1. Trang chủ
  2. » Tất cả

Tiểu luận cao học, môn kinh tế chính trị quan điểm của đảng cộng sản việt nam về phát triển nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ

15 27 0
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Quan điểm của Đảng Cộng sản Việt Nam về phát triển nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa
Người hướng dẫn P.T.S. Nguyễn Văn A
Trường học Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn, Đại học Quốc gia Hà Nội
Chuyên ngành Kinh tế chính trị
Thể loại Luận văn thạc sĩ
Năm xuất bản 2023
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 15
Dung lượng 39,98 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

1 MỤC LỤC LỜI MỞ ĐẦU 1 NỘI DUNG 2 1 Nhận thức của Đảng Cộng sản Việt Nam về nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa 2 1 1 Giai đoạn trước đổi mới 2 1 2 Giai đoạn đổi mới từ năm 1986 đến nay[.]

Trang 1

NỘI DUNG 2

1 Nhận thức của Đảng Cộng sản Việt Nam về nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa 2

1.1 Giai đoạn trước đổi mới 2

1.2 Giai đoạn đổi mới từ năm 1986 đến nay 4

2 Thành tựu, hạn chế và những giải pháp chủ yếu để phát triển kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở nước ta hiện nay 7

2.1 Về thành tựu 7

2.2 Về hạn chế và nguyên nhân 9

2.2.1 Về hạn chế 9

2.2.2 Nguyên nhân dẫn đến những hạn chế, yếu kém 10

2.3 Những giải pháp chủ yếu để phát triển kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở nước ta hiện nay 10

KẾT LUẬN 13

TÀI LIỆU THAM KHẢO 14

Trang 2

LỜI MỞ ĐẦU

Trải qua hơn 85 năm xây dựng và trưởng thành, nhất là từ khi lãnh đạo nhân dân giành được chính quyền, tiến hành các cuộc kháng chiến giành được những thắng lợi to lớn, đất nước thống nhất, cả nước đi lên xây dựng chủ nghĩa xã hội Trong mỗi giai đoạn cách mạng, Đảng ta luôn đề ra các nhiệm

vụ cách mạng chiến lược cho mỗi giai đoạn, trong đó có nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội, xây dựng nền kinh tế xã hội chủ nghĩa Tuy nhiên, mỗi giai đoạn, mỗi thời kỳ, Đảng ta có nhận thức, cách tiếp cận và đưa ra những quan điểm lý luận về xây dựng và phát triển nền kinh tế cho từng giai đoạn phát triển của đất nước, đặc biệt là nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ

nghĩa Xuất phát từ lý do trên em chọn chủ đề “Quan điểm của Đảng Cộng sản Việt Nam về phát triển nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa” làm bài thu hoạch môn Kinh tế chính trị Mác – Lênin.

Trang 3

NỘI DUNG

1 Nhận thức của Đảng Cộng sản Việt Nam về nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa

1.1 Giai đoạn trước đổi mới

Trong “Chính cương vắn tắt” của Đảng ngày 3/2/1930, Hồ Chí Minh

đã chủ trương làm tư sản dân quyền cách mạng và thổ địa cách mạng để đi tới

xã hội cộng sản, nghĩa là không kinh qua giai đoạn phát triển của chủ nghĩa tư bản Tuy nhiên, trong tác phẩm “Thường thức chính trị” năm 1953, Người đã nói đến sự tồn tại của năm loại kinh tế khác nhau trong chế độ mới, đó là:

“Kinh tế địa chủ phong kiến bóc lột địa tô Kinh tế quốc doanh, có tính chất chủ nghĩa xã hội Vì tài sản các xí nghiệp ấy là của chung của nhân dân, của Nhà nước, chứ không phải của riêng Trong các xí nghiệp quốc doanh thì xưởng trưởng, công trình sư, và công nhân đều có quyền tham gia quản lý, đều là chủ nhân Việc sản xuất thì do sự lãnh đạo thống nhất của Chính phủ nhân dân Các hợp tác xã tiêu thụ và hợp tác xã cung cấp, có tính chất nửa chủ nghĩa xã hội Nhân dân góp nhau để mua những thứ mình cần dùng, hoặc để bán những thứ mình sản xuất không phải kinh qua các người con buôn, không

