Qua tổng quan tư liệu chúng tôi nhận thấy, việc sưu tầm và nghiên cứu văn học dân gian, văn học viết Điện Biên trong dòng chảy văn học Tây Bắc được tiến hành khá muộn và đến nay cũng chư
Trang 1MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
1.1 Điện Biên là vùng đất phên dậu của tổ quốc, có ý nghĩa địa – chiến lược quan trọng Đây cũng là nơi có nhiều tộc người cùng chung sống, làm nên một vùng đất đa dạng văn hóa tộc người, trong đó, nhiều tộc người có đời sống văn học dân gian phong phú như người Thái, người Hà Nhì, người H’Mông, người Khơ Mú Điện Biên là vùng đất có tiếng vang trên toàn cầu với chiến dịch lịch sử Điện Biên phủ hào hùng chấn động địa cầu đã thu hút được sự quan tâm của lớp lớp văn nghệ sĩ Điện Biên sau 1954 đã và đang trở mình trỗi dậy, hòa vào bản hợp
ca của công cuộc xây dựng đất nước của toàn dân tộc với một khí thế phấn khởi, tin tưởng Đời sống đồng bào nơi đây bên cạnh những hứa hẹn, những tự tin thì vẫn còn nhiều vấn đề làm ta phải nhức nhối, trăn trở Văn học viết Điện Biên đặt trong một bối cảnh xã hội như thế cũng đạt được nhiều thành tựu rất đáng ghi nhận
1.2 Qua tổng quan tư liệu chúng tôi nhận thấy, việc sưu tầm và nghiên cứu văn học dân gian, văn học viết Điện Biên trong dòng chảy văn học Tây Bắc được tiến hành khá muộn và đến nay cũng chưa có một công trình nào đặt ra nhiệm vụ sưu tầm các sáng tác văn học này một cách hệ thống, bài bản Vẫn biết, Điện Biên có một đội ngũ những người làm văn hóa dân gian đầy kinh nghiệm, trong những năm qua đã liên tục công bố các công trình có giá trị Đóng góp vào việc sưu tầm văn học dân gian Điện Biên cần kể đến công lao của Cầm Trọng, Lò Ngọc Duyên, Lường Thị Đại, Chu Chà Me, Chu Thùy Liên, Đặng Thị Oanh, Tòng Văn Hân Những công trình của họ âm thầm, lặng lẽ làm giàu vốn văn hóa của từng tộc người và của toàn dân tộc Còn về văn học viết, với một vùng đất mà lịch sử chấn động địa cầu, một vùng đất giàu có tiềm năng văn hóa tộc người, một vùng đất phên dậu có thiên nhiên hoang sơ mà hùng vĩ chính là một nguồn cảm hứng vô tận đối với lớp nhà văn hay những cây bút ngoại đạo Chúng tôi tìm thấy nhiều, rất nhiều các sáng tác về Điện Biên với thể loại phong phú, từ thơ ca đến kịch chèo, từ truyện ngắn đến tiểu thuyết Và đặc biệt là kí Tuy nhiên, theo tìm hiểu của chúng tôi, với hiện trạng lưu giữ tư liệu ấn phẩm như hiện nay, những sáng tác này nếu không nhanh chóng sưu tầm, xuất bản thành ấn phẩm một cách nghiêm túc, khoa học và có hệ thống thì sẽ có nguy cơ bị mai một rất nhanh Và đây là một sự lãng phí rất lớn Chính vì thế
có thể nói, với cách tiếp cận mới, đề tài có ý nghĩa cả về lí luận và thực tiễn
1.3 Nằm trong địa bàn chiến lược của khu vực Tây Bắc, Điện Biên nói riêng và các tỉnh miền núi phía Bắc nói chung đồng thời là địa điểm chịu sự dòm ngó của các thế lực thù địch Lợi dụng sự thiếu hiểu biết của một số đồng bào, các thế lực thù địch đã tiến hành nhiều thủ đoạn làm ảnh hưởng đến tình hình an ninh – chính trị và trật tự an toàn xã hội, đe dọa an ninh quốc gia Trước thực trạng đó, phát huy các giá trị tri thức bản địa, trong đó có văn học là hình thức khơi dậy tính tự tôn, tự hào dân tộc và nội lực của đồng bào các dân tộc thiểu số, góp phần phát triển kinh tế xã hội, bảo tồn các giá trị truyền thống, văn hóa tộc người Đó cũng là phương thức hữu hiệu nhằm chống lại âm mưu, thủ đoạn của các thế lực thù địch lợi dụng chính sách dân tộc, tôn giáo nhằm chia rẽ khối đoàn kết dân tộc, góp phần xây dựng các tỉnh Tây Bắc nói chung, Điện Biên nói riêng ngày càng văn minh, hiện đại, trở thành một địa bàn phát triển bền vững, giàu về vật chất, phong phú về tinh thần
Trang 21.4 Trong bối cảnh hiện nay, có một sự thực mà những người làm công tác văn hóa luôn phải quan tâm, đó là hiện trạng chủ thể văn hóa không đủ quan tâm, thậm chí không hiểu biết nhiều về văn hóa dân tộc mình Cũng có hiện tượng ý thức tự giác tộc người rất yếu Đó là một hiện trạng mà một quốc gia đa tộc người như Việt Nam không thể né tránh Hiện trạng đó đặt
