1. Trang chủ
  2. » Giáo án - Bài giảng

Tổng quan chung Phân tích tác phẩm Đồng chí

31 12 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 31
Dung lượng 400,08 KB
File đính kèm ĐỒNG CHÍ.pdf.zip (370 KB)

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

ĐỒNG CHÍ 1. Tác giả Vừa là một chiến sĩ, vừa là một nhà thơ quân đội trưởng thành trong kháng chiến chống Pháp. Đề tài chiến tranh và người lính. Thơ Chính Hữu cảm xúc dồn nén, cách sử dụng từ ngữ mộc mạc, chân thành mà giàu giá trị gợi cảm. 2. Tác phẩm Hoàn cảnh ra đời: bài thơ được viết năm 1948, sau khi tác giả cùng đồng đội mình tham gia chiến dịch Việt Bắc thu đông 1947. Bài thơ là khúc hát tâm tình ngợi ca tình đồng đội đẹp đẽ thiêng liêng của những người lính cụ Hồ những buổi đầu kháng Pháp. Nghệ thuật Thể thơ tự do với những câu thơ dài ngắn đan xen giúp nhà thơ diễn tả hiện thực và bộc lộ tâm trạng một cách chân thật. Hình ảnh thơ cụ thể, xác định mà giàu sức khái quát. Ngôn ngữ thơ hàm súc, cô đọng mà giàu sức biểu cảm. 3. PHÂN TÍCH BÀI THƠ A. Cơ sở gắn kết tình đồng chí “Quê hương anh nước mặn, đồng chua Làng tôi nghèo đất cày lên sỏi đá. Anh với tôi đôi người xa lạ Tự phương trời chẳng hẹn quen nhau, Súng bên súng, đầu sát bên đầu, Đêm rét chung chăn thành đôi tri kỉ, Đồng chí” Xa nhau về địa lý, vị trí không gian (yếu tố đầu tiên) → Dễ dàng cảm thông, chia sẻ với nhau vì tương đồng cảnh ngộ. “Nước mặn đồng chua” là thành ngữ giàu giá trị gợi cảm. Vùng đồng bằng duyên hải miền Trung ngập úng, nhiễm mặn, nhiễm phèn. “Đất cày lên sỏi đá” là trung du vùng miền núi khắc nghiệt, khô cằn. → Chung hoàn cảnh xuất thân, giai cấp. “Anh với tôi đôi người xa lạ Tự phương trời chẳng hẹn quen nhau” → Âm điệu thơ nhẹ nhàng, tự sự; không người thân, nghe theo tiếng gọi thiêng liêng của Tổ quốc (chung lý tưởng), cùng nhau lên đường, chiến trường → nơi hội tụ những tấm lòng yêu nước. → Quá trình đến với nhau từ miền đất lạ. Chung nhiệm vụ, chung lý tưởng “Súng bên súng, đầu sát bên đầu Đêm rét chung chăn thành đôi tri kỉ” “Súng”: ẩn dụ→ nhiệm vụ của người lính đánh đuổi quân thù. “Đầu”: ẩn dụ→ mục đích, lý tưởng cao đẹp “quyết tử cho Tổ quốc quyết sinh” → Cấu trúc thơ sóng đôi, khẳng định điểm gắn kết thứ 3. → Bao gồm nhiều cơ sở, điểm tương đồng → dễ dàng đến với nhau trở thành tri kỉ.

Trang 1

ĐỒNG CHÍ

1 Tác giả

- Vừa là một chiến sĩ, vừa là một nhà thơ quân đội trưởng thành trong kháng chiến chống Pháp

- Đề tài chiến tranh và người lính

- Thơ Chính Hữu cảm xúc dồn nén, cách sử dụng từ ngữ mộc mạc, chân thành mà giàu giá trị gợi cảm

