Nguyên nhân của những hạn chế này, như các tác giả đã giải thích là do: “Hoàn cảnh nước nhà còn bị chia cắt hiện nay chưa cho phép tìm hiểu đầy đủ Hồ Biểu Chánh” [41, tr.325] Phan Cự Đ
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA TP HỒ CHÍ MINH TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI & NHÂN VĂN
LUẬN VĂN THẠC SĨ NGỮ VĂN
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC: PGS.TS ĐOÀN LÊ GIANG
THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH - 2009 NHỮNG CHỮ VIẾT TẮT TRONG LUẬN VĂN
Trang 21 [118, tr.115]: Trích dẫn ở tài liệu số 118 trang 115 trong mục tài liệu tham khảo
Trang 3MỤC LỤC
MỞ ĐẦU……… …… ……… 1
1 Lí do chọn đề tài………1
2 Lịch sử nghiên cứu vấn đề……….………… ………… 1
3 Mục đích nghiên cứu……… ………16
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu……… ………….……17
5 Phương pháp nghiên cứu……… ……… 18
6 Những đóng góp mới của luận văn……….20
7 Cấu trúc của luận văn……… 21
Chương 1 GIỚI THIỆU KHÁI QUÁT BA TỜ ……… ……… 22
1.1 Báo Sống……….……….………….……….23
1.2 Tiểu thuyết Nam Kỳ……… ……… …………34
1.3 Nam Kỳ tuần báo….……….……… ……….…………38
Chương 2 NHỮNG CẢM HỨNG CHỦ ĐẠO……… ….48
2.1 Cảm hứng tình yêu………….……… ……49
2.2 Cảm hứng đạo lý……… …….……… 55
2.3 Cảm hứng phê phán………… ……… 63
2.4 Cảm hứng thương cảm……… …… ……….…………75
Chương 3 NHỮNG PHƯƠNG THỨC BIỂU HIỆN CHỦ YẾU……… 80
3.1 Ngôn ngữ……… 81
3.2 Nhân vật……….……… 99
3.3 Kết cấu……… ……….… 124
KẾT LUẬN……… … 144
THƯ MỤC THAM KHẢO……….……… …….150
PHỤ LỤC……… …….164
Trang 41
MỞ ĐẦU
1 Lí do chọn đề tài
Văn học Nam Bộ giai đoạn 1932-1945 đã đạt được những thành tựu đáng kể cả
về số lượng lẫn chất lượng, với sự đa dạng về đời sống thể loại như: thơ, truyện ngắn, tiểu thuyết, các thể kí, tuỳ bút, kịch… Nhưng sự nhìn nhận và đánh giá những đóng góp của giai đoạn văn học này vào quá trình hiện đại hoá nền văn học dân tộc vẫn còn chưa tương xứng với tầm vóc và vai trò của nó Thực trạng này kéo dài sẽ là một sự lãng phí lớn những giá trị tinh thần của dân tộc
Các sáng tác văn học giai đoạn này phần lớn đến với công chúng bằng con đường đăng tải trên báo chí Nhưng cho đến hôm nay việc nghiên cứu các sáng tác ấy
từ những văn bản gốc của nó, vẫn chưa được giới chuyên môn tiến hành một cách có
hệ thống và triệt để
Nghiên cứu văn học giai đoạn này còn góp phần nhận diện văn hoá Nam Bộ qua văn học và đóng góp của Nam Bộ trong sự phát triển của văn học đương thời và hiện nay
2 Lịch sử nghiên cứu vấn đề
- Trước năm 1945
Trước năm 1945, trong các công trình nghiên cứu, phê bình về văn học dân tộc, rất ít khi người ta đề cập đến “vùng văn học Nam Bộ”; hoạ chăng nếu có thì chỉ là những nhận xét qua loa, sơ sài Còn mảng sáng tác văn học trên báo chí xuất bản ở Sài Gòn hầu như bị bỏ quên
Thiếu Sơn trong Phê bình và cảo luận (1933), ở phần “Phê bình nhân vật” đã
giành một số trang đề cập đến Hồ Biểu Chánh với tư cách là nhà tiểu thuyết nổi tiếng
trong văn giới đương thời Ở phần “Cảo luận”, tác giả cũng nhắc đến Đông Hồ, Trúc
Hà và “Trí Đức học xá”, tiền thân của báo Sống sau này Cũng trong sách này, khi
nhận xét về “Báo giới và văn học quốc ngữ”, nhà phê bình cho rằng: “ở các nước văn
Trang 52
minh tân tiến thì văn học đều có trước báo chí, mà ở nước ta thì chính lại nhờ báo chí xây dựng nền văn học” [118, tr.115]
Mộc Khuê trong Ba mươi năm văn học (1941) khi điểm qua tên tuổi một số nhà
văn Nam Bộ đầu thế kỉ, có nhắc đến Hồ Biểu Chánh-một trong những tác giả rất nổi bật của văn học Nam Bộ cuối thế kỉ XIX-đầu thế kỉ XX
Dương Quảng Hàm trong Việt Nam văn học sử trích yếu (1941) (tái bản 1950),
có nhắc đến Đông Hồ và Thiếu Sơn, hai cây bút có nhiều tác phẩm đăng trên báo Sống
và Nam Kỳ tuần báo (NKTN) Cũng trong sách này, khi đề cập đến tình hình báo chí,
nhà nghiên cứu cho rằng “báo chí quốc văn trải qua ba thời kì biến hoá”, nhưng
không thấy nhắc đến ba tờ báo chúng tôi đang nghiên cứu, dù đây là những tờ báo khá nổi tiếng đương thời
Hoài Thanh-Hoài Chân trong Thi nhân Việt Nam (1942) đã giới thiệu rất trang