ra trước mắt chúng ta một thử thách, đồng thời là một nhiệm vụ bằng mọi con đường, bằng mọi cách thức gìn giữ những nét văn hóa mang tính bản sắc tộc người, đặc biệt là những tộc người được coi là rất ít người ở Việt Nam mà Điện Biên là một trong những địa phương có được may mắn nắm giữ một phần tài nguyên đó Trong bối cảnh toàn cầu hóa văn hóa, dưới tác động của công nghệ thông tin và các thành tựu khoa học kĩ thuật khác, nhiều vấn đề mang tính bản sắc
tộc người đang đứng trước nguy cơ bị mai một Vì vậy, việc xuất bản ấn phẩm Hợp tuyển văn học Điện Biên sẽ có những đóng góp thiết thực cho mục tiêu gìn giữ bản sắc văn hóa tộc người
mà Đảng và Nhà nước ta đang rất quan tâm
Trong suốt thời gian qua, thực hiện Nghị quyết Trung ương V (khoá 8), kết luận Hội nghị Trung ương 10 (khoá IX) về “Xây dựng nền văn hoá Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc”, Nghị quyết số 33-NQ/TW ngày 9/6/2014 Hội nghị Trung ương 9 khóa XI về xây dựng và phát triển văn hóa, con người Việt Nam đáp ứng yêu cầu phát triển bền vững đất nước, công tác văn hoá ở vùng đồng bào các dân tộc thiểu số tỉnh Điện Biên có nhiều biến chuyển tích cực
về quản lý và tổ chức thực hiện Lãnh đạo các cấp và Sở Văn hoá, Thể thao và Du lịch Điện Biên luôn coi trọng, gìn giữ vốn văn hoá truyền thống của các dân tộc, nhất là dân tộc thiểu số vùng cao Các tài liệu được sưu tầm và công bố khá nhiều trong thời gian qua đã trở thành tiền
đề cho những nghiên cứu sâu trong tương lai và đề tài của chúng tôi cũng chính là nỗ lực theo hướng đó Hợp tuyển văn học Điện Biên chắc chắn sẽ là một công trình có giá trị trong việc bảo tồn văn học, văn hóa, sẽ là một tài liệu tham khảo có giá trị cho học sinh, sinh viên và giáo viên các bậc phổ thông, cao đẳng, đại học; đồng thời cũng là tài liệu tham khảo cho những ai quan tâm, góp phần quan trọng trong việc giới thiệu, quảng bá vùng đất và con người Điện Biên đến với đồng bào cả nước
2 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
Trang 3tiến hành như thế nào, có được địa phương quan tâm hay chưa? Bên cạnh đó, văn học đã góp phần thể hiện như thế nào về đất và người Điện Biên? Thiết nghĩ, đây là một công việc hết sức cần thiết Từ suy nghĩ như vậy, chúng tôi đề xuất nghiên cứu đề tài này với mục đích: Sưu tầm
và xuất bản thành ấn phẩm sáng tác về Điện Biên để bảo tồn và giúp cho việc tham khảo được rộng rãi, góp phần quảng bá hình ảnh địa phương trong nước và quốc tế Đây cũng là một cách
để quảng bá hình ảnh đất nước, góp phần phát triển kinh tế - xã hội
2.2 Nhiệm vụ nghiên cứu
Để thực hiện được mục đích nghiên cứu như vậy, chúng tôi chỉ ra nhiệm vụ như sau:
Một là, để thực hiện mục đích sưu tầm:
- Đến các thư viện lớn của quốc gia, các thư viện về khoa học xã hội, các thư viện của các trường đại học lớn, các thư viện tỉnh tìm kiếm tư liệu về văn học Điện Biên, đọc và phô tô, cho đánh máy lại
- Xây dựng tiêu chí “văn học Điện Biên”
- Đến các vùng đất có người dân tộc thiểu số sống tập trung, tham gia vào các thực hành văn hóa của họ để sưu tầm những câu hát dân gian, những câu chuyện kể chưa được xuất bản
- Trên cơ sở những tài liệu đã sưu tầm được, căn cứ vào tiêu chí “văn học Điện Biên”, chúng tôi chọn lọc để đưa vào Hợp tuyển văn học Điện Biên
Hai là, để thực hiện mục đích nghiên cứu:
- Tổng quan tư liệu văn học Điện Biên
cổ chí kim, trên cơ sở đó tiến hành lựa chọn, nghiên cứu
- Với văn học dân gian chưa xuất bản, đề tài tiến hành điền dã tìm kiếm tư liệu trong thời gian thực hiện đề tài (năm 2015, 2016)
3.2 Phạm vi không gian:
- Việc tiến hành điền dã để sưu tầm những tác phẩm văn học dân gian đang lưu truyền trong dân gian mà chưa có điều kiện xuất bản được tiến hành ở các khu vực: huyện Điện Biên, Tuần Giáo, tập trung chủ yếu ở tộc người Thái và người H’ Mông
- Với văn học dân gian và văn học viết đã xuất bản, nhóm nghiên cứu tìm kiếm tập trung ở các thư viện như: Thư viện Quốc gia Việt Nam, thư viện Viện Hàn lâm khoa học xã hội Việt Nam, thư viện Đại học Quốc gia Hà Nội, thư viện Trường Đại học Sư phạm Hà Nội, thư viện Sơn La, thư viện Điện Biên và những nguồn cung cấp của cá nhân các tác giả và những nhà nghiên cứu như: Du An (Điện Biên), Nguyễn Đức Lợi (Tuần Giáo – Điện Biên), Tòng Văn Hân (Noong Luống – Điện
Trang 4Biên), Đỗ Thế Điệp (Điện Biên), TS Phạm Đặng Xuân Hương (Trường Đại học Sư phạm Hà Nội), PGS.TS Nguyễn Việt Hùng (Trường Đại học Sư phạm Hà Nội), TS Bùi Thị Thiên Thai (Viện Hàn lâm khoa học xã hội Việt Nam)