- Hình ảnh thơ cụ thể, xác định mà giàu sức khái quát

- Ngôn ngữ thơ hàm súc, cô đọng mà giàu sức biểu cảm

3 PHÂN TÍCH BÀI THƠ

A Cơ sở gắn kết tình đồng chí

“Quê hương anh nước mặn, đồng chua

Làng tôi nghèo đất cày lên sỏi đá

Anh với tôi đôi người xa lạ

Tự phương trời chẳng hẹn quen nhau,

Trang 2

Súng bên súng, đầu sát bên đầu,

Đêm rét chung chăn thành đôi tri kỉ,

- “Đất cày lên sỏi đá” là trung du vùng miền núi khắc nghiệt, khô cằn

→ Chung hoàn cảnh xuất thân, giai cấp

“Anh với tôi đôi người xa lạ

Tự phương trời chẳng hẹn quen nhau”

→ Âm điệu thơ nhẹ nhàng, tự sự; không người thân, nghe theo tiếng gọi thiêng liêng của

Tổ quốc (chung lý tưởng), cùng nhau lên đường, chiến trường → nơi hội tụ những tấm lòng yêu nước

→ Quá trình đến với nhau từ miền đất lạ

* Chung nhiệm vụ, chung lý tưởng

“Súng bên súng, đầu sát bên đầu

Đêm rét chung chăn thành đôi tri kỉ”

- “Súng”: ẩn dụ→ nhiệm vụ của người lính đánh đuổi quân thù

- “Đầu”: ẩn dụ→ mục đích, lý tưởng cao đẹp “quyết tử cho Tổ quốc quyết sinh”

→ Cấu trúc thơ sóng đôi, khẳng định điểm gắn kết thứ 3

→ Bao gồm nhiều cơ sở, điểm tương đồng → dễ dàng đến với nhau trở thành tri kỉ

Trang 3

* ĐỒNG CHÍ!: Kết tinh hoàn chỉnh của tình đồng chí

- Câu thơ đặc biệt + dấu chấm than

→ Khiến câu thơ như vang lên, như tiếng gọi thân thương của người lính Đủ tròn trịa, hoàn chỉnh → Kết tinh thành tình người dựa trên cơ sở là tình bạn, tình người, tình đồng chí

B Biểu hiện của tình đồng chí

“Ruộng nương anh gửi bạn thân cày

Gian nhà không, mặc kệ gió lung lay

Giếng nước gốc đa nhớ người ra lính

Anh với tôi biết từng cơn ớn lạnh

Sốt run người vừng trán ướt mồ hôi

Áo anh rách vai

Quần tôi có vài mảnh vá

Miệng cười buốt giá

Chân không giày

Thương nhau tay nắm lấy bàn tay.”

- Sẻ chia những nỗi niềm riêng tư về gia cảnh, nỗi nhớ da diết về quê hương

“Ruộng nương anh gửi bạn thân cày

Gian nhà không mặc kệ gió lung lay”

→ Hình ảnh lựa chọn mang ý nghĩa độc đáo Ruộng nương là tài sản duy nhất, gắn bó của người nông dân, người lính đã dứt bỏ mọi thứ như bạn thân để lên đường chiến đấu Tâm sự với bạn trong hoàn cảnh bâng khuâng, thương nhớ

Trang 4

- “Mặc kệ” → mạnh mẽ, quyết tâm tha hương để lên đường chiến đấu

(tha thương: rời xa quê hương)

“Giếng nước gốc đa nhớ người ra lính”

→ “Nhớ”: ẩn dụ + nhân hóa: diễn tả tinh tế nỗi nhớ, lưu luyến của người ra lính về quê nhà

→ Thể hiện nỗi nhớ nhung nhưng người đọc cảm nhận được nỗi nhớ xuất phát từ 2 phía chân trời

“Anh với tôi biết từng cơn ớn lạnh

Sốt run người vừng trán ướt mồ hôi

Áo anh rách vai

Quần tôi có vài mảnh vá

Miệng cười buốt giá

Chân không giày”

- Hình ảnh liệt kê hàng loạt: áo rách, quần vá, chân không giày là những hình ảnh tả thực;

cụ thể hơn, hiện hóa những gian khổ mà người lính đang đối diện Cơn sốt rét rừng dữ dội,

sự thiếu thốn về quân trang, quân dụng, sự khắc nghiệt của núi rừng Việt Bắc Động từ

