Học thuyết giá trị thặng dư là một trong những học thuyết quan trọng của học thuyết kinh tế C.Mác, như Lênin đánh giá học thuyết giá trị thặng là hòn đá tảng trong học thuyết kinh tế C.Mác. Trước C.Mác, các nhà kinh tế học tư sản cổ điển chỉ nghiên cứu giá trị thặng dư dưới hình thức cụ thể của nó như sản phẩm thuần tuý, lợi nhuận, địa tô…vì vậy không ai xây dựng thành học thuyết giá trị thặng dư với tư cách là học thuyết hoàn chỉnh. Đến C.Mác trên cơ sở phát triển và hoàn thiện lý luận giá trị cùng với những phát minh khoa học khác, vận dụng vào phân tích nền sản xuất TBCN đã xây dựng thành học thuyết giá trị thặng dư hoàn chỉnh. Cụ thể đã chỉ rõ bản chất nền sản xuất TBCN, nguồn gốc giá trị thặng dư, các phương pháp sản xuất ra giá trị thặng dư và quy luật kinh tế cơ bản chi phối nền sản xuất TBCN…Do vậy khi học thuyết giá trị thặng dư của C.Mác ra đời đã trở thành đối tượng chống phá quyết liệt của giai cấp tư sản và các thế lực thù địch. Ngày nay, CNTB đang tận dụng những thành tựu của khoa học công nghệ hiện đại để điều chỉnh thích nghi, để tồn tại và phát triển. Đòi hỏi phải tiếp tục nghiên cứu học thuyết giá trị thặng dư của C.Mác để chỉ rõ bản chất của CNTB ngày nay, đồng thời đấu tranh bảo vệ và phát triển học thuyết giá trị thặng dư trong điều kiện mới. Đối với nước ta, nghiên cứu và vận dụng những tri thức khoa học của C.Mác trong lý luận giá trị thặng dư để phát triển nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa.
Trang 1MỞ ĐẦU
Học thuyết giá trị thặng dư là một trong những học thuyết quan trọng của học thuyết kinh tế C.Mác, như Lênin đánh giá học thuyết giá trị thặng là hòn đá tảng trong học thuyết kinh tế C.Mác
Trước C.Mác, các nhà kinh tế học tư sản cổ điển chỉ nghiên cứu giá trị thặng dư dưới hình thức cụ thể của nó như sản phẩm thuần tuý, lợi nhuận, địa tô…vì vậy không
ai xây dựng thành học thuyết giá trị thặng dư với tư cách là học thuyết hoàn chỉnh Đến C.Mác trên cơ sở phát triển và hoàn thiện lý luận giá trị cùng với những phát minh khoa học khác, vận dụng vào phân tích nền sản xuất TBCN đã xây dựng thành học thuyết giá trị thặng dư hoàn chỉnh Cụ thể đã chỉ rõ bản chất nền sản xuất TBCN, nguồn gốc giá trị thặng dư, các phương pháp sản xuất ra giá trị thặng dư và quy luật kinh tế cơ bản chi phối nền sản xuất TBCN…Do vậy khi học thuyết giá trị thặng dư của C.Mác ra đời đã trở thành đối tượng chống phá quyết liệt của giai cấp
tư sản và các thế lực thù địch
Ngày nay, CNTB đang tận dụng những thành tựu của khoa học công nghệ hiện đại
để điều chỉnh thích nghi, để tồn tại và phát triển Đòi hỏi phải tiếp tục nghiên cứu học thuyết giá trị thặng dư của C.Mác để chỉ rõ bản chất của CNTB ngày nay, đồng thời đấu tranh bảo vệ và phát triển học thuyết giá trị thặng dư trong điều kiện mới
Đối với nước ta, nghiên cứu và vận dụng những tri thức khoa học của C.Mác trong
lý luận giá trị thặng dư để phát triển nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa
NỘI DUNG
I VỊ TRÍ CỦA LÝ LUẬN GIÁ TRỊ THẶNG DƯ VÀ CUỘC ĐÊU TRANH TƯ TƯỞNG LÝ LUẬN VỀ LÝ LUẬN GIÁ TRỊ THẶNG DƯ
