Bệnh dịch tả heo châu phi Bệnh dịch tả heo châu phi Bệnh dịch tả heo châu phi Bệnh dịch tả heo châu phi Bệnh dịch tả heo châu phi Bệnh dịch tả heo châu phi
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
BÀI TIỂU LUẬN
Họ và Tên: Nguyễn Thị Thu Phượng MSSV: 20112333 Lớp: DH20TY
Chuyên ngành: Bác sĩ thú y
Ngày sinh: 24/06/2002
Đề tài: Bệnh Dịch tả heo Châu Phi
(African Swine Fever)
Trang 2CHƯƠNG 1: GIỚI THIỆU
- Dịch tả heo Châu Phi (ASF) là bệnh lây nhiễm do virus dịch tả heo Châu Phi (ASFV) gây ra, ASFV gây sốt xuất huyết với tỷ lệ tử vong cao ở heo và lây nhiễm liên tục vào vật chủ tự nhiên
- Hiện nay, bệnh Dịch tả heo Châu Phi (ASF) đã lan ra toàn cầu với 23 genotype, riêng tại Việt Nam có genotype II xuất hiện từ năm 2019 đến nay ASF là bệnh dịch có khả năng lây lan với tốc độ nhanh, có thể bắt gặp ở bất kỳ loài heo nào, bất kỳ lứa tuổi nào của heo và heo nhiễm bệnh có tỷ lệ chết lên đến 100% Dịch tả heo Châu Phi đã gây
ra thiệt hại vô cùng lớn đến ngành chăn nuôi heo đặc biệt là thời gian gần đây tình hình dịch bệnh ASF có dấu hiệu quay trở lại với xu hướng lan rộng nhanh, thực tế diễn ra bệnh ASF chỉ mới xảy ra ở Việt Nam gần đây thôi nhưng đã thay đổi rất nhanh thay đổi cả về các khía cạnh lâm sàng, phi lâm sàng hay các khía cạnh về dịch tễ và có thể có nhiều điều
mà ta chưa hình dung ra, bệnh ASF đã gây khó cho chúng ta ra sao trong quá trình chuẩn đoán để có biện pháp đối phó với ASF hiệu quả nhất Trong những năm vừa qua ASF thực sự là vấn đề gây nhức nhối và gây khó khăn rất lớn cho các hệ thống trang trại chăn nuôi, làm thế nào để kiểm soát được dịch bệnh khi vaccine vẫn là một câu hỏi lớn
Trang 3CHƯƠNG 2: TỔNG QUAN TÀI LIỆU
I Nội dung các bài báo cáo:
1 Virus dịch tả heo Châu Phi (ASFV):
Tác nhân gây bệnh dịch tả heo Châu Phi là virus ASF (ASFV), là thành viên duy
thái hình tứ diện bao gồm bốn lớp đồng tâm và một phân tử DNA sợi kép lớn có chiều dài giữa các chủng phân lập từ khoảng 170 đến 193 kbp Nó chứa một vùng trung tâm được bảo tồn khoảng 125 kb
2 Lịch sử dịch tả heo Châu Phi (ASF):
- ASF lần đầu tiên được phát hiện ở Kenya vào năm 1909 sau khi du nhập vào đất nước của heo nội địa Châu Âu Nó được ghi nhận là bệnh tụ huyết trùng cấp tính với tỷ lệ chết 100% ở heo nhà Sau đó, người ta nhận ra rằng căn bệnh này đã xuất hiện ở miền đông và miền nam Kenya trên các vật chủ hoang dã trong một thời gian rất dài Sau đó,
nó được phát hiện ở Trung và Tây Phi nhưng chỉ giới hạn ở các nước châu Phi cận Sahara cho đến khi lần đầu tiên được báo cáo bên ngoài châu Phi vào năm 1957 tại Lisbon (Bồ Đào Nha), nơi nó đã lây lan từ Tây Phi Sau hai năm im hơi lặng tiếng, năm 1960 bệnh lại xuất hiện ở Lisbon và nhanh chóng lan sang bán đảo Iberia và các nước ở Châu Âu như Pháp (1964), Ý (1967, 1969, 1983), Malta (1978), Bỉ (1985) và Hà Lan (1986) Nhiều quốc gia ở châu Mỹ cũng bị ảnh hưởng bởi ASF trong giai đoạn này: Cuba (1971, 1980), Brazil (1978), Cộng hòa Dominica (1978) và Haiti (1979) Tại Việt Nam, ASF lần đầu phát hiện vào ngày 19/02/2019, đến 07/4/2019 đã có mặt ở 23 tỉnh thành phố, tập trung ở phía Bắc và một vài tỉnh miền Trung, dịch có xu hướng lan ra các tỉnh phía Nam và vẫn đang lây lan diện rộng trên toàn cầu
