ, mẹ ức
bỏ lên Tây Bắc làm cấp dưỡng khí tượng, tôi vào nghề từ đấy, đi khắp các trạm và cũng leo từ sơ cấp lên đại học Giám đốc đài Vật lý địa cầu Sa Pa Nguyễn Tác Nhân đưa sách tiếng Pháp, bắt học thêm, thỉnh thoảng mình dẫn khách du lịch, họ về gửi bưu ảnh, “sú vơ nia” vui lắm Có quyển “Petit Larousse”, tôi tí toáy dịch kịch
“Người thú” của V Hugo”
Trang 8- “Lán ông Long lên ở độ cao khoảng 2000 mét, có giường, bếp củi, trong thưng ni
lông che gió kín mít, nên ngủ dậy lỗ mũi đen xì Tháng có 50 đồng lương, 21 cân gạo, 6 quả pin, sổ mua dầu hỏa, đài Orionton chạy ắc quy Ngày lên vườn máy vào
7, 13 và 19 giờ đo nhiệt độ khô – ướt – cao – thấp, độ ẩm, bốc hơi… ghi sổ, xuống tính toán rồi chuyển về đài mẹ Gió rùng rợn, dây trên vườn hú ầm ầm, ra rừng nằm trên thảm lá mới khỏi lộng óc Mùa đông tuyết rơi vài tấc Cô tịch nhất là lúc hết mặt trời, không thấy khói bếp dưới bản, vặn đài thật to rồi hát theo Nghiện thuốc lào từ đấy”
- “Ăn thì khỏe kinh khủng, vì cứ đói là rét không chịu được Tháng ba chục cân gạo
dễ cũng hết Được cái bộ đội, lái xe chơi thân, lỡ độ đường ngủ lại, rồi thịt thà cá khô đem cho Chả tủ lạnh gì cả, trời rét không ôi thiu, với lại mình chén hết ngay Món đặc sản nhất là quả táo Mèo xanh thái ra rang với mắm tôm, nhưng ăn nhiều quá táo bón Cho nên trồng rau nhiều, cải xanh cải xoong, kiếm nấm tai chuột cho mát ruột Chả trồng hoa đâu, như anh chàng trong truyện ông Long thì lãng mạn quá Nói không ngoa, phải ăn tạp uống tạp sống tạp mới trụ nổi trên đèo Thuốc phiện thử ba điếu về như nằm trong cối bọ chó, không dám chơi nữa, giờ thấy là may Thịt hổ ăn rồi, xào su hào rất ngọt Nhưng râu nó độc, chọc vào da mưng mủ ngay Mật gấu mật ong để chậu cứ ra miếng vào miếng, nó phát ra đêm ra suối vật
đá, sau người lở lói phải trần truồng nằm lá chuối Sợ nhất là trời khô, độ ẩm còn 7% xì mũi ra máu cam”
- “Chơi với dân Mông rất có tình Hạng A Giang, già bản San Sả Hồ vác củi sụn
sương sống, bò lên lán, tôi bó thuốc cho, ông ấy cho con trai Hạng A Páo lên trồng cho cả nương xuyên khung củ bằng cái ấm Xe tải chở muối, tôi bòn chỗ sót trộn vôi thành đá muối đem rải, nai hoẵng ra liếm thợ săn tha hồ bẫy, thịt cài lại trên cửa cho mình Chó săn cắn chết khỉ của mình, ai biết đấy là đâu, họ cho con khác”
- “Cả đời một mình trên núi, không lọ mọ không được “Đầu quy phá máu”, tôi đem
câu ấy của ông ngoại dạy đàn bà đẻ tống máu độc ra ngoài Thuốc phiện cũng làm sạch khí huyết, rong kinh Được cô người Dao nhận làm bố nuôi vì chữa rắn độc cắn; nhưng giờ thì sợ rồi, không khỏi nhỡ phải kiện tụng Đọc sự tích đền Bà Vôi trên báo Thiếu niên tiền phong, tôi bắt chiếc lấy vỏ cây gạo băm ra, đái vào đấy, gói
lá dong đắp cho bà người Thái bản Cang, ba lần thì đạp xe được”
Trang 9- “Làm khí tượng thì phải tỉ mỉ, đúng bài bản, quy trình học Nhưng lắm kinh
nghiệm dân gian nên theo Đận kiến bống tha đất be tổ, ong không bay xa kiếm mật, tôi đoán gió to về, báo cho nông trường Than Uyên huy động người gặt đêm, khỏi mất vụ Những xe lên đèo hỏng tôi ghé vào cho lái sai, sửa được “pan” điện “pan” xăng với cả thay lốp vá săm Cái nghề chọc ngoáy đồ điện bây giờ từ hồi ấy mà ra Hàng xóm buôn sắt vụn, tôi sang bòn ốc vít dây rợ trở tụ về chữa đài đóm, nổi cơm điện, ti vi, quạt Nhưng nhà bừa bộn, vợ ngứa mắt lắm”
- *
- Những chuyện củ tỷ của một thời, một đời cứ bò ra rì rà rì rẩm, nào ngày ấy rừng
rậm thú nhiều, nào mồng một Tết xẻ ván chôn thằng thợ xẻ Nó cho thấy lao động, sức tưởng của nhà văn gia giảm so với thực tế thật gớm ghê Sang đoạn gia cảnh thì trầm hẳn
