Sau một thời gian tìm hiểu và triển khai đến nay, báo cáo nghiên cứu khoa học sinh viên năm học 2014 – 2015 với đề tài “Các tác phẩm đoạt giải cuộc vận động sáng tác “Văn học tuổi hai mư
Trang 1KHOA/BỘ MÔN: VĂN HỌC VÀ NGÔN NGỮ
CÔNG TRÌNH NGHIÊN CỨU KHOA HỌC SINH VIÊN
CẤP TRƯỜNG NĂM 2016
CÁC TÁC PHẨM ĐẠT GIẢI CUỘC VẬN ĐỘNG SÁNG TÁC “VĂN HỌC TUỔI HAI MƯƠI” LẦN V TỪ GÓC NHÌN
PHÊ BÌNH XÃ HỘI HỌC
Sinh viên thực hiện:
Chủ nhiệm: Trần Thị Thùy Dương, Lớp Văn học khóa học 2014-2018 Thành viên: Lê Trần Ngọc Mỹ, Lớp Ngôn Ngữ khóa học 2014-2018
Phạm Cát Thụy, Lớp Ngôn Ngữ khóa học 2014-2018
Người hướng dẫn: Th.S Nguyễn Thị Phương Thúy
Bộ môn Văn học Việt Nam, Khoa Văn học và Ngôn ngữ
Trang 2Sau một thời gian tìm hiểu và triển khai đến nay, báo cáo nghiên cứu khoa học sinh viên năm học 2014 – 2015 với đề tài “Các tác phẩm đoạt giải cuộc vận động sáng tác “Văn học tuổi hai mươi” lần V dưới góc nhìn phê bình xã hội học” đã có thể đi đến giai đoạn hoàn thành và kết thúc.Đây là một cơ hội để những sinh viên với kinh nghiệm còn non trẻ như chúng tôi, có thể khám phá bản thân, trau dồi những kiến thức mới, đặc biệt là kiến thức học thuật, rèn luyện kỹ năng viết cũng như bồi dưỡng thêm cho ngành nghề đang theo học.Không những thế, đây là một đề tài nghiên cứu thú vị, gần gũi với người trẻ, giúp chúng tôi nhìn nhận lại một phần bối cảnh văn học trẻ hiện nay một cách khoa họcvà có thể đúc kết một số kinh nghiệm bổ ích để định hướng cho
sự nghiệp viết sau này, đưa chúng tôi đến gần hơn diễn đàn văn học trẻ thật sự mà trước đó còn rất xa lạ, một màu sắc mới so với các tác phẩm của các tác giả trẻ thần tượng trên văn đàn hiện nay Trong quá trình nghiên cứu, chúng tôi xin gửi lời cảm ơn chân thành đến giảng viên hướng dẫn ThS Nguyễn Thị Phương Thúy đã tận tình chỉ dẫn và truyền đạt những kiến thức mới, giải đáp những thắc mắc cũng như có những lời khuyên bổ ích đối với những sinh viên năm hai chưa có nền tảng về những kiến thức chuyên ngành một cách vững chắc Mặc dù còn có nhiều khó khăn, hạn chế khi nghiên cứu đề tài nhưng cô đã luôn sẵn sàng hỗ trợ và động viên chúng tôi.Bên cạnh
đó, nhóm cũng gửi lời cảm ơn đến bạn Nguyễn Ngọc Như Phương với những đóng góp của bạn, giúp nhóm có thể tham gia nghiên cứu và hoàn thành đề tài
Một người yêu mến văn chương thì phải chủ động tiếp cận văn chương và phải tiếp cận một cách khoa học nhất và không nên có cái nhìn chủ quan Nghiên cứu này là một ví dụ điển hình cho sự tiếp cận khoa học của chúng tôi Trong khi thực hiện đề tài còn nhiều mặt hạn chế về tài liệu, thời gian cũng như năng lực của người nghiên cứu,
do đó, không thể tránh khỏi những sai sót, nhóm hy vọng có thể nghe những lời nhận xét, góp ý từ hội đồng giám khảo để có thể tích lũy kinh nghiệm nghiên cứu và hoàn thiện kỹ năng khác trong tương lai Một lần nữa xin chân thành cảm ơn
Trang 3MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 1
1 Tính cấp thiết của đề tài: 1
2 Tổng quan tình hình nghiên cứu đề tài: 2
2.1 Nghiên cứu văn học dưới góc độ Phê bình xã hội học 2
2.2 Nghiên cứu và tiếp nhận các tác phẩm đoạt giải trong cuộc vận động sáng tác “Văn học tuổi hai mươi” lần V 4
3 Mục tiêu đề tài: 5
4.Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của đề tài: 6
4.1 Đối tượng nghiên cứu: 6
4.2 Phạm vi nghiên cứu: 7
4.3 Tính ứng dụng phê bình xã hội học vào nghiên cứu các tác phẩm trong cuộc vận động sáng tác “Văn học tuổi hai mươi”lần V 7
5 Phương pháp nghiên cứu: 8
6 Cấu trúc luận văn: 9
C KẾT LUẬN: 10
CHƯƠNG 1 11
NHỮNG QUAN ĐIỂM VỀ PHÊ BÌNH XÃ HỘI HỌC VÀ CUỘC VẬN ĐỘNG SÁNG TÁC “VĂN HỌC TUỔI HAI MƯƠI” 11
1.1 Dẫn luận phê bình xã hội học 11
1.1.1 Xã hội học văn học qua việc xác định bản chất xã hội trong những tác phẩm văn học (từ thời cổ đại đến đầu thế kỷ XIX) 11
Trang 41.1.2 Sự hình thành Thuật ngữ “xã hội học văn học” trong sự hình thành của các hệ thống lý thuyết xã hội học qua các giai đoạn (từ giữa thế kỷ XIX đến đầu
thế kỷ XX ) 13
1.1.3 Sự hình thành của thuật ngữ “Phê bình xã hội học” 17
1.2 Hệ thống lý thuyết 18
1.2.1 Lucien Goldmann và lý thuyết cấu trúc phát sinh 18
1.2.2 Pierre Bourdieu và lý thuyết “trường văn học” 19
1.2.3 Thực trạng nghiên cứu và ứng dụng phê bình xã hội học trên thế giới và trong nước 20
1.3 Cuộc vận động sáng tác “Văn học tuổi hai mươi” – vai trò và những đóng góp 21 1.3.1 Những điều kiện thúc đẩy sự hình thành và phát triển của cuộc vận động sáng tác “Văn học tuổi hai mươi” 21
1.3.2 Vai trò và những đóng góp của các tác phẩm đoạt giải cuộc vận động sáng tác “Văn học tuổi hai mươi” đối với nền văn học Việt Nam nói riêng và xã hội nói chung qua các thời kỳ 24
1.4 Cuộc vận động sáng tác “Văn học tuổi 20” lần V 29
1.4.1 Khái quát về đề tài sáng tác, thành phần ban giám khảo, giải thưởng đặt trong bối cảnh xã hội hiện tại 29
1.4.2 Tình hình chung về thành phần tham gia viết bài, số lượng, chất lượng các tác phẩm tham gia 32
1.4.3 Các tác giả, tác phẩm đoạt giải 33
TIỂU KẾT 38
CHƯƠNG 2 40
CÁC TÁC PHẨM ĐOẠT GIẢI TRONG CUỘC VẬN ĐỘNG SÁNG TÁC 40
Trang 5“VĂN HỌC TUỔI 20” LẦN V TỪ GÓC NHÌN XÃ HỘI HỌC VỀ CÔNG VIỆC
SÁNG TẠO CỦA LUCIEN GOLDMANN 40
2.1 Hệ thống lý thuyết phương pháp cấu trúc phát sinh của Lucien Goldmann 40
2.1.1 Quan niệm về thế giới (Vision du monde) 43
2.1.2 Sự gắn kết (La cohérence) 44
2.1.3 Cấu trúc hàm nghĩa 45
2.1.4 Sự tương quan đối ứng 45
2.2 Người trẻ và thế giới quan của người trẻ qua các tác phẩm đoạt giải “Văn học tuổi 20” lần V 46
2.2.1 Người trẻ và những cảm quan về cuộc sống 47
2.2.2 Chiến tranh và những cuộc đời hậu chiến qua góc nhìn của người trẻ tuổi 68 2.2.2 Người trẻ với những bi kịch, mơ ước và tình yêu 82
TIỂU KẾT 103
CHƯƠNG 3: CÁC TÁC PHẨM ĐOẠT GIẢI TRONG CUỘC VẬN ĐỘNG SÁNG TÁC “VĂN HỌC TUỔI 20” LẦN V TỪ GÓC NHÌN “TRƯỜNG VĂN HỌC” CỦA PIERRE BOURDIEU 105
3.1 Xã hội học về trường văn học của Pierre Bourdieu 105
TIỂU KẾT 158
KẾT LUẬN 160
TÀI LIỆU THAM KHẢO 163
Trang 6MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài:
1.1 Từ khi hình thành và phát triển từ năm 1994 đến nay, Cuộc vận động sáng tác “Văn học tuổi hai mươi” đã khẳng định được uy tín và vai trò của mình đối với nền
văn học Việt Nam đương thời Đứng trước sự phát triển của trào lưu thương mại hóa ở
nhiều cuộc thi khác trên văn đàn, “Văn học tuổi hai mươi”, do Hội Nhà văn Thành phố
Hồ Chí Minh, báo Tuổi Trẻ, Nhà xuất bản Trẻ phối hợp tổ chức, đã trở thành một mái nhà chung cho những tâm hồn say mê và yêu thích văn chương một cách thực thụ Từ
đó, cuộc vận động sáng tác “Văn học tuổi hai mươi” nói chung và lần V nói riêng đã
và đang động viên, khích lệ, tìm kiếm những cây bút trẻ có tiềm lực cho nền văn học nước nhà, tạo điều kiện cho những cây bút trẻ ấy có cơ hội khẳng định tên tuổi cũng
như phát triển sự nghiệp văn chương trong tương lai.Giữa nỗi lo về thực trạng xuống cấp của văn hóa đọc với các dòng văn học thần tượng và sự thiếu bứt phá của các cây bút trẻ cũng như xuất hiện những nhận định mâu thuẫn về tính khô khan, khó hiểu của
văn học thì các tác phẩm được giới thiệu trong cuộc vận động sáng tác lần V rất có giá trị định hướng cho thế hệ tương lai - những người sẽ kế tục và phát huy truyền thống của nền văn học Việt Nam Song song đó, cuộc thi còn phản ánh và chứng minh tính thực tiễn của văn học Chính vì vậy, khi thực hiện đề tài này, chúng tôi muốn đóng góp một cái nhìn toàn diện và sâu sắc hơn về các tác giả, tác phẩm đoạt giải, sự tác động biện chứng giữa các yếu tố xã hội và tác phẩm, nhằm làm rõ vai trò thiết thực của những “ngôn ngữ biết nói” trong đời sống cộng đồng Bên cạnh đó, chúng tôi muốn đưa ra những nhận định cá nhân về tư tưởng của các tác giả trẻ, để có cái nhìn đa chiều
và khách quan về dòng văn học trẻ hiện đại, từ đó, có thêm cơ sở để dự đoán và nêu ra các giải pháp cụ thể thúc đẩy sự phát triển của nền văn học Việt Nam trong tương lai, đồng thời từng bước hoàn thành “sứ mệnh” giữ gìn và phát huy truyền thống văn học của tổ tiên ta
1.2 Cùng với sự hội nhập và phát triển của những chuyên ngành khoa học xã
hội và nhân văn khác, đặc biệt là trên phạm trù phê bình văn học, phê bình xã hội học
cũng là một bộ môn nghiên cứu khoa học sớm xuất hiện ở Việt Nam nhưng chưa được quan tâm một cách đầy đủ, trọn vẹn Đây là một loại phân tích văn bản “xuất phát
Trang 7điểm quan tâm tới bản chất xã hội trong văn bản văn học” Đúng với tên gọi của mình,
phê bình xã hội học “quan tâm tới mối quan hệ của con người với xã hội, nghiên cứu
văn bản với tư cách là một sản phẩm ngôn ngữ, nhằm đến việc thấu hiểu cấu trúc của các diễn ngôn thông qua môi trường xã hội tạo ra những cách diễn ngôn ấy”1 Tuy là một loại phê bình văn học còn chưa được ứng dụng nhiều trong quá trình tiếp nhận và lĩnh hội văn chương nhưng nếu có sự tìm hiểu, khai thác một cách đúng đắn, có hệ thống, chúng tôi tin rằng đây sẽ là một công trình nghiên cứu góp phần làm phong phú
thêm sự đa dạng của văn học trong giai đoạn xã hội hóa hiện nay.Với các tác phẩm
đoạt giải trong cuộc vận động sáng tác Văn học tuổi hai mươi lần V, vấn đề này càng cần được tìm hiểu, nghiên cứu một cách toàn diện và sâu sắc Nghiên cứu đề tài này, chúng tôi mong muốn đi sâu tìm hiểu mọi khía cạnh về các tác phẩm đoạt giải từ góc
nhìn phê bình xã hội học, đặc biệt là sự phản ánh đời sống xã hội của các tác giả được
thể hiện trong tác phẩm của mình cũng như tầm ảnh hưởng của các tác phẩm trên thực
tế Qua đó, chúng tôi muốn bổ sung thêm nguồn tư liệu về phê bình xã hội học vào hệ
thống những công trình nghiên cứu khoa học văn học đã có trước đó, góp phần hoàn thiện tính khoa học của văn học, cũng như có thêm cơ sở để chứng minh tính thực tiễn của văn học vốn là một “lát cắt của đời sống xã hội”
2 Tổng quan tình hình nghiên cứu đề tài:
2.1 Nghiên cứu văn học dưới góc độ Phê bình xã hội học
2.1.1 Ở những thế kỷ trước, khi nền văn học nhân loại đã trở thành một nhân tố không thể thiếu trong đời sống xã hội, dẫn đến việc nghiên cứu và tìm kiếm những hướng đi mới cho văn học là một điều tất yếu Trải qua nhiều giai đoạn phát triển lịch sử khác nhau, có thể nói đã có không ít các phạm trù nghiên cứu khoa học văn học ra đời Lúc bấy giờ, có một luồng tư tưởng mới xuất hiện ở Pháp trong thế kỷ
XX Đó là sự tương quan giữa Xã hội học và Văn học Năm 1992, trong cuốn Lịch sử văn học Pháp thế kỷ XX của Đỗ Đức Hiếu, cụm từ “Xã hội học Văn học” được giới