3 Đặc điểm ASF:
- Bệnh dịch tả heo Châu Phi (ASF) là một trong những bệnh dịch heo nguy hiểm nhất phát hiện lần đầu ở Kenya năm 1920, chủ yếu là vì những hậu quả tác động đến môi trường và kinh tế xã hội một cách đáng kể của nó Việc cập nhật về dịch tễ học của bệnh được xem là vấn đề cần thiết và cũng là chiến lược để cải thiện việc kiểm soát dịch bệnh
và thúc đẩy quá trình loại trừ dịch bệnh Vài đặc điểm của ASFV làm cho việc kiểm soát
và diệt trừ nó trở nên khó khăn do không có vaccine, khả năng kháng virus rõ rệt ở những con heo nhiễm virus ASF, các sản phẩm động vật bị ô nhiễm, một dịch tễ học phức tạp và
sự lây truyền liên quan đến các tương tác virus trong ổ chứa ve Tỷ lệ mắc ASF đã không
Trang 4chỉ tăng ở lục địa châu Phi mà nó hiện ảnh hưởng đến các nước Tây Phi, Liên Bang Nga, lục địa Châu Âu, đang là mối lo ngại ở khu vực Đông Nam Á và lây lan trên toàn cầu
- Vật chủ tự nhiên của ASFV là heo rừng châu Phi tuy nhiên, heo rừng và heo nhà ở mọi giống và lứa tuổi cũng dễ bị lây nhiễm bởi ASFV, virus cũng lây nhiễm các loài bọ ve mềm khác nhau của chi Ornithodoros Trong vật chủ tự nhiên của nó, ASFV chủ yếu nhắm vào các tế bào đơn nhân và đại thực bào của hệ thống thực bào đơn nhân Khi nhiễm ASFV sẽ gây ra một tỷ lệ nhỏ kháng thể trung hòa chống lại một số protein virion nhưng sự bảo vệ này trên cơ thể heo là không đủ với tác động của virus Virus tồn tại trong một thời gian dài khi bị nhiễm vật chất (máu, phân, huyết thanh,…) và mô, nó có thể tồn tại hơn 15 tuần trong máu pha loãng, 11 ngày trong phân giữ ở nhiệt độ phòng hoặc 1000 ngày trong thịt đông lạnh Bệnh dịch tả heo Châu Phi được coi là bệnh xuất huyết và nó tiến triển với các biểu hiện lâm sàng khác nhau với các dấu hiệu phụ thuộc vào độc lực, vật chủ, liều lượng,… Các dấu hiệu lâm sàng cấp tính và tăng tiết ở heo rất giống với các bệnh xuất huyết khác chẳng hạn như bệnh sốt heo cổ điển, bệnh nhiễm khuẩn salmonella hoặc viêm quầng vì vậy chẩn đoán chính xác, nhanh chóng là vô cùng cần thiết cho phòng ngừa và kiểm soát dịch bệnh Các dấu hiệu bệnh có thể thay đổi từ dạng tăng cấp, với tỷ lệ tử vong 100% từ ngày thứ 4-7 sau nhiễm và các triệu chứng xuất huyết điển hình, đến dạng không triệu chứng ít gặp hơn và dạng mãn tính có thể biến động vật thành vật mang mầm bệnh Động vật hoang dã và trong nhà, đóng vai trò quan trọng trong việc duy trì và lây nhiễm virus bệnh ở các vùng, thậm chí nhiều hơn nếu các loài bọ ve mềm bị nhiễm virus
3.1 Các dấu hiệu của bệnh ASF:
a) Triệu chứng lâm sàng chủ yếu của heo mắc bệnh dịch tả heo châu Phi:
- Có các triệu chứng lâm sàng khá đa dạng tuy nhiên các triệu chứng thường xuyên xuất hiện trên đàn:
+ Bỏ ăn hoặc kén ăn và sốt cao