“biết”: sự sẻ chia, cùng trải qua những thứ trong gian lao

- “Mồ hôi”: không nhằm mục đích kể khổ mà đang ngợi ca tinh thần lạc quan, tình cảm đẹp đẽ của những người lính

→ Sẻ chia gian lao khó khăn của cuộc sống người lính

- “Miệng cười buốt giá” → cười để tạo động lực tiếp tục chiến đấu → Bừng sáng niềm yêu đời thiết tha, lạc quan, tạo động lực mạnh mẽ giúp các anh vững vàng tay súng

“Thương nhau tay nắm lấy bàn tay.” (lòng nhân ái)

Trang 5

- Hình ảnh tả thực nhưng gợi tình, gợi tả

- Người lính truyền cho nhau hơi ấm tình người qua cái bắt tay đầy mộc mạc, đơn sơ nhưng chứa chan nhiều cảm xúc → giữa cái khắc nghiệt, khốc liệt của chiến trường, cái tàn khốc của chiến tranh tưởng chừng như đứng giữa chết chóc mà người lính vẫn giữ được cái tình thương vốn có của người lính cụ Hồ

- Chính tình đồng chí giúp họ vượt qua bao gian lao, khó khăn cùng cực để chống lại kẻ thù bảo vệ Tổ quốc

- Tác giả đã thể hiện 1 cách kín đáo, ý nhị (ý tứ, tế nhị) và sâu sắc tình cảm của người lính

về nơi chôn rau cắt rốn Vì tình yêu quê hương → nhân rộng ra tình yêu Tổ quốc → động lực

C Chất thơ trong cuộc sống

“Đêm nay rừng hoang sương muối

Đứng cạnh bên nhau chờ giặc tới

Đầu súng trăng treo”

* Nhiệm vụ và hoàn cảnh chiến đấu của người lính

“Đêm nay rừng hoang sương muối.”

- Bức tranh tả thực không gian, diễn tả hoàn cảnh chiến đấu của người lính

- Ban đêm, sự nguy hiểm từ thiên nhiên, động vật hoang dã, thú dữ, sự thiếu thốn trăm bể Sương muối là thời tiết buổi giá của rừng Việt Bắc

→ Không chết vì bom đạn mà chết vì thời tiết khắc nghiệt, sự khắc nghiệt của thời thiên nhiên

“Đứng canh bên nhau chờ giặc tới”

- Trong cái khắc nghiệt đó nhưng họ vẫn đứng bên nhau trong tư thế sẵn sàng

Trang 6

→ Tình đồng chí được tôi luyện trong thử thách, trong gian lao + Bình thản hơn trước cái khắc nghiệt của thực tại

+ Đồng hành cùng nhau để làm mờ đi cái ác liệt của chiến tranh

+ Lãng mạn trong môi trường, tạo sự vững chãi → tiếp tục chiến đấu

“Đầu súng trăng treo”

- Sự kết thúc tròn trịa, là điểm sáng cho toàn bài thơ, tạo bức tranh tuyệt đẹp nhưng ám ảnh người đọc

- Hai hình ảnh đối lập hoàn toàn cùng xuất hiện trong một câu thơ

+ Súng:

+ Biểu tượng cho chất chiến sĩ phải có trong người lính

+ Biểu tượng cho chiến tranh, đấu tranh quyết liệt của người lính

+ Biểu tượng cho nhiệm vụ của người lính

+ Trăng:

+ Biểu tượng cho chất thi sĩ mà mỗi người bộ đội cụ Hồ đều có

+ Tây tiến - Quang Dũng

“Sông Mã xa rồi Tây Tiến ơi Nhớ về rừng núi nhớ chơi vơi Xài Khao sương lấp đàn quân mỏi Mường Lát hoa về trong đêm hơi.”