1 Vị trí của lý luận giá trị thặng dư
Lý luận giá trị thặng dư hay học thuyết giá trị thặng là 1 trong 2 phát kiến vĩ đại nhất của c.Mác ( phát kiến 1 là vận dụng chủ nghĩa duy vật lịch sử để xem xét
sự vận động phát triển của xã hội loài người, phát kiến 2 vận dụng lý luận giá trị
Trang 2thặng dư để vạch ra quy luật vận động riêng của phương thức sản xuất TBCN Với
2 phát kiến này Mác đã chứng minh một cách khoa học vai trò sứ mệnh lịch sử của giai cấp công nhân, với tư cách là người xoá bỏ CNTB và xây dựng thành công CNXH và CNCS trên toàn thế giới
- Lý luận giá trị thặng dư là hòn đá tảng của toàn bộ học thuyết kinh tế Mác, được C.Mác trình bày trong bộ “Tư bản”-( Một tác phẩm kinh tế lớn nhất, khái quát nhất và đồ sộ nhất) Trong tác phẩm C.Mác cùng Ph.Ăngghen đã giành phần lớn cuộc đời hoạt động khoa học, lao động không mệt mỏi để xây dựng nên Thông qua tác phẩm cho thấy “Tư bản” không chỉ là một tác phẩm kinh tế chính trị thiên tài, mà còn là một tác phẩm triết học có ý nghĩa phương pháp luận vĩ đại, chỉ rõ lịch sử phát triển của xã hội loài người
- Sự xuất hiện lý luận giá trị thặng dư, lần đầu tiên chỉ rõ bản chất bóc lột tinh
vi và tàn bạo của chủ nghĩa tư bản dưới ánh sáng khoa học Bởi lẽ trong tác phẩm C.Mác đã:
Làm rõ bản chất của nền sản xuất TBCN, dưới cái vỏ bọc thần bí hàng hoá Chứng minh tính chất không thể điều hoà về lợi ích kinh tế giữa giai cấp vô sản
và giai cấp tư sản
Tính chất lịch sử tạm thời trong phương thức sản xuất tư bản chủ nghĩa và vai trò lịch sử của giai cấp vô sản trên toàn thế giới
- Lý luận giá trị thặng dư đã thể hiện sự thống nhất cao độ tính đảng và tính khoa học của kinh tế chính trị mác xít nói riêng và chủ nghĩa Mác nói chung Vì vậy, nó trở thành vũ khí lý luận - tư tưởng sắc bén của giai cấp công nhân và của cả loài người tiến
bộ, trong cuộc đấu tranh chống áp bức, bóc lột, bất công, giải phóng con người và xã hội loài Ngày nay CNTB hiện đại có những biến đổi thích nghi, song giá trị của học thuyết kinh tế vĩ đại này vẫn sống mãi với lịch sử phát triển của nhân loại
2 Cuộc đấu tranh lý luận tư tưởng xoay quanh lý luận giá trị thặng dư
Lý luận giá trị thặng dư đe doạ trực tiếp đến sự tồn vong của chế độ tư bản
Trang 3chủ nghĩa, đồng thời là vũ khí lý luận sắc bén của giai cấp vô sản Bởi vậy, khi lý luận ra đời cho đến nay, giai cấp tư sản cùng các lý luận gia đã tiến hành cuộc đấu tranh quyết liệt nhằm phủ nhận học thuyết của C.Mác, dưới những hình thức, thủ đoạn khác nhau Cụ thể có một số hình thức, thủ đoạn chủ yếu sau:
- Thực hiện tuyên truyền, xuyên tạc lý luận giá trị thặng dư một cách bỉ ổi không dựa trên căn cứ khoa học nào cả
Chẳng hạn có lý lẽ quá cũ khi cho rằng, tư bản không bóc lột công nhân, nó chỉ bóc lột máy móc, không phải lao động sống mà do máy móc tạo ra giá trị và giá trị thặng dư Có những lý lẽ mới lạ khi cho rằng, quy luật giá trị thặng dư chỉ đúng trong thời kỳ kinh tế công nghiệp và không đúng trong thời đại kinh tế tri thức