bị họ bóc lột Các hội đổi công ở nông thôn, cũng là một loại hợp tác xã Kinh

tế cá nhân của nông dân và của thủ công nghệ, họ thường tự túc ít có gì bán,

và cũng ít khi mua gì Đó là một thứ kinh tế lạc hậu Kinh tế tư bản của tư nhân Họ bóc lột công nhân, nhưng đồng thời họ cũng góp phần vào xây dựng kinh tế Kinh tế tư bản quốc gia là Nhà nước hùn vốn với tư nhân để kinh doanh,

và do Nhà nước lãnh đạo”4

Tiếp đó trong “Báo cáo về dự thảo Hiến pháp sửa đổi tại kỳ họp thứ XI Quốc hội khoá I nước Việt Nam dân chủ cộng hoà” năm 1959, Người đã chỉ ra:

“Trong nước ta hiện nay có những hình thức sở hữu chính về tư liệu sản xuất như sau: Sở hữu của Nhà nước tức là của toàn dân Sở hữu của hợp tác xã tức

là sở hữu tập thể của nhân dân lao động Sở hữu của người lao động riêng lẻ

Trang 4

Một ít tư liệu sản xuất thuộc sở hữu của nhà tư bản Mục đích của chế độ ta là xoá bỏ các hình thức sở hữu không xã hội chủ nghĩa, làm cho nền kinh tế gồm nhiều thành phần phức tạp trở nên một nền kinh tế thuần nhất, dựa trên chế độ

sở hữu toàn dân và sở hữu tập thể”5 Đồng thời Người khẳng định: “Đối với người làm nghề thủ công và lao động riêng lẻ khác, Nhà nước bảo hộ quyền sở hữu về tư liệu sản xuất của họ, ra sức hướng dẫn và giúp đỡ họ cải tiến cách làm ăn, khuyến khích họ tổ chức hợp tác xã sản xuất theo nguyên tắc tự nguyện Đối với những nhà tư sản công thương, Nhà nước không xoá bỏ quyền

sở hữu về tư liệu sản xuất và của cải khác của họ; mà ra sức hướng dẫn họ hoạt động nhằm làm lợi cho quốc kế dân sinh, phù hợp với kế hoạch kinh tế của Nhà nước Đồng thời Nhà nước khuyến khích và giúp đỡ họ cải tạo theo chủ nghĩa xã hội bằng hình thức công tư hợp doanh và những hình thức cải tạo khác”4

Tuy nhiên, sau khi thống nhất hai miền Nam - Bắc, chúng ta đã không quán triệt tư tuởng của Người do bệnh quan liêu, duy ý chí, nóng vội nên chính sách kinh tế nhiều thành phần chỉ dừng lại ở lý thuyết, hình thức; nền kinh tế lúc này chủ yếu là nền kinh tế công với hai hình thức: kinh tế quốc doanh và kinh tế tập thể Kinh tế quốc doanh được ưu tiên phát triển, lan rộng nhanh chóng bao trùm toàn bộ nền kinh tế quốc dân, ngược lại các hình thức khác bị xem nhẹ, thậm chí bị cấm đoán như kinh tế tư bản tư nhân Kết cục đó tất yếu dẫn đến hậu quả: xã hội trì trệ, mất động lực phát triển, các nguồn lực bị lãng phí… Đứng trước tình hình đó Đảng ta đã nhìn nhận vào thực tế và có những bước điều chỉnh phù hợp, sự điều chỉnh được thể hiện qua nhiều Hội nghị trung ương, cụ thể là Nghị quyết 20/NQ-TW do Hội nghị Trung ương VI khoá IV nêu ra: Chủ trương ban hành ngay các chính sách khuyến khích sản xuất nông nghiệp: ổn định nghĩa vụ lương thực năm năm; bán cho Nhà nước theo giá thoả thuận, được lưu thông tự do, khuyến khích xuất khẩu nông sản, sửa đổi cách phân phối trong hợp tác xã Ở miền Nam, cải tạo nông nghiệp phải đảm bảo

Trang 5

đúng nguyên tắc tự nguyện, cùng có lợi; thừa nhận nhiều thành phần kinh tế: quốc doanh, công tư hợp doanh, tập thể, cá thể, kể cả tư sản