(Tố Hữu - Việt Bắc) + Biểu tượng cho sự bình yên, mục tiêu của người lính (lý tưởng) đã chiến đấu → Cái lãng mạn trữ tình và hiện tượng khắc nghiệt lại quyệt vào nhau làm nên khung cảnh tuyệt đẹp

Trang 7

giữa núi rừng hoang vu Tuy đối lập nhưng là 1 sự hòa hợp đặc sắc, tinh tế Sự lan tỏa nhẹ nhàng, sự an ủi cho tâm hồn người lính trẻ, động lực, giấc mơ mà người lính mơ ước

* Tài liệu tham khảo

“Chín năm làm một Điện Biên Nên vành hoa đỏ, nên Thiên sử vàng”

(Tố Hữu - Hoan hô chiến sĩ Điện Biên)

“Đồng đội ta

Là hớp nước uống chung,

Nắm cơm bẻ nửa

Là chia nhau một trưa nắng, một chiều mưa

Chia khắp anh em một mẩu tin nhà

Chia nhau đứng trong chiến hào chật hẹp

Chia nhau nụ cười, chia nhau cái chết”

(Giá từng thước đất - Chính Hữu + Nguyễn Đình Đắc)

“Người ra đi đầu không ngoảnh lại Sau lưng thềm nắng lá rơi đầy”

(Đất nước - Nguyễn Đình Thi)

“Giọt giọt mồ hôi rơi

Trên má anh vàng nghệ

Anh vệ quốc quân ơi

Sao mà yêu anh thế”

(Cá nước - Tố Hữu)

Trang 8

“Tây Tiến đoàn quân không mọc tóc

Quân xanh màu xanh lá dữ oai hùm”

(Tây Tiến - Quang Dũng)

Dẫn chứng

Hoàng Trung Thông- bài ca vỡ đất

“Chúng ta đoàn áo vải

Sống cuộc đời rừng núi bấy nay

Ðồng xanh ta thiếu đất cày

Nghe rừng lắm đất lên đây với rừng

Tháng ngày ta góp sức chung

Vun từng luống đất cuốc từng gốc cây.”

“Máu ai nhuộm thắm sao vàng

Mồ hôi ta đổ xuống hàng rau tươi

Rừng xanh xanh cả máu người

Còn màu lúa tốt còn tươi áo chàm.”

Bao giờ trở lại ( Tố Hữu - Việt Bắc)

“Bấm tay tính buổi anh đi

Mẹ thường vẫn nhắc: biết khi nào về?

Lúa xanh xanh ngắt chân đê

Anh đi là để giữ quê quán mình

Cây đa, bến nước, sân đình

Trang 9

Lời thề nhớ buổi mít tinh lên đường.”

Giá từng thước đất - Chính Hữu + Nguyễn Đình Đắc

“Năm mươi sáu ngày đêm bom gầm pháo giội,

Ta mới hiểu thế nào là đồng đội

Đồng đội ta

là hớp nước uống chung

Nắm cơm xẻ nửa

Là chia nhau một trưa nắng, một chiều mưa

Chia khắp anh em một mẩu tin nhà

Chia nhau đứng trong chiến hào chật hẹp

Chia nhau cuộc đời, chia nhau cái chết.”

Cá nước - Tố Hữu

“Giọt giọt mồ hôi rơi

Trên má anh vàng nghệ

Anh vệ quốc quân ơi

Sao mà yêu anh thế!”

Trang 10

1.1.Từ sự tác động của bối cảnh lịch sử xã hội mới, văn hóa mới…

Cách mạng tháng Tám năm 1945 không chỉ là

một bước ngoặt trong lịch sử, mà còn mở ra một thời đại văn học mới của dân tộc

Ba mươi năm văn học từ 1945 đến 1975 là kết quả, công sức sáng tạo lớn lao và phong phú của các thế hệ nhà văn, của cả dân tộc ta, đồng hành với sự nghiệp dựng xây, bảo vệ và phát triển chế độ XHCN Như một quy luật, văn học luôn gắn liền với cuộc sống và có ích cho đời Dưới sự lãnh đạo của Đảng, văn học ngày càng có vị trí rộng lớn và sâu xa trong đời sống xã hội, nhà văn ngày càng thấy rõ hơn trách nhiệm sáng tạo cao cả của mình Vì mục tiêu Độc lập, Tự do và CHXH,