trọng về Đông Hồ và Mộng Tuyết Phần giới thiệu tiểu sử Đông Hồ, các tác giả có nhắc đến sự kiện Đông Hồ chủ trương báo Sống
Vũ Ngọc Phan trong Nhà văn hiện đại (1942), một bộ sách phê bình văn học đồ
sộ nhất lúc bấy giờ, nhưng chỉ giới thiệu chung chung về văn nghiệp của Hồ Biểu Chánh, Đông Hồ, Thiếu Sơn mà không nhắc gì đến hoạt động làm báo của họ
- Từ 1945-1975
Giai đoạn này số công trình nghiên cứu về lịch sử báo chí, văn học Nam Bộ ở cả hai miền Nam Bắc tăng lên rõ rệt, cả về số lượng lẫn chất lượng
Lê Ngọc Trụ trong Mục lục báo chí Việt Ngữ 1865-1965 (1966), như tên gọi của
quyển sách, khi đề cập đến báo Sống, Tiểu thuyết Nam Kỳ (TTNK), NKTB, nhà nghiên cứu chỉ cung cấp những thông tin ngắn gọn như: năm xuất bản, năm đình bản, chu nhiệm và quản lý Tuy vậy, tác giả đã thiếu sót và nhầm lẫn khi cho rằng: báo Sống chỉ ra vào ngày thứ ba; chủ nhiệm là Trần Phước Phán; năm thứ I, số 1, 22/3/1935 Đình bản số 31, 15/10/1935 Tục bản, Janvier (tháng 1-NTN) 1936, số 32 và đình bản luôn [35, tr.29] Nhưng thực tế, báo Sống từ số 1-số 12 ra vào ngày thứ ba, nhưng kể từ
Trang 63
số 13 đến khi đình bản, số 30/1935, báo ra vào ngày thứ tư Người sáng lập báo Sống
là Trần Phước Phận Báo Sống, năm thứ nhất, số 1, ra ngày 22/1/1935 Số cuối cùng,
số 30, ra ngày 18/9/1935 Mộng Tuyết, một trong những thành viên tích cực của báo
Sống, trong Hồi ký Núi mộng gương hồ (tập 1) khẳng định rằng: Báo Sống ra được 30
số, gặp khó khăn về tài chính, đã tự đình bản [48, tr 62] Tương tự như vậy, khi đề cập
đến tờ TTNK, tác giả Mục lục báo chí Việt Ngữ cho rằng quản lý là Nguyễn Ngọc
Quới [35, tr.30] Nhưng thật ra là Nguyễn Văn Quới mới chính xác
Nguyễn Ngu Í trong Báo chí hôm qua 1865-1965-Thử nhìn qua 100 năm báo
chí (1966) đã cho biết năm 1935, báo Sống được thành lập bởi một nhóm bạn trong Trí Đức học xá ở Hà Tiên, như Đông Hồ Lâm Tấn Phát, Trúc Hà Trần Thiêm Thới, Trúc
Phong, Mộng Tuyết… Những người chủ trương báo Sống mong cơ quan ngôn luận của mình sẽ kế thừa được hai đức tính của nhóm “Nam Phong” và “Tự lực văn đoàn”:
biên khảo đúng đắn và văn chương trong sáng Theo tác giả thì đây là một tờ báo đầu tiên trong Nam in đúng chính tả, nhất là hỏi, ngã Khi nhắc đến NKTB nhà nghiên cứu cho rằng:
“Cụ Hồ Biểu Chánh vốn sống theo Nho phong, nên thấy có dịp chấn hưng luân
lí cố hữu”, “điểm tô quốc văn cho thêm thanh cao, rực rỡ” hợp với sở nguyện của mình, nên cụ bằng lòng và mời một nhóm nhà văn có tâm huyết hợp tác (…) Nhóm nhà văn này, gồm có Trúc Hà (của Sống trước kia), Thiếu Sơn, Khuông Việt, Lê Chí Thiệp,
Lê Thọ Xuân, Ngạc Xuyên, Miễn Trai, Trường Sơn Chí, Hương Trà” [61, tr.43]
Nguyễn Việt Chước trong Lược sử báo chí Việt Nam (1974), khi đề cập đến báo
Sống và NKTB cũng không có gì mới hơn so với những điều mà Nguyễn Ngu Í [61] đã
nói bảy tám năm trước đó
Công trình nghiên cứu về văn học Nam Bộ đáng chú ý nhất trong giai đoạn này
là quyển Những bước đầu của báo chí, truyện ngắn, tiểu thuyết và thơ mới 1865-1932
của Bùi Đức Tịnh (1975) Đây là một quyển sách khảo sát khá kĩ về tình hình báo chí
Trang 74
và văn học quốc ngữ Nam Bộ buổi đầu Tác giả cũng có nhắc đến tên gọi một trong ba
tờ báo chúng tôi khảo sát, đó là tờ NKTB
Lê Trí Viễn, Nguyễn Đình Chú trong Giáo trình lịch sử văn học tập IV B: Văn
học viết: Thời kỳ thứ ba (đầu thế kỉ XX) (1961) (tái bản lần 2), khi nhận xét về nền văn
học mới, các tác giả khẳng định: “việc chuẩn bị cho nền văn học mới phần lớn đều lấy
báo chí làm công cụ Cho nên lịch sử văn học giai đoạn này phải nói đến báo chí” [41,
tr 187] Sách đã dành trọn vẹn chương VIII viết về Hồ Biểu Chánh Song những nhận định về nội dung và nghệ thuật tiểu thuyết Hồ Biểu Chánh vẫn còn nhiều điều chưa thoả đáng, sơ lược Nguyên nhân của những hạn chế này, như các tác giả đã giải thích
là do: “Hoàn cảnh nước nhà còn bị chia cắt hiện nay chưa cho phép tìm hiểu đầy đủ
Hồ Biểu Chánh” [41, tr.325]
Phan Cự Đệ trong Tiểu thuyết Việt Nam hiện đại, tập 1 (1961) (tái bản 1978),