4 Phương pháp sưu tầm, nghiên cứu
4.1 Phương pháp điền dã dân tộc học
- Là phương pháp chính được sử dụng khi thực hiện đề tài Theo đó, nhóm nghiên cứu đã tiến hành các cuộc điền dã ở địa phương, gồm: Noong Luống – Điện Biên, Tuần Giáo Sử dụng phương pháp điền dã dân tộc học với các thao tác phát phiếu điều tra bằng bảng hỏi, ghi chép, ghi âm và phỏng vấn sâu cá nhân Người viết trực tiếp đi đến các xã trong huyện, các bản có người dân tộc thiểu số sinh sống để quan sát nếp sống, sinh hoạt của họ Nhóm nghiên cứu cũng tiến hành phát phiếu điều tra, tiến hành hỏi trực tiếp trên cơ sở bảng hỏi đã xây dựng và được duyệt
- Trên cơ sở những tư liệu thực tế đã thu thập được trong quá trình điển dã, nhóm nghiên cứu có kết hợp sử dụng các phương pháp thống kê, tổng hợp, phân tích, so sánh… để có thế nhận diện rõ hơn về những sinh hoạt văn hóa của các tộc người địa phương nơi đây
Tại đây, nhóm nghiên cứu đã tiến hành các thao tác như sau:
Một là, phát phiếu điều tra: Nhóm đã thiết kế 4 mẫu phiếu ((1) phiếu dành cho người
Việt, (2) phiếu dành cho người thiểu số, (3) phiếu dành cho nhà nghiên cứu, (4) phiếu dành cho chuyên gia) Hai mẫu phiếu được sử dụng chính khi nhóm nghiên cứu điền dã tại địa phương là phiếu dành cho người thiểu số và phiếu dành cho người Việt sống chung hoặc sống lân cận với người dân tộc thiểu số để lấy thông tin Số phiếu được phát ra ở 7 địa điểm là 490 phiếu, thu về đầy đủ
Tại các địa bàn này, nhóm đã gặp gỡ với bà con các tộc người thiểu số, trong đó chủ yếu là người Thái, người H’ Mông… với sự giúp đỡ làm phiên dịch của các anh chị em làm công tác văn hóa nghệ thuật như: ông Vì A Hao (người H’ Mông), bà Hoàng Thị Hồng Điệp (người Thái), ông Tòng Văn Hân (người Thái)… trong thời gian từ tháng 6 đến tháng 11 năm
2015 Kết quả là, chúng tôi đã sưu tầm được một số truyện kể dân gian, một số bài ca sinh hoạt nghi lễ ở khu vực Mường Thanh (Điện Biên), chúng tôi đã sưu tầm được một số bài ca nghi lễ
ở vùng Tả Sìn Thàng (Tuần Giáo, Điện Biên)… Có thể nói, với hơn 100 trang tư liệu tươi mới này, mặc dù chỉ chiếm một phần rất nhỏ tư liệu văn học dân gian lưu truyền trong dân gian nhưng cũng mang lại cho công trình sưu tầm của chúng tôi những giá trị đáng trân trọng
Tuy nhiên, kết quả cho thấy những phiếu có thông tin mới còn tương đối ít, không đáng
kể Các câu chuyện hay các câu ca dân gian mà nhóm người này nắm được không nhiều Các
dị bản tương đối là thiếu thống nhất và thiếu tính hệ thống
Chúng tôi cúng tiến hành phỏng vấn sâu các nghệ nhân để có thể đối chiếu với văn
bản thu lượm được Trong quá trình điền dã ở Điện Biên, chúng tôi đã tiến hành phỏng vấn ông Tòng Văn Hương và ông Tòng Văn Hân (đội 8 Noong Luống, Huyện Điện Biên) Đáng tiếc, sau khi tiến hành phỏng vấn được một thời gian ngắn, ông Tòng Văn Hương không may đã lâm bạo bệnh qua đời Một số thông tin mà chúng tôi thu lượm được ở ông Tòng Văn Hương
Trang 5đã được xử lý nhưng có những thông tin cần kiểm chứng lại thì chưa có dịp để gặp ông cùng trao đổi Chúng tôi cũng phỏng vấn ông Vì A Hao (Tuần Giáo) về văn hóa, văn học dân gian người H’Mông ở nơi đây Ngoài ra còn phỏng vấn thêm nhiều bà con người Thái, người H’Mông khác
Chúng tôi cũng tiến hành phỏng vấn một số nhà nghiên cứu để có thể làm phong
phú thêm các tư liệu nghiên cứu, đó là việc phỏng vấn Giáo sư tiến sĩ Lê Chí Quế, PGS.TS Lê Quang Hưng, TS Phạm Thị Hà, TS Nguyễn Thị Tuyết Nhung, TS Hà Đăng Việt, TS Ngô Thị Diễm Hằng, TS Phạm Đặng Xuân Hương Các ý kiến thu lượm được từ các nhà nghiên cứu
đã cho chúng tôi những gợi ý, những đánh giá rất đáng quý cho quá trình thực hiện đề tài
- Quan sát, quan sát tham dự: Để có thể sưu tầm được các bài ca dân gian trong các
nghi lễ, chúng tôi đã tiến hành quan sát và quan sát tham dự tại các địa bàn trên trong thời gian diễn ra nghi lễ Về quan sát, chúng tôi đã đến các địa điểm để nghiên cứu về địa chí, tìm hiểu xem có cơ sở nào ảnh hưởng đến đời sống văn hóa và các sinh hoạt, các thực hành văn hóa của người dân nơi đây, điều đó có ảnh hưởng như thế nào đến việc nảy nở các bài ca dân gian
Hai là, phỏng vấn chuyên gia: Nhóm cũng tiến hành gặp gỡ với các nghệ nhân dân