sự nghiệp cách mạng vô cùng to lớn của Đảng, của toàn dân tộc đã dành cho văn học nghệ thuật một vai trò quan trọng “ Văn hóa nghệ thuật là một mặt trận Anh chị em là chiến sĩ trên mặt trận ấy” Bắt nhạy với yêu cầu của thời đại, các nhà văn đã tìm thấy con đường vươn tới lý tưởng Chân, Thiện, Mĩ của con người và nghệ thuật trong sự gắn bó với Cách mạng và kháng chiến Hiện thực cách mạng nóng hổi và “sắt lửa mặt trận” đã tạo nguồn cảm hứng sáng tác cho biết bao nhà văn, thổi bùng lên ngọn lửa trong tâm hồn họ Chính những nhận thức mới về vai trò, vị trí của văn nghệ, về trách nhiệm của nhà văn trong đời sống đã có ý nghĩa rất quan trọng trong ý thức nghệ thuật của văn học 1945 – 1975 Vì thế, những định hướng miêu tả con người của nền văn học mới đã được xác lập và phát triển Song song với sự trưởng thành của cả nền văn học là trưởng thành về ý thức nghệ thuật của lớp lớp nhà văn nghệ sĩ Đường lối văn nghệ luôn bám sát sự phát triển của cuộc sống và văn học, giữ vai trò chỉ đạo và định hướng, tạo điều kiện để mỗi nghệ sĩ có thể phát huy tài năng của mình để đóng góp vào sự nghiệp chung Quan niệm nghệ thuật về con người vì lẽ đó cũng gắn chặt với nhiệm vụ và chức năng của văn học, về mối quan hệ giữa văn học và đời sống, về tính giai cấp, tính dân tộc của văn học Vì thế, vấn đề quan niệm về con người đã được trực diện nêu

ra như một trọng điểm trong ý thức nghệ thuật của người nghệ sĩ, của nền văn học mới

1.2 …đến những quan niệm nghệ thuật về con người trong văn học 1945 - 1975

Trang 11

Trong quá trình phát triển từ sau Cách mạng tháng Tám, quan niệm nghệ thuật

về con người trong ý thức của nhà văn ngày càng phong phú và tăng cường khả năng cảm thụ, miêu tả cuộc sống và con người Những tìm tòi, sáng tạo của mỗi tác giả là vô cùng đáng quý và cần thiết nhưng chỗ dựa của họ vẫn là sự lãnh đạo của Đảng Đảng đã trang bị cho đội ngũ nhà văn một phương pháp suy nghĩ, một cách nhìn mà họ vừa có thể hòa nhập vào vừa có thể tách ra để nhìn nhận, suy nghĩ và thấu hiểu Có thể thấy, quan niệm về nhân sinh, cách hiểu và hình dung về con người, phương hướng đi sâu vào cuộc sống để khám phá con người trong ý thức nghệ thuật của giai đoạn 1945 – 1975 biểu hiện trên các khía cạnh sau:

- Nếu con người lý tưởng của văn học trung đại chủ yếu là những kẻ sĩ, những tài tử giai nhân; nếu văn học 1930 – 1945 chú ý đến những thanh niên trí thức hoặc hướng về tìm hiểu số phận, phẩm chất của những con người bé mọn thì trong giai đoạn 1945 – 1975, thực tế cách mạng đã mang lại cho người cầm bút những định hướng mới về quan niệm con người Đối tượng thẩm mĩ chính của văn học giai đoạn 1945 – 1975 là con người quần chúng cách mạng Vì thế, quan niệm con người trong ý thức nghệ thuật giai đoạn này được xây dựng trên sở quan niệm

về con người cách mạng, về quần chúng cách mạng Chính vai trò của quần chúng nhân dân trong cách mạng xã hội, trong thực tiễn lịch sử dựng nước và giữ nước của dân tộc là nền tảng, là cơ sở nảy sinh ý thức cho quan niệm con người quần chúng của nền văn học mới Trong suy nghĩ của người cầm bút, quần chúng nhân dân như một tập thể, như những con người cụ thể ngày càng phát triển phong phú

và toàn diện hơn, trở thành nhân vật chính của văn nghệ Từ đây, con người cao đẹp mà văn học hướng tới miêu tả là con người quần chúng cách mạng, là con người của cộng đồng dân tộc trong nhiệm vụ cách mạng với các phẩm chất cách mạng của mình Cái đẹp, cái cao quý của con người mà nền văn học mới tìm tòi, phát hiện, xây dựng, cổ vũ là thuộc về những con người xuất hiện, trưởng thành cùng sự nghiệp cách mạng và kháng chiến, xây dựng CNXH và chống Mỹ cứu nước của toàn dân ta