thiệu như “một bộ phần khoa học của văn học” và “Phê bình xã hội học là một khuynh
1
Lộc Phương Thủy, Nguyễn Phương Ngọc, Phùng Ngọc Kiên (2014), Xã hội học Văn học, NXB Đại học quốc gia Hà Nội, Hà Nội
Trang 8hướng của phê bình Mới” Từ đó hình thành nên những quan điểm cá nhân khác nhau, thậm chí là đối lập nhau của các nhà nghiên cứu trên khắp thế giới Hàng loạt các tác
phẩm của các nhà phê bình văn học ra đời Đây có thể xem như là một cuộc cách mạng cho nền văn học nhân loại Trải qua thời gian xây dựng và phát triển, cuộc cách mạng ấy mới thật sự đi đến hồi kết, hình thành nên một hệ thống khá đầy đủ và toàn diện về phê bình xã hội học Trong quá trình tìm hiểu và nghiên cứu đề tài này, dựa trên một số cơ sở quan điểm phương pháp phê bình xã hội học, chúng tôi tiến hành tìm
hiểu hai nhà khoa học tiêu biểu đại diện:
Lucien Goldmann, Xã hội học về công việc sáng tạo Ông cho rằng “hiện thực
và tư duy tạo nên sự thống nhất biện chứng, trong đó tất cả đều liên kết với nhau” Từ
đó, cho thấy L.Goldmann đã quan tâm tới mối quan hệ giữa tác phẩm văn học và ý thức của nhóm xã hội Nghiên cứu của ông mang tính “xã hội học” với phương pháp cấu trúc phát sinh trong lịch sử văn học
Pierre Bourdieu Xã hội học về trường văn học Ông đã áp dụng lý thuyết về
“trường lực” – một khoảng không gian có lực hấp dẫn giữa cực âm và cực dương, trong đó mỗi tác nhân di chuyển từ vị trí thấp đến vị trí cao hơn nhờ có các khuynh
hướng (dispositions) và các loại vốn (capital) - của mình để đưa ra cái nhìn về “xã hội
học văn học” Đó là đi phân tích nhiều góc nhìn đồng đại / lịch đại; vĩ mô / vi mô; bên trong / bên ngoài để tìm hiểu quan hệ và cấu trúc của “trường lực”; quan hệ qua lại với các “trường lực” khác và rộng hơn là quan hệ với không gian xã hội tổng thể; tìm hiểu quy luật, hướng vận động, lịch sử hình thành và phát triển của trường lực; tìm hiểu các tác nhân và với các đặc điểm của họ
2.1.2 Trước dòng chảy về lý luận văn học trên thế giới đang có nhiều
biến chuyển, ở Việt Nam bấy giờ, ta vẫn chưa bắt gặp Xã hội học Văn học với tư cách
là một phạm trù riêng biệt Trong một số từ điển hoặc sách dạng thuộc từ điển văn học (kể cả sách dịch)2, vẫn chưa đề cập đến vấn đề này Đến năm 1999, hệ thống phê bình
xã hội học được giới thiệu lần đầu tiên ở nước ta trong tác phẩm Mười trường phái lý
2 Lại Nguyễn Ấn (1999), 150 thuật ngữ văn học, NXB Đại học quốc gia; Lê Bá Hán, Trần Đình Sử, Nguyễn Khắc Phi (1997 – 2000), Từ điển thuật ngữ văn học, NXB Đại học quốc gia; I.P.Ilin, E.A.Tzurganova (2003), Các khái niệm và thuật ngữ của các trường phái nghiên cứu văn học ở Tây Âu và Hoa Kỳ thế kỷ 20, NXB Đại học quốc gia
Trang 9luận phê bình văn học phươngTây đương đại của Phương Lựu Ông cho rằng xã hội
học văn học là một trong ba khuynh hướng chính chiếm ưu thế trong bức tranh chung của lý luận phê bình văn học phương Tây hiện đại, mối quan hệ biện chứng giữa các yếu tố xã hội với văn học đã có ngay trong buổi khởi đầu của lý luận văn học Từ đó, văn học Việt Nam có thêm một phương hướng phát triển mới cùng với thế giới, tuy nhiên, hệ thống này chưa được cộng đồng quan tâm, chú ý một cách thỏa đáng Trải
qua nhiều năm phát triển, tình hình nghiên cứu phê bình xã hội học văn học ở nước ta vẫn còn hạn chế và các công trình nghiên cứu ứng dụng theo góc độ phê bình xã hội học chưa nhiều Hầu hết chỉ là các bài nhận định nhỏ của cá nhân, những nhận xét hay
những bài giới thiệu sơ lược, chủ yếu vẫn là một số công trình nghiên cứu của các nhà nghiên cứu như Lộc Phương Thủy, Phương Lựu, Ngày nay, phương hướng này cũng
đã được các nhà nghiên cứu có uy tín đánh giá là phương hướng có tính khả thi, có thể tạo nên sự đột phá cho nền văn học nước nhà Trong đề tài này, chúng tôi tham khảo công trình nghiên cứu của các nhà nghiên cứu kể trên và một số công trình khác để phục vụ cho quá trình nghiên cứu
2.2 Nghiên cứu và tiếp nhận các tác phẩm đoạt giải trong cuộc vận động sáng tác “Văn học tuổi hai mươi” lần V
2.2.1 Trước sự phát triển vũ bão của các trào lưu, các cuộc thi sáng tác văn chương như hiện nay, phần lớn các cuộc thi ấy chỉ mang tính tức thời, chủ yếu phản ánh những nhu cầu mong muốn được sẻ chia, tâm sự qua những bài cảm nghĩ, tản văn, hồi ký,…như “một liều thuốc” xoa dịu những tâm hồn cô đơn còn trẻ tuổi, chưa thật sự quan tâm, chú trọng khai thác đến tính sáng tạo và tính mới mẻ đối với các tác phẩm dự thi.Trong khi đó, từ khi phát động đến nay, cuộc vận động sáng tác
“Văn học tuổi hai mươi” trải qua năm lần tổ chức, đã trở thành một sân chơi bổ ích dành cho các “tín đồ” văn chương, với phương châm chú trọng đến sự sáng tạo, mới
mẻ và hơn hết là sự bứt phá của những cây bút trẻ có năng lực thật sự, chủ yếu ở thể loại truyện (bao gồm truyện dài và truyện ngắn), đòi hỏi tính tư duy của người sáng tác Không những thế, cuộc vận động còn mang tính thời đại Từ việc đề cập những vấn đề quen thuộc về tình yêu quê hương, đất nước, con người,…nhưng được làm mới dưới góc nhìn đa dạng của các tác giả đến những vấn đề mang tính thời sự, nhức nhối,
Trang 10bức bối được đông đảo cộng đồng quan tâm, có thể nói, “Văn học tuổi hai mươi” luôn biến chuyển và sôi động theo tình hình xã hội qua từng giai đoạn Do đó, các công trình nghiên cứu về cuộc vận động sáng tác này và các tác phẩm đoạt giải còn ít, hầu hết là các bài nhận định riêng lẻ, chủ yếu nêu lên quan điểm cá nhân thiên về các tác phẩm đoạt giải cao, được công chúng chú ý hay các bài viết nhỏ mang tính tổng kết về cuộc vận động của các nhà báo, nhà phê bình và một số độc giả trên các diễn đàn văn học, báo điện tử, mạng xã hội…Vì vậy, chưa có công trình nào phản ánh cái nhìn một cách toàn diện, sâu sắc cũng như hệ thống đầy đủ về tình hình biến độngvà xu hướng phát triển của cuộc vận động qua các thời kỳ nói chung, các tác phẩm đoạt giải nói riêng
2.2.2 Cuộc vận động sáng tác “Văn học tuổi hai mươi” lần V có những bước chuyển mới so với các cuộc vận động trước, đã phát hiện ra được những cây bút trẻ cứng cỏi trên văn đàn Những người trẻ, đã thật sự dấn thân vào dòng chảy văn học, bên cạnh những cây bút gạo cội khác đã từng làm khuấy động nền văn chương Vì mang tính “hiện đại hóa của” thời đại nên cuộc vận động lần V có sự đòi hỏi cao hơn, nhằm nâng cao sự tìm tòi, sức sáng tạo không giới hạn của các thí sinh tham gia Những tác phẩm được dự thi lần này, phần nào cũng đã phản ánh được tâm tư, suy nghĩ, tình cảm của một thế hệ trẻ đối với đời sống xã hội mà chính mình đang sống, xóa bỏ mọi rào cản về sự thờ ơ và vô tâm, ích kỷ đang diễn ra một cách đáng báo động
ở người trẻ với cộng đồng như hiện nay Nhận ra được đặc tính xã hội trong các tác phẩm ấy, chúng tôi tiến hành nghiên cứu những tác phẩm trong cuộc vận động sáng
tác “Văn học tuổi hai mươi” lần V qua góc nhìn phê bình xã hội học, tạo ra một diện
mạo mới cho dòng văn học trẻ.Tuy nhiên, cuộc vận động và các tác phẩm dự thi chỉ mang tầm ảnh hưởng trong nước nên trên phạm vi quốc tế không có công trình nghiên cứu về đề tài này
Trang 11Khái quát và phân tích những biểu hiện, đặc điểm nổi bật của các tác phẩm đoạt giải trong cuộc vận động sáng tác “Văn học tuổi hai mươi” lần V Nhằm đưa ra cái nhìn tổng quan về đời sống xã hội hiện đại cũng như tư tưởng của những nhà văn tuổi hai mươi
Dự đoán và nêu giải pháp cho các cuộc vận động sáng tác “Văn học tuổi hai mươi” lần tiếp theo
4.Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của đề tài:
4.1 Đối tượng nghiên cứu:
4.1.1 Trong đề tài này chúng tôi đi sâu tìm hiểu, nghiên cứu và làm rõ mọi khía cạnh của các tác phẩm đoạt giải trong cuộc vận động sáng tác “Văn học tuổi hai mươi”
lần V dựa trên cơ sở lý thuyết của bộ môn phê bình xã hội học Chúng tôi tiến hành tìm
hiểu hai nhà khoa học tiêu biểu đại diện Lucien Goldmann và Pierre Bourdieu
4.1.2 Sau sự tiếp nối thành công của các kỳ vận động sáng tác “Văn học tuổi hai mươi” lần I; lần II; lần III; lần IV Cuộc vận động sáng tác “Văn học tuổi hai mươi” lần
V cũng tạo nên một thành công vang dội không kém, với hệ thống các tác phẩm đoạt giải:
1 giải nhất: Truyện dài “Người ngủ thuê”-Nhật Phi
1 giải nhì :Truyện dài “Cơ bản là buồn”- Nguyễn Ngọc Thuần
2 giải ba: Truyện dài Hạt hòa bình”- Trần Nguyệt Minh
Truyện ngắn “Gia tộc ăn đất”- Lê Minh Nhựt
5 giải khuyến khích: Truyện dài“UREM - Người đang mơ”- Phạm Bá Diệp
Truyện dài “Charao mùa trăng”- Nguyễn Thị Khánh Liên Truyện ngắn “Mất hút bên kia đồi”- D
Truyện dài “Nhiệt đới buồn”- Phương Rong Truyện dài“Lý hàng khơi”- Đoàn Phương Nam 4.1.3 Các tác phẩm đoạt giải cuộc vận động sáng tác “Văn học tuổi hai mươi” lần
V từ góc nhìn phê bình xã hội học
Phê bình xã hội học, là bộ môn nghiên cứu đã xuất hiện ở Việt Nam từ rất lâu nhưng
chưa thực sự được ứng dụng nhiều trong nghiên cứu tác phẩm văn học Từ hệ thống các
Trang 12tác phẩm đoạt giải trong cuộc vận động sáng tác “Văn học tuổi hai mươi” lần V, chúng
tôi tiến hành phân tích, lý giải các tác phẩm bằng cách ứng dụng phương pháp phê bình
xã hội học nêu trên vào soi chiêu tác phẩm Để từ đó đưa ra một cái nhìn khái quát nhất
về sự ứng dụng của phê bình xã hội học vào các tác phẩm văn học Việt Nam hiện đại
4.2 Phạm vi nghiên cứu:
4.2.1 Về phạm vi tác phẩm:
Chúng tôi tập trung nghiên cứu, các tác phẩm đoạt giải trong cuộc vận động sáng tác “Văn học tuổi hai mươi” lần V (gồm 1 giải nhất, 1 giải nhì, 2 giải ba, 5 giải khuyến khích) Từ đó, đưa ra một cái nhìn toàn diện về tính nhân văn trong tác phẩm, sự trưởng thành, phát triển và tiềm năng của những lớp cây bút trẻ nối bước qua các kỳ vận động sáng tác
4.2.2 Về phạm vi khía cạnh nghiên cứu:
Nghiên cứu các tác phẩm đoạt giải cuộc vận động sáng tác “Văn học tuổi hai mươi” lần
V trên các phương diện từ nội dung đến thủ pháp nghệ thuật sử dụng trong tác phẩm
dựa trênlý thuyết của trường phái phê bình xã hội học
4.3 Tính ứng dụng phê bình xã hội học vào nghiên cứu các tác phẩm trong cuộc
vận động sáng tác “Văn học tuổi hai mươi”lần V
Trong các phương pháp nghiên cứu phê bình ở các lĩnh vực khoa học xã hội nhân văn như: phê bình phân tâm học, phê bình cấu trúc, giải cấu trúc, phê bình sinh thái học,…Chúng tôi chọn phương pháp phê bình xã hội học để nghiên cứu tác phẩm trong cuộc vận động sáng tác “Văn học tuổi hai mươi” lần V với các lý do
Thứ nhất, phê bình xã hội học, là phương pháp còn khá mới mẻ ở Việt Nam, trên