gian, các thầy giáo, các ông mo cao tuổi, đó là ông Tòng Văn Hương (Đội 8, Noong Luống, huyện Điện Biên, tỉnh ĐiệnBiên), ông Tòng Văn Hân (Đội 8, Noong Luống, huyện Điện Biên, tỉnh Điện Biên), mo Lò Văn Sơn, ông Vì A Hao, cô giáo Nguyễn Thị Thanh Thúy, giáo viên Văn trường Thanh Minh, chị Hoàng Thị Hồng Điệp (người Thái, công tác tại Công An tỉnh Điện Biên), cô Hoàng Thị Dịu, giáo viên trường THPT Chuyên ban Điện Biên, ông Đỗ Trọng Luân (Hội Văn học nghệ thuật tỉnh Điện Biên), ông Du An (Hội văn học nghệ thuật tỉnh Điện Biên), bà Chu Thùy Liên (Ban Dân tộc tỉnh Điện Biên), mo Lò Văn Sơn, đội 8, Noong Luống, huyện Điện Biên, tỉnh Điện Biên, mo Lò Văn Chung, bản Bông, xã Noong Hẹt, huyện Điện Biên, tỉnh Điện Biên; mo Lò Văn Phanh, bản Bông, xã Noong Hẹt, huyện Điện Biên, tỉnh Điện Biên
4.2 Phương pháp phân tích tư liệu thứ cấp
Đây là một phương pháp quan trọng và thu được nhiều hiệu quả nhất trong thực hiện đề tài Nhóm tác giả có thể nói đã hết sức nỗ lực trong việc tìm kiếm các nguồn tài liệu liên quan đến đề tài Những nơi được tìm kiếm là:
- Thư viện Quốc gia Việt Nam
- Thư viện tỉnh Điện Biên
- Thư viện tỉnh Sơn La
- Hội Văn học nghệ thuật tỉnh Điện Biên
- Thư viện Khoa học Xã hội Việt Nam
- Thư viện Viện Hàn lâm khoa học Xã hội Việt Nam
- Thư viện Trường Đại học Sư phạm Hà Nội
- Thư viện Đại học Quốc gia Hà Nội
- Bảo tàng Dân tộc học
Có thể nói, những tư liệu đã được xuất bản đều được nhóm nghiên cứu tiếp cận và thao tác, trong đó có những tư liệu để thao tác được mất rất nhiều thời gian Đó là những tư liệu tồn
Trang 6tại tản mạn trên các báo, trong đó có những bài báo quá cũ, chất lượng kém, nhóm tác giả đã phải mang máy tính lên thư viện, hai người ngồi, một người đọc một người gõ vì thực sự, phải vừa đọc vừa luận từng chữ
- Có những cuốn sách xuất bản từ năm 1960 bằng giấy đen, khổ nhỏ, công tác bảo lưu cho đóng lại gáy nên hết sức khó đọc, mất chữ
- Nhiều tư liệu trên Sáng tác sông Đà, Văn nghệ Lai Châu đã quá cũ, nhóm nghiên cứu cũng phải bố trí ngồi đọc, luận rồi đánh máy tại Thư viện vì phô tô về không thể đọc được
4.3 Phương pháp so sánh, đối chiếu
Phương pháp này chủ yếu dùng trong việc xử lý, sửa chữa bản thảo của những tư liệu thứ cấp- là nguồn tư liệu chính của đề tài Đây là một công việc đòi hỏi người thực hiện phải có tinh thần khoa học, nghiêm túc, kiên trì mới có thể thực hiện được Bởi lẽ, đối với văn chương,
sai một chữ, thậm chí là đánh nhầm một dấu chấm, dấu phẩy cũng là cả một vấn đề lớn
5 Đóng góp của đề tài:
Thực hiện đề tài này, chúng tôi nhận thấy có những đóng góp như sau:
- Lần đầu tiên đặt ra mục tiêu sưu tầm một cách đầy đủ, hệ thống về văn học Điện Biên, bao gồm văn học dân gian và văn học viết, có ý nghĩa quan trọng trong việc bảo tồn các giá trị của văn học, góp phần vào việc giữ gìn và bảo tồn văn hóa Điện Biên nói riêng, văn hóa Việt Nam nói chung
- Lần đầu tiên đề tài đặt ra vấn đề nghiên cứu một cách hệ thống về các giá trị văn học dân gian và văn học viết Điện Biên, là cơ sở để lí giải những vấn đề liên quan đến văn học Điện Biên, văn học Điện Biên trong dòng chảy văn học dân tộc cũng như lí giải các vấn đề về văn hóa địa phương, đặc biệt là văn hóa của cộng đồng các dân tộc thiểu số Điện Biên
6 Bố cục của báo cáo tổng hợp kết quả của đề tài
MỞ ĐẦU
NỘI DUNG
Chương I: Cơ sở lý luận và tổng quan tài liệu
Chương II: Kết quả sưu tầm, nghiên cứu văn học dân gian Điện Biên
Chương III: Kết quả sưu tầm, nghiên cứu văn học viết Điện Biên
KẾT LUẬN VÀ NHỮNG KIẾN NGHỊ, ĐỀ XUẤT
TÀI LIỆU THAM KHẢO
CHƯƠNG I:
CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1.1 Cơ sở lý luận
1.1.1 Quan niệm của Đảng Cộng sản Việt Nam về vai trò của văn học nghệ thuật
Văn học là biểu hiện của văn hóa Với ý nghĩa đó, ta tìm thấy không ít những vấn đề về văn hóa trong văn học
Trang 7Chúng ta biết rằng, trong quá trình phát triển lịch sử của mình, cũng như nhiều ngành khoa học khác, nghiên cứu văn học đã góp phần to lớn trong việc nhận thức về vai trò của văn hoá trong sáng tạo và tiếp nhận văn học, cũng như trong đời sống xã hội Những luận điểm của Bakhtin về bản chất đối thoại (dialogic nature) của văn học và văn hoá, về tính hệ thống và về mối quan hệ giữa các lĩnh vực đa dạng của văn hoá, về đời sống năng động và mạnh mẽ của văn hoá diễn ra ngay trên những đường biên của những lĩnh vực riêng của nó; những gợi ý của