Trang 12

- Vẻ đẹp thẩm mĩ của con người được nhìn nhận và thể hiện trong ý thức và hành động hướng về cách mạng, về nhiệm vụ bảo vệ và xây dựng Tổ Quốc Vẻ đẹp ấy trước hết được biểu hiện ở sự giác ngộ và tự nguyện gánh lấy những sứ mạng xã hội, sứ mạng cách mạng của con người, ở những nỗ lực, cố gắng cải biến thiên nhiên, cải biến xã hội và bản thân vì hạnh phúc của nhân dân Vẻ đẹp của nhân vật văn học phải gắn liền với tinh thần anh dũng, chí căm thù, xả thân vì dân tộc, quên mình vì lý tưởng So với văn học công khai trước cách mạng, quan niệm

về vẻ đẹp của con người quần chúng là biểu hiện mới của ý thức nghệ thuật 1945 – 1975 Nhìn nhận con người trong sự gắn bó với lí tưởng xã hội tốt đẹp, với lực lượng cộng đồng với ý thức tự giác thực hiện các nhiệm vụ cách mạng, văn học đã xây dựng được các nhân vật khỏe khoắn, phơi phới trong cái giản dị rất đời

thường của con người, kế thừa được những thành tựu khám phá và thể hiện sức mạnh của con người lao động, con người yêu nước chống ngoại xâm, con người yêu tự do, chống áp bức bóc lột trong văn học truyền thống, mở rộng và khơi sâu

vẻ đẹp sức mạnh của con người đến những tầm cao mới của dân tộc và thời đại, mang lại sức hấp dẫn và có tác dụng giáo dục mạnh mẽ cho văn học

Như vậy, với quan niệm về vẻ đẹp của con người gắn với ý thức về sứ mạng và lí tưởng cách mạng, với sức mạnh và hành động cải tạo và dựng xây cuộc sống của dân tộc ngày càng tốt đẹp, với tinh thần thời đại, văn học 1945 – 1975 đã thực sự đổi mới ý thức nghệ thuật từ trong quan niệm con người Trên cơ sở quan niệm về con người ấy, các nhà văn đã sáng tạo ra những hình tượng điển hình, sống động, khắc họa chân dung và vẻ đẹp tinh thần của con người Việt Nam trong một chặng đường lịch sử sáng chói chiến công của dân tộc Tất cả những điều đó được minh chứng rõ nét qua các thể loại tiểu thuyết, truyện ngắn, thơ ca – các thể loại đạt được những thành tựu đáng kể của giai đoạn văn học này

2 Sự thể hiện quan niệm nghệ thuật về con người thể hiện ở phương diện nội dung trong văn học 1945 - 1975

2.1 Con người sử thi và những dạng thức biểu hiện

Trang 13

Trong ý thức nghệ thuật của nền văn nghệ mới, con người được chú ý khám phá thể hiện trước hết ở các phẩm chất anh hùng cao đẹp với thái độ ngợi ca, biểu dương như những tấm gương ngời sáng Cách nhìn nhận đánh giá ấy đã gắn liền văn học với cảm hứng sử thi và con người trong văn xuôi 1945 – 1975 cũng chủ yếu được miêu tả từ quan niệm sử thi về con người như thế