bình diện ứng dụng vào nghiên cứu tác phẩm nói chung và đối với các tác phẩm trong cuộc vận động sáng tác “văn học tuổi hai mươi” lần V nói riêng Việc nghiên cứu, tìm hiểu, lý giải tác phẩm đoạt giải trên hầu như chỉ là những bài báo, tạp chí, là chủ yếu
Cho nên việc ứng dụng phê bình xã hội học trong nghiên cứu này nhằm mang lại một
“luồng gió mới” cái nhìn mới, sự đóng góp mới cho nghiên cứu khoa học Việt Nam
Thứ hai, mỗi kỳ vận động sáng tác “Văn học tuổi hai mươi”, luôn là một “bức tranh với nhiều nét chấm phá”, một sự cách tân mang đầy tính sáng tạo về nội dung cho đến văn phong- tính văn học Tác phẩm luôn phản ánh cuộc sống, tư tưởng con người
Trang 13qua các thời đại- tính xã hội Vì vậy, dùng phê bình xã hội học vào để nghiên cứu tác
phẩm sẽ đưa ra một cái nhìn tổng quan và toàn diện hơn về hai mối quan hệ này- văn học và xã hội
Thứ ba, cuộc vận động sáng tác “Văn học tuổi hai mươi” lần V, nói riêng và các
kỳ vận động “sáng tác văn học tuổi hai mươi” trước đó nói chung, đa số cây bút trẻ luôn
là người tiên phong trong sáng tác Họ kế thừa, phát huy truyền thống cha ông bên cạnh
đó họ còn học hỏi, giao lưu, tiếp nhận với những nền văn hóa mới, để làm rạng rỡ cho bản sắc văn hóa dân tộc và làm giàu cho nền văn chương nước nhà Những cây bút trẻ,
tự tin viết nên tác phẩm theo một ý thức và lý tưởng mang tính sáng tạo, năng động, mới
mẻ, đáp ứng nhu cầu của độc giả và có tác động không ít đến đời sống tinh thần độc giả trẻ ngày nay Với thời đại công nghiệp hóa, hiện đại hóa kéo theo xă hội hóa phát triển, theo đó là sự thay đổi “khẩu vị” của nền văn hóa đọc, việc tiếp nhận tác phẩm của độc
giả cũng trở nên đa dạng Chúng tôi sử dụng phương pháp phê bình xã hội học vào soi
chiếu tác phẩm dựa trên một số quan điểm lý thuyết cùa hai nhà khoa học Lucien Goldmann, Pierre Bourdie Từ đó đưa ra cái nhìn nội quan (nhân vật, đối thoại, ý nghĩa tác phẩm- văn bản…) và ngoại quan (lịch sử xã hội tiểu sử tác giả, hoàn cảnh sáng tác,…) cùng với sự tác động biện chứng của xã hội đối với tác phẩm, độc giả, qua từng thời kỳ và đưa ra những dự đoán và giải pháp cho các kỳ vận động sáng tác “văn học tuổi hai mươi” tiếp theo
5 Phương pháp nghiên cứu:
Phương pháp chính mà chúng tôi sử dụng để tiến hành nghiên cứu đề tài là phương
pháp phê bình xã hội học: Đây là phương pháp phân tích văn bản, “xuất phát điểm của
nó là việc quan tâm tới bản chất xã hội trong văn bản học”
Phương pháp cấu trúc phát sinh: Đây là phương pháp kết hợp giữa phương pháp
cấu trúc và phát sinh, là một trong các phương pháp của bộ môn phê bình xã hội học
nhằm nghiên cứu các yếu tố cấu thành tác phẩm văn học đặt trong toàn bộ các mối quan hệ với hoàn cảnh kinh tế - xã hội, với lịch sử văn học, với chủ thể sáng tạo Qua tiến hành nghiên cứu trên chín tác phẩm đoạt giải cuộc vận động sáng tác “Văn học tuổi hai mươi” lần V, chúng tôi đã tìm ra hai yếu tố Một là những tổn thương của con
Trang 14người thời đại, là yếu tố cấu thành chung cho các tác phẩm Cơ bản là buồn, Gia tộc ăn đất, Mất hút bên kia đồi và Lý hàng khơi Hai là hành trình tìm ra giá trị của bản thân trong cuộc đời, là yếu tố cấu thành chung cho các tác phẩm Người ngủ thuê, Hạt hòa bình, UREM - Ngườ iđang mơ, Charao mùa trăng, Nhiệt đới buồn
Bên cạnh đó chúng tôi vẫn áp dụng các phương pháp nghiên cứu thường được vận dụng như: thống kê, phân tích, quy nạp, loại suy trong nghiên cứu khoa học xã hội
6 Cấu trúc luận văn:
Chương 1: Những vấn đề chung về phê bình xã hội học và cuộc vận động sáng tác “Văn học tuổi hai mươi”
Trong chương mở đầu, chúng tôi đi vào hệ thống hóa lý thuyết về phê bình xã hội học đồng thời khái quát vị trí, vai trò và những đóng góp của cuộc vận động sáng tác
“Văn học tuổi hai mươi” đối với văn học Việt Nam nói riêng cũng như đối với sự phát triển mặt văn hóa tinh thần của xã hội nói chung, giới thiệu chung về tình hình cuộc vận động sáng tác “Văn học tuổi hai mươi” lần V cùng với các tác phẩm đoạt giải
Chương 2: Các tác phẩm đoạt giải trong cuộc vận động sáng tác “Văn học tuổi hai mươi” lần V từ góc nhìn xã hội học về công việc sáng tạo của Lucien Goldmann
Đối với các sáng tác văn học, yếu tố thời đại luôn có sức ảnh hưởng lớn, sâu sắc đến quan niệm của tác giả về cuộc sống, nhân sinh để từ đó tác giả khái quát nên đề tài cho tác phẩm của mình Vì vậy, việc nghiên cứu sâu sắc toàn bộ đề tài của các tác phẩm đoạt giải theo một hệ thống sẽ đem lại một cái nhìn bao quát, toàn diện về bức tranh xã hội cũng như về tư tưởng của một bộ phận những cây bút trẻ cầm viết Từ đó, thêm vào một luận chứng chứng minh cho luận điểm của chúng tôi về sự tác động biện chứng của yếu tố xã hội và văn học
Chương 3: Các tác phẩm đoạt giải cuộc vận động sáng tác “Văn học tuổi hai mươi” lần V từ góc nhìn “trường văn học” của Pierre Bourdieu
Một tác phẩm văn học, không chỉ là sự phản ánh đơn thuần của tác giả về cuộc sống, mà còn bao gồm nhiều lĩnh vực và yếu tố để cấu thành nên một tác phẩm văn chương Trong chương này, chúng tôi tiến hành nghiên cứu, phân tích các tác phẩm đoạt giải cuộc vận động sáng tác “Văn học tuổi hai mươi” lần V từ hệ thống lý thuyết
Trang 15“trường văn học” của Pierre Bourdieu để làm rõ mối quan hệ biện chứng giữa tác giả, tác phẩm và xã hội
C KẾT LUẬN:
1.Tóm tắt, hệ thống lại kết quả nghiên cứu đạt được qua quá trình thực hiện đề tài
2 Gợi mở những hướng nghiên cứu mới
Trang 16CHƯƠNG 1 NHỮNG QUAN ĐIỂM VỀ PHÊ BÌNH XÃ HỘI HỌC VÀ CUỘC VẬN ĐỘNG
SÁNG TÁC “VĂN HỌC TUỔI HAI MƯƠI”
1.1 Dẫn luận phê bình xã hội học
Suốt chiều dài lịch sử, cùng với sự phát triển của nền văn học, mà ta có rất
nhiều những lý giải xung quanh các thuật ngữ trong văn chương Thuật ngữ Phê bình
như một cách phân tích văn bản mà người phê bình thông qua các nền tảng lí luận, các phương pháp tiếp cận để đưa ra một cách nhìn khách quan về văn bản Vậy thuật ngữ
phê bình xã hội học khi được ứng dụng trong văn chương sẽ được hiểu như thế nào? Theo Lộc Phương Thủy “Xã hội học văn học là một bộ môn khoa học nghiên cứu đối
tượng khoa học có liên quan đến xã hội nói chung và xã hội học nói riêng”3 Tuy vậy
để định nghĩa rõ khái niệm này không phải đơn giản Xã hội học văn học (sociology of literature) và phê bình xã hội học (sociocritique), trong hai thuật ngữ tồn tai một mối
quan hệ và sự tương đồng, chúng đều thể hiện mối quan hệ giữa xã hội và văn học Tuy vậy, lại có một sự nhập nhằng mà chúng ta khó có thể phân biệt một cách chính xác Để hiểu rõ hai thuật ngữ trên chúng ta cần lật lại lịch sử hình thành của chúng, từ những mối quan hệ giữa văn học và xã hội thời cổ đại cho đến tiến trình hình thành và xuất hiện khái niệm của hai thuật ngữ “xã hội học văn học” và “phê bình xã hội học”
Dựa trên Xã hội học văn học của Lộc Phương Thủy, Phùng Ngọc Kiên, Nguyễn Phương Ngọc và Lí luận- Phê bình văn học thế giới thế kỉ XX của Lộc Phương Thủy, chúng tôi khái quát lịch sử hình thành của các lý thuyết phê bình xã hội học có thể chia
thành 3 giai đoạn
1.1.1 Xã hội học văn học qua việc xác định bản chất xã hội trong những
tác phẩm văn học (từ thời cổ đại đến đầu thế kỷ XIX)
Đây là thời kỳ manh nha những ý niệm sơ khởi về mối quan hệ hữu cơ khắng khít giữa văn học và xã hội, chứ chưa thật sự phát triển thành các hệ thống lý thuyết Thời cổ đại, từ rất lâu đã tồn tại mối quan hệ giữa văn học và xã hội Platon chỉ ra vai
3
http://phebinhvanhoc.com.vn/xa-hoi-hoc-van-hoc-linh-vuc-nghien-cuu-van-hoc-dac-thu
Trang 17trò của nhà thơ trong xã hội, thơ ca là món quà của thần thánh và nhà thơ không có quyền được sử dụng trong đời sống xã hội, bởi đời sống xã hội cần có những quy luật, trật tự riêng và được điều khiển sự hoạt động của trí óc con người, còn thơ ca là những xúc cảm của trái tim có thể chi phối tinh thần người nghe và trở thành một vũ khí chính trị Aristote học trò của Platon lại đưa ra một quan điểm khác với người thầy của mình Ông cho rằng thơ ca là sự tái hiện lịch sử một cách thật và sinh động nhất, khác với những sử liệu khô cứng Aristose còn cho rằng khi sử dụng tốt văn chương hùng biện, thơ ca thì nó còn có vai trò điều tiết đối với cá nhân và xã hội
Thời Trung cổ, là giai đoạn các nước Châu Âu hình thành các nền văn minh, văn hóa với những bản sắc riêng biệt Trong khoảng mười thế kỷ đó, văn học trở thành công cụ của tôn giáo và nhà nước Đến thế kỷ XVI khái niệm “văn học” vẫn còn là ẩn
số do tình trạng văn, sử, triết bất phân Đến thế kỷ XVII thuật ngữ “văn học” mới được hiểu như thời hiện đại Văn học được thể chế hóa, khi Viện Hàn Lâm ở Pháp được thành lập vào năm 1963, và “nhà văn ” được coi là người ngày càng đóng vai trò tích cực đối với xã hội Đến thế kỷ XVIII, nhà triết học Rousseau (1712-1778), cho rằng khán giả đóng vai trò quan trọng và gián tiếp trong việc lựa chọn tác phẩm văn học, hay nhà triết học Montesquieu (1689-1755) coi văn học là các nguyên tắc, đạo đức xã hội của công chúng là phương tiện để hình thành và biến đổi xã hội Chuyển sang thế
kỷ XIX, thế kỷ của chủ nghĩa hiện thực ở Châu Âu, nước Pháp trở thành một trung tâm văn hóa- nghệ thuật điển hình của cả Châu Âu lúc bấy giờ Với những biến động
về chính trị, kinh tế, văn hóa- xã hội qua cuộc cách mạng tư sản Pháp, những biến động lớn đó làm cơ sở cho sự phát triển của các lý thuyết văn học và xã hội Các sáng tác và lý thuyết đều hướng tới khẳng định bản chất của văn học là phản ánh xã hội
Nữ văn sĩ Germaine Stael được coi là nữ văn sĩ đầu tiên của chủ nghĩa lãng mạn, trong
tác phẩm nổi tiếng Về văn học trong quan hệ với các thể chế xã hội (năm 1800) bà lấy
văn học làm tiền đề thay đổi tư duy, tập quán và quan hệ giữa các thể chế xã hội với văn học, bà ảnh hưởng khá nhiều tư tưởng của Rousseau và quan điểm của Montesquieu về ảnh hưởng của văn học đối với môi trường, các tác nhân địa lý Tác
phẩm Lịch sử văn học Anh (1885) của H.Taine một công trình tiếp nối tư tưởng của bà
de Stael Ông cho rằng tác phẩm văn học đạt tới sự hoàn hảo là tác phẩm đem lại lợi
Trang 18ích cho xã hội và chứa đựng sử liệu, phương pháp của ông đóng góp không nhỏ vào các công trình nghiên cứu văn học
1.1.2 Sự hình thành Thuật ngữ “xã hội học văn học” trong sự hình thành của các hệ thống lý thuyết xã hội học qua các giai đoạn (từ giữa thế kỷ XIX đến đầu thế kỷ XX )
Giữa thế kỷ XIX, xã hội học với tư cách là một lĩnh vực khoa học ra đời Các