- “Đã ăn hỏi một người đồng hương, tôi lại “vấp” phải cô bưu điện Sa Pa chửa ra đấy
Lấy nhau rồi, luôn xa nhà, mỗi lần về lợn cợn gì bỏ qua hết Nhưng sau 35 năm chung sống với bốn mặt con thì càng ngày càng thấy quá tệ Trong nhà chưa tỏ ngoài ngõ đã thông, đề đóm chửi rủa đủ cả, chả như đàn bà Thái khác Không chịu nổi Cãi nhau Đòi li dị, người ta sang hòa giải bà ấy xách túi bỏ đi, ông kia bảo “thế thì níu kéo làm gì!” Rồi về Than Uyên cạp lại với bà bây giờ, là Phạm Thị Đường Được chăm chút, nấu miếng ăn hợp bộ nhai yếu, gắp cho thứ mình thích, tuổi tác dựa vào nhau thế Có chuyện tình cờ ở đây… Mấy chục năm trước ông cụ nọ từ xuôi lên thăm con gái, địa chỉ là “Xê hai ba” bên Than Uyên nghe nhầm thành “lên
Sa Pa”, đến đỉnh đèo thì cái ăn chả còn gì, mới vào trạm nhờ Hôm sau đi tôi đùm cơm nắm, măng với muối rang đem theo, ơn lắm Lấy bà Đường rồi, tôi theo về nhà thấy ảnh ông cụ năm nào trên bàn thờ, hóa ra là bố bà ấy, đận gặp mình là thăm con gái, đi lạc”
- - Giờ có điều kiện bác có quay về quê Hà Nam ở không? – Tôi hỏi ông Sử
- - “Phú quý quy cố hương”, tôi nằm lòng câu ấy Giầu có mới nên về quê Nếp quê
bìu ríu ấm áp thật, nhưng thăm nhà này quà nhà nọ cũng vướng víu Mình không phú quý, lại quen ở phố huyện nó tự do hơn rồi, chả về ở được Nhưng Tết ra hay về thắp hương các cụ dăm ngày lại lên
- “Có miếng đất xa chợ, vợ chồng đều muốn làm nếp nhà về ở, nhà sàn càng tốt, chỉ
Trang 10sợ không có gỗ Đỡ ồn ào lắm, sáng dậy được hít cái thơm tho trong trời đất…”, ông Sử bảo Đoạn này thì có thể rất giống không khí trong truyện ngắn trên kia Cái nếp cô tịch hằn vào người đã sâu quá lâu quá, thế chăng? Hay là vì tuổi tác?
- Lê Văn Sử đã đóng những Sơn La, Mù Cang Chải, Sa Pa, Than Uyên…, thế là
giang hồ bạt thiệp khắp một Tây Bắc hữu hình rồi Lại vào cõi “vô hình”, được nhà văn Nguyễn Thành Long tạc thành nhân vật trong truyện ngắn bất hủ “Lặng lẽ Sa Pa”, tức là ông – và cả ông Nguyễn Xuân Tỵ – sẽ sống lâu hơn, nhiều cuộc đời hơn rất nhiều so với những núi non sông suối con người khác của Tây Bắc, vốn đang biến dạng kinh khủng Văn học có ý nghĩa ở chỗ ấy, định hình nên những cột mốc trong khi thời đại cứ vật đổi sao giời
- Nghĩ đến đây thì lại phọt ra câu “Thế bao giờ thì mình mới gặp nguyên mẫu của
mình, tạc được thành nhân vật của mình?” Giời ạ…
- Tháng 2 – 2012
-
- Thế nào là hạnh phúc? Làm thế nào để diễn tả một cách chân thực và giản dị cảm
nhận về hạnh phúc? Làm thế nào để lột hiện được chân dung một con người đang hạnh phúc? Và nữa, nếu nhà văn đã chỉ ra một cách đúng đắn hạnh phúc là gì và một con người đang hạnh phúc là như thế nào thì điều gì sẽ là mấu chốt kêu gọi sự đồng cảm của biết bao người đọc? Một nét thôi, Nguyễn Thành Long đã khẳng định như vậy, như trong một bức kí họa, người họa sĩ phải có được một họa tiết làm bật lên nét hồn cốt của nhân vật, để khi nhìn vào bức họa đó, người khác phải nảy sinh những suy nghĩ về anh ta và cảm nhận được những điều anh ta suy nghĩ Nếu anh ta đang hạnh phúc, thì theo đó, tác phẩm phải gieo vào lòng người đọc ấn tượng đẹp
đẽ, niềm vui ấm áp và tin yêu vào cuộc sống xuất phát từ cội nguồn cảm xúc và lý tưởng sống của anh ta Một tác phẩm làm được trọn vẹn điều này như Lặng lẽ Sa Pa
là vô cùng hiếm Bởi trong tác phẩm, không chỉ có một hai nhân vật chính có niềm yêu sống mà tất cả mọi người đều là những người yêu sống Bởi không chỉ niềm yêu sống ấy vút lên trong những khát vọng cao vợi mà nó lan tỏa khắp nơi trong cuộc sống bình dị hàng ngày Nguyễn Thành Long đã hòa lòng mình trong từng rung động ấy, để trái tim rung lên với niềm hạnh phúc nơi này, lặng lẽ nhưng tràn