Thực tế những lý lẽ trên mặc dù được tô màu, tỏ vẻ hấp dẫn, nhưng chúng không bác bỏ được thực tế là máy móc thiết bị không tạo ra giá trị và giá trị thặng
dư mà chỉ chuyển giá trị vào sản phẩm, chỉ có lao động sống mới tạo ra giá trị và giá trị thặng dư Điều này đúng cả trong kinh tế công nghiệp trước đây và cả trong kinh tế tri thức hiện đại, chỉ khác ngày nay hàm lượng chất xám (sự đầu tư trí tuệ của công nhân, trí thức, kỹ sư lập trình, nhà khoa học phát minh, nhà quản lý) chiếm 70, 80, thậm chí 90% giá trị của sản phẩm Do vậy bất cứ lao động nào, lao động giản đơn hay phức tạp khi không được trả công tương xứng với giá trị mà lao động đó bỏ ra (sau khi trừ các khoản chi phí cần thiết, kể cả chi phí đề phòng các rủi ro) trong chủ nghĩa tư bản, đều bị bóc lột giá trị thặng dư
Ngược lại, một số học giả tư sản lại cho rằng, thu nhập của nhà tư bản cao tương ứng với lao động quản lý của họ Sự thực, mặc dù lao động quản lý của họ được trả công, nhưng thu nhập đó không chỉ từ công quản lý, mà chủ yếu từ phần phần lao động thặng dư (lao động trí tuệ) do lao động làm thuê tạo ra, bị nhà tư bản chiếm đoạt
Nếu thu nhập tương ứng với lao động quản lý thì các học giả tư sản không giải thích được, tại sao lao động của một ông Bin Ghết chủ hãng Maicrôxốp có thể tạo
ra tài sản cá nhân lên đến hàng vài chục tỉ USD Tại sao sự phân hoá giàu nghèo
Trang 4trong thế giới toàn cầu hoá lại ngày càng gia tăng, hố ngăn cách giàu nghèo trong
xã hội tư bản ngày càng sâu rộng Tại sao 20% số dân giàu nhất hành tinh chiếm tới 82,7% thu nhập của thế giới Tại sao 20% số dân nghèo nhất chỉ được hưởng 1,4% Tại sao sự cách biệt giữa hai bộ phận dân cư này đã tăng từ 30 lần vào năm 1960 lên 60 lần vào năm 1990 và nó tiếp tục tăng lên
- Dùng là những hình thức tinh vi, xảo quyệt để chống lại học thuyết giá trị thặng dư Biểu hiện, họ đem đối lập giữa tính khoa học với tính cách mạng trong học thuyết kinh tế của Mác, hoặc giả vờ công nhận một số luận điểm, để rồi phản bác lại những luận điểm cơ bản của Mác Ví dụ học giả tư sản cho rằng, học thuyết giá trị thặng dư là một công trình khoa học vĩ đại, nhưng nó chỉ đúng với giai đoạn chủ nghĩa tư bản tự do cạnh tranh và không đúng trong giai đoạn CNTB độc quyền Hoặc học thuyết giá trị thặng dư chỉ có ý nghĩa cách mạng là vạch trần bản chất bóc lột của xã hội tư bản, chứ không có giá trị về mặt khoa học …V.I.Lê nin gọi những cách chống Mác theo kiểu này là “giả vờ ôm hôn chủ nghĩa Mác để bóp chết chủ nghĩa Mác” Trong điều kiện đó những người mác xít chân chính, tiêu biểu là V.I.Lênin đã tiến hành một cuộc đấu tranh không khoan nhượng, nhằm bảo vệ và phát triển chủ nghĩa Mác nói chung và học thuyết giá trị thặng dư nói riêng Ngày nay thế giới đang có những biến động hết sức phức tạp, càng đòi hỏi những người công sản chân chính cần phải tiếp tục đấu tranh bảo vệ và phát triển học thuyết Mác, để nó mãi mãi là vũ khí lý luận của giai cấp công nhân trong cuộc đấu tranh chống áp bức bóc lột vì sự công bằng và tiến bộ của xã hội loài người