nhà tư tưởng đầu tiên của chủ nghĩa thực chứng, triết gia Auguste Comte (1789-1857) người khai sinh khái niệm “xã hội học” vào năm 1963 và ông được xem là cha đẻ của ngành xã hội học hiện đại Ông coi văn học là phương tiện để tìm hiểu “tâm lý xã hội” tức là các “quy luật” chi phối đời sống xã hội Nhà xã hội học người Pháp Emile Durkhem (1858-1917) người sáng lập ngành xã hội học ở Pháp và xem xã hội học như một bộ phận khoa học độc lập với đối tượng và phương pháp nghiên cứu, trong tác
phẩm Các quy luật của phương pháp xã hội học (1895), ông cho rằng các thành tố xã
hội với tư cách như “bạn đồng hành” của văn học tuy nhiên ông không nghiên cứu sâu vào vấn đề này
Nhà triết gia, nhà xã hội học thực chứng người Pháp Hippolyte Taine 1893) là người đầu tiên nghiên cứu các hệ thống xã hội học về văn học, ông áp dụng các phương pháp nghiên cứu các hiện tượng tự nhiên vào văn học Ông đưa ra khái niệm về nòi giống (race), môi trường (milieu) và thời điểm (moment) và dùng chúng vào nghiên cứu các tác nhân tạo ra các cá nhân- tác giả làm nên những thành công của những tác
(1828-phẩm nghệ thuật Tiếp đến để làm nên sự phát triển của xã hội học văn học thì trường
phái phê bình Marxist của hai nhà triết gia Karl Marx (1857-1883) và Engels
(1820-1895) đã góp nên một “viên gạch” trong sự hình thành xã hội học văn học Ấn phẩm đầu tiên Tuyên ngôn của Đảng Cộng Sản (1848) lập luận rằng lịch sử xã hội của loài
người cho đến nay là lịch sử đấu tranh giai cấp Sự tác động của xã hội trong tác phẩm
văn học do quan hệ sản xuất giữa các tầng lớp và đấu tranh giai cấp, theo Marx “văn học không có mục đích miêu tả xã hội một cách đơn thuần, mà nhiệm vụ của nó là thay
Trang 19đổi xã hội bằng cách giúp đọc giả có ý thức về quan hệ xã hội và về nhiệm vụ lịch sử của mình”4
Đầu thế kỷ XX xã hội học được quan tâm và nghiên cứu, G.Lanson
(1857-1934) là người có đóng góp quan trọng trong lĩnh vực này, ông cho rằng văn học cần nghiên cứu theo hai mặt: một mặt cần tìm hiểu những nhân tố trong bối cảnh xã hội, đời sống, tác động đến nhà văn để làm nên một tác phẩm, mặt khác cần đặt văn học ở một thời điểm lịch sử nhất định trong nghiên cứu nhằm tạo sự chính xác, phù hợp với tính chất và ý nghĩa của tác phẩm Đóng góp của ông là đưa ra phương pháp “xã hội học quy
nạp”, năm 1904 G.Lanson trình bày Văn học sử và xã hội cho thấy được lịch sử văn học
luôn gắn liền với lịch sử xã hội và cần phải đưa bộ phận độc giả vào trong nghiên cứu tác phẩm Tuy nhiên “chiếc cầu” nối giữa văn học và xã hội của ông đã không thành công do sự bảo thủ về “biên giới” giữa các khoa học trong việc nghiên cứu liên ngành lúc bấy giờ
Theo Louis Althusser – triết gia chịu nhiều ảnh hưởng của tư tưởng marxist, chủ nghĩa cấu trúc và thuyết phân tâm học, văn học là nhà triết học Louis Althusser (1918-1990) theo ông văn học là nơi thể hiện tư tưởng cá nhân của con người trong một nhóm xã hội mà không có bất kỳ sự ràng buộc nào về nó, trong đó sự khác nhau trong
tư tưởng mỗi cá thể tạo nên sự xung đột Nhiệm vụ của người nghiên cứu là tìm hiểu và
lý giải sự xung đột đó thông qua những “triệu chứng” tức các tác nhân xã hội, những nhân tố, những ảnh hưởng, tác động trực tiếp để làm nên tư tưởng mang sự khác biệt của tác giả trong một nhóm xã hội Cộng sự của ông có nhà triết học người Pháp Pierre
Macherey với tác phẩm Vì một lý thuyết về sản xuất văn học (1960) cho rằng một tác
phẩm văn học mang một khả năng biến đổi, từ một tư tưởng tổng thể thành một tư tưởng cá nhân mang tính xung khắc
Từ những năm 1970, các sự kiện Đông Âu dẫn tới sự sụp đổ của hệ thống xã hội chủ nghĩa ảnh hưởng đến phê bình marxist Tiếp nối cho bức tranh xã hội học văn học Pháp lúc này không thể không kể đến nhà triết học hiện sinh J.-P Sartre (1905-1980), ông đưa ra nhiều học thuyết có liên quan đến vấn đề nhà văn và trách nhiệm của
4 Lộc Phương Thủy, Nguyễn Phương Ngọc, Phùng Ngọc Kiên (2014), Xã hội học văn học, NXB Đại học quốc
gia Hà Nội, Hà Nội
Trang 20nhà văn đối với xã hội Vấn đề ông quan tâm nhiều nhất là xã hội là hướng đến gắn kết con người với thời đại Ông phản đối thái độ cộng tác của Flaubert và Goncourt trước
sự kiện công xã Paris và thể hiện trách nhiệm của mình trước những việc làm bất hợp lý
của những nhà cầm quyền Nhiều vấn đề liên quan đến vấn đề nhà văn dấn thân và văn học nhập cuộc đã được J.-P Sartre đề cập đến trong cuốn Văn học là gì? Chia làm bốn phần: I Viết là gì? II Viết để làm gì? III Viết cho ai? IV Tình thế nhà văn Pháp năm
1947 Với những quan điểm trên ông cho thấy rằng nhà văn là người gắn liền sự nghiệp
sáng tạo với thời đại
Với xã hội học văn học theo khuynh hướng nghiêng về xã hội và khoa học thực nghiệm của Robert Escarpit (1918-2000) Ông là người đầu tiên giới thiệu xã hội học văn học đến độc giả trong cuốn sách cùng tên Xã hội học văn học được in năm 1958
Ông nghiên cứu các vấn đề văn học- xã hội- độc giả và đưa ra công thức “con người và tác phẩm” đó là sự loại bỏ các khuôn khổ và quy tắc mà xã hội “áp đặt” lên cho nhà văn, qua đó nhà văn cho ra đời những tác phẩm phát huy tính sáng tạo của tác giả và xem thị trường là nơi tiêu thụ Ông đặt văn học vào một quy trình (circuit) sản xuất- phát hành- tiêu thụ Đặc biệt ông quan tâm sự ảnh hưởng của công chúng lên tác phẩm
và nhấn mạnh nếu không có người đọc thì không có văn học Ban đầu khi công nghệ chưa phát triển vòng giao lưu này được thể hiện bằng việc truyền miệng, khi chữ viết ra đời (chép tay) thì vòng giao lưu giữa văn học và độc giả thông qua sách, số lượng tác phẩm được phát hành là con số trong vòng kiểm soát vì chúng nằm trong môi trường giao lưu nhỏ hẹp, vì thế những tác giả cùng với tác phẩm họ có thể hình dung được người đọc của mình là ai, bởi họ cùng thuộc một tầng lớp Điều đó làm cho sự giao lưu giữa tác phẩm và độc giả được thông suốt Kỹ thuật in phát triển làm gia tăng hẳn số lượng độc giả, nhưng đó là một kỹ thuật làm tăng năng suất của các xưởng xuất bản, tỉ
lệ thuận với số lượng tác phẩm phát hành lại là một sự tăng trưởng mất phanh về độc giả, nhà văn không còn hình dung được người đọc của mình là ai khiến họ tự cô lập mình với thế giới bên ngoài Sự thay đổi về lượng dẫn đến sự thay đổi về chất này như một con dao cắt đứt đi mối liên kết giữa tác phẩm và độc giả Robert Escarpit chia hành
vi đọc thành hai kiểu: kiểu đọc “nam giới” hay kiểu đọc khách quan tức là sự tiếp nhận tác phẩm của người đọc dưới con mắt của một nhà phê bình, họ ít để ý tên tác giả,
Trang 21thường chỉ để ý đến nội dung và tên sách Kiểu đọc thứ hai là kiểu đọc “nữ giới” hay kiểu đọc chủ quan tức là tác phẩm văn học được coi như là một trải nghiệm cá nhân của độc giả, người đọc sẽ chọn sách theo tên tác giả mà họ thích vì nội dung của tác phẩm mang lại đồng cảm với bản thân họ Nghiên cứu của Robert Escarpit nhấn mạnh đến sự tiếp nhận và phản hồi của độc giả đến tác phẩm tạo nên một thị trường văn học, nghiên
cứu này mang lại đóng góp một lớn đối với lĩnh vực xã hội học văn học
Một người khác chịu ảnh hưởng của phê bình Marxist là Lucien Goldmann (1913-1970) là học trò của G.Luács nhưng L.Goldmann lai có những cải cách đáng kể trong xã hội học văn học đặc biệt là phương pháp cấu trúc phát sinh, tránh đi được sự cứng nhắc “phản ánh luận” của G.Luács L.Goldmann dựa vào phương pháp phân tích, đặc biệt ông quan tâm đến tính toàn thể (totalité)- nhóm xã hội Qua đó L.Goldmann
tiếp nối truyền thống của Hegel về quan niệm về thế giới đều có trong mỗi tác phẩm Đó
là những yếu tố làm nên sự khác biệt của một thành viên trong một nhóm xã hội và thành viên đó được xem như một “đầu tàu” kéo theo các thành viên khác trong xã hội tạo nên một mối quan hệ gắn kết Nói về nhóm xã hội này thì Goldmann bàn về giai cấp
và cái chính là nhà văn thuộc về giai cấp nào, bởi vì dựa vào giai cấp thì nhà văn mới có thể tạo ra một sự liên kết với các mối quan hệ về chính trị về xã hội tạo ra những sự đổi thay và vì tác phẩm là sản phẩm mang “ý thức tập thể” Tác phẩm văn học theo ông không phải là sự phản ánh xã hội đơn thuần mà nó còn có nhiệm vụ là phát triển xã hội Ngoài ra ông còn quan tâm đến thể loại tiểu thuyết và xem tiểu thuyết cũng như thơ ca
và không còn quan tâm đến một nhóm xã hội nào đó mà giờ đây nó đã thuộc về văn
hóa Trong tác phẩm Vì một xã hội học tiểu thuyết cho ta thấy từ việc nghiên cứu thể
loại giờ đây tiểu thuyết sẽ dần thay thế nhóm xã hội vì tiểu thuyết là sự kiếm tìm những giá trị đích thực của cuộc sống trong một xã hội đang suy thoái Goldmann ứng dụng cấu trúc đồ vật hóa của xã hội tư bản để tạo thành cấu trúc nhân vật- đồ vật bởi vì trong
xã hội bấy giờ con người chủ yếu đặt nặng về mặt giá trị vật chất mà quên đi những giá trị khác trong mối quan hệ của con người
Pierre Bourdieu (1930-2002) là người có công đóng góp không nhỏ vào công trình nghiên cứu xã hội học văn học với lý thuyết “trường văn học” Khái niệm “trường lực” (champ) được hiểu như một không gian mang lực bao gồm có cực dương và cực
Trang 22âm, “trường” ở đây có nghĩa là trường kinh tế, trường chính trị, trường xã hội… Các lực
đó di chuyển qua lại tác động với nhau thông qua các loại “vốn” (capital) (như vốn kinh
tế, vốn chính trị, vốn tài năng …) Các “vốn” tồn tại trong một “trường” tuân thủ theo một “quy luật”, nhà văn tồn tại trong trường phải có “chiến lược” và khi nhà văn thay đổi được “luật chơi” trong “trường” thì nhà văn sẽ trở thành “thủ lĩnh” trong “trường”
1.1.3 Sự hình thành của thuật ngữ “Phê bình xã hội học”
Theo Roland Barthes, “Phê bình là diễn ngôn về một diễn ngôn Đó là ngôn ngữ thứ sinh hoặc siêu ngôn ngữ, nó hành nghề trên ngôn ngữ nguyên sinh (hay ngôn ngữ- đối tượng)”5
Thuật ngữ “phê bình xã hội học ”(sociocritique) được dùng để chỉ một loại phân tích văn bản mà “xuất phát điểm của nó là quan tâm tới bản chất của xã hội trong văn bản”, tức là quan tâm đến mối quan hệ giữa con người và xã hội trong văn bản trong quá trình phân tích văn bản Thuật ngữ này được nhà nghiên cứu người Pháp Claude Duchet đưa ra và đăng trên tạp chí Littérature (Larousse, số 1, 1977) Sự ra đời
của phê bình xã hội học tạo ra một tính ứng dụng rộng rãi trong giới nghiên cứu không
chỉ ở đại học Paris nơi ông công tác mà còn được sử dụng làm một lý thuyết trong trung tâm nghiên cứu và được trình bày qua các hội thảo bàn về phê bình xã hội học Duchet đưa ra phương pháp phê bình xã hội học nhằm mục đích là sự truy tìm lại xã hội trong văn bản chứ không phải là sự phản ánh của xã hội qua văn bản Trong bài tổng thuật công phu “Phê bình xã hội học: định nghĩa, lịch sử, các khái niệm, con đường tương lai”