Y Lotman về ký hiệu học, xem văn học, văn hoá như những văn bản, những mã ký hiệu… đã đóng góp quan trọng cho nền lý luận của văn hoá học thế giới và cả trong thực tiễn nghiên cứu văn hóa
Còn ở Việt Nam? Những công trình nghiên cứu văn học, cả văn học dân gian và văn học viết của những tác giả tên tuổi như Đinh Gia Khánh, Chu Xuân Diên, Vũ Ngọc Khánh, Trần Đình Hượu, Phan Ngọc, Trần Đình Sử, Nguyễn Huệ Chi, Đỗ Lai Thúy… đã góp phần quan trọng làm nên diện mạo của văn hoá học ở nước ta Chính vì vậy, nhiều nhà nghiên cứu văn học ở nước ta, như một tất yếu đã vừa là nhà nhà nghiên cứu văn học vừa là nhà nghiên cứu văn hoá
Từ mối quan hệ đặc biệt giữa văn hóa và văn học, Đảng ta đã liên tục khẳng định văn học, nghệ thuật là một bộ phận trọng yếu của văn hóa dân tộc qua các Văn kiện, các Nghị quyết của Đảng
- Văn kiện đại hội VI khẳng định: “Không hình thái tư tưởng nào có thể thay thế được văn học và nghệ thuật trong việc xây dựng tình cảm lành mạnh, tác động sâu sắc vào việc đổi mới nếp nghĩ, nếp sống của con người”
- Trong Nghị quyết 5 của bộ Chính trị khóa VI (1987) xác định: “Văn học nghệ thuật là
bộ phận đặc biệt nhạy cảm của văn hóa, thể hiện khát vọng con người về chân, thiện, mỹ, có tác dụng bồi dưỡng tình cảm, tâm hồn, nhân cách, bản lĩnh của các thế hệ công dân xây dựng môi trường đạo đức trong xã hội, xây dựng con người mới xã hội chủ nghĩa”
- Văn kiện Đại hội VII (1991) nêu rõ: “Văn học, nghệ thuật là một bộ phận quan trọng trong nền văn hóa, gắn bó với đời sống nhân dân và sự nghiệp cách mạng do Đảng lãnh đạo”
- Nghị quyết TW 4 khóa VII khẳng định: “Văn học nghệ thuật là một bộ phận trọng yếu của nền văn hóa dân tộc, thể hiện khát vọng của nhân dân về chân, thiện, mỹ”
-Nghị quyết TW 5 khóa VIII coi văn học, nghệ thuật là một trong những lĩnh vực quan trọng nhất của văn hóa - nền tảng tinh thần xã hội
- Nghị quyết 23 của bộ Chính trị khóa X (2008) nêu rõ: “Văn học nghệ thuật là lĩnh vực rất quan trọng, đặc biệt tinh tế của văn hóa, là nhu cầu thiết yếu,thể hiện khát vọng chân, thiện,
mỹ của con người, là một trong những động lực to lớn trực tiếp góp phần xây dựng nền tảng tinh thần của xã hội và sự phát triển toàn diện của con người Việt Nam.”
Như vậy, chúng ta thấy, Đảng và Nhà nước ta luôn coi văn học, nghệ thuật là hình thái
ý thức xã hội đặc thù, là một thành tố quan trọng của văn hóa Với đặc trưng riêng của nó, nó tác động rất sâu sắc đến tư tưởng,tình cảm của con người mà không một hình thái ý thức xã hội nào thay thế được Thực hiện Nghị quyết Trung ương V (khoá VIII) và kết luận Hội nghị Trung ương X (khoá IX) về "Xây dựng nền văn hoá Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân
Trang 8tộc", công tác văn hoá ở vùng đồng bào các dân tộc thiểu số ở các tỉnh Tây Bắc như Hòa Bình, Sơn La, Điện Biên có nhiều biến chuyển tích cực về quản lý và tổ chức thực hiện Lãnh đạo các cấp và Sở Văn hoá, Thể thao và Du lịch các tỉnh - thành phố luôn coi trọng, gìn giữ vốn văn hoá truyền thống của các dân tộc, nhất là dân tộc thiểu số vùng cao
1.1.2 Công tác sưu tầm văn học nghệ thuật trong lịch sử văn học: những điểm tham
chiếu
Thực hiện chủ trương của Đảng và nhà nước ta về công tác văn hóa văn nghệ, việc sưu tầm gìn giữ và phát huy vốn văn hoá cổ truyền của dân tôc đã được khơi dậy từ khá lâu nhưng hiệu quả thì thực sự chưa được như chúng ta mong muốn Đối với mảng văn học truyền miệng,
có thể thấy rằng, công tác sưu tầm đã gặt hái được nhiều thành công với những đóng góp đáng
kể của GS Tô Ngọc Thanh, của Hội văn nghệ Dân gian Việt Nam Tuy nhiên, chính mảng văn học viết – trong tương quan so sánh với văn học truyền miệng là có phần thuận lợi cho công tác sưu tầm thì lại chưa đạt nhiều thành tựu
Nhìn ra các địa bàn khác của cả nước, và cả tình hình nước ngoài, ý thức bảo tồn các trước tác văn học viết đã được thực hiện từ lâu