1.2 Giai đoạn đổi mới từ năm 1986 đến nay

Tính bước ngoặt của nhận thức mới của Đảng ta về các thành phần kinh

tế thể hiện rõ nét ở Đại hội VI năm 1986 - Đại hội của sự đổi mới, mà trọng tâm là đổi mới kinh tế Đại hội đã nhận thức lại việc phát triển kinh tế nhiều thành phần và khẳng định: “Các thành phần kinh tế khác gồm: kinh tế tiểu sản xuất hàng hoá (thợ thủ công, nông dân cá thể, những người buôn bán và kinh doanh dịch vụ cá thể); kinh tế tư bản tư nhân; kinh tế tư bản nhà nước dưới nhiều hình thức, mà hình thức cao là công tư hợp doanh; kinh tế tự nhiên, tự cấp, tự túc trong một bộ phận đồng bào dân tộc thiểu số ở Tây Nguyên và các vùng núi cao khác”6

Nghị quyết Đại hội VI chỉ rõ: “Đổi mới cơ chế quản lý kinh tế nhằm tạo ra động lực thúc đẩy các đơn vị kinh tế và quần chúng lao động hăng hái phát triển sản xuất, nâng cao năng suất, chất lượng và hiệu quả kinh tế Kiên quyết xoá bỏ cơ chế tập trung quan liêu, bao cấp, thiết lập và hình thành đồng

bộ cơ chế kế hoạch hoá theo phương thức hạch toán kinh doanh xã hội chủ nghĩa, đúng nguyên tắc tập trung dân chủ Cơ chế mới lấy kế hoạch hoá làm trung tâm, sử dụng đúng đắn quan hệ hàng hoá - tiền tệ, quản lý bằng phương pháp kinh tế là chủ yếu kết hợp với biện pháp hành chính, giáo dục, thực hiện phân cấp quản lý theo nguyên tắc tập trung dân chủ, thiết lập trật tự, kỷ cương trong mọi hoạt động kinh tế”6

Như vậy, một mặt Đảng ta thừa nhận còn tồn tại nhiều thành phần kinh

tế, mặt khác đặt vấn đề cải tạo xã hội chủ nghĩa đối với thành phần kinh tế cá thể, tư bản tư nhân, nhưng không phải là trong một thời gian ngắn vài ba năm, thậm chí một vài kế hoạch năm năm mà coi đó là nhiệm vụ tiến hành trong suốt thời kỳ quá độ Đảng chỉ rõ: “Trong điều kiện nước ta, các hình thức

Trang 6

kinh tế tư nhân, cá thể, tiểu chủ, tư nhân vẫn cần thiết lâu dài cho nền kinh tế

và nằm trong cơ cấu nền kinh tế hàng hoá đi lên chủ nghĩa xã hội”

Đại hội lần thứ VII Đảng khẳng định “Cơ chế vận hành nền kinh tế hàng hoá nhiều thành phần theo định hướng xã hội chủ nghĩa là cơ chế thị trường có sự quản lý của Nhà nước bằng pháp luật, kế hoạch, chính sách và các công cụ khác… Nhà nước quản lý nền kinh tế nhằm định hướng, dẫn dắt các thành phần kinh tế, tạo môi trường và điều kiện thuận lợi cho hoạt động sản xuất, kinh doanh theo cơ chế thị trường, kiểm soát chặt chẽ và xử lý các

vi phạm pháp luật trong hoạt động kinh tế, bảo đảm sự hài hoà giữa phát triển kinh tế và phát triển xã hội”7 và “Trong nền kinh tế thị trường, với quyền tự

do kinh doanh được pháp luật bảo đảm, từ ba loại hình sở hữu cơ bản (sở hữu toàn dân, sở hữu tập thể, sở hữu tư nhân), sẽ hình thành nhiều thành phần kinh

tế với những hình thức tổ chức kinh doanh đa dạng”7

Những điểm mới trên đã tạo được sự bình đẳng thực sự trước pháp luật giữa các thành phần kinh tế và mọi hình thức sở hữu, là động lực thúc đẩy sức sản xuất trong xã hội phát triển mạnh mẽ

Đại hội VIII của Đảng tiếp tục khẳng định: “Tiếp tục thực hiện nhất quán, lâu dài chính sách kinh tế nhiều thành phần, phát huy mọi nguồn lực để phát triển lực lượng sản xuất, đồng thời hoàn thiện cơ chế thị trường có sự quản lý của Nhà nước theo định hướng xã hội chủ nghĩa”8