Pierre Poppvic đưa ra vấn đề cốt lõi của phê bình xã hội học trong văn bản
Phê bình xã hội học không phải là chủ đề hay một lý thuyết Nó không phải là
xã hội học của bất cứ loại nào mà nó có hay một phương pháp Đó là viễn cảnh Một nguyên tắc giải thích, làm rõ cái xã hội chứa đựng trong văn bản Từ những ý kiến trên
cho thấy xã hội học văn học và phê bình xã hội học có sự khác biệt Với xã hội học văn học là hệ thống lý thuyết và ký hiệu học xã hội, trong đó đối tượng nghiên cứu là văn học, còn phê bình xã hội học là một phương pháp phê bình nghiên cứu các văn bản cụ
thể và nội dung của nó thông qua các thao tác phân tích văn bản: đọc, tìm luận điểm làm
cơ sở khoa học để nghiên cứu, giải thích văn bản dựa vào phương pháp phân tích thuần
5 http://phebinhvanhoc.com.vn/xa-hoi-hoc-van-hoc-linh-vuc-nghien-cuu-van-hoc-dac-thu
Trang 23túy tác phẩm hay lấy văn bản làm cơ sở cho việc làm rõ một lý thuyết hoặc chứng minh cho một hiện tượng nào đó và cuối cùng là đưa đến kết luận Tuy nhiên hai khái niệm lý thuyết này vẫn không khác mấy, bởi vì chúng đều bao hàm mối quan hệ giữa văn học và
xã hội, chỉ do một cái là bao hàm bởi những quan niệm về tư duy bằng các hệ thống lý thuyết- “xã hội học văn học” còn một dạng đặc thù là sử dụng phương pháp- “phê bình
xã hội, nhưng ông chủ trương nghiên cứu xã hội học văn học theo hướng xã hội học văn học thực nghiệm, nó liên quan sự tiếp nhận của độc giả đối với tác phẩm, hơn cách nghiên cứu chú trọng mối quan hệ nội dung tác phẩm Dựa vào hệ thống lý thuyết xã hội học văn học của Lộc Phương Thủy- Nguyễn Phương Ngọc- Phùng Ngọc Kiên, với
mong muốn thực hiện nghiên cứú trọng tâm tác phẩm nên chúng tôi áp dụng phương pháp của hai nhà xã hội học tiêu biểu Lucien Goldmann (phương pháp cấu trúc phát sinh) và Pierre Bourdieu (trường văn học)
1.2.1 Lucien Goldmann và lý thuyết cấu trúc phát sinh Lucien Goldmann (1913 – 1970) là một nhà triết học, nhà phê bình văn học Pháp Một trong những đóng góp vĩ đại của ông cho nền lí luận – phê bình văn học nhân loại là phương pháp cấu trúc phát sinh Đây là phương pháp kết hợp giữa nền
tảng triết học của chủ nghĩa Marx và chủ nghĩa phê bình cấu trúc Phương pháp cấu trúc phát sinh là một phương pháp nghiên cứu theo hướng đặt những mối quan hệ
Trang 24trong nội tại tác phẩm vào sự tương quan với những mối quan hệ trong một nhóm xã hội để lí giải Phương pháp này còn hướng đến nghiên cứu sự biểu hiện của ý thức xã
hội trong tác phẩm văn học thông qua nội dung và hình thức Vào những thế kỉ trước đây, đa số cách nghiên cứu tác phẩm là dựa vào sự tương quan giữa tiểu sử tác giả và tác phẩm là do “cấu trúc tâm lý là một thực thể” phức tạp trong nghiên cứu tác phẩm,
ta không thể lí giải tâm lý trong tác phẩm bằng sự nhìn nhận chủ quan và cảm tính Vì thế để phân tích một cách chính xác tác phẩm người nghiên cứu chủ yếu dựa vào người viết ra tác phẩm đó-tác giả Từ đó L Goldmann chỉ ra cách khắc phục bằng sự nghiên cứu các cấu trúc của tác phẩm đặt trong mối tương quan với cấu trúc xã hội mà
tác giả là thành viên trong xã hội đó – phương pháp cấu trúc phát sinh Việc sử dụng
phương pháp cấu trúc phát sinh vào phân tích tác phẩm mang lại những ưu điểm Thứ
nhất, phương pháp cấu trúc phát sinh giúp tìm hiểu, làm rõ đời sống chính trị, kinh tế, tinh thần của nhóm xã hội trong một thời kỳ lịch sử Thứ hai, phương pháp này tìm ra được những nhóm xã hội có tính chất đại diện và mang được sự phản ánh của xã hội
đó vào tác phẩm Thứ ba, việc áp dụng phương pháp cấu trúc phát sinh đem lại một
cái nhìn toàn diện, thống nhất về sự tương tác giữa xã hội và tác phẩm trong quá trình tìm hiểu, soi chiếu, làm rõ tác phẩm “bởi việc làm rõ một cấu trúc là một quá trình tìm hiểu, đồng thời việc đưa nó vào trong một cấu trúc rộng hơn là một quá trình giải thích”
Tiếp nối công trình nghiên cứu với cùng một vấn đề quan tâm về sự tương tác giữa tác phẩm văn học và xã hội nhưng cách nghiên cứu của Pierre Bourdieu có tính
mở rộng hơn trong việc ông lồng ghép lịch sử, bối cảnh sáng tác vào tác phẩm văn học
và sự cấu thành nên tác phẩm không chỉ mang yếu tố xã hội mà còn là sự kết hợp của nhiều tác nhân khác Ông đưa ra khái niệm “trường”
1.2.2 Pierre Bourdieu và lý thuyết “trường văn học”
Pierre Bourdieu (1930 – 2002) là một nhà xã hội học người Pháp có nhiều công trình nghiên cứu trên nhiều lĩnh vực từ xã hội học, nhân học, giáo dục học, nghệ thuật, thói quen tiêu dùng, kinh tế, khoa học xã hội và phê bình văn học Về lĩnh vực nghiên cứu các tác phẩm văn học, ông quan tâm nghiên cứu tác phẩm trong hoàn cảnh lịch sử
ra đời, sự tiếp nhận của xã hội và đặt tác phẩm nghiên cứu trong mối tương quan với
Trang 25các tác phẩm khác Ông là người đưa ra các khái niệm trường (champ), nếp quen (habitus), vốn (capital) và ứng dụng lí thuyết của các khái niệm trên vào nghiên cứu
tác phẩm nghệ thuật Theo lí thuyết của P Bourdieu, trong một thời điểm lịch sử nhất
định, trường là một không gian xã hội gồm các thành viên trong xã hội Các thành viên này có chung một đặc điểm, tính chất, lợi ích cơ bản để phân biệt nhau(ví dụ: trường triết học, trường chính trị, trường tôn giáo,…) Mỗi trường có không gian, quy luật riêng, sự tác động qua lại lẫn nhau và chúng di chuyển qua lại nhờ các nguồn vốn (capital) (vốn kinh tế, vốn tài năng, vốn văn hóa, vốn xã hội…) Đây là tư tưởng ảnh
hưởng từ nền tảng của chủ nghĩa Marx Một tác phẩm văn học ra đời là do sự hội tụ và tác động của các yếu tố xã hội trong đời sống – vốn Bản thân mỗi nhà văn cái sẵn có
là vốn tài năng cùng sự cộng thành với các nguồn vốn khác nhau tạo ra một tác phẩm khác nhau Để trở thành thủ lĩnh trong một trường thì một nhà văn phải có sự tương tác, tích hợp của nhiều nguồn vốn Sự ảnh hưởng của trường trong một hoàn cảnh, điều kiện cụ thể thì trường cũng trở thành lực hút hay lực đẩy của chính nó trong văn
có liên quan đến phương pháp phê bình này xã hội học văn học Khoảng hơn hai mươi
năm nay đã có những công trình nghiên cứu đề cập tới vấn đề này, năm 1992 trong
cuốn Lịch sử văn học Pháp thế kỷ XX Giáo sư Đỗ Đức Hiểu đã nhắc đến phê bình và
xã hội học như một bộ phận của khoa học Người đầu tiên giới thiệu xã hội học văn
học ở Việt Nam là Giáo sư Tiến sĩ khoa học Phương Lựu trong cuốn Mười trường phái lý luận phê bình văn học phương Tây đương đại và dành 20 trang để nói về vấn
đề này PSG.TS Trương Đăng Dung nhắc đến xã hội học văn học trong chủ nghĩa cấu
Trang 26trúc của Lucien Goldmann trong phần dẫn nhập cuốn Tác phẩm văn học như là quá trình (2004) hay cuốn Lý luận phê bình văn học của Đỗ Lai Thúy cũng nhắc tới vấn đề này Xã hội học văn học cũng được đề cập trong bài Phê bình văn học phương Tây, nhìn lại và suy ngẫm của PGS.TS Đào Duy Hiệp v.v… Mặc dù còn khá e dè đối với Việt Nam nhưng xã hội học văn học không phải là một thứ hoàn toàn mới toanh đối với lĩnh vực nghiên cứu tại Việt Nam và phê bình xã hội học cũng vậy Đây là một
vùng đất mới hứa hẹn nhiều tiềm năng khai phá trong lĩnh vực văn học ở Việt Nam
1.3 Cuộc vận động sáng tác “Văn học tuổi hai mươi” – vai trò và những đóng góp
1.3.1 Những điều kiện thúc đẩy sự hình thành và phát triển của cuộc vận động sáng tác “Văn học tuổi hai mươi”
Trải qua nhiều lần tổ chức, cuộc vận động sáng tác “Văn học tuổi hai mươi” đã cho thấy phần nào sức ảnh hưởng của mình đối với những tín đồ văn chương trẻ tuổi Không những thế, cuộc thi đã đạt được những thành tựu ban đầu trong công cuộc góp phần đổi mới và hoàn thiện dòng văn học trẻ Để đạt được thành công ấy, cuộc vận động tất yếu có những điều kiện thúc đẩy sự hình thành và phát triển qua các thời kỳ
Đầu tiên kể đến, đó chính là truyền thống văn học lâu đời Đó là một tinh thần mạnh mẽ được kế thừa và phát huy theo dòng chảy lịch sử qua hàng nghìn năm Đặc biệt, Năm 1975, khi đất nước được thống nhất cũng chính là lúc hai dòng văn học Bắc – Nam hòa chung dòng chảy Đây có thể xem như một bước nhảy vọt đánh dấu cho sự phát triển hoàn thiện của văn học dân tộc trong thời kỳ hiện đại Đến năm 1986, văn học lại một lần nữa cho thấy sự chuyển mình linh hoạt trước sự thay đổi của bối cảnh
xã hội Giai đoạn này, đất nước tiến hành đổi mới trên nhiều phương diện, trong đó, văn học là lĩnh vực chịu ảnh hưởng sâu sắc.Có thể thấy, văn học lúc bấy giờ mới thật
sự giải phóng, quay trở về chức năng nguyên thủy của mình, các nhà văn đã không còn
dè dặt, e ngại mà mạnh dạn bước ra sự khuôn khổ và không ngừng sáng tạo theo những lối tư duy mới mẻ phù hợp với xã hội hiện đại, cứ thế hàng loạt các ấn phẩm ra đời.Lúc bấy giờ, các tác phẩm đã có một hướng đi mới với nhiều tư duy mới, tư tưởng mới, dần dần tạo ra một bản sắc riêng trong đời sống xã hội Từ đó, có thể thấy rằng,
Trang 27nền văn học nước ta đã phát tiển từ rất nhiều thập kỷ, trở thành một truyền thống bền vững và không ngừng vận động Đây có thể xem là điều kiện tiền đề, bản thể luận cho
sự hình thành và phát triển của cuộc thi
Cùng với truyền thống văn học lâu đời, sự đổi mới trong tư duy của con người cũng là một yếu tố ảnh hưởng đến sự ra đời của cuộc vận động Trong những thời kỳ trước đây, con người sống trong một thế giới quan bị kìm hãm dưới sự tác động của chính trị, kinh tế, xã hội Đến năm 1986, khi đất nước bước vào giai đoạn đổi mới, đây như một cánh cửa giải thoát cho những tâm hồn bị trói buộc Con người bắt đầu quan tâm đến bản thân nhiều hơn Đối với văn học, độc giả đòi hỏi những sản phẩm mới đáp ứng được nhu cầu học hỏi và tiếp thu tư duy mới, dẫn đến sự ra đời của các tác phẩm mới với số lượng cao, mỗi tác phẩm mang một dấu ấn tư duy riêng Tuy nhiên, đứng trước sự phát triển mạnh mẽ ấy, những người cầm bút khó có thể có cái nhìn bao quát và toàn diện về tình hình văn học lúc bấy giờ, điều này tất yếu dẫn đến sự hình thành của các cuộc thi về sáng tác văn chương Một mặt có thể phát huy được tính tư duy hóa thông qua các tác phẩm, mặt khác phần nào có thể nắm bắt được xu hướng mới trên văn đàn Chính vì lẽ đó, cuộc vận động sáng tác “Văn học tuổi hai mươi” bước đầu hình thành và trải qua các thời kỳ tổ chức đến nay, trở thành một thư viện với những tư duy sáng tạo của người trẻ lúc bấy giờ