+ Xuất huyết dưới da quan sát thấy rất phổ biến ở các vùng da mỏng như tai, đùi, bụng và ngực Các nốt xuất huyết xuất hiện cới dấu hiệu đặc trưng là hoại tử tím đen ở vùng trung tâm
+ Hậu môn dính máu, máu chảy từ hai lỗ mũi từ ngày thứ 2-3 kể từ khi sốt
Trang 5+ Một số heo có biểu hiện nôn ói trước khi chết, con vật thường chết cấp tính, sau 2-3 ngày có biểu hiện triệu chứng
+ Một số ít heo vượt qua giai đoạn này thường run rẩy, tụ lại và nằm tập trung dưới đèn sưởi
b) Tổn thương đại thể ở heo mắc bệnh dịch tả heo châu Phi:
+ Phần lớn các heo mổ khám xuất hiện các tổn thương điển hình của bệnh như: thận xuất huyết điểm nghiêm trọng, lách phì đại nằm vắt ngang xoang bụng
+ Hệ thống hạch lympho như: hạch dưới hàm, hạch trung thất, hạch bẹn nông, hạch màng treo ruột,… đều xuất huyết ngiêm trọng ( riêng hạch dạ dày – gan và hạch thận sưng, xuất huyết nghiêm trọng như khối máu tụ)
+ Cơ tim, túi mật, bóng đái, dạ dày và ruột đều xuất huyết ở các mức độ khác nhau c) Tổn thương vi thể ở một số cơ quan của heo mắc bệnh dịch tả heo châu Phi: +Nhìn chung, các hiện tượng hoại tử các tế bào lympho, teo nhỏ nang lympho ở hệ thống hạch lympho và lách, xuất huyết tràn lan các cơ quan nội tạng
3.2 Sự bài tiết của virus ASF:
+ Bài tiết ở hầu họng
+ Bài tiết qua đường miệng
+ Bài tiết từ đường niệu sinh dục dưới
+ Bài tiết phân
+ Bài tiết qua nước tiểu
Chủng ASFV ở nhiều heo bị nhiễm bệnh đào thải ra ngoài 1 hoặc 2 ngày trước khi bắt đầu sốt, đặc biệt là qua đường mũi họng
4 Sự lây truyền của dịch tả heo Châu Phi:
- Về sự lan truyền các nhà nghiên cứu đưa ra các kịch bản khi dịch bệnh diễn ra ở các vùng khác nhau :
Trang 6+ Kịch bản cổ xưa nhất mô tả việc truyền từ phía đông và phía nam các nước Châu Phi, dịch tả heo Châu Phi lây truyền sang heo nhà chủ yếu do vết cắn của bọ ve bị nhiễm trùng hoặc do ăn phải các mô từ mụn cóc nhiễm trùng cấp tính
+ Kịch bản thứ hai mô tả tình hình ở phía tây các quốc gia Châu Phi, gần đây đã bị ảnh hưởng nhiều hơn bởi ASF Ở đây, sự lây truyền xảy ra chủ yếu thông qua tiếp xúc trực hoặc tiếp xúc gián tiếp giữa heo và các sản phẩm từ thịt heo nhiễm bệnh, dường như không có sự lây lan do bọ ve mềm
+ Kịch bản thứ ba xảy ra khi căn bệnh này xuất hiện trên bán đảo Iberia (1960–1995) heo nhà và heo rừng mắc bệnh, lây truyền chủ yếu do tiếp xúc trực tiếp với
trong hệ thống chăn nuôi heo ngoài trời
+ Kịch bản cuối cùng được đưa ra khi bệnh du nhập vào miền trung và miền nam các nước Châu Mỹ (1968–1980), nhưng lần này bệnh chỉ ảnh hưởng đến heo nhà, động vật hoang dã (heo hoang) và bọ ve mềm không đóng một vai trò quan trọng trong dịch tễ học và sự lây truyền của bệnh
+ Kịch bản cuối cùng xảy ra ở các khu vực ảnh hưởng hiện tại của Liên bang Nga và các nước xuyên Caucasian Các chu kỳ dịch tễ học của ASF đang ảnh hưởng đến heo nhà
và heo rừng, nhưng cho đến nay không thấy sự tham gia của bọ ve mềm