khi đề cập đến văn nghiệp Hồ Biểu Chánh (giai đoạn trước 1930-NTN), cũng có những nhận đđịnh chưa thoả đáng về nội dung và hình thức nghệ thuật của tiểu thuyết Hồ
Biểu Chánh Nguyên nhân của những hạn chế này, có lẽ do tác giả quan niệm: “Văn
học là một công cụ đấu tranh giai cấp, nó phải phục vụ những quan điểm chính trị và đạo đức của một giai cấp nhất định” [101, tr.37-38]
Phạm Thế Ngũ trong Việt Nam văn học sử giản ước tân biên (1966), cũng dành
một số trang đề cập đến Đông Hồ, với tư cách là một cây bút miền Nam chịu ảnh hưởng mạnh bởi phong cách viết văn trên tạp chí Nam Phong, nổi tiếng với hai bài ký:
“Thăm đảo Phú Quốc” và bài “Linh Phượng lệ ký” [97, tr.300-301] Cũng trong sách
này, nhiều chỗ tác giả nhận xét về tiểu thuyết Hồ Biểu Chánh (giai đoạn trước NTN) còn phiến diện, sơ lược Nhìn chung nhà nghiên cứu hơi khắt khe với tiểu thuyết của Hồ tiên sinh, khi ấy đã nổi tiếng không chỉ khắp Nam Bộ mà còn rất được ưa thích
1930-ở miền Bắc
Tháng 8 năm 1967, Tạp chí Văn ra số Tưởng niệm Hồ Biểu Chánh Số báo đặc
biệt này đã tập trung các bài viết của nhiều nhà thơ, nhà văn, nhà nghiên cứu về văn
Trang 85
nghiệp của Hồ Biểu Chánh, một tiểu thuyết gia nổi bật trên TTNK và NKTB Các bài viết đã cung cấp nhiều kiến thức bổ ích, có ý nghĩa tham khảo cho đề tài
Nguyễn Tấn Long trong Việt Nam thi nhân tiền chiến (1968), đã dành nhiều
trang giới thiệu về Đông Hồ và Mộng Tuyết Nhà nghiên cứu có nhắc đến sự kiện
Đông Hồ “tự chủ trương và làm chủ bút tuần báo Sống, tự lực xuất bản ở Sài Gòn, báo
Sống không tự túc nổi, đình bản” [64, tr.28] Phần nói về Mộng Tuyết, tác giả cho biết:
“Năm 1935, Mộng Tuyết thường xuyên viết truyện ngắn đăng trên tuần báo Sống (Sài Gòn)” [64, tr.67]
Tháng 9/1971, Tạp chí Văn học lại ra số đặc biệt về Phú Đức Văn nghiệp của
Phú Đức, tiểu thuyết gia lừng danh Nam Bộ một thời, được đề cập dưới nhiều khía cạnh bởi các cây bút như Phan Kim Thịnh, Ngoạ Long, Thượng Sỹ, Vũ Bằng, Tế
Xuyên… nhưng tuyệt nhiên không thấy các tác giả nhắc đến tiểu thuyết Tôi có tội đăng
trên TTNK năm 1935, từng làm say mê độc giả
Bằng Giang trong Mảnh vụn văn học sử (1974) khi đề cập đến NKTB bên cạnh
Đại Việt tập chí, đã cho biết một số thông tin thú vị:
“Tuy là báo trợ cấp nhưng cả hai đều không có những câu lố bịch như trong
Nam Phong tạp chí hồi Âu Châu đại chiến “Vái trời phù hộ mẹ nuôi ta, mau mau giết hết lũ yêu ma, mà vun lại mầm dân tộc” Nếu hai tờ báo nói trên đăng những bài giọng điệu cỡ đó thì chắc nhiều cây bút đã không có mặt Một năm sau ngày ra mắt độc giả của Nam Kỳ tuần báo và Đại Việt tập chí, một cộng sự viên có cho các bạn hay rằng hai tờ đó có nhận trợ cấp của nhà cầm quyền Pháp Từ đó những cây bút quen thuộc ở Sài Gòn đã trao bài cho Nam Kỳ và Đại Việt mới lần hồi vắng bóng hay có mặt thưa
thớt trên hai cơ quan ấy” [2, tr.185]
Nguyễn Khuê trong Chân dung Hồ Biểu Chánh (1974) đã tập trung nghiên cứu
khá công phu về thân thế và sự nghiệp sáng tác văn học của Hồ Biểu Chánh Nhà nghiên cứu còn dành một số trang để giới thiệu khá kĩ NKTB bên cạnh Đại Việt tập
Trang 96
chí, từ chủ trương, ban biên tập cho đến dư luận và ý kiến của tác giả về tờ báo này Nhưng chúng tôi không đồng ý khi nhà nghiên cứu viết:
“Ông (tức Hồ Biểu Chánh-NTN) là một nhà báo thiết tha với với nền văn hoá
và luân lí nước nhà, nhưng sự đóng góp của ông không mấy quan trọng vì Đại Việt tập chí và Nam Kỳ tuần báo không sống được lâu, và nhất là đã mắc phải lỗi lầm lớn khi nhận được trợ cấp của sở thông tin tuyên truyền Pháp cũng như tuyên truyền cho chủ
trương Pháp-Việt nhất gia” [53, tr.309]
Tuy rằng NKTB có nhận trợ cấp của sở thông tin tuyên truyền Pháp, “cũng như
tuyên truyền cho chủ trương Pháp-Việt nhất gia” nhưng sự đóng góp của nó trong lĩnh
vực báo chí, văn hoá, văn học là khá quan trọng, không thể phủ nhận được Lại nữa,
không nhất thiết một tờ báo phải sống lâu mới có đóng góp quan trọng Báo Sống