Đại hội IX được tiến hành vào thời điểm nước ta đã đạt được nhiều thành tựu kinh tế quan trọng sau thời kỳ đổi mới Đại hội tiếp tục khẳng định:

“Đảng và Nhà nước ta chủ trương thực hiện nhất quán và lâu dài chính sách phát triển nền kinh tế hàng hóa nhiều thành phần vận động theo cơ chế thị trường, có sự quản lý của nhà nước theo đinh hương xã hội chủ nghĩa; đó chính là nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chỉ nghĩa”1

Trang 7

Từ sau Đại Hội IX, Ban Chấp hành Trung ương Đảng đã ra nhiều Nghị Quyết về phát triển kinh tế nhà nước, kinh tế tập thể và kinh tế tư nhân từ đó lam cho nền kinh tế - xã hội ngày càng phát triển

Đến Đại hội X, Đảng ta tiếp tục chủ trương phát triển nền kinh tế thị trường Đảng khẳng định: “Thể chế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa bước đầu được xây dựng Thị trường hàng hoá phát triển tương đối nhanh; một số loại thị trường mới đã hình thành”2 Tổng kết 20 năm tiến hành công cuộc đổi mới và phát triển nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa Đảng chỉ rõ: “Đất nước đã ra khỏi khủng hoảng kinh tế - xã hội, có sự thay đổi cơ bản và toàn diện Kinh tế tăng trưởng khá nhanh, sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá, phát triển kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa được đẩy mạnh Đời sống nhân dân được cải thiện rõ rệt Hệ thống chính trị và khối đại đoàn kết toàn dân tộc được củng cố và tăng cường Chính trị - xã hội ổn định Quốc phòng và an ninh được giữ vững Vị thế nước

ta trên trường quốc tế không ngừng nâng cao Sức mạnh tổng hợp của quốc gia đã tăng lên rất nhiều, tạo ra thế và lực mới cho đất nước tiếp tục đi lên với triển vọng tốt đẹp”2

Đại hội lần thứ XI và XII Đảng ta tiếp tục thực hiện nhất quán chủ trương xây dựng và phát triển nền kinh tế thị trường và chỉ rõ vị trí, vai trò, bản chất của nền kinh tế thị trường mà chung ta đang xây dựng: “Nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa Việt Nam là nền kinh tế vận hành đầy

đủ, đồng bộ theo các quy luật của kinh tế thị trường, đồng thời bảo đảm định hướng xã hội chủ nghĩa phù hợp với từng giai đoạn phát triển của đất nước

Đó là nền kinh tế thị trường hiện đại và hội nhập quốc tế; có sự quản lý của Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, do Đảng Cộng sản Việt Nam lãnh đạo, nhằm mục tiêu "dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh Nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa Việt Nam có quan hệ sản xuất tiến bộ phù hợp với trình độ phát triển của lực lượng sản xuất; có nhiều

Trang 8

hình thức sở hữu, nhiều thành phần kinh tế, trong đó kinh tế nhà nước giữ vai trò chủ đạo, kinh tế tư nhân là một động lực quan trọng của nền kinh tế ”3

Đặc biệt trước yêu cầu đòi hỏi của thực tiễn và tạo cơ sở lý luận cho việc hoàn thiện hệ thống pháp lý về nền kinh tế thị trường, Hội nghị Trung ương 5 khóa XII đã ban hành Nghị quyết về “Hoàn thiện thể chế kinh tế thi trường định hướng xã hội chủ nghĩa”, với nội dung trọng tâm là đổi mới cơ chế, chính sách, khuyến khích và tạo điều kiện phát triển kinh tế tư nhân và các loại hình kinh tế khác một cách đồng bộ, hiệu quả