2.1.1 Con người sống đời sống cộng đồng của dân tộc và cách mạng

Từ cuộc phục sinh của tâm hồn dân tộc trong lòng mỗi người dân và mỗi nghệ

sĩ sau Cách mạng tháng Tám, từ những phẩm chất tốt đẹp của các tầng lớp nhân dân trong hai cuộc kháng chiến chống Pháp và chống Mĩ, trong sự nghiệp cải tạo

và xây dựng đất nước ngày càng đổi mới, các tác giả văn xuôi 1945 – 1975 đã khắc họa nổi bật hình ảnh những thế hệ người Việt Nam sống hết mình với sự nghiệp chung của cộng đồng Ở loại hình nhân vật này, đời sống chung của dân tộc và cách mạng được cảm nhận như đời sống riêng của con người Nhân vật như không hề có cảm giác về riêng bản thân mình, không có cá tính, không nhu cầu, đòi hỏi Nhân vật phát ngôn như đại diện cho ý thức của cả một lớp người, hoặc hòa tan vào tập thể, bình đẳng với mọi người trong những hoạt động vì nghĩa lớn,

vì lí tưởng chung Xuất hiện trong các tác phẩm văn xuôi viết về đêm trước của cuộc Cách mạng là kiểu nhân vật sống cuộc đời lầm than đói nghèo của nhân dân,

họ cất tiếng nói phê phán chế độ thực dân, phát xít, đòi quyền sống Thảm họa đói năm 1945 trong đời sống dân tộc cũng được ghi đậm trong Vợ nhặt (Kim Lân), Lột xác (Nguyễn Tuân) …Anh Tràng có thể khác người ở việc lấy vợ trong hoàn cảnh trời đất tăm tối vì đói khát nhưng cả câu chuyện ấy cũng tồn tại trong khung cảnh nghèo đói chung của không chỉ xóm ngụ cư mà của cả bao vùng miền đất nước Nhân vật Thị không giống muôn người phụ nữ khác trong cách liều lĩnh theo không một người đàn ông xa lạ về nhà, sẵn sàng gửi phận cho người vừa đãi mình bốn bát bánh đúc và đâu biết hạnh phúc ấy sẽ là dòng trong hay bến đục đợi chờ nhưng câu chuyện đầy éo le của Thị được nảy sinh từ chính cái đói trong thảm họa kinh hoàng của dân tộc năm ấy và số phận bất hạnh đó của Thị chỉ là một trong số ít nhưng điển hình cho bao người phụ nữ khác cũng lăn lóc trong cái chốn

Trang 14

chợ đời ấy Cảnh đời cơ cực ấy cũng giống như nhân vật Xan trong truyện ngắn Buổi chiều xám , nhân vật người ăn mày trong Tiếng nói của Nguyên Hồng Khi cả dân tộc tưng bừng chào đón và một lòng tham gia cách mạng, trong sáng tác của các nhà văn Hoài Thanh, Trần Đăng, Nguyễn Tuân, Nam Cao…xuất hiện mẫu hình mới về con người sống trong những ngày náo nức đó Đó là những cô thôn nữ “ tươi cười trong nón”, nai nịt gọn gàng cứ chiều chiều lại tập múa đại đao trong sân trường (Dân khí miền Trung – Hoài Thanh); đó là những đứa trẻ bán báo, bác hàng rong, anh em thợ thuyền, các bà, các mẹ,… (Một lần tới thủ đô – Trần Đăng) Cùng với phong trào kháng chiến hóa văn hóa, văn hóa hóa kháng chiến, đội ngũ những người viết ngày cảng đông đảo Đề tài về con người kháng chiến ngày cảng mở rộng, đồng thời cách nhìn con người trong cuộc sống cộng đồng ngày càng được khẳng định Hình tượng những đơn vị bộ đội, những cơ quan, những làng quê, những cán bộ, đội viên vệ quốc, những chị cứu thương, em liên lạc, những bà mẹ, người dân ở mọi miền quê, mọi lứa tuổi, mọi hoàn cảnh được nhìn nhận và miêu tả trong những hoạt động “toàn dân kháng chiến, toàn diện kháng chiến”, theo tinh thần “Quyết tử cho Tổ Quốc quyết sinh” Đó là