II NỘI DUNG CƠ BẢN CỦA LÝ LUẬN GIÁ TRỊ THẶNG DƯ
1 Những khám phá khoa học quan trọng của C.Mác được vận dụng để phân tích bản chất nền sản xuất tư bản chủ nghĩa
Bóc lột tư bản chủ nghĩa là hình thức bóc lột cuối cùng trong lịch sử loài người, nó hết sức tinh vi, tàn bạo và được che dấu dưới nhiều hình thức
Trang 5Trước C.Mác, nhiều nhà kinh tế tư sản cũng đã nhận thấy xã hội tư bản là một xã hội áp bức bóc lột, bất công Ví dụ chủ nghĩa xã hội không tưởng như Sphu-ri-e, Xanh-xi-mông, Rôbe Oen đã phê phán gay gắt tính chất bóc lột, vô chính phủ và sự phân hoá giàu nghèo trong xã hội tư bản, đồng thời chỉ rõ nguồn gốc áp bức, bóc lột, bất công, tội ác và những khuyết tật của nền sản xuất là chế độ tư hữu TBCN về tư liệu sản xuất
Theo họ phương thức sản xuất CNTB chỉ tồn tại trong một giai đoạn lịch sử nhất định, từ đó kêu gọi mọi người xây dựng một phương thức sản xuất mới, công bằng, bình đẳng, không có áp bức bóc lột, tiến bộ hơn phương thức sản xuất TBCN Song do hạn chế về lập trường giai cấp, chưa biết đến tinh chất 2 mặt của lao động nên chưa chỉ ra bản chất của kiểu bóc lột này
C.Mác là người đầu tiên trong lịch sử vừa đứng vững trên lập trường cách mạng triệt để của giai cấp vô sản, vừa có phát minh khoa học và vận dụng phát minh đó để vạch trần bản chất bóc lột CNTB một cách hết sức khoa học mà không
ai bác bỏ được Những phát minh đó là:
Một là, C.Mác đã phát triển và hoàn chỉnh lý luận giá trị - lao động trên cơ sở
phát hiện ra tính chất hai mặt của lao động sản xuất hàng hoá đó là lao động cụ thể và lao động trừu tượng Trong đó lao động cụ thể tạo ra giá trị sử dụng, lao động trừu tượng tạo ra giá trị của hàng hoá, vận dụng nó để phân tích nền sản xuất TBCN Theo C Mác, lao động cụ thể của công nhân làm thuê chuyển giá trị máy móc, nguyên, nhiên, vật liệu vào sản phẩm, còn lao động trừu tượng là nguồn gốc tạo ra giá trị và giá trị thặng dư cho các nhà tư bản
Hai là, C.Mác phát hiện phạm trù hàng hoá sức lao động trong sản xuất tư bản chủ
nghĩa, làm chìa khoá để phân tích thực chất sản xuất tư bản chủ nghĩa Trước C.Mác cả
A Smith và D Ri-các-đô đã quan niệm mua bán giữa tư bản và công nhân là mua bán lao động, do đó các ông đều gặp bế tắc trong việc lý giải nguồn gốc bản chất của giá trị thặng dư và lợi nhuận
C.Mác cho rằng, quan hệ mua bán giữa công nhân và tư bản không phải là mua bán
Trang 6hàng hóa lao động mà là mua bán hàng hóa đặc biệt - hàng hóa sức lao động, bởi vì: + Nếu lao động là hàng hóa, thì lao động phải có trước và phải được vật hóa dưới một hình thức cụ thể Tiền đề để lao động được vật hóa đó là TLSX Khi có TLSX thì người công nhân sẽ kết hợp với sức lao động của mình để tạo ra sản phẩm, khi đó họ bán hàng hoá do mình sản xuất ra, chứ không bán lao động Do đó lao động không phải là hàng hoá
+ Nếu lao động là hàng hóa sẽ dẫn đến các trường hợp sau: Một là, trường hợp trao đổi ngang giá, khi đó nhà tư bản không thu được giá trị thặng dư, điều này phủ nhận sự tồn tại thực tế của qui luật giá trị thặng dư Hai là, trường hợp trao đổi không ngang giá để có được giá trị thặng dư, điều này vi phạm qui luật giá trị Do