(1935), TTNK (1935), chỉ tồn tại ngót ngét có một năm, nhưng vẫn có những đóng góp
rất tích cực trên nhiều lĩnh vực Song, cần khẳng định Chân dung Hồ Biểu Chánh là
một tài liệu tham khảo rất cần thiết cho đề tài
- Từ 1975 đến nay
Sau năm 1975, đặc biệt là từ năm 1986 đến nay, nhiều công trình nghiên cứu về báo chí, văn học liên tiếp ra đời
Báo chí Việt Nam từ khởi thuỷ đến đến 1945 của Huỳnh Văn Tòng (xuất bản lần
đầu năm 1973, tái bản năm 2000, có bổ sung thêm hai chương VI và VII) Nhận xét về
vai trò của báo chí thời kì 1930-1945 trên lĩnh vực văn học, tác giả viết: “Trên lĩnh vực
này, phải thừa nhận rằng báo chí miền Bắc nước ta đóng vai trò hết sức quan trọng đặc biệt là hai tờ Phong hoá và Ngày nay của nhóm Tự lực văn đoàn, chính nhóm này
đã thiết lập nền tảng vững chắc cho nền văn học hiện đại” [28, tr.352] Đây là một
nhận định chưa thoả đáng Cần minh xác rằng địa bàn Nam Bộ mới là cái nôi của báo chí Việt Nam với những tờ báo nổi tiếng đương thời, có đóng góp lớn vào quá trình
hiện đại hoá nền văn học dân tộc như: Lục tỉnh tân văn (1907-1944), Phụ nữ tân văn
(1929-1935) “Thiết lập nền tảng vững chắc cho nền văn học hiện đại” Việt Nam,
Trang 107
công đầu phải kể đến các nhà văn tiên phong ở Nam Bộ như Trương Vĩnh Ký, Huỳnh Tịnh Của, Nguyễn Trọng Quản… cho đến Nguyễn Chánh Sắt, Lê Hoằng Mưu, Hồ Biểu Chánh… Song khách quan mà nói, các nhà văn nhóm Tự lực văn đoàn đã đóng vai trò khá quan trọng trong việc góp phần thúc đẩy nền văn học hiện đại Việt Nam phát triển lên một tầm cao mới Đề cập đến một số thao tác khi nghiên cứu văn học
hiện đại Việt Nam, nhà nghiên cứu lưu ý: “Khi nghiên cứu văn học hiện đại, chúng ta
hẳn chú ý rằng đa số các tác phẩm văn học đều đăng trước nhứt trên mặt báo, sau đó mới in thành sách Bởi vậy, theo thiển ý của chúng tôi, muốn nghiên cứu văn học hiện
đại, ta nên xem qua lịch sử báo chí” [28, tr.416] Cũng trong công trình này, khi nhận
xét về mối quan hệ giữa báo chí và văn học, nhà nghiên cứu nhấn mạnh: “Văn học Việt
Nam hiện đại thoát thai từ báo chí, khác với trường hợp ở các nước phương tây là văn
học đẻ ra báo chí” [28, tr.416] Đây là những ý kiến rất bổ ích cho chúng tôi khi thực
hiện đề tài Ở phần phụ lục của quyển sách tác giả có đề cập đến báo Sống, TTNK, NKTB Nhưng nhà nghiên cứu đã có nhiều nhầm lẫn và thiếu sót khi cung cấp những thông tin cơ bản về báo Sống [28, tr.465] và tờ TTNK [28, tr.466]
Các quyển 120 năm báo chí Việt Nam của Hồng Chương (1985), Lịch sử báo
chí Việt Nam của Đỗ Quang Hưng chủ biên (2000), Lịch sử báo chí Sài Gòn-Thành phố Hồ Chí Minh của Nguyễn Công Khanh (2006)… các công trình này khi đề cập đến
bức tranh báo chí Sài Gòn-Thành phố Hồ Chí Minh hay lịch sử báo chí Việt Nam nói chung, chỉ chú trọng trình bài mảng báo chí cách mạng mà bỏ qua những tờ báo lớn khác có đóng góp lớn cho học thuật, văn hoá, văn học nước nhà
Hai công trình Thư tịch báo chí Việt Nam của Tô Huy Rứa (1998) và Từ điển
thư tịch báo chí Việt Nam của Nguyễn Thành (2002), như tên gọi của nó, đây là những
sách công cụ, dùng để tra cứu, nên khi đề cập đến các tờ bao chúng tôi nghiên cứu, chỉ cung cấp những thông tin cơ bản về năm xuất bản, năm đình bản cùng với những người chủ trương, chủ bút Nhưng điều đáng nói là hai công trình này lại có những điểm sai sót hoàn toàn giống nhau, đều cho rằng: báo Sống, số 1, ra ngày 2/3/1935; số cuối
Trang 118
cùng, số 31, ra ngày 15/10/1935 Giám đốc là Trần Phước Phấn Quản lí là Trần Thiềm Thới [120, tr.394], [65, tr.484]; địa chỉ toà soạn của tờ TTNK đặt ơ số 172, phố Lagrăngđie [120, tr.510], [65, tr.622]; số cuối cùng của NKTB xuất bản năm 1945 Chủ nhiệm là Hồ Văn Trung, sau là Giắccơ Quân Còn quản lí là Hồ Văn Kì Trân, sau
là Pôn Vang [120, tr.283], [65, tr 345]
Căn cứ vào văn bản gốc của các tờ Sống, TTNK, NKTB mà chúng tôi hiện có, xin đính chính lại như sau: Báo Sống, năm thứ nhất, số 1, ra ngày 22/1/1935; số cuối cùng, số 30, ra ngày 18/9/1935 Từ số 1-số 7/1935 Trần Thiêm Thới quản lí, bắt đầu từ