Trên thế giới, công tác sưu tầm, bảo tồn văn học viết được tiếp hành từ rất sớm Chúng tôi lấy thí dụ ở Trung Quốc, từ Tiên Tần, bộ Kinh Thi chính là một vựng tập lưu giữ các tác phẩm được sáng tác từ cuối đời nhà Thương (từ khoảng năm 1766 TCN tới khoảng năm 1122 TCN) đến thời Xuân thu ( từ năm 722 đến năm 481 TCN) Đời Hán đã có các vựng tập lưu lại những tác phẩm văn học của các danh sĩ đương thời Điều này còn tiếp tục được tiến hành trong hàng ngàn năm sau đó, trải Nam Bắc triều, Tùy, Đường, Tống, Nguyên, Minh, Thanh Không chỉ dựng lại ở mức độ thu thập, người Trung Quốc đã sớm tiến hành phân loại, đánh giá các tác phẩm Cho đến triều đại phong kiến cuối cùng cảu Trung Quốc, các tác phẩm văn học được xếp vào “Tập bộ” trong hệ thống phân loại kinh - sử - tử - tập Nhờ đó, người Trung Quốc luôn có thể bao quát toàn bộ các tác phẩm văn học của mình, từ đó đánh giá được những đắc thất của cả nền văn học
Ở nước ta, các tổng tập, vựng tập, hợp tập, tuyển tập… đã được nhiều thế hệ người Việt Nam tiến hành Đây chính là kết quả của việc sưu tầm, bảo tồn các tác phẩm văn học viết Theo tư liệu văn bia tại đền thờ Phan Phu Tiên và các sử liệu khoa bảng Việt Nam thì Phan
Phu Tiên (khoảng 1370 - 1462) vâng mệnh vua Lê Thái Tổ biên soạn Việt âm thi tập Năm
1433, Việt âm thi tập cơ bản đã hoàn thành, là bộ hợp tuyển thơ văn đầu tiên của nước Việt văn hiến Năm 1446, Thị ngự sử Chu Xa nhận thấy Việt âm thi tập còn chưa đầy đủ, cho nên đã gia công sưu tập thêm, đến năm 1459 thì hoàn thành Trong bài biểu dâng sách Việt âm thi tập (Thướng tiến Việt âm thi tập biểu) do Chu Xa soạn có chép về công việc này như sau: "Thần trộm thấy, sử quan Phan Phu Tiên trước có biên định Việt âm Thi tập nhưng chưa thật đầy đủ
Thần lại tiếp tục chọn thêm rồi xin quan Kinh diên Nguyễn Tử Tấn phê điểm, tu chỉnh biên thành 6 quyển Còn như thơ của người Bắc và người Nam làm quan ở Bắc thì chép thành quyển Phụ lục Sau khi tu sửa thành một bản, trang hoàng thành tập, kính cẩn dâng lên ngự lãm" Bộ sách đã được vua Lê Nhân Tông cho in trong cùng năm đó Về bản in lần đầu này, cần lưu ý thêm một chi tiết là, khoảng 300 năm sau, Lê Quý Đôn đã mang theo trong chuyến đi
Trang 9sứ lịch sử để giới thiệu với giới học thuật Trung Hoa và sứ thần các nước tại Trung châu, nhằm chứng minh cho họ về nền văn hiến rạng rỡ của Đại Việt Và dĩ nhiên, bộ sách đã vang danh thiên hạ, thể hiện rõ được truyền thống thi thư nước Nam, khiến phương Bắc không thể khinh thị văn minh của người Việt
Có thể nói, lòng tự hào dân tộc, ý thức gìn giữ bản sắc văn hóa dân tộc là động lực chính khiến các học giả vượt qua mọi trở ngại để hoàn thành tốt nhất việc sưu tập thơ văn các thời
Các địa phương cũng tiến hành làm công tác này, đáng kể nhất phải kể đến bộ sách
Tổng tập nghìn năm văn hiến Thăng Long ra đời kỉ niệm nghìn năm Thăng Long, trong đó có một bộ phận quan trong là các tác phẩm văn học viết (Phần thứ mười sáu: Một nghìn năm văn học Thăng Long)
Chúng tôi chú ý đặc biệt đến tiêu chuẩn chọn lựa mà Lê Quý Đôn học tập sáng tạo khi biên soạn Toàn Việt thi lục Ở đây, nhà bác học nổi tiếng ở thế kỷ XVIII đã theo năm “lệ” của
Lã Đông Lai khi làm quyển Tống văn giám Năm tiêu chuẩn đó là: 1 Những bài lời và lẽ đều
hay; 2 Những bài chỉ có lời hay; 3 Những bài văn chưa hay, nhưng đã được nhiều người thích; 4 Những bài văn tuy chưa hay nhưng tác giả là bậc hiền mà ít người biết tiếng, chép lấy một vài bài cho tên tuổi họ khỏi mai một; 5 Những bài lời không hay nhưng lẽ khá, đều được chép
Những bài học của ông cha xưa trong việc sưu tập và tuyển chọn thơ văn cho đến nay vẫn còn nguyên giá trị, càng tìm hiểu, càng nhận thấy rất bổ ích đối với chúng ta hôm nay Vì vậy, công tác sưu tầm văn học viết tỉnh Điện Biên là một nhiệm vụ cấp thiết, và cần được thực hiện một cách bài bản, nghiêm túc Đó cũng chính là ý nghĩa khoa học và thực tiễn của công việc mà chúng ta đang cùng nhau làm hiện nay
1.1.3 Sưu tầm, nghiên cứu và phổ biến văn học địa phương – vấn đề có ý nghĩa chiến
lược trong phát triển bền vững văn hóa
Văn học là một trong những phương diện phản ánh rõ nét văn hóa của mỗi khu vực Nghiên cứu văn hóa khu vực từ văn học địa phương là một cách tiếp cận không mới nhưng cũng chưa thật phổ biến ở Việt Nam Là đất nước có nền văn hóa thống nhất trong đa dạng với
54 dân tộc anh em cùng chung sống, việc tồn tại những sắc thái riêng mang tính bản sắc của từng vùng văn hóa là một thực tế khách quan ở Việt Nam Điện Biên nói riêng, Tây Bắc nói chung không phải là ngoại lệ và nói đến văn hóa vùng Tây Bắc hay văn hóa Điện Biên cũng chủ yếu làm chúng ta liên tưởng đến văn hóa dân tộc thiểu số nơi đây