Hầu hết các đợt bùng phát (79,8%) ảnh hưởng đến heo nội và đã gây ra bởi sự di chuyển của động vật bị nhiễm bệnh hoặc mang mầm bệnh và những sản phẩm của chúng, chỉ (20,2%) số vụ bùng phát ảnh hưởng đến heo rừng được gây ra chủ yếu bởi sự tiếp xúc giữa các loài hoang dã heo đực và heo nhà Mặc dù ở một số khu vực không tìm thấy sự
có mặt của bọ ve mềm lây truyền bệnh nhưng ở các thử nghiệm chúng dễ bị nhiễm ASFV
và có khả năng gây nhiễm bệnh ở heo
- Ngoài ra, virus ASF còn có thể lây truyền qua:
+ Con người và dụng cụ chăn nuôi
+ Vận chuyển và bán tháo heo bệnh
- Khả năng lây nhiễm dịch bệnh qua nhiều con đường thông thường thì có thể kiểm soát dễ dàng như các biện pháp an toàn sinh học, vệ sinh tiêu độc khử trùng,… Nhưng khi
Trang 7ta nói đến sự lây truyền thông qua thức ăn và nguồn nước thì sẽ gây ra khó khan trong xử
lí và kiểm soát
+ Nếu ASFV lây nhiễm qua nguồn nước thì cần một số lượng virus trong nước ít
nhiễm ASFV trong nguồn nước là rất cao
+ Thức ăn có khả năng tồn tại mầm bệnh ASF, nguyên liệu thức ăn vẫn có thể là nguồn dẫn ASFV vào các trang trại chăn nuôi heo
5 Dịch tả heo Châu Phi (ASF) tại Việt Nam:
5.1 Đặc tính sinh học và sinh học phân tử của chủng ASFV phân lập được tại các tỉnh miền Bắc:
- Virus ASF trên môi trường tế bào PAM (tế bào đại thực bào phế nang phổi của
HAD50/ml
- Kết quả giải trình tự gen và phân tích về tỷ lệ tương đồng nucleotide và acid amin của gen P72 đối với 5 chủng virus phân lập được cho thấy cả 5 chủng virus giống nhau 100% về trình tự nucleotide và amino acid Khi so sánh trình tự gen P72 của các chủng virus ASF với chủng virus VNUA/HY ASF1/Vietnam/2019 gây ra ổ dịch đầu tiên tại Hưng Yên, Việt Nam, tỷ lệ tương đồng về nucleotide và amino acid là 100% Kết quả phân tích trình tự gen P72 cũng cho thấy các chủng virus ASF phân lập được tương đồng 100% về nucleotide và amino acid khi so sánh với các chủng virus đã được công bố tại Trung Quốc
5.2 Độc lực của chủng virus dịch tả heo Châu Phi (VNUA - ASFV - L01) phân lập tại tỉnh Hà Nam:
- Nghiên cứu bước đầu xác định chủng virus DTLCP ký hiệu VNUA - ASFV - L01
có độc lực cao đối với heo, biểu hiện triệu chứng lâm sàng và bệnh tích đại thể đặc trưng thể bệnh cấp tính trong tự nhiên Kết quả kiểm tra virus huyết cho thấy vào ngày thứ 2 sau gây nhiễm bắt đầu có sự xuất hiện virus dịch tả heo Châu Phi trong máu, và virus nhân lên mạnh trong máu từ ngày 3-6 sau gây nhiễm
- Năm 2019 dịch tả heo Châu Phi xảy ra ở Việt Nam lan ra rất nhanh chỉ trong vòng
6 tháng bệnh ASF đã lan ra khắp 63/63 tỉnh thành ở Việt Nam tình trạng dịch ASF lúc đó
Trang 8được xem là tình trạng ở thể cấp tuy nhiên sau một khoảng thời rất ngắn khi lan truyền khắp các tỉnh thì ASF bắt đầu chậm lại và chuyển qua ở một dạng khác được tạm gọi là thoái trào Khi đến năm 2020 - 2021 ASF chuyển sang một trạng thái mới đó là trạng thái ASF ở thể mãn (hay thể lưu nhiễm, thể nội vùng) nghĩa là virus ASF nó không còn gây bệnh một cách ồ ạt nữa cũng như tình trạng lâm sàng của chúng không còn giống như cũ