những người dân vùng căn cứ địa kháng chiến trong tập Núi Cứu Quốc (Tô Hoài) một lòng tin vào cách mạng, ở cụ Hồ, ở cán bộ dù trong hoàn cảnh nào cũng hết lòng đi theo tiếng gọi của sự nghiệp chung Cứ nghe Độ nói về những người dân quê trong Đôi mắt (Nam Cao) chuyện trò: “viết chữ Quốc ngữ sai vần mà lại cứ hay nói chuyện chính trị rối rít cả lên Mở miệng ra là thấy đề nghị, yêu cầu, phê bình, cảnh cáo, thực dân, phát xít… Họ hát Tiến quân ca như người buồn ngủ cầu kinh mà lúc ra trận thì xung phong can đảm lắm” Luôn hướng về kháng chiến, kiến quốc của dân tộc là những dấu hiệu của kiểu nhân vật làm nhiệm vụ chung, nghĩ sự nghiệp chung” rất phổ biến trong văn xuôi kháng chiến

Con người sống trong cuộc sống cộng đồng “vì nghĩa quên thân” đã từng xuất hiện trong văn học dân tộc Nhưng chỉ sau cách mạng, phẩm chất này mới này được ý thức một cách đầy đủ nhất Vẫn là con người của đời sống cộng đồng, nhưng từ sau cách mạng, nhân vật ông Hai làng chợ Dầu (Làng – Kim Lân) đã có

Trang 15

những đổi thay Từ con người của làng quê, ông trở thành con người của kháng chiến, của sự nghiệp chung Sự thay đổi trong tình cảm, trong cách nhìn của ông với ngôi mộ của viên tổng đốc,với phong cảnh trong làng, sự thay đổi trong thái

độ của ông trước và sau khi nghe tin cải chính về làng đã chứng tỏ điều đó Nếp sống của ông, niềm vui, nỗi buồn của ông là những minh chứng sinh động của hình tượng con người toàn tâm, toàn ý trong đời sống kháng chiến chung của dân tộc

Văn xuôi chống Mỹ cũng xây dựng hàng loạt hình tượng những con người sống hết mình cho lý tưởng Độc lập - Tự do Trong truyện ngắn Nguyễn Thi, những người dân, từ những em bé, đến mẹ Nguyễn thị Út (Mẹ vắng nhà) hay Những đứa con trong gia đình đều náo nức tham gia, bận rộn hay vui mừng lo lắng theo diễn biến của trận đánh Khó có thể kể hết các nhân vật luôn hòa mình giữa phong trào, giữa cuộc chiến đấu như Phước (Hoa rừng – Dương Minh Hương), Hựu, Quế (Khói – Anh Đức), Cam (Hai anh em – Phan Tứ), Ông Hai (Truyện bên bờ sông Vàm Cỏ - Lê Văn Thảo)…luôn coi việc tham gia cách mạng, cầm súng đánh giặc giải phóng quê hương, thống nhất đất nước là niềm vui sướng nhất trên đời

Như vậy, trong suốt 30 năm sau Cách mạng tháng Tám, bám sát cuộc sống của nhân dân bảo vệ và xây dựng đất nước, văn học đã sáng tạo nhiều dáng vẻ cụ thể

tô đậm biểu tượng con người sống đời sống cộng đồng, sống với những lo toan, vất vả những vui sướng tự hào chung của Tổ Quốc, nhân dân Những nét vẽ ấy khiến văn học nước ta đã thể hiện kịp thời và bao quát các sự kiện cơ bản của đời sống xã hội, giúp văn học cảm nhận và miêu tả được sự vươn mình trưởng thành của con người dưới ánh sáng cách mạng, cảm nhận và miêu tả nhân cách mới, tầm vóc và sức mạnh mới mẻ, kỳ vĩ chưa từng có của các thế hệ người Việt Nam làm nên những chiến thắng lịch sử suốt hai cuộc kháng chiến chống pháp và chống

Mỹ

Không chỉ xuất hiện ở thể loại văn xuôi, lần đầu tiên trong lịch sử thơ ca Việt Nam, các nhà thơ giai đoạn 1945 – 1975 mang tới một quan niệm nghệ thuật về con người xã hội với một số đông, tạo thành một lực lượng xã hội hùng hậu Họ là

Ngày đăng: 23/03/2022, 15:54

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

w