đó lao động không phải là hàng hoá
+ Nếu lao động là hàng hóa thì nó phải có giá trị và thước đo giá trị là lao động, điều đó dẫn đến tình trạng vô lý nó lại đo bằng nó Do đó lao động không phải là hàng hoá
Tính chất đặc biệt của hàng hoá sức lao động Cũng như các hàng hoá khác, điều có thuộc tính giá trị và giá trị sử dụng, song thuộc tính của hàng hoá sức lao động có tính đặc biệt ở chỗ:
Giá trị hàng hóa sức lao động được biểu hiện ở giá trị những tư liệu sinh hoạt cần thiết để sản xuất và tái sản xuất sức lao động Bao gồm giá trị tư liệu sinh hoạt
để tái sản xuất sức lao động của người công nhân, giá trị tư liệu sinh hoạt để nuôi con cái họ cùng những chi phí cho việc đào tạo họ, với các yếu tố vật chất, tinh thần và mang tính xã hội, lịch sử
Ví dụ, nước có trình độ khác nhau, các quốc gia có điều kiện lịch sử phong tục tập quán khác nhau, hoặc trong một quốc gia ở các giai đoạn phát triển khác nhau, giá trị sức lao động cũng khác nhau
Giá trị sử dụng của hàng hóa này biểu hiện khi tiêu dùng nó trong quá trình sản xuất, có khả năng tạo ra một lượng giá trị lớn hơn giá trị bản thân nó phần lớn
Trang 7hơn đó, là giá trị thặng dư bị nhà tư bản chiếm đoạt Chính thuộc tính riêng có này
là chìa khoá để chỉ ra nguồn gốc giá trị thặng dư
Ba là, C.Mác là người đầu tiên phân chia tư bản thành tư bản bất biến và tư
bản khả biến
Tư bản bất biến là toàn bộ tư bản dùng để mua TLSX (c) bao gồm máy móc nguyên nhiên liệu, có đặc điểm giá trị không mất đi không tăng thêm, mà chuyển nguyên vẹn vào sản phẩm, nhờ lao động cụ thể của người công nhân
Tư bản khả biến là tư bản mua sức lao động, có đặc điểm trong quá trình tiêu dùng nó, giá trị không mất đi mà còn tạo ra giá trị lớn hơn bản thân nó
Sự phân chia này làm cho Mác tiến thêm một bước, tiếp tục khẳng định chính lao động của công nhân làm thuê là nguồn gốc duy nhất tạo ra giá trị thặng dư cho nhà tư bản
Bốn là, Bằng phương pháp trừu tượng hóa, C.Mác phân chia ngày lao động
của công nhân trong quá trình sản xuất cho nhà tư bản, thành thời gian lao động tất yếu và thời gian lao động thặng dư
Thời gian lao động tất yếu là thời gian lao động tạo ra một số sản phẩm để nuôi sống người công nhân
Thời gian lao động thặng dư là thời gian lao động tạo ra một số sản phẩm để nuôi sống nhà tư bản
Ý nghĩa khoa học của sự phân chia này là chỉ ra trong ngày lao động của người công nhân, bao nhiêu thời gian lao động để nuôi sống mình và bao nhiêu thời gian lao động để nuôi sống nhà tư bản Sự phân chia này phản ánh chính xác trình
độ bóc lột của tư bản với lao động làm thuê Chủ nghĩa tư bản càng phát triển, thời gian lao động tất yếu càng rút ngắn, thời gian lao động thặng dư càng tăng, do đó giai cấp tư sản càng giàu có
Những phát minh khoa học trên là kết quả của quá trình lao động sáng tạo thiên tài của C.Mác Nhờ đó C.Mác đã phân tích và làm sáng tỏ bản chất bóc lột của chủ
Trang 8nghĩa tư bản dưới cái vỏ bọc bí hiểm của nền kinh tế thị trường.