mà hiện diện sẵn trong đàn heo và nó gây nên một số bệnh lý mà ta không thể ngờ trước
mà đó chính là do ASF gây ra Điều đó cho thấy bệnh ASF không mất đi mà nó chỉ ở dạng tiềm ẩn khi gặp thời cơ nó sẽ bùng phát lên và gây bệnh Vậy lý do nào mà ASF chuyển từ dạng thể cấp sang dạng ở thể mãn hay thể ẩn ASFV về cơ bản được phân chia
ra 3 nhóm độc lực cao, trung bình, thấp và tuỳ theo động lực của nó mà nó gây ra bệnh ở thể quá cấp hoặc thể cấp, dạng thể thứ hai là dưới cấp hoặc thể mãn và dạng thể thứ ba là thể tiềm ẩn
- Virus ASF tuỳ theo độc lực của nó thay đổi từ cao đến thấp nên tình trạng bệnh của
nó cũng sẽ thay đổi theo vậy do đâu mà ASFV lại thay đổi từ động lực cao lại sang động lực thấp để chuyển thành thể tiềm ẩn hay thể mãn tính: 2 nguyên nhân
+ Nguyên nhân 1: Do sự tiến hoá của con virus ASF
Khi ASFV xâm nhập vào đàn heo thì tuỳ theo khả năng đề kháng của đàn heo thì sẽ xuất hiện tình trạng virus ASF với lại đàn heo cân đồng sau khi một số heo sinh ra kháng thể ngăn chặn sự nhân lên của ASFV và làm cho virus ASF không có khả năng gây bệnh nhưng ASFV sẽ không mất đi mà nó sẽ ở dạng tiềm ẩn và biến đổi tạo thành biến chủng mới có động lực thấp hơn
đánh giá về độ an toàn ( lí do quan trọng tạo điều kiện ASFV động lực thấp tồn tại mà không nhận biết được)
- Những con heo còn sống sót với virus ASF thì chúng sẽ tạo ra những biến chủng
và đồng thời với sự tồn tại của vaccine nhược độc nó sẽ âm thầm lây nhiễm trên đàn heo
và lây truyền cho đến khi xuất hiện điều kiện cần thiết thì nó sẽ gây nên tình trạng bệnh lí
và đón nhận hậu quả nặng nề cho các trang tại chăn nuôi như: bệnh lý mãn tính, mầm bệnh dai dẳng, lây truyền qua thai rối loạn năng suất sinh sản
5.3 Tác động của dịch tả heo Châu Phi đến người nuôi heo tại huyện Thống Nhất, tỉnh Đồng Nai:
Trang 9- Dịch tả heo châu Phi diễn biến phức tạp đã ảnh hưởng lớn đến hoạt động chăn nuôi heo của huyện Thống Nhất Trước dịch năm 2019 quy mô đàn dưới 200 con chiếm 54,55% và đàn trên 200 con là 45,45%, nhưng do ảnh hưởng của dịch năm 2020 quy mô đàn dưới 200 con là 85,23% và quy mô đàn trên 200 con giảm còn 14,77% Số liệu thống
kê chỉ ra có 92.412 con heo bị tiêu hủy chiếm 21,8% toàn tỉnh Đồng Nai Tác động biên của mỗi con heo bị nhiễm dịch tả heo Châu Phi lên lợi nhuận của nông hộ là -0.888% Như vậy, số heo nhiễm bệnh càng nhiều thì lợi nhuận trong chăn nuôi của hộ sẽ càng thiệt hại lớn hơn
5.4 Một số biện pháp có thể đề xuất áp dụng gồm:
(1) Cung cấp thông tin cập nhật về bệnh ASF, tình hình dịch bệnh thường xuyên giúp cảnh báo, nâng cao nhận thức của người dân, người chăn nuôi và thú y cơ sở
(2) Các khái niệm ASF cơ bản, đặc biệt là về các biện pháp an toàn sinh học trong chăn nuôi, cách bệnh lây truyền, cách phòng tránh, các triệu chứng lâm sàng và bệnh tích cần được thông tin rộng rãi
(3) Kiểm soát chặt chẽ đầu vào của trại chăn nuôi như: thức ăn (không sử dụng thực phẩm