Chúng ta đã sưu tầm bộ phận văn học này, chúng ta cũng đã xuất bản được không ít nhưng thiết nghĩ, công tác phổ biến cũng quan trọng không kém
Bức tranh về văn học vùng Tây Bắc và văn học Điện Biên cho chúng ta một nhận định tương đối khả quan về việc xuất bản Hợp tuyển văn học Điện Biên và việc tổ chức giảng dạy văn học Điện Biên trong các cơ sở giáo dục của tỉnh nhà Từ mối quan hệ giữa văn hóa và văn học, chúng tôi cho rằng, việc tăng cường sưu tầm, nghiên cứu giảng dạy văn học Điện Biên là một việc cần làm ngay để có thể bảo tồn và phát huy các giá trị của văn học trong việc giữ gìn văn hóa khu vực
Trang 101.2 Tổng quan tài liệu
1.2.1 Văn học dân gian Điện Biên
Có thể khẳng định ngay, cho đến nay, chúng ta vẫn chưa có công trình toàn tập tuyển tập hay toàn tập về VHDG Điện Biên
Việc sưu tầm công bố VHDG từ trước đến nay chủ yếu theo tiêu chí tộc người (Thái, Mường, Mông ) hoặc tiêu chí thể loại (Thần thoại, Truyện thơ, Truyện cổ ), nếu có lựa chọn tiêu chí địa lí thì các tuyển tập công trình cũng ở phạm vi rộng lớn là vùng miền Vì vậy thực trạng của việc sưu tầm, bảo lưu và xuất bản văn học dân gian Điện Biên gắn liền với các công trình sắp xếp theo vùng miền và thể loại Chúng tôi sử dụng phương pháp nghiên cứu tư liệu thứ cấp với thao tác thống kê để dựng lên bức tranh toàn cảnh về kết quả công tác sưu tầm, xuất bản văn học dân gian Điện Biên Nhìn chung, tư liệu văn học dân gian Điện Biên nằm chủ yếu trong:
- Các công trình văn học dân gian Tây Bắc
- Trong những công trình sưu tầm thể loại
- Trong những công trình sưu tầm, nghiên cứu về văn hóa tỉnh Điện Biên
- Trong các công trình luận văn, luận án
Qua công tác khảo cứu tư liệu, chúng tôi nhận thấy việc sưu tầm công bố VHDG Điện Biên có mấy điểm đáng chú ý như sau:
1 Hiện nay, công trình sưu tầm tổng thể VHDG Điện Biên chưa có Tư liệu VHDG Điện Biên chủ yếu nằm trong các công trình sưu tầm VHDG Tây Bắc trước đây mà ở các công trình sưu tầm thể loại (Dân ca Mông, Dân ca Thái, Truyện cổ Thái ); hoặc ở các công trình địa chí, văn hóa tộc người, văn hóa địa phương
2 Những tư liệu đã công có một phần có song ngữ, một phần chỉ có tiếng Việt Phần thông tin của người cung cấp tin (họ tên, tuổi, nghề nghiệp, địa bản cư trú cũng chưa đầy đủ) Cũng chưa có một bộ sưu tập tổng thể, toàn diện để tránh sự trùng lặp
3 Phần tư liệu đã công bố đang ở dạng nguyên sơ, giữ được những nét hồn nhiên, chân thật của nguồn tư liệu dân gian truyền miệng Tuy nhiên, rất cần thiết có sự biên tập sửa chữa
để có được những văn bản tốt hơn
1.2.2 Văn học viết Điện Biên
Văn học viết Điện Biên có mặt trong các tài liệu, ấn phẩm sau:
Tạp chí Văn nghệ Điện Biên
Văn nghệ Lai Châu trước 2003
- Về số lượng: Hiện có thể nói, chúng ta có thể tiếp cận được hầu hết các ấn phẩm đã xuất bản
từ năm 2012 (5 năm); từ năm 2011 trở về trước, mỗi năm thiếu một vài số Tuy nhiên, rất may
Trang 11là tỉnh nhà đã kịp cho “ra lò” cuốn “10 năm văn nghệ thành phố Điện Biên phủ” (2002 - 2012)
nhân kỷ niệm 10 năm thành lập chi hội Văn học nghệ thuật thành phố Điện Biên Phủ và và
Tuyển tập văn học nghệ thuật Điện Biên (1981 - 2006) Đây sẽ là những tài liệu hết sức quý
báu để chúng tôi có thể kế thừa trong việc tuyển chọn cũng như làm cứ liệu khi viết các chuyên
đề nghiên cứu, đánh giá về văn học của tỉnh nhà
- Về chất lượng: Cùng với sự thay da đổi thịt của mảnh đất Điện Biên tươi đẹp, với những con
người mới, khí thế mới và sự tiếp cận với những làn song mới, văn học có khởi sắc đáng kể: chuyên nghiệp hơn, đa thanh hơn và đặc biệt, bắt đầu hình thành những xu hướng tác giả Có thể nói, nền văn học này đã có những đóng góp nhất định và bước đầu xác lập được diện mạo riêng của văn học Điện Biên
Điều thứ hai cũng rất dễ nhận thấy là, Văn nghệ Điện Biên đã có nhiều tiếng nói đa thanh, đa giọng hơn chứ không chỉ ngợi ca một chiều như trước Nhiều cây bút đã khẳng định được cá tính với sức viết bền bỉ, tham gia và đạt được nhiều giải thưởng từ các cuộc thi văn học nghệ thuật quốc gia Đó là các tác giả:
Nguyễn Đức Lợi với: Ma núi rắn, Không biết, Con câm…
Du An về xăn xuôi có Lông gà và lá chuối, Người rừng rừng người, Lên cao thấy trời thấp thật Về thơ có các tập Điểm danh bạn bản, Trước dấu ba chấm (…)