Như vậy, thông qua quá trình nhận thức và phát triển hệ thống lý luận của Đảng về quá trình xây dựng và phát triển nền kinh tế ở nước ta chúng ta

có thể thấy rõ sự chuyển biến trong tư duy và lý luận của Đảng, cụ thể: nếu như trước đổi mới, chủ yếu nhận thức phát triển kinh tế công hữu, trong nhận thức cũng như trong hành động không thừa nhận nền kinh tế nhiều thành phần, thì đến nay Đảng khẳng định xây dựng nền kinh tế đa sở hữu, gắn với dân chủ hoá kinh tế Từ chỗ coi thành phần kinh tế quốc doanh là hình thức cao nhất, độc quyền và phát triển với tỷ trọng lớn trong các ngành nghề, lĩnh vực, hạn chế sự phát triển của kinh tế tư nhân, đã đi dến khẳng định các thành phần kinh tế kinh doanh theo pháp luật đều là bộ phận cấu thành quan trọng của nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, trong đó kinh tế nhà nước giữ vai trò chủ đạo và coi kinh tế tư nhận là một động lực quan trọng của nền kinh tế

2 Thành tựu, hạn chế và những giải pháp chủ yếu để phát triển kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở nước ta hiện nay

2.1 Về thành tựu

Nghị quyết Trung ương năm khóa XII Đảng chỉ rõ: Qua hơn 30 năm đổi mới, nhất là từ khi thực hiện Nghị quyết Trung ương 6 khóa X, Đảng ta luôn quan tâm tổng kết thực tiễn, nghiên cứu lý luận, rút ra các bài học kinh nghiệm, tiếp tục xây dựng, hoàn thiện thể chế kinh tế thị trường định hướng

Trang 9

xã hội chủ nghĩa phù hợp với từng giai đoạn phát triển, góp phần quan trọng đưa nước ta ra khỏi tình trạng kém phát triển, trở thành quốc gia có thu nhập trung bình, giữ vững định hướng xã hội chủ nghĩa; bảo đảm an sinh xã hội, không ngừng nâng cao đời sống của nhân dân, bảo vệ môi trường sinh thái, củng cố quốc phòng, an ninh, nâng cao hiệu quả đối ngoại, hội nhập quốc tế

Nhận thức về nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ngày càng đầy đủ hơn Hệ thống pháp luật, cơ chế, chính sách ngày càng hoàn thiện và phù hợp hơn với luật pháp quốc tế, đồng thời đáp ứng yêu cầu thực tiễn và thực hiện cam kết hội nhập quốc tế Chế độ sở hữu, các thành phần kinh tế, loại hình doanh nghiệp phát triển đa dạng Các quyền và nghĩa vụ về tài sản được thể chế hóa tương đối đầy đủ Hiệu quả và sức cạnh tranh của nền kinh tế được nâng lên Việc đổi mới, sắp xếp, cơ cấu lại, nâng cao hiệu quả doanh nghiệp nhà nước được đẩy mạnh; kinh tế tập thể được quan tâm đổi mới; kinh tế tư nhân ngày càng được coi trọng; đội ngũ doanh nhân không ngừng lớn mạnh; thu hút vốn đầu tư nước ngoài đạt được kết quả tích cực

Các yếu tố thị trường và các loại thị trường được hình thành đồng bộ hơn, gắn kết với thị trường khu vực và thế giới Môi trường đầu tư, kinh doanh được cải thiện và thông thoáng hơn; quyền tự do kinh doanh và cạnh tranh bình đẳng giữa các doanh nghiệp thuộc các thành phần kinh tế được bảo đảm hơn

Hội nhập kinh tế quốc tế ngày càng sâu rộng trên nhiều cấp độ, đa dạng

về hình thức, từng bước thích ứng với nguyên tắc và chuẩn mực của thị trường toàn cầu Việc huy động, phân bổ và sử dụng nguồn lực phù hợp hơn với cơ chế thị trường Các cơ chế, chính sách đã chú trọng kết hợp giữa phát triển kinh

tế với thực hiện tiến bộ và công bằng xã hội, tạo cơ hội cho người dân tham gia

và nhận được thành quả từ quá trình phát triển kinh tế Phương thức lãnh đạo của Đảng, hoạt động của Nhà nước từng bước được đổi mới phù hợp hơn với

Trang 10

yêu cầu phát triển nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa và hội nhập quốc tế