2 Nội dung cơ bản của lý luận (häc thuyÕt) giá trị thặng dư
Thứ nhất, C Mác vạch ra rằng, tư bản không hề phát minh ra lao động thặng
dư, giá trị thặng dư được hình thành là do chính những tiền đề khách quan của sự phát triển của LLSX và QHSX qui định
C.Mác viết: "Nơi nào mà một bộ phận xã hội chiếm độc quyền về những tư liệu sản xuất thì nơi đó người lao động tự do hay không tự do, đều buộc phải thêm vào thời gian lao động cần thiết để nuôi sống bản thân mình, một số thời gian lao động dôi ra dùng để sản xuất những tư liệu sinh hoạt cho người chiếm hữu tư liệu sản xuất" Có nghĩa là ở đâu, khi nào còn sự tồn tại chế độ chiếm hữu tư nhân về TLSX thì ở đó và khi ấy còn tồn tại tình trạng bóc lột Trong các hình thái kinh tế
xã hội khác nhau kẻ chiếm hữu tư liệu sản xuất bóc lột người lao động không có tư liệu sản xuất, theo những hình thức và cơ chế khác nhau
Biểu hiện:
Trong xã hội chiếm hữu nô lệ, giai cấp nô lệ bị lệ thuộc hoàn toàn về thân thể vào giai cấp chủ nô, khi ấy giai cấp chủ nô bóc lột toàn bộ lao động thặng dư còn chiếm luôn cả phần sản phẩm tất yếu của giai cấp nô lệ
Trong chế độ phong kiến, giai cấp nông nô được tự do 1phần về thân thể và tư liệu sản xuất chủ yếu là đất đai Do đó kiểu bóc lột lao động thặng dư được thực hiện dưới hình thức địa tô và ngày lao động cũng được chia thành lao động thặng
dư và lao động cần thiết Vì vậy cơ chế bóc lột phong kiến có nhiều tiến bộ hơn chiếm hữu nô lệ
Trong xã hội tư bản, do sản xuất hàng hoá phát triển đến đỉnh cao và gia cấp tư sản bước lên vũ đài chính trị, nắm giữ tư liệu sản xuất chủ yếu của xã hội Cơ chế bóc lột dựa trên quan hệ hiện vật như xã hội trước, được thay thế bằng cơ chế bóc lột dựa trên quan
hệ hàng tiền (tức là theo quy luật giá trị trao đổi ngang giá) Chính cơ chế trao đổi này tạo
vẻ bề ngoài là quan hệ tự do và bình đẳng thuận mua vừa bán, làm cho các nhà kinh tế
Trang 9trước C.Mác không lý giải được cơ chế bóc lột tư bản chủ nghĩa như thế nào, chỉ có đến CMác mới làm rõ cơ chế bóc lột giá trị thặng dư TBCN
Thứ hai, Cơ chế sản xuất ra giá trị thặng dư.
Chúng ta biết, lưu thông tư bản được vận động theo công thức: T - H- T’ Vậy câu hỏi đạt ra, nếu không có lưu thông, có giá trị thặng dư không? phân tích quá trình lưu thông thì giá trị thặng dư tạo ra từ đâu?