Không những thế, tư tưởng cũng là một trong những yếu tố tác động đến những chủ thể sáng tạo Bất kỳ một nhà văn khi sáng tác một tác phẩm đều mang khuynh hướng tư tưởng của thời đại Trong giai đoạn này, con người bắt đầu có sự dung hòa giữa các tư tưởng truyền thống và du nhập từ nhiều luồng khác nhau, đặc biệt là tư tưởng phương Tây Sự thay đổi ấy có tác động mạnh mẽ đến giới sáng tác, tháo gỡ cho văn học trong khuôn khổ trước đó của nó Tư tưởng chính là linh hồn của tác phẩm, khi tư tưởng thay đổi tất yếu dẫn đến sự thay đổi trong văn chương
Ở một thời đại mới với nguồn nhân lực trẻ chủ yếu, cuộc vận động sáng tác
“Văn học tuổi hai mươi” ra đời trở thành một sân chơi dành cho những người trẻ Bởi
lẽ, so với các tầng lớp xã hội khác, hầu hết họ là những người chưa có thành tựu nhưng
họ lại có sức mạnh lớn của tuổi trẻ, họ có đầy đủ những năng lực nội tại và ngoại tại để
có thể sáng tác ra các tác phẩm mới đồng thời góp phần tạo nên một diện mạo mới cho
Trang 28văn học thời kỳ này nói chung và dòng văn học trẻ nói riêng.Sự đổi mới của văn chương nên là sự đổi mới từ những người trẻ, họ là những người vứt bỏ được những
âm ĩ trong quá khứ Cuộc vận động ra đời sẽ là một không gian chung để người trẻ sáng tạo Sống trong giai đoạn khoa học kỹ thuật phát triển, người trẻ sẽ là những người tiếp nhận sự mới mẻ tốt hơn những người đi trước, nắm bắt thông tin nhanh nhạy hơn và đồng thời cũng là những nhân tố chủ lực mạnh dạn tìm kiếm những tri thức mới, dám làm những điều mới, điều lạ trước đây chưa từng có “Trẻ” trong thời đại ngày nay đã không còn là một tính từ chỉ một độ tuổi nhất định mà đã trở thành một động từ chỉ hành động trẻ Họ là những người tiên phong cho khuynh hướng “dám nghĩ dám làm” và luôn có khao khát được thể hiện bản thân trong hầu hết các lĩnh vực của đời sống, trong đó văn đàn là một môi trường thu hút một lượng lớn những người trẻ Bên cạnh đó, thời đại mới còn giải phong ấn cho sự tự do về ngôn luận Do đó, những tri thức trẻ luôn thể hiện khả năng giao tiếp mình, luôn phát biểu những quan điểm cá nhân trên các trang mạng xã hội hay ở những chương trình cộng đồng Từ đó,
họ cần có một khoảng không gian tự do, thoải mái để có thể thỏa mãn nhu cầu được viết, được sẻ chia, được chứng tỏ và được công nhận Không những thế, nhân lực trẻ là nguồn lực có khả năng tái sinh và thay thế nhau, một lớp trẻ qua đi sẽ có một lớp trẻ khác thay thế, thậm chí là giỏi hơn, tốt hơn, năng động hơn, sáng tạo hơn.Đây có thể xem như một yếu tố hạt nhân thúc đẩy sự ra đời của cuộc vận động sáng tác “Văn học tuổi hai mươi” và là chất dinh dưỡng duy trì cho sự tồn tại của cuộc thi qua nhiều thời
kỳ
Mặt khác, yếu tố chủ quan của những người tổ chức cũng là một điều kiện thúc đẩy sự hình thành và phát triển của cuộc vận động Khi xã hội cần văn học thay đổi một bộ mặt mới, tự nhiên các tác phẩm mang khuynh hướng mới ra đời cùng với sự xuất hiện của các cây bút trẻ lúc bấy giờ Trong những năm 90, khởi đầu cho việc sinh hoạt văn chương là các bài viết được in ấn trên các tờ báo, tạp chí Khi ấy, ở Hà Nội có
báo Hoa học trò, Tuổi xanh với nhóm bút Hương đầu mùa, trong Nam có Mực Tím và
Áo Trắng với nhóm bút Vòm me xanh.Văn đàn đã sản sinh ra những cây bút tên tuổi
còn vang dội đến ngày hôm nay như Trang Hạ, Đặng Thiều Quang, Phan Hồn Nhiên, Đặng Nguyễn Đông Vy,…Từ đó, đời sống văn học trẻ ngày ấy càng trở nên sôi nổi,
Trang 29mạnh mẽ và cần có một môi trường lớn hơn để thỏa sức vẫy vùng cùng như khẳng định năng lực viết của người trẻ Các công cuộc tìm kiếm cây bút mới dần dần hình thành và ngày càng trở nên phổ biến hơn, tạo nên một phong trào tổ chức các cuộc thi trên khắp mọi nơi như nhà báo Phạm Văn Tri là một trong những người mở ra các phong trào thi viết ở khu vực Cà Mau những năm 90 Với mong muốn tạo ra một sân chơi bổ ích, uy tín với những thành phần ban giám khảo chuyên môn, hàn lâm, cuộc vận động sáng tác “Văn học tuổi hai mươi” lần đầu tiên ra mắt giới văn nghệ sĩ vào năm 1994, vừa có tính cạnh tranh với các cuộc thi khác, vừa có thể chiêu mộ các nhân tài văn chương mới Đây cũng là một trong những nguyên nhân thúc đẩy sự có mặt của cuộc thi
Những điều kiện trên đây là những điều kiện chủ yếu thúc đẩy sự hình thành và phát triển của vận động sáng tác “Văn học tuổi hai mươi” qua các thời kỳ Ra đời trong bối cảnh đất nước hiện đại, ngày càng chú trọng tính năng động, sáng tạo và cần
có những yếu tố trẻ, có thể thấy, cuộc thi đã bắt kịp xu hướng phát triển của xã hội, phù hợp với sự vận động của hiện thực khách quan Đây cũng chính là một trong những tiền đề để có thể lý giải sự thành công của cuộc thi và góp phần đưa ra định hướng cho dòng văn học trẻ trong tương lai Những điều kiện ấy có mối liên hệ cộng hưởng với nhau, tạo ra một ưu thế tốt nhất cho sự hình thành của cuộc vận động Trải qua nhiều lần tổ chức, các điều kiện ấy vẫn không ngừng biến đổi cùng với xã hội, văn học trẻ tất yếu cũng có sự thay đổi, văn đàn trở nên phong phú đa dạng hơn Song, vẫn cần có một định hướng chung cho sự phát triển của dòng văn học trẻ trong tương lai
1.3.2 Vai trò và những đóng góp của các tác phẩm đoạt giải cuộc vận động sáng tác “Văn học tuổi hai mươi” đối với nền văn học Việt Nam nói riêng và xã hội nói chung qua các thời kỳ
Trải qua quá trình hình thành và phát triển đến nay, cuộc vận động sáng tác
“Văn học tuổi hai mươi” đã ghi những dấu ấn riêng trong dòng chảy văn học Việt Nam nói riêng và xã hội nói chung Bước vào văn đàn với tư cách là những gương mặt mới, các tác phẩm đoạt giải đã phát huy được hết những giá trị vốn có và đạt được thành công nhất định Tuy còn nhiều mặt hạn chế, song không thể phủ nhận những đóng góp của các tác phẩm nói riêng và cuộc vận động nói chung
Trang 30Trong thời đại tri thức, con người không ngừng hướng tới sự phát triển toàn diện về mặt vật chất cũng như tinh thần Không những thế, tri thức mà con người tìm kiếm không chỉ là những tri thức về khoa học kỹ thuật tiên tiến mà còn là những tri thức về cảm xúc Những suy nghĩ, tâm tư, tình cảm của con người được nâng lên một tầm cao mới, mong muốn được trải nghiệm nhiều cung bậc cảm xúc, để có thể dễ dàng thấu hiểu nhau, đưa tâm hồn mình gần hơn với tâm hồn của cộng đồng Cuộc vận động sáng tác “Văn học tuổi hai mươi” ngay khi ra đời đã trở thành một phương tiện chuyên chở những tri thức cảm xúc mới lạ, độc đáo, đa dạng đến với bạn đọc thông qua các tác phẩm
Từ việc lựa chọn đề tài qua các lần tổ chức, tuy cuộc vận động đề cập đến những khía cạnh quen thuộc của đời sống nhưng những tác phẩm đoạt giải đã đem đến hơi thở mới cho những điều tưởng chừng như đã cũ Điều này cho thấy tầm nhìn khái quát của cuộc vận động khi đã nắm bắt được những ưu điểm của thế hệ trẻ và tạo điều kiện, cơ hội cho các cây bút trẻ có thể thỏa sức sáng tạo những tri thức cảm xúc của chính mình Đây là một sự đóng góp vào kho tàng tri thức cảm xúc của nền văn học Việt Nam nói riêng và xã hội nói chung Bởi lẽ xúc cảm của con người là một sự vận động phát triển không ngừng theo thời gian và ngày càng trở nên phong phú Sự ra đời của cuộc vận động đánh dấu một bước chuyển mình của văn đàn, đưa những tri thức
ấy đến gần hơn với độc giả Với phương châm người trẻ viết cho người trẻ, các tác phẩm đoạt giải đã biết cách chạm đến những tâm tư, suy nghĩ của bạn đọc và thúc đẩy những lối suy nghĩ, tâm tư ấy vươn ra khỏi những bó buộc chật hẹp cũng như thôi thúc những giọng văn trẻ khác tiếp tục thể hiện những tri thức của riêng mình, tạo nên những xu hướng mới trên văn đàn
Ngoài việc hướng đến những tri thức cảm xúc mới mẻ, với mục tiêu “tìm kiếm những sáng tác có giá trị và phát hiện những cây bút mới”6, cuộc vận động sáng tác không những là một sân chơi bổ ích mà còn tiếp lửa cho thế hệ trẻ kế tục và phát huy truyền thống văn học, mang đến những cái nhìn trẻ phù hợp với giai đoạn tân tiến và hội nhập của xã hội Cuộc vận động đã trở thành một bước đệm cho sự định hướng
6 Linh Thoại, 30/10/2012, Gương mặt Văn họctuổi hai mươi,
www.nxbtre.com.vn/tac-pham-van-hoc/guong-mat-van-hoc-tuoi-20
Trang 31phát triển của dòng văn học trẻ với những khao khát được thay đổi và thể hiện chính mình Chính vì lẽ đó, những cây bút bước ra từ cuộc thi đã dần khẳng định được tên tuổi, tạo nên một nét rất riêng trên bước đi dài của con đường sáng tác và ghi dấu ấn trong lòng độc giả như Nguyên Hương – cây bút đạt giải nhất trong cuộc vận động sáng tác lần I, lấy cảm hứng từ những tâm tư, suy nghĩ, tình cảm của mình góp nhặt trong đời sống, tác giả đã chinh phục được thành phần ban giam khảo, tạo nên một ấn
phẩm xuất sắc trong thời kỳ lúc bấy giờ Hay như cây bút Cánh đồng bất tận đã khuấy động nền văn chương với tác phẩm Ngọn đèn không tắt trong cuộc vận động lần II, với
giọng văn đậm chất Nam Bộ, sự trong trẻo, thuần khiết trong tác phẩm, đã khiến tên tuổi của cây bút này chiếm một vị trí nhất định trên văn đàn, dần khẳng định được uy tín và trở thành giám khảo của cuộc vận động sáng tác lần V Bên cạnh đó, Nguyễn Ngọc Thuần cũng là một trong những cái tên quen thuộc đối với độc giả, anh cho rằng:
“Không có cuộc thi Văn học tuổi hai mươi, có lẽ tôi cũng không biết mình có thể viết”7
Trước sự thay đổi về cục diện của văn đàn khi ngày nay, hầu hết các tác phẩm ngoài việc hướng đến những giá trị tư tưởng thuần túy được đúc kết, những người trẻ còn cho thấy sự năng động của chính mình khi xuất phát điểm của họ không phải là những nhà văn, nhà báo nhưng lại mạnh dạn, tích cực tham gia cuộc vận động để có thể cống hiến những tác phẩm cho đời sống tinh thần của độc giả Đây chính là một nét mới mà cuộc vận động đã khai phá một cách sâu sắc, một phần đã làm thay đổi quan điểm chỉ có những nhà văn, nhà thơ mới có thể sáng tác văn chương Mặt khác làm đa dạng, phong phú những góc nhìn đa chiều của dòng văn học trẻ với nhiều màu sắc giọng điệu, những lối suy nghĩ khác biệt, mặt khác, tạo nên sự phổ biến rộng rãi của cuộc vận động sáng tác, đưa các tác phẩm đoạt giải đến gần hơn với công chúng Tuy nhiên, đây cũng là một sự mạo hiểm, khi các cây bút đã bước đầu định hình được phong cách cũng như được giới chuyên môn đánh giá cao nhưng kết thúc cuộc thi lại không thể gắn bó lâu dài với văn đàn Đây là một vấn đề cần được cân nhắc và xem xét trong những cuộc vận động sau để cuộc thi có thể phát triển một cách toàn diện
7 Linh Thoại, 30/10/2012, Gương mặt Văn học tuổihai mươi,
www.nxbtre.com.vn/tac-pham-van-hoc/guong-mat-van-hoc-tuoi-20