dư thừa chưa qua xử lý nhiệt của bếp ăn, nhà hàng, khách sạn,…), dụng cụ, phương tiện vận chuyển, phụ phế phẩm trong chăn nuôi
(4) Tăng cường kiểm tra, xét nghiệm thường xuyên sức khoẻ đàn heo nuôi; kiểm soát chặt chẽ giết mổ heo thương phẩm tại trại
(5) Với các ổ dịch, cần phát hiện sớm, chẩn đoán nhanh chóng, tiêu huỷ tại chỗ, cấm di chuyển heo và các sản phẩm có nguồn gốc từ lợn ở các khu vực này
(6) Các yếu tố tự nhiên khác như: heo rừng, ruồi trang trại, ve mềm liên quan tới bệnh, cần được coi là nguồn lây nhiễm tiềm năng, áp dụng các biện pháp kiểm soát ngay khi cần thiết
(7) Cần có sự phối hợp và chia sẻ giữa chính phủ, các đơn vị và người chăn nuôi cũng như giữa Việt Nam với các tổ chức quốc tế (FAO, OIE,…)
6 Các hướng nghiên cứu và những khó khăn trong sản xuất vaccine phòng bệnh dịch tả heo Châu Phi (ASF):
6.1 Hướng nghiên cứu:
- Từ lâu, vacxin luôn được nhắc đến như là lựa chọn tốt nhất trong việc kiểm soát các bệnh truyền nhiễm trên động vật Nhìn chung, vacxin trên động vật đều được phát triển theo các hướng vô hoạt hoặc nhược độc virus Tại thời điểm này, các nhóm nghiên
Trang 10cứu đang tập trung nghiên cứu và phát triển vacxin phòng ASF theo các hướng
như: vacxin nhược độc, vacxin dưới đơn vị và không tập trung vào vacxin vô hoạt
6.2 Những khó khan trong sản xuất vaccine phòng bệnh:
- Dù bệnh đã được khoa học biết đến từ 1921 cùng khoa học công nghệ rất phát triển những năm qua, nhưng nghiên cứu sản xuất vacxin phòng ASF vẫn đang gặp nhiều cản trở do thiếu những thông tin về cơ chế nhiễm và đặc tính miễn dịch Đến nay, bản chất của các đáp ứng miễn dịch bảo vệ chưa được làm rõ cũng như kháng nguyên bảo vệ chưa được xác định, cùng với cơ chế virus điều chỉnh đáp ứng của vật chủ khi nhiễm bệnh chưa sáng tỏ được cho là các yếu tố cản trở hiệu quả của vaccine
II Các bài báo
1 Tác giả đã làm được trong các bài báo:
- Cập nhật và cung cấp nhiều thông tin đa dạng về Dịch tả heo Châu Phi
- Làm sáng tỏ tầm quan trọng so sánh của các tuyến bài tiết khác nhau và để giải thích tại sao heo bệnh không lây sang người khác trong 24 giờ đầu tiên sốt, thực hiện về mô hình bài tiết virus ở heo nhà đã bị lây nhiễm qua đường tự nhiên với hai chủng vi rút có độc lực cao
- Đã phân lập thành công virus DTLCP trên môi trường tế bào PAM, các chủng virus
cong sinh trưởng của chủng virus VNUA/HungYen2/ASF trên tế bào PAM cho thấy, với
sau 96 giờ gây nhiễm Kết quả giải trình tự gen P72 cho thấy tất cả các chủng virus phân lập được trong nghiên cứu này đều thuộc nhóm genotype II
- Phát hiện kháng nguyên virus dịch tả heo Châu Phi trong các mô của heo mắc bệnh, góp phần cung cấp cơ sở khoa học cho việc lựa chọn mẫu bệnh phẩm phù hợp cho nghiên cứu
và chẩn đoán
- Cho thấy kháng nguyên virus tập trung nhiều nhất ở hạch, lách, tiếp đến là phổi, thận, gan, phân bố ít ở não, tim, ruột và dạ dày Kháng nguyên được phát hiện ở các tế bào đại thực bào, tế bào đơn nhân lớn ở nhiều cơ quan khác nhau, tế bào gan và tế bào biểu mô ống thận