- Nếu không có lưu thông ( tức là tiền để trong két sắt) thì không thể có giá trị thặng dư Như vậy nhờ có lưu thông, mà nhà tư bản mới thực hiện được các hành
vi, điều kiện cần thiết, để sản sinh ra giá trị thặng dư
- Giá trị thặng dư không thể có được do người mua, đã mua những hàng hoá dưới giá trị của nó, hoặc do người bán, đã bán hàng hoá trên giá trị của nó Vì trong nền kinh tế hàng hoá người bán đồng thời là người mua, do vậy trong cả hai trường hợp, cái được và cái mất của mỗi bên sẽ bù trừ lẫn nhau Hoặc giá trị thặng dư không thể do lừa gạt mà có, vì sự lừa gạt đem lại sự giàu có người này thiệt hại người kia, nhưng không thể làm tăng tổng số tiền của cả hai người, do vậy không thể làm tăng thêm tổng số giá trị đang lưu thông Ăngghen viết: "Toàn bộ giai cấp các nhà tư bản của một nước không thể kiểm lãi bằng cách lừa bịp bản thân mình được"
- Giá trị thặng dư không thể tăng thêm từ tiền hoặc từ hàng hoá thông thường.Vì tiền chỉ là phương tiện lưu thông và làm thước đo giá trị của hàng hoá Không thể tăng thêm từ hàng hoá thông thường, vì hàng hoá thông thường đã có sãn một lượng giá trị do lao động của người sản xuất hàng hoá kết tinh trong đó Theo Mác giá trị tăng thêm chỉ có thể tạo ra từ hàng hoá đặc biệt
- Giá trị tăng thêm chỉ có thể xảy ra từ hàng hoá đặc biệt, nhưng không phải với giá trị, mà phải với giá trị sử dụng của hàng hóa đó Giá trị tăng thêm không phải từ giá trị, vì giá trị hàng hoá đã được mua bán ngang giá Giá trị tăng thêm phải từ giá trị
sử dụng của hàng hoá đặc biệt, vì hàng hoá như máy móc nguyên nhiên liệu, khi tiêu dùng không làm tăng giá trị và giá trị thặng dư
Trang 10Muốn có giá trị tăng thêm từ việc tiêu dùng hàng hoá, thì chủ tiền phải có sự may mắn, phát hiện được trên thị trường một thứ hàng hoá, mà bản thân giá trị sử dụng của nó có cái đặc tính độc đáo là vật hoá được lao động và có khả năng làm tăng giá trị Người chủ tiền tìm được thứ hàng hoá đặc biệt ấy trên thị trường đó là năng lực lao động hay sức lao động Vậy vì sao mà HSLĐ lại là cái tạo ra giá trị thặng dư cho nhà tư bản ?
- Giá trị thặng dư được tạo ra như thế nào ?
Theo C.Mác: nếu lao động với tư cách là hoạt động có ý thức, có mục đích của con người, thông qua việc kết hợp SLĐ với TLSX không có giá trị, nhưng đối với sức lao động thì hoàn toàn khác Sức lao động khi trở thành hàng hoá thì nó cũng có giá trị như giá trị của bất kỳ một hàng hoá khác Giá trị cũng được quyết định bởi thời gian lao động cần thiết để sản xuất và tái sản xuất ra hàng hóa đó, tức là thời gian lao động cần thiết, để sản xuất ra những tư liệu sinh hoạt, để duy trì trạng thái lao động bình thường và tiếp tục duy trì nòi giống của người công nhân
+ Giả định những tư liệu sinh hoạt đại biểu bằng thời gian lao động mỗi ngày của người công nhân là 10 USD Nhà tư bản thực hiện kinh doanh, thuê một công nhân và trả toàn bộ giá trị sức lao động đại biểu cho 4 giờ lao động đó bằng một số tiền là 10USD/ngày
+ Trong 4 giờ làm việc cho nhà tư bản, người công nhân thực hiện hoàn lại cho nhà tư bản toàn bộ số chi phí đã bỏ ra, tương ứng với giá trị sức lao động trong ngày là (10 USD) Nếu sản xuất dừng ở đó thì tiền chưa biến thành tư bản và chưa sản xuất ra giá trị thặng dư
+ Do nhà tư bản đã trả giá trị sức lao động cho người công nhân mỗi ngày là 4 giờ hay 10 USD, nên việc sử dụng sức lao động lên 8 giờ là toàn quyền thuộc về nhà tư bản Khi ấy giá trị do việc sử dụng sức lao động tạo ra có thể gấp 2 giá trị sức lao động mỗi ngày Điều này sẽ may mắn đối với người mua, nhưng hoàn toàn không bất công đối với người bán Vì họ đã bán được cái cần và bán theo giá thoả