Chu Thùy Liên với Thuyền đuôi én, Lửa sàn hoa xác lập được một phong cách tác giả Tòng Văn Hân, một hồn thơ, văn dịu dàng mà đằm thắm
Nguyễn Đình Hải với tập thơ Núi đồi nở hoa
Các cây bút Phạm Đức Cư, Đỗ Vũ Xô, Đỗ Thế Điệp, Hương Quê (Phan Quang Hiển), Trương Đình Duy, Hoàng Công Mai, Phạm Đình Thi, Nguyễn Ngọc Lệ; Nguyễn Khản, Nguyễn Quốc Chiến (đã mất)… cũng có nhiều đóng góp cho văn học nghệ thuật của Tỉnh
Các cây bút Huy Thông, Mạnh Cường, Thanh Sơn… với những đóng góp của mình đã góp một phần vô cùng lớn làm giai điệu văn nghệ Điện Biên ngân lên không ngớt trên bầu trời Tây Bắc Các tác giả Lê Tuấn, Văn Đức Thành, Vũ Hữu Cương… cũng thường xuyên đem sắc màu Mường Thanh cho bạn bè gần xa qua những sáng tác của mình Hay như Chu Linh, một cây bút trẻ giàu tiềm năng, được xem là “Có khả năng đi được con đường văn chương” (nhà văn Võ Thị Xuân Hà, Trưởng Ban Công tác Nhà Văn trẻ, Hội Nhà Văn Việt Nam)
Không thể điểm hết những cái tên, những nhân vật làm nên sức sống của Văn nghệ Điện Biên nhưng có thể khẳng định, những cây bút nông dân, những cây bút công nhân, những cây bút nhà giáo… nêu trên và còn nhiều cây bút khác chưa được điểm tên ra đây chính là những ánh hào quang của bầu trời Văn nghệ Điện Biên Họ đã làm nên được những thành tích bay xa, được Ban Tuyên giáo tỉnh ủy, Hội Văn học nghệ thuật tỉnh ghi nhận Một câu hỏi đặt ra
Trang 12là, ngoài phần tài năng, ý chí cá nhân thì công tác văn nghệ địa phương có được những thuận lợi gì? Có thể nhận thấy ngay được, đó là công tác tổ chức mà đặc biệt là quan điểm, đường lối đúng đắn về phát triển văn học nghệ thuật của tỉnh, trong đó có một vai trò to lớn của lãnh đạo Hội Văn học nghệ thuật Bên cạnh đó, thế hệ hội viên cao tuổi với niềm đam mê, tinh thần trách nhiệm đã góp một phần vô cùng quan trọng vào việc xây dựng đời sống văn học nghệ thuật trong tỉnh Không thể không nhắc tới những gương mặt đại diện như Lường Thị Đại, Chu Thùy Liên, Đặng Thị Oanh, Tòng Văn Hân … - các cây bút thơ văn nhiệt tình lao động sáng tạo, sưu tầm, góp nhặt
Trong các ấn phẩm công bố có tính địa phương, chúng tôi chú ý đến cuốn Tuyển tập văn học nghệ thuật Điện Biên (1981 - 2006) với hơn 300 trang Nhìn chung, tuyển tập văn học
nghệ thuật Điện Biên 1981 – 2006 đã cho thấy một số vấn đề sau:
Về ưu điểm:
(1) Thể loại khá đa dạng: truyện ngắn, thơ, thơ song ngữ, văn chính luận, tiểu thuyết (trích), hồi ký, bình luận tác phẩm và hiện tượng văn học
(2) Giới thiệu về thân thế, sự nghiệp của các cây bút
Cuốn 10 năm văn nghệ thành phố Điện Biên Phủ với một số lượng bài tương đối lớn,
đáp ứng khá tốt đòi hỏi của độc giả
Qua trữ lượng văn học viết trên tạp chí văn nghệ Điện Biên và những ấn phẩm do địa phương phát hành, chúng tôi bước đầu có những kết luận như sau:
1- Về thể loại, văn học Điện Biên trên Tạp chí Văn nghệ có sự đa dạng về thể loại, chúng
ta có thơ, có truyện ngắn, có tản văn, có phóng sự, ký sự; thơ chúng ta có thơ tiếng Việt, thơ song ngữ Trong những thể loại này chúng tôi nhận thấy, bên cạnh truyện ngắn với những cây bút có dấu ấn như Nguyễn Đức Lợi, Du An, tản văn và phóng sự, ký sự là những thể loại đạt được nhiều thành tựu Phải chăng do đặc trưng về điều kiện thiên nhiên nơi đây, núi rừng hoang sơ với những bản tình ca của núi, của người mà tản văn
có một sức hấp dẫn rất riêng?
2- Về số lượng, có đến hàng ngàn trang văn thơ về vùng đất này
3- Bước đầu có thể lí giải về sự nở rộ của văn học về Điện Biên ở những khía cạnh sau:
Một là, Điện Biên Phủ là mảnh đất mà lịch sử đã đi vào huyền thoại Chiến thắng lịch
sử Điện Biên Phủ năm 1954 đã mang lại nguồn cảm hứng dồi dào cho những ai đã từng đi qua, thậm chí chưa một lần đến với mảnh đất này
Hai là, Điện Biên giàu có về văn hóa tộc người Với hơn hai mươi tộc người sinh sống
ở đây, Điện Biên có thể nói là luôn mang đến cho du khách những cung bậc tình cảm đặc biệt khi đến với văn hóa tộc người
Ba là, người Việt (người Kinh) vốn không phải là dân tộc chủ thể, về lịch sử tụ cư ở nơi
đây cũng không phải là sớm nhất nhưng rất nhiều cây bút đã có những sáng tác có đóng góp quan trọng cho nền văn học nghệ thuật nước nhà Có thể phải kể đến Du An, Nguyễn Đức Lợi, Mạc Phi
Trên các ấn phẩm công bố ở Trung ương