số 8/1935, Đông Hồ làm giám đốc Còn Trần Phước Phận là người sáng lập tờ báo; địa chỉ toà soạn của tờ TTNK, từ số 1-số 7/1935 đặt tại số 175, Rue Lagrandière, Sài Gòn
Từ số 7-số 13/1935 dời về số 18 Rue Heur-teaux, Sài Gòn; số cuối cùng của NKTB là
số 85, ra ngày 8 tháng 6 năm 1944 Giám đốc NKTB là Hồ Văn Trung (tức Hồ Biểu Chánh) Còn quản lí là Hồ Văn Kỳ Trân (con trưởng nam Hồ Biểu Chánh)
Trần Trọng Trí trong Lược ghi báo chí Việt Nam dưới thời Pháp thuộc (2001),
cũng có nhắc đến tên gọi NKTB, một trong ba tờ báo chúng tôi nghiên cứu, ngoài ra không nói gì thêm về tờ báo này
Quyển Hỏi đáp báo chí Việt Nam của Lê Minh Quốc (2001), “là một tập sách
giản lược về lịch sử nền báo chí nước nhà” [30, tr.8] Nội dung sách đề cập đến nhiều
sự kiện nổi bật và thú vị của làng báo Việt Nam Song không thấy tác giả nhắc đến ba
tờ báo mà chúng tôi khảo sát
Gần đây, Trương Ngọc Tường và Nguyễn Ngọc Phan trong Báo chí ở thành phố
Hồ Chí Minh (2007), đã giành một số trang giới thiệu sơ lược về NKTB Nhưng các tác
giả đã lầm khi cho rằng: “Nam Kỳ tuần báo hoạt động đến năm 1943, sau khi ra số 36,
vì thiếu giấy in nên phải đóng cửa” [135, tr.11] Thực tế là NKTB hoạt động đến năm
1944, sau khi ra số 85 mới đình bản
Trang 129
Vũ Tuấn Anh trong Lược sử báo chí Việt Nam trước 1945
http://diendan.songhuong.com.vn khi điểm qua tình hình xuất bản báo chí ở Sài Gòn,
có nhắc đến tên gọi của Nam Kỳ tuần báo, ngoài ra không nói gì thêm
Trang web: http://www.hobieuchanh.com, có nhiều bài viết đáng chú ý về Hồ Biểu Chánh Đây là một địa chỉ rất thú vị để chúng tôi tham khảo khi tìm hiểu về văn nghiệp của Hồ Biểu Chánh
Địa chí văn hoá thành phố Hồ Chí Minh, (tập 2) của Trần Văn Giàu, Trần Bạch
Đằng, Nguyễn Công Bình chủ biên (1998), mục Lược sử báo chí thành phố 1865-1945
do Ngô Hà biên soạn, có nhắc đến tên gọi của hai trong ba tờ báo chúng tôi chọn
nghiên cứu, đó là báo Sống và TTNK
Nguyễn Thành trong Tổng tập văn học Việt Nam, tập 20: Văn báo chí Việt Nam
1900-1945 (1997), tuy không nhắc đến các tờ báo chúng tôi khảo sát, song, những ý
kiến của nhà nghiên cứu về mối quan hệ giữa văn học và báo chí [66, tr.7] là rất đáng chú ý
Bằng Giang trong Văn học quốc ngữ ở Nam Kỳ 1865-1930 (1992) đã nhận xét rất hình tượng rằng: “Văn học quốc ngữ ở Nam Kỳ 1865-1930 không phải là một vỉa
than lộ thiên” [3, tr.19] Mốc thời gian mà công trình khảo sát, tuy không trùng với
giai đoạn chúng tôi nghiên cứu, song đây là một quyển sách đáng để chúng tôi tham khảo khi thực hiện đề tài
Mộng Tuyết trong Hồi ký Núi mộng gương hồ, (tập 1) (1998) đã cho biết nhiều
thông tin quý hiếm về thân thế Đông Hồ, Trí Đức học xá và sự kiện báo Sống ra đời tại Sài Gòn
Đoàn Lê Giang trong Văn học quốc ngữ Nam Bộ từ cuối thể kỉ XIX đến
1945-thành tựu và triển vọng nghiên cứu (2006) đã khẳng định: “Văn học quốc ngữ Nam Bộ cuối thế kỉ XIX đến 1945 là một bộ phận máu thịt của văn học dân tộc” [93, tr.3] Đáng
chú ý là bài viết còn báo động tình trạng sau 1945, một thời gian dài, giới nghiên cứu còn ít chú ý tới bộ phận văn học này Tác giả bài báo cũng nhắc tới hai trong số ba tờ
Trang 1310
báo chúng tôi khảo sát, với tư cách là “những tờ báo có đăng tải nhiều về văn học quốc
ngữ” [93, tr.9], đó là tờ TTNK và báo Sống Ngoài ra bài viết còn cho biết nhiều thông
tin cụ thể về tình hình sưu tầm tư liệu và gợi ý thú vị về triển vọng nghiên cứu văn học Nam Bộ Có thể nói đây là một tài liệu tham khảo bổ ích cho luận văn
Phong Lê trong Văn học trong đời sống báo chí-xuất bản từ nửa sau thế kỉ XIX
đến nửa đầu thế kỉ XX” (2006) là một trong số ít những bài viết đề cập trực tiếp đến
vấn đề “văn học trong đời sống báo chí” Nhưng tiếc rằng, tac giả chỉ chủ yếu trình
bày bức tranh sinh hoạt văn học trên báo chí miền Bắc Còn đối với báo chí miền Nam thì nhà nghiên cứu chỉ điểm sơ qua mà thôi Vì vậy bức tranh sáng tác văn học trên báo chí xuất bản ở Sài Gòn, nhất là giai đoạn 1932-1945 hầu như vắng bóng trong bài viết này Theo nhà nghiên cứu thì chỉ có Nguyễn Văn Vĩnh (1882-1936), Phạm Quỳnh (1892-1945), Vũ Đình Long (1896-1960) và Nhất Linh Nguyễn Tường Tam (1906-