Trang 32Cuộc vận động lấy ngoại diên thể loại là truyện ngắn và truyện dài - một thể loại kích thích trí tưởng tượng phong phú của con người một cách mạnh mẽ, cũng như
có thể khai phá chiều sâu những tâm tư tình cảm trong quá trình sáng tác, từ tưởng tượng này đến tưởng tượng khác, từ tình cảm này đến tình cảm khác, các tác phẩm đoạt giải trong các cuộc vận động đã cho thấy sự sáng tạo của con người là vô tận được tạo nên từ những điều dung dị đến những điều phi thường trong đời sống xã hội Đây chính là điểm mấu chốt của cuộc vận động, đòi hỏi người sáng tác phải có một hệ thống cốt truyện chặt chẽ, chuỗi các sự việc hợp lý nhưng không kém phần đặc sắc, mới lạ Mặc dù, đây là những thể loại không hề xa lạ đối với các tên tuổi trên văn đàn, nhưng cũng chính từ sự quen thuộc này mà cuộc vận động đã định hướng phải tìm kiếm một bầu không khí mới cho hệ thống truyện ngắn, truyện dài đặc sắc vốn có trong kho tàng văn học từ trước đến nay Tuy là một cuộc thi còn non trẻ nhưng đã cho thấy sự bản lĩnh, khôn khéo cũng như những phương châm hiện đại, hướng đến lợi ích chung của xã hội
Trải qua nhiều lần tổ chức, đặc biệt cuộc vận động sáng tác “Văn học tuổi hai mươi” lần V có thêm một bước tiến mới so với các thời kỳ trước Đó chính là sự “hiển danh”8 của các tác giả trong quá trình dự thi, nhằm đưa những tác phẩm đến gần hơn với bạn đọc, cũng như giúp bạn đọc nêu lên những quan điểm, cảm nhận cá nhân về các tác phẩm nói riêng và cuộc thi nói chung, tạo thêm cái nhìn đa chiều, khách quan
để có thể lựa chọn ra những cây bút xứng đáng nhất Đồng thời góp phần duy trì thế giới của người đọc, họ có cơ hội được trải nghiệm các tác phẩm mới với nhiều gam màu khác nhau trên văn đàn cũng như lĩnh hội những xu hướng khác nhau của văn học, đặc biệt là những người trẻ với những xu thế mới, quan niệm mới, tư tưởng mới
và tiêu chuẩn mới đối với tác phẩm, khiến đời sống văn học ngày càng vận động và phát triển, một yếu tố giúp văn hóa đọc ngày càng được mở rộng hơn Đây là một sự ghi nhận xứng đáng đối với những cống hiến của những tác giả trong cuộc thi Với mong muốn những độ tuổi hai mươi có thể tạo nên sự đột phá mới cho cuộc thi cũng như cho dòng văn học trẻ, cuộc vận động lần V chú trọng hơn về tư duy của người
8 Trọng Thịnh, 13/12/2013, Giám đốc NXB Trẻ “Chúng tôi muốn đột phá mới cho giải thưởng văn
học”,http://www.tienphong.vn
Trang 33sáng tạo, đòi hỏi sự phá cách bên cạnh việc đi theo lối truyền thống đơn thuần, tạo nên một nốt nhạc bổng trong bản trường ca về văn học trẻ Điều này cần có sự nhẫn nại cũng như có một định hướng đúng đắn của cuộc thi để những người trẻ có thể phát huy hết khả năng của mình
Sự ra đời của cuộc vận động sáng tác “Văn học tuổi hai mươi” qua các thời kỳ nhằm mục đích phát hiện ra các cây bút thế hệ “vàng” của thời đại với các tác phẩm xuất sắc Đây là một vinh dự cho những người tham dự cuộc thi khi đạt giải có thể khẳng định được vị thế của mình ở một mức nhất định Nhưng đồng thời, nó cũng là một áp lực cho những người thắng cuộc khi phải duy trì sự xuất sắc ấy trong các tác phẩm mới sau khi bước ra cuộc thi Do đó, cuộc vận động qua các thời kỳ chỉ mang tính thời cuộc, không thể duy trì chất lượng của những cây bút tham gia cuộc thi Vì vậy, cuộc vận động chỉ đóng vai trò là một tấm gương phản chiếu khuynh hướng văn chương của một bộ phận tác giả trẻ trong một giai đoạn nhất định của xã hội Đây vừa
là một ưu thế nhưng đồng thời là một sự hạn chế đối với cuộc thi Song, văn đàn cũng không thể phủ nhận những đóng góp tích cực khác của cuộc thi
Cuộc vận động sáng tác “Văn học tuổi hai mươi” đến hôm nay đã khẳng định được vị trí của mình trong việc góp phần mang đến hướng đi mới cho dòng văn trẻ như một cách lý giải về nỗi lo về thực trạng xuống cấp của văn hóa đọc Tuy nhiên, cuộc vận động khó có thể tránh khỏi những hạn chế cũng như những sai sót trong quá trình tổ chức Trên thực tế, cuộc vận động sáng tác vẫn chưa thật sự được đông đảo các độc giả yêu thích văn chương biết đến Đồng thời, tên tuổi của các tác giả trưởng thành từ cuộc thi vẫn còn xa lạ đối với các độc giả Điều đó cho thấy, qua nhiều lần khởi động, cuộc vận động sáng tác “Văn học tuổi hai mươi” lần V bước đầu góp phần hoàn thiện cuộc thi về khâu tổ chức, thành phần Ban giám khảo, cách thức, thể lệ thi, khâu quảng bá cũng như tạo nên mối liên kết chặt chẽ giữa các tác giả với văn đàn và hơn hết là đưa các tác phẩm đoạt giải đến gần hơn với công chúng, đặc biệt với thế hệ độc giả trẻ, để những họ có thể nâng cao ý thức về văn chương bên cạnh những dòng văn học thần tượng hiện nay trên văn đàn Từ đó, đưa ra những định hướng cho cuộc vận động sáng tác trong tương lai, tìm ra giải pháp khắc phục cũng như tiếp tục phát
Trang 34huy những ưu thế vốn có, để cuộc thi ngày càng trở nên tốt hơn và trở thành một nguồn lực văn chương hùng hậu cho dòng văn học trẻ
1.4 Cuộc vận động sáng tác “Văn học tuổi 20” lần V
Cuộc sống của chúng ta luôn không ngừng vận động và phát triển, kéo theo những sự chuyển biến trong xã hội Chính vì vậy, từng giai đoạn lịch sử khác nhau đã
để lại những dấu ấn riêng biệt, có sức ảnh hưởng to lớn, tác động trực tiếp đến đời sống xã hội, hình thành nên những con người của thời đại Thế kỉ XXI đã mở ra kỉ nguyên của sự tiến bộ vượt bậc trong lĩnh vực khoa học công nghệ Từ đó, cả thế giới bước vào xu thế hội nhập, phát triển và tuổi trẻ đã trở thành đại diện tiêu biểu cho thời đại hôm nay Đứng trước bối cảnh đó, nước ta cũng đặt rất nhiều kì vọng vào thế hệ trẻ, sẽ làm nên những sự nghiệp lớn lao, góp phần xây dựng nước Việt Nam tiên tiến, giàu mạnh Nhằm khẳng định vai trò và trách nhiệm của người trẻ đối với tương lai của đất nước Đồng thời, tạo cơ hội để các nhà văn có thể phát huy hết tiềm năng, trí tuệ và thỏa mãn niềm đam mê của mình Hội Nhà văn Thành phố Hồ Chí Minh, báo Tuổi Trẻ và Nhà xuất bản Trẻ đã tổ chức Cuộc vận động sáng tác “Văn học tuổi hai mươi” Trải qua bốn lần tổ chức, cuộc vận động đã đạt được những thành tựu nhất định, cùng đồng hành với sự chuyển biến của nền văn hóa đọc thế kỉ XXI Tiếp tục thực hiện xây dựng và phát triển cuộc thi, Ban tổ chức quyết định phát động Cuộc vận động sáng tác “Văn học tuổi hai mươi” lần V Bắt đầu từ tháng 9 năm 2012, cuộc thi
đã đóng góp cho nền văn học nước nhà những tác phẩm mới, trở thành nguồn tài liệu
để chúng tôi nghiên cứu về tư tưởng chủ đạo cũng như xu hướng nghệ thuật văn học Việt Nam hiện đại
1.4.1 Khái quát về đề tài sáng tác, thành phần ban giám khảo, giải thưởng đặt trong bối cảnh xã hội hiện tại
Cũng như những cuộc thi trước, đề tài của Cuộc vận động sáng tác “Văn học tuổi hai mươi” lần V tập trung đề cao sự nhận thức về con người, đặc biệt là con người trẻ mang dấu ấn của thời đại, và sự biến đổi theo xu thế của cuộc sống Tuy nhiên, đề tài của mùa giải năm nay cũng khéo léo lồng ghép những khía cạnh mới, để các tác giả thỏa sức khai phá những vấn đề mới Vẫn là khuôn khổ viết về con người, cuộc sống,
Trang 35khát vọng của lứa tuổi hai mươi Nhưng không chỉ chú trọng khai thác về cuộc sống con người tuổi hai mươi ở thế kỉ XXI như “Văn học tuổi hai mươi” lần III Hay “tái hiện chân dung tiêu biểu của người trẻ hôm nay” như “Văn học tuổi hai mươi” lần IV
Để khẳng định vai trò và sức mạnh của giới trẻ trong sự nghiệp xây dựng, bảo vệ Tổ quốc, cũng như để hưởng ứng sự thành công của Năm Thanh niên 2011 Đề tài của cuộc vận động sáng tác “Văn học tuổi hai mươi” lần V yêu cầu: “Hãy viết về con người, cuộc sống, khát vọng của lứa tuổi đẹp nhất, nhiều ước mơ, nhiều trăn trở và nhiều thử thách nhất, tuổi hai mươi hôm nay.” Quả thật, đề tài của cuộc thi mang đậm tính thời đại và tính xã hội Năm 2011- Năm Thanh niên kết thúc với rất nhiều thắng lợi Phần lớn các mục tiêu đề ra nhằm tạo cơ hội để phát triển năng lực sáng tạo, tinh thần chủ động trong lao động sản xuất của thanh niên đã thực hiện được Thêm vào đó, xuyên suốt trong năm, Đoàn Thanh niên đã phát động rất nhiều phong trào mới, đi sâu vào thực tiễn, góp phần đáp ứng nhu cầu, nguyện vọng chính đáng của thanh niên, của giới trẻ Đây chính là cột mốc quan trọng, để trong những năm kế tiếp, nước ta sẽ có thêm nhiều hoạt động tích cực để hỗ trợ, tạo điều kiện cho thế hệ trẻ phát huy tiềm năng một cách toàn diện
Trong tất cả các cuộc thi, Ban giám khảo là một trong những nhân tố quan trọng nhất, quyết định sự thành công hay thất bại sau cùng Bởi Ban giám khảo là thành phần
“cầm cân nảy mực”, đánh giá một cách công tâm và chuyên nghiệp về khả năng của thí sinh và chất lượng của bài dự thi, dựa trên trình độ chuyên môn cao và kinh nghiệm lâu năm trong nghề Những thành tựu trong sự nghiệp của họ là bảo chứng để Ban tổ chức
và công chúng tín nhiệm, hơn nữa, góp phần khẳng định sự uy tín của cuộc thi Vì thế, việc thay đổi thành phần ban giám khảo qua các mùa giải đã mở rộng tầm nhìn khách quan, củng cố vị thế của Cuộc vận động sáng tác “Văn học tuổi hai mươi” Đến với
“Văn học tuổi hai mươi” lần V, các thành viên trong Ban chung khảo của đều là những tên tuổi nổi bật, có tầm ảnh hưởng đối với văn học trẻ Nhà giáo Nguyễn Thành Thi, người mà chúng đại diện cho giới phê bình chất lượng của tác phẩm, ông là Phó Giáo
sư giảng dạy bộ môn Văn học Việt Nam hiện đại, ông đã viết và đồng tác giả hơn 50 tác phẩm và có nhiều công trình nghiên cứu khoa học Trên cơ sở đó, nhóm nghiên cứu chúng tôi cho rằng, Nguyễn Thành Thi chính là người đại diện cho giới phê bình về
Trang 36chất lượng của tác phẩm Không những thế, sự hiện diện của nhà phê bình Nguyễn Thanh Sơn, một doanh nhân, nhà phê bình văn học, đã chứng tỏ nỗ lực của Ban tổ chức trong việc đưa cuộc thi ngày một đến gần hơn với công chúng Nguyễn Thanh Sơn từng tốt nghiệp Thạc sĩ Báo chí Quốc tế - Học viện Quan hệ Quốc tế (Mat - xcơ - va), thạc sĩ Quan hệ Công chúng tại Đại học Oklahoma (Mỹ) Bên cạnh đó, còn có sự xuất hiện của các giám khảo nhà văn, như nhà văn Nguyễn Đông Thức, ông từng là Trưởng ban Văn hoá văn nghệ báo Tuổi Trẻ, Uỷ viên Ban Chấp hành Hội Nhà văn Thành phố Hồ Chí Minh nhiều khoá, Chủ tịch Hội đồng văn xuôi của Hội khoá V Hiện ông đang là Hội viên Hội Nhà văn Việt Nam và Hội Nhà báo Việt Nam Các giải thưởng mà ông đã đạt được: Giải A cuộc thi sáng tác do Thành đoàn Thành phố Hồ Chí Minh tổ chức, với tác
phẩm Một bông hồng cho cô bộ đội, Giải nhì cuộc thi sáng tác của Thành đoàn Thành phố Hồ Chí Minh cho tác phẩm Truyện rất khó viết, Giải ba cuộc thi sáng tác của Hội Nhà văn Thành phố Hồ Chí Minh với tác phẩm Mưa khuya, Giải nhì cuộc thi sáng tác của báo Sài Gòn Giải Phóng với tác phẩm Hạnh phúc ; Nhà văn Đoàn Thạch Biền,