2.2 Về hạn chế và nguyên nhân

2.2.1 Về hạn chế

Đảng chỉ rõ: hoàn thiện thể chế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở nước ta thực hiện còn chậm Một số quy định pháp luật, cơ chế, chính sách còn chồng chéo, mâu thuẫn, thiếu ổn định, nhất quán; còn có biểu hiện lợi ích cục bộ, chưa tạo được bước đột phá trong huy động, phân bổ và

sử dụng có hiệu quả các nguồn lực phát triển

Hiệu quả hoạt động của các chủ thể kinh tế, các loại hình doanh nghiệp trong nền kinh tế còn nhiều hạn chế Việc tiếp cận một số nguồn lực xã hội chưa bình đẳng giữa các chủ thể kinh tế Cải cách hành chính còn chậm Môi trường đầu tư, kinh doanh chưa thực sự thông thoáng, mức độ minh bạch, ổn định chưa cao Quyền tự do kinh doanh chưa được tôn trọng đầy đủ Quyền

sở hữu tài sản chưa được bảo đảm thực thi nghiêm minh

Một số loại thị trường chậm hình thành và phát triển, vận hành còn nhiều vướng mắc, kém hiệu quả Giá cả một số hàng hóa, dịch vụ thiết yếu chưa được xác lập thật sự theo cơ chế thị trường

Thể chế bảo đảm thực hiện tiến bộ và công bằng xã hội còn nhiều bất cập Bất bình đẳng xã hội, phân hóa giàu - nghèo có xu hướng gia tăng Xóa đói, giảm nghèo còn chưa bền vững

Đổi mới phương thức lãnh đạo của Đảng trong thực hiện nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội chưa đáp ứng yêu cầu đổi mới về kinh tế Cơ chế kiểm soát quyền lực, phân công, phân cấp còn nhiều bất cập Quản lý nhà nước chưa đáp ứng kịp yêu cầu phát triển của kinh tế thị trường và hội nhập quốc tế; hiệu lực, hiệu quả chưa cao; kỷ luật, kỷ cương không nghiêm Hội nhập kinh tế quốc tế đạt hiệu quả chưa cao, thiếu chủ động trong phòng ngừa và xử lý tranh chấp thương mại quốc tế

Ngày đăng: 06/02/2023, 13:40

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Đảng Cộng sản Việt Nam, Văn kiện Đại hội lần thứ IX, Nxb CTQG, H. 2001, tr86 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện Đại hội lần thứ IX
Tác giả: Đảng Cộng sản Việt Nam
Nhà XB: Nxb CTQG
Năm: 2001
2. Đảng Cộng sản Việt Nam, Văn kiện Đại hội lần thứ X, Nxb CTQG, H. 2006, tr57, tr67-68 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện Đại hội lần thứ X
Tác giả: Đảng Cộng sản Việt Nam
Nhà XB: Nxb CTQG
Năm: 2006
3. Đảng Cộng sản Việt Nam, Văn kiện Đại hội lần thứ XII, Nxb CTQG, H. 2016, tr102-103 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện Đại hội lần thứ XII
Tác giả: Đảng Cộng sản Việt Nam
Nhà XB: Nxb CTQG
Năm: 2016
4. Hồ Chí Minh Toàn tập Tập 7 H. 2000, tr232, tr595-596 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hồ Chí Minh Toàn tập Tập 7
Tác giả: Hồ Chí Minh
Năm: 2000
5. Hồ Chí Minh Toàn tập Tập 9 H. 2000, tr595 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hồ Chí Minh Toàn tập Tập 9
Năm: 2000
6. Văn kiện Đảng Toàn tập, Tập 47 Nxb CTQG, H. 2007 tr719-720, tr 866-867 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện Đảng Toàn tập, Tập 47
Nhà XB: Nxb CTQG
Năm: 2007
7. Văn kiện Đảng Toàn tập, tập 51 Nxb CTQG, H. 2007 tr 97, tr137, tr160- 161 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện Đảng Toàn tập, tập 51
Nhà XB: Nxb CTQG
Năm: 2007
8. Văn kiện Đảng Toàn tập, tập 55 Nxb CTQG, H. 2007 tr106 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện Đảng Toàn tập, tập 55
Nhà XB: Nxb CTQG
Năm: 2007
9. Bài giảng môn Kinh tế chính trị Mác – Lênin, Viện Kinh tế chính trị, Học việc Chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bài giảng môn Kinh tế chính trị Mác – Lênin
Nhà XB: Viện Kinh tế chính trị

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w