1963) là có “để lại một sự nghiệp báo chí và văn chương-học thuật có giá trị” [108,
tr.74]
Võ Văn Nhơn trong Văn học quốc ngữ trước 1945 ở thành phố Hồ Chí Minh
(2007), do quyển sách cấu trúc dưới dạng hỏi-đáp ngắn gọn, nên người viết cũng không có dịp đi sâu vào bản chất của từng vấn đề Tuy vậy, tác giả vẫn cho biết Mộng
Tuyết một thời là cây bút “chuyên viết truyện ngắn cho tuần báo Sống (1935) ở sài
Gòn” [140, tr.145], Lư Khê “năm 1935 làm báo Sống do Đông Hồ làm chủ bút cùng
với Mộng Tuyết, Trúc Hà” [140, tr.169], Đông Hồ và sự kiện “Năm 1935 Đông Hồ bỏ lên Sài Gòn làm báo Sống, một tờ báo đầu tiên ở Nam Kỳ in đúng chính tả, nhất là hỏi ngã, một tiến bộ trong nghề báo ở Nam Kỳ lúc đó” [140, tr.174], Hồ Biểu Chánh “là một trong những người viết nhiều tiểu thuyết nhất ở Nam Kỳ” [140, tr.267-268] Ngoài
ra quyển sách còn nhắc đến Thiếu Sơn với tư cách là cây bút thường xuyên cộng tác với báo Sống và NKTB
Đề cập đến những nhà văn có mặt trên ba tờ báo chúng tôi nghiên cứu còn có
hàng loạt công trình nghiên cứu, phê bình, sưu tầm và giới thiệu tác phẩm như: Văn
Trang 1411
học Nam Bộ từ đầu thế kỉ XX (1900-1954) của Hoài Anh, Thành Nguyên, Hồ Sĩ Hiệp
(1988), Phác thảo quan hệ văn học Pháp với văn học Việt Nam hiện đại của Hoàng Nhân (1998), Văn xuôi Nam Bộ nửa đầu thế kỉ 20 (tập 1) của Cao Xuân Mỹ sưu tầm, Mai Quốc Liên giới thiệu (1999), Giáo trình lịch sử văn học Việt Nam 1930-1945 của Nguyễn Đăng Mạnh (2000), Chân dung văn học của Hoài Anh (2001), Báo chí với văn
học giai đoạn 1932-1945 của Lê Thị Đức Hạnh (2001), Văn học Việt Nam thế kỉ XX (Văn xuôi đầu TK: Q.1, T3) của Mai Quốc Liên (chủ biên), Nguyễn Văn Lưu, Nguyễn
Cừ (sưu tầm, biên soạn) (2002), Nghĩ về buổi bình minh của tiểu thuyết Nam Bộ của Trần Hữu Tá (2002), Văn học miền Nam (Văn học Việt Nam nơi miền đất mới), tập 2 của Nguyễn Q Thắng (2003), Tiểu thuyết Nam Bộ cuối thế kỉ XIX đầu thế kỉ XX của Nguyễn Kim Anh chủ biên (2004), Những bổ khuyết cần thiết cho bức tranh toàn cảnh
của văn học Việt Nam hiện đại của Trần Hữu Tá (2004), Lược khảo lịch sử văn học Việt Nam từ khởi thuỷ đến cuối thế kỉ XX của Bùi Đức Tịnh (2005), Phú Đức-Một mẫu hình nhà văn Nam Bộ đặc biệt đầu thế kỉ XX của Nguyễn Thị Thanh Xuân (2006)
Nhìn chung, đa số các công trình này tập trung nghiên cứu văn học Nam Bộ từ nhiều phương diện Các tác giả hết sức quan trọng trên ba tờ báo chúng tôi nghiên cứu như:
Hồ Biểu Chánh, Phú Đức, Đông Hồ, Mộng Tuyết… ít nhiều cũng được nhắc đến hoặc giới thiệu ở những mức độ khác nhau Có thể nói, đây là những tài liệu tham khảo rất cần thiết, bổ ích khi thực hiện đề tài
Liên quan đến đề tài còn có các bộ từ điển như: Từ điển văn học, tập 1 của Hà Minh Đức (chủ biên) (1983), Từ điển tác gia văn hoá Việt Nam của Nguyễn Q Thắng (1999), Từ điển văn học (bộ mới) của Đỗ Đức Hiểu, Nguyễn Huệ Chi, Trần Hữu Tá
chủ biên (2005) Các công trình này giống nhau ở chỗ đã giới thiệu, tuy ngắn gọn nhưng rất trang trọng về văn nghiệp của Hồ Biểu Chánh, Đông Hồ, Mộng Tuyết… Đây
là những tác giả rất nổi bật trên ba tờ báo chúng tôi khảo sát
Nhiều luận án, luận văn, khoá luận tốt nghiêp… ngoài Bắc cũng như trong Nam
tập trung nghiên cứu văn học Nam Bộ như: Luận án tiến sĩ Sự hình thành và vận động
Trang 1512
của thể loại tiểu thuyết văn xuôi tiếng Việt ở Nam Bộ giai đoạn từ cuối thế kỉ XIX đến
1932 của Tôn Thất Dụng (1993), Quá trình hiện đại hoá tiểu thuyết Việt Nam từ cuối thế kỉ XIX đến đầu thế kỉ XX của Cao Xuân Mỹ (2001), Đóng góp của văn học quốc ngữ ở Nam Bộ cuối thế kỉ XIX đầu thế kỉ XX vào tiến trình hiện đại hoá văn học Việt Nam của Lê Ngọc Thuý (2001), Tiểu thuyết Nam Bộ cuối thế kỉ XIX-đến đầu thế kỉ XX
của Võ Văn Nhơn (2008)…