người đã sáng lập và thực hiện Tập san Áo Trắng, ông hiện đang là Ủy viên Ban Chấp hành Chi hội Nhà văn Việt Nam tại Thành phố Hồ Chí Minh khóa VIII; Gương mặt cuối cùng là nhà văn Nguyễn Ngọc Tư, là tác giả của hơn 20 tác phẩm, từng đoạt Giải
nhất trong Cuộc vận động sáng tác “Văn học tuổi 20” lần II - tác phẩm Ngọn đèn không tắt, Giải B ở Hội Nhà văn Việt Nam - tác phẩm Ngọn đèn không tắt, Giảithưởng Hội Nhà văn Việt Nam năm 2006 - tác phẩm Cánh đồng bất tận Sự hợp nhất vai trò nhà
văn với vai trò giám khảo hòa quyện nên thưởng thức và đồng cảm, những chuẩn mực riêng trong sự tiếp nhận đa diện, nhiều chiều
Hệ thống cơ cấu giải thưởng của cuộc thi bao gồm: một giải nhất, 70 triệu đồng; một giải nhì, 50 triệu đồng; một giải ba, 30 triệu đồng; năm giải khuyến khích, mỗi giải
20 triệu đồng Giải thưởng trong mùa thi này mang tính khích lệ tinh thần các thí sinh rất cao Tổng giá trị giải thưởng của lần V lên đến 250 triệu đồng, cao gấp ba lần so với tổng giá trị giải thưởng của lần III và cao gấp rưỡi so với lần IV
Trang 371.4.2 Tình hình chung về thành phần tham gia viết bài, số lượng, chất lượng các tác phẩm tham gia
Cuộc thi kéo dài từ ngày 14 tháng 9 năm 2012 đến ngày 24 tháng 3 năm 2014, với tổng số 328 tác phẩm dự thi, trong đó có 147 tác phẩm là truyện dài và một 179 tác phẩm là truyện ngắn, thu hút các tác giả trong độ tuổi từ 12 đến 63 tuổi Có 18 tác phẩm được vào chung khảo với 12 truyện dài và 6 tập truyện ngắn, danh sách gồm có
Người ngủ thuê - Nhật Phi,Cơ bản là buồn - Nguyễn Ngọc Thuần, Hạt hòa bình - Minh Moon, Gia tộc ăn đất - Lê Minh Nhựt, UREM - Người đang mơ - Phạm Bá Diệp, Charao mùa trăng - Nguyễn Thị Khánh Liên, Mất hút bên kia đồi - D., Nhiệt đới buồn - Phương Rong, Lý hàng khơi - Phương Nam, Sống - Ðường, Chộn rộn xứ người - Mai Thanh Nga, Ê đen xa vời - La Nguyễn Quốc Vinh, Những đêm không ngủ
ở Toronto - Nguyễn Thu Hoài, Ðối cực - Trần Ðức Tĩnh, Những người bạn của Mặt trời – Lanka,Ðuôi trắng - Hồ Thúy An, Cát nổi khói vẫn bay - Phạm Tử Văn, Thị trấn của chúng ta - Nguyễn Dương Quỳnh Nhìn vào số lượng và chất lượng tác phẩm dự
thi “Văn học tuổi hai mươi” lần V, chúng ta nhận thấy đây là một tín hiệu đáng mừng cho những mùa giải tiếp theo trong tương lai Bởi Cuộc vận động sáng tác “Văn học tuổi hai mươi” đang ngày càng thu hút được sự quan tâm của các nhà văn và độc giả nhiều hơn, tạo nên những bước tiến xa hơn trong nền văn học Việt Nam
Cuộc vận động sáng tác “Văn học tuổi hai mươi” lần V có rất nhiều điểm mới Đáng chú ý là sự bứt phá về thể lệ Từ trước đến nay, trong tất cả các cuộc thi, trước khi được công bố chính thức, tên của tác giả và tác phẩm dự thi luôn được ẩn danh Nhưng Ban tổ chức Cuộc vận động sáng tác “Văn học tuổi hai mươi” lần V đã phá lệ, quyết định hiển danh các tác giả, tác phẩm tại thời điểm cuộc thi vẫn đang diễn ra Đồng thời, trong thời gian đó Ban tổ chức cũng chọn ra những tác phẩm chất lượng để
in và giới thiệu với công chúng Bạn đọc có thể tham gia bình chọn bằng phiếu hoặc thông qua hộp thư “Văn học tuổi hai mươi” lần V và có cơ hội nhận giải thưởng từ Ban tổ chức Việc này đã góp phần tăng cường tính công khai cũng như đưa các tác
phẩm đến gần hơn với độc giả Các tác phẩm đã được chọn in là: Người ngủ thuê - Nhật Phi, Cơ bản là buồn -Nguyễn Ngọc Thuần, Hạt hòa bình - Minh Moon, Gia tộc
ăn đất - Lê Minh Nhựt, UREM - Người đang mơ - Phạm Bá Diệp, Mất hút bên kia đồi
Trang 38- D., Nhiệt đới buồn - Phương Rong, Lý Hàng Khơi - Đoàn Phương Nam, Charao mùa trăng - Nguyễn Thị Khánh Liên, Anh đã đợi em, từng ngày - Nguyễn Thị Thanh Bình, Ngôi nhà không cửa sổ - Khiêm Nhu, Ở trọ Sài Gòn - Nguyễn Hoàng Vũ, Những người bạn của mặt trời - Lanka, Rưng rưng lòng - Tịch, Bình yên tạm bợ - Trần Lãng Diệp, Thị trấn của chúng ta - Nguyễn Dương Quỳnh, Chộn rộn xứ người - Mai Thanh Nga, Sống - Đường, Những đêm không ngủ ở Toronto - Nguyễn Thu Hoài, Không biết đâu mà lần - Văn Thành Lê, Đối cực - Trần Đức Tĩnh, Ê- Đen xa vời - La Nguyễn Quốc Vinh, Cát nổi, khói vẫn bay - Phạm Tử Văn, Đuôi Trắng - Hồ Thúy An
Không những thế, Ban tổ chức còn kí kết thỏa thuận hợp tác với kênh truyền hình Today TV về việc sẽ chuyển thể thành phim dài tập những tác phẩm dự thi phù hợp Điều này sẽ càng tạo cơ hội để tên tuổi của tác giả tác phẩm được phổ biến hơn trong công chúng, góp phần tích cực vào việc lan tỏa những thông điệp nhân văn mà người viết muốn gửi gắm Ngoài ra, còn rất nhiều nét mới lạ từ chính các tác giả, tạo nên sự khác biệt cho cuộc thi Nhìn vào số liệu thống kê đã nêu trên, chúng tôi nhận thấy rằng các tác giả “Văn học tuổi hai mươi” lần V có thiên hướng sáng tác truyện dài Đây là một tín hiệu đáng mừng cho tình hình viết truyện dài, tiểu thuyết của nước ta trong tương lai Bởi hầu như các cây bút trẻ của chúng ta ngày nay vẫn chưa mạnh dạn thử sức với thể loại này Bên cạnh đó, chủ đề của các tác phẩm dự thi lần này cũng rất phong phú: chiến tranh, hậu chiến và chủ yếu là những lát cắt về cuộc sống của người trẻ Đơn cử là tác phẩm “Cơ bản là buồn” Hay chủ đề xoay quanh cuộc sống hiện đại
của người trẻ ở thành thị, đối diện với quá nhiều lựa chọn, mâu thuẫn trong Sống, Người ngủ thuê, Những người bạn của Mặt Trời Đề tài về người trẻ ở miền núi, mang đậm hơi thở văn hóa độc đáo của dân tộc Raglai trong Charao mùa trăng.Và có chủ đề
về không gian sống ở vùng sông nước Nam Bộ, chân chất mộc mạc nhưng chứa đựng
bên trong nó những mâu thuẫn nội tại gay gắt (Lý Hàng Khơi, Gia tộc ăn đất) Ngoài
ra còn là những trải nghiệm từ cuộc sống của người trẻ Việt Nam ở nước ngoài với trái
tim luôn hướng về quê nhà (Chộn rộn xứ người, Những đêm khôngngủ ở Toronto)
1.4.3 Các tác giả, tác phẩm đoạt giải Trong tổng số mười tám tác phẩm vào chung khảo, Hội đồng chung khảo đã chọn ra chín gương mặt tác giả tác phẩm xuất sắc nhất quyết định trao giải Giành giải
Trang 39nhất của Cuộc vận động sáng tác “Văn học tuổi hai mươi” lần V là Nhật Phi, với tác phẩm “Người ngủ thuê” Giải nhì thuộc về “Cơ bản là buồn” của Nguyễn Ngọc Thuần Hai giải ba lần lượt được trao cho Minh Moon với “Hạt hòa bình” và Lê Minh Nhựt với “Gia tộc ăn đất” Năm giải khuyến khích là “Lý Hàng Khơi” – Đoàn Phương Nam, “Urem - Người đang mơ” – Phạm Bá Diệp, “Mất hút bên kia đồi” – D., “Nhiệt đới buồn” – Phương Rong và “Charao mùa trăng” – Nguyễn Thị Khánh Liên
1.4.3.1 Người ngủ thuê - Nhật Phi
Nhật Phi tên thật là Nguyễn Minh Quân, sinh năm 1991 Người ngủ thuê là tác phẩm đầu tay được in thành sách của anh Tác phẩm thuộc thể loại truyện dài Nhật Phi chia sẻ rằng ý tưởng của tác phẩm này đến từ câu nói bất chợt của một người bạn, một người luôn bận rộn và mệt mỏi vì công việc hằng ngày, “giá mà ai đó ngủ giùm”
Người ngủ thuê viết về cuộc sống xã hội trong tương lai, khi khoa học công
nghệ đạt đến trình độ siêu cấp, máy móc hoàn toàn thay thế cho con người Lúc bấy giờ loài người đã chế tạo thành công cỗ máy giúp họ không cần ngủ, mà chỉ cần thuê người khác ngủ cho mình Năng lượng tái tạo từ “người ngủ thuê” sẽ được tích lũy vào
cỗ máy và sẽ truyền sang người thuê khi cần thiết Như vậy, con người sẽ tiết kiệm được thời gian ngủ để làm thêm nhiều việc hơn nữa trong quỹ thời gian một ngày của mình Thế nhưng, khi con người làm việc không ngơi nghỉ thì cũng là lúc xã hội không còn ai quan tâm đến nhau nữa Mọi người chỉ bị cuốn vào vòng xoáy của sự cô đơn, bộn bề, không tìm được lối thoát Nhân vật trung tâm trong tác phẩm là một chàng trai làm nghề “ngủ thuê” Cho đến một ngày, anh gặp phải những vị khách hàng vô cùng
kì lạ và từ đó, anh nhận ra mình cần phải tìm lại chính bản thân mình
Với sự lựa chọn đề tài mới lạ, kết hợp cùng bút pháp huyền ảo mượt mà Người ngủ thuê đã truyền tải thông điệp mang ý nghĩa nhân văn sâu sắc, mong muốn thức
tỉnh những thanh niên sống nhàm chán, mỏi mệt và lãng quên ước mơ
1.4.3.2 Cơ bản là buồn – Nguyễn Ngọc Thuần
Nguyễn Ngọc Thuần sinh năm 1972, tại xóm Phò Trì (thuộc xã Tân Thiện - Hàm Tân, Bình Thuận) “Văn học tuổi hai mươi” lần V đánh dấu sự trở lại lần thứ hai
Trang 40của anh đối với giải “Văn học tuổi hai mươi” Lần đầu, khi còn là sinh viên, Nguyễn Ngọc Thuần đã đoạt giải Ba với tác phẩm đầu tay của mình Sau đó, anh đoạt giải
Nhất với tác phẩm Vừa nhắm mắm vừamở cửa sổ trong Cuộc Vận động sáng tác Văn
học Thiếu nhi vì tương lai đất nước cũng do NXB Trẻ tổ chức
Chia sẻ về tác phẩm Cơ bản là buồn, Nguyễn Ngọc Thuần cho biết ýtưởng của
tác phẩm đến từ một lần, tình cờ anh đi ngang qua sân bay Biên Hòa cũ, khi nghe thấy tiếng máy bay rất lớn trên đầu, anh nghĩ “âm thanh trên trời đó hẳn phải có mối liên hệ nào đó với mặt đất, trong hiện tại và trong cả quá khứ” Vậy là Nguyễn Ngọc thuần đi tìm ra con người - kết nối giữa bầu trời và mặt đất, giữa quá khứ và hiện tại, và cụ thể hơn là giữa chiến tranh và sau chiến tranh, đó chính là cháu bé nạn nhân chất độc Dioxin - Hữu Nghị
Đọc truyện dài Cơ bản là buồn ta bắt gặp được một cái nhìn đầy cách tân và sâu
sắc về vấn đề hậu chiến tranh của tác giả Nhà văn Nguyễn Đông Thức đã từng thốt lên rằng: “Văn Nguyễn Ngọc Thuần ý tứ dồi dào đến nỗi có thể đang nói chuyện này chuyển sang nói chuyện khác mà đọc vẫn rất "đã"”
1.4.3.3 Hạt hòa bình – Minh Moon
Minh Moon tên thật là Trần Nguyệt Minh, hiện đang là phóng viên, biên tập
viên Tạp chí “Goft và Cuộc sống” Các tác phẩm nổi bật của cô: Tiểu thuyết Nụ
hônbánh mì – Nhà xuất bản Thời Đại 2012, Tuyển tập truyện ngắn Kẻ ăn giấc mơ –
Nhà xuất bản Trẻ 2010, Tuyển tập truyện ngắn Những truyện ngắn hay 2010 - Báo Tiếp thị và Gia đình
Truyện dài Hạt hòa bình kể về cuộc gặp gỡ của của một chàng trai 18 tuổi, đang
bỏ trốn sau khi bị “dồn ép vào đường cùng” và một cựu chiến binh đang tìm lại những đồng đội khi xưa cùng chinh chiến Cả hai người đều trải qua một biến cô lạ lùng, toàn
bộ không gian và thời gian bỗng nhiên bị xé toạc và họ rơi vào quá khứ, nơi đang diễn
ra chiến tranh Biên giới Tây Nam hào hùng của Tổ quốc Vậy là họ đồng hành cùng với nhau Bằng tất cả tình yêu quê hương, đất nước, họ xông pha ra mặt trận, chiến đấu hết mình vì độc lập, tự do của dân tộc Khi cuộc hành trình kết thúc, mọi thứ được trở
về đúng với thực tại của nó, thì cũng là lúc chàng trai trẻ bước sang một giai đoạn mới