Luận án của Tôn Thất Dụng, Võ Văn Nhơn là những công trình nghiên cứu khá công phu về thể loại tiểu thuyết, một mảng sáng tác rất đặc sắc của văn học Nam Bộ cuối thế kỉ XIX-đầu thế kỉ XX Hướng tiếp cận tiểu thuyết từ bình diện kết cấu, nhân vật, ngôn ngữ… của luận án rất có ý nghĩa tham khảo cho chúng tôi khi nghiên cứu thể loại tiểu thuyết trên báo chí giai đoạn 1932-1945
Luận văn thạc sĩ Ngôn ngữ nhân vật trong tiểu thuyết Hồ Biểu Chánh của Lê
Thị Thanh Thuỷ (2006) đã đề cập đến một số khía cạnh nghệ thuật, văn hoá trong tiểu thuyết Hồ Biểu Chánh
Luận văn thạc sĩ Tìm hiểu tiểu thuyết Nam Bộ 1930-1945 đặc điểm và thành tựu
của Phan Mạnh Hùng (2006) đã đề cập đến hai trong số những tiểu thuyết chúng tôi
khảo sát, đó là tiểu thuyết Mẹ ghẻ con ghẻ của Hồ Biểu Chánh và Tôi có tội của Phú
Đức
Luận văn thạc sĩ Sự nghiệp văn chương của nữ sĩ Mộng Tuyết của Lương Thị
Kim Tuyến (2009) đã cung cấp nhiều thông tin bổ ích, giúp chúng tôi thuận lợi hơn trong việc tìm hiểu về cây bút truyện ngắn Mộng Tuyết trên báo Sống
Luận văn thạc sĩ Khuynh hướng hiện thực phê phán trong tiểu thuyết Nam Bộ
1932-1945 của Hồ Nguyễn Bích Thuỷ (2009), là một công trình mở đường cho hướng
tiếp cận tiểu thuyết Nam Bộ từ khuynh hướng hiện phực phê phán Tác giả luận văn cũng dành một số trang đề cập đến một số khía cạnh về nội dung và hình thức nghệ
thuật của tiểu thuyết Ở theo thời (Hồ Biểu Chánh), một trong số những tác phẩm thuộc
đối tượng khảo sát của đề tài chúng tôi
Trang 1613
Khoá luận tốt nghiệp Nhà văn Trúc Hà-Cuộc đời và sự nghiệp của Nguyễn Thị
Phương Thuý (2009) đã đề cập khá kĩ hoạt động sáng tác, nghiên cứu, phê bình văn học… của cây bút đa năng này trên báo Sống và NKTB
Các công trình nghiên cứu trực tiếp, gần đây nhất về báo Sống, TTNK, NKTB
là các bài viết: Báo Sống-một tờ báo còn ít người biết đến (2009); Tiểu thuyết Nam Kỳ (2009); 67 năm sau đọc lại Nam Kỳ tuần báo (2009) của Nguyễn Trọng Nhân Ngoài
ra báo Sống cũng được sinh viên Nguyễn Thị Phương Thuý đề cập tới qua đề tài:
“Mảng văn học trên báo Sống” (2009)
Các bài viết của Nguyễn Trọng Nhân về báo Sống, TTNK, NKTB có điểm chung là đã giới thiệu khá chi tiết về nguyên nhân thành lập, quá trình phát triển, thành phần ban biên tập, đội ngũ cộng tác viên, cũng như những đặc điểm về nội dung và hình thức của tờ báo… Đây là những bài viết theo kiểu dựng lại chân dung từng tờ báo, cung cấp một cái nhìn tổng quan về từng tờ báo, rất chú ý chuyên mục văn học
Nguyễn Thị Phương Thuý trong Mảng văn học trên báo Sống đã khảo sát khá
bao quát hoạt động sáng tác, nghiên cứu, lí luận và phê bình văn học trên báo Sống
Nhưng tiếc rằng “nhiều mảng văn học” vẫn chưa được tìm hiểu một cách thoả đáng
Có thể nói trước 1945, chưa có một công trình nghiên cứu chuyên biệt nào về văn học Nam Bộ, càng không thấy đề cập đến mảng văn học trên báo chí Rải rác đây
đó trong những trang viết, người ta thỉnh thoảng nhắc đến, điểm qua hoặc giới thiệu đôi
nét một số tên tuổi quen thuộc như Hồ Biểu Chánh, Đông Hồ, Mộng Tuyết mà thôi
Giai đoạn 1945-1975, tình hình nghiên cứu văn học dân tộc nhìn chung có vẻ khởi sắc hơn Mặc dù từ năm 1954-1975, đất nước bị chia cắt, nhưng tình hình nghiên cứu văn học dân tộc vẫn diễn ra tương đối mạnh mẽ Nhiều công trình nghiên cứu có giá trị về văn học Nam Bộ ra đời Địa vị các nhà văn Nam Bộ trong lịch sử văn học dân tộc đã được hợp lí hơn so với trước đó rất nhiều
Từ 1975 đến nay đất nước được thống nhất, đặc biệt là từ 1986 đến nay, tình hình sinh hoạt học thuật, nghiên cứu, phê bình văn học khá phát triển Nhiều bài báo,
Trang 1714
luận văn, luận án, công trình nghiên cứu công phu, nghiêm túc về văn học dân tộc liên tiếp ra đời Tuy vậy mảng văn học trên báo chí nhìn chung cũng chưa được khảo sát triệt để Số công trình nghiên cứu trực tiếp về các sáng tác văn học trên báo chí xuất bản ở Sài Gòn giai đoạn 1932-1945 càng hiếm hoi
3 Mục đích nghiên cứu
Thực hiện đề tài “Sáng tác văn học trên một số tờ báo xuất bản ở Sài Gòn từ
1932 đến 1945”, chúng tôi muốn đạt được những mục đích sau đây:
- Thứ nhất: Thử khảo sát tình hình tư liệu báo chí và hoạt động sáng tác văn học trên báo chí xuất bản ở Sài Gòn, cụ thể là trong giai đoạn từ 1932 đến 1945 Từ đó góp phần phục dựng lại hoạt động sáng tác và quá trình phát triển của văn học Nam Bộ nói chung
- Thứ hai: Luận văn này sẽ cố gắng tiếp tục công việc của những người đi trước, tiến hành tìm hiểu một cách có hệ thống những đặc điểm về nội dung cũng như hình thức nghệ thuật của các sáng tác văn học trên một số tờ báo xuất bản ở Sài Gòn từ 1932 đến 1945, nhằm góp phần nhỏ hoàn chỉnh bức chân dung văn học hiện đại Việt Nam
- Thứ ba: Thông qua việc khảo sát các sáng tác văn học trên một số tờ báo, đề tài muốn góp phần nhận diện văn hoá Nam Bộ qua văn học và đóng góp của Nam Bộ trong sự phát triển văn học hiện nay
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
- Đối tượng khoa học mà chúng tôi nghiên cứu là: “Sáng tác văn học trên một
số tờ báo xuất bản ở Sài Gòn từ 1932 đến 1945”
Như tên đề tài đã nêu, nên mốc thời gian chúng tôi chọn khảo sát là từ năm 1932 đến 1945 vì:
- Năm 1932 là cái mốc quan trọng đánh dấu sự ra đời của “thơ mới” tại Sài Gòn
với bài thơ Tình già của Phan Khôi, đăng trên Phụ nữ tân văn (Số ra ngày 10.3.1932)
[103] Không chỉ có thơ, mà ở các thể loại khác như: truyện ngắn, tiểu thuyết, phê bình văn học, các thể kí, tuỳ bút, kịch… cũng phát triển khá mạnh Có thể nói, giai đoạn
Trang 18- Đặc biệt, Võ Văn Nhơn trong luận án tiến sĩ “Tiểu thuyết Nam Bộ cuối thế kỉ
XIX-đầu thế kỉ XX” đã khẳng định: “Giai đoạn 1932-1945 là giai đoạn văn học Nam
Bộ hoà vào với sự phát triển chung của văn học cả nước” [141, tr.85]
Do thời gian nghiên cứu có hạn và khuôn khổ của một luận văn thạc sĩ, nên phạm vi tư liệu mà luận văn khảo sát trực tiếp được giới hạn trong ba tờ báo Cụ thể là các tờ: Sống, TTNK và NKTB Đây là những tờ báo dành nhiều trang cho văn học và tập trung nhiều cây bút nổi tiếng đương thời
Trên ba tờ báo ấy, chúng tôi tập trung nghiên cứu một số thể loại phát triển mạnh như: truyện ngắn, tiểu thuyết Các thể loại khác như: thơ, các thể kí, kịch, văn học dịch (thơ dịch, tiểu thuyết dịch) không thuộc phạm vi khảo sát của đề tài Riêng thể loại phê bình văn học, để làm sáng tỏ thêm đối tượng nghiên cứu, chúng tôi sẽ có những liên hệ khi cần thiết
Để có một cái nhìn toàn diện hơn về bức tranh sáng tác văn học trên báo chí giai đoạn này, chúng tôi sẽ cố gắng mở rộng phạm vi tham khảo tư liệu sang những tờ báo khác cùng thời, hoặc trước đó, ở những địa phương khác nhau, để có những liên hệ so sánh đối chiếu khi thấy cần thiết
Trang 1916
5 Phương pháp nghiên cứu
5.1 Phương pháp xử lý tư liệu
- Chúng tôi sử dụng tư liệu cấp một, tức là các văn bản gốc mà chúng tôi sưu tầm được ở các thư viện công tại thành phố Hồ Chí Minh như: Thư viện Khoa học tổng hợp, Thư viện khoa học xã hội
- Sau khi tập hợp được đầy đủ tư liệu, chúng tôi tiến hành phân loại, xử lý, đọc một cách kĩ lưỡng những tư liệu ấy Song song với việc đọc các văn bản gốc đó, chúng tôi cũng đọc tài liệu của những người nghiên cứu đi trước có liên quan trực tiếp, gián tiếp đến vấn đề chúng tôi tìm hiểu Những gì đã có kết luận chính xác rồi thì chúng tôi không bàn đến nữa, mà chỉ trình bày những điều thật mới mẻ-thành quả nghiên cứu của chúng tôi mà thôi
5.2 Các phương pháp nghiên cứu cụ thể
Trong quá trình nghiên cứu, để đạt kết quả một cách tối đa, chúng tôi sử dụng một số phương pháp sau:
Phương pháp lịch sử-xã hội: Phương pháp này giúp chúng tôi miêu tả đối tượng trong một hoàn cảnh lịch sử, xã hội nhất định Hay nói cách khác, các sáng tác văn học thuộc đối tượng và phạm vi khảo sát của đề tài sẽ được nghiên cứu không thoát ly với lịch trình tiến hoá của văn học quốc ngữ ở Nam Bộ nói riêng và lịch sử phát triển văn học dân tộc nói chung bằng một nhản quan biện chứng
Phương pháp phân tích-tổng hợp: Đây là một phương pháp quan trọng, cần thiết khi tiếp cận đối tượng nghiên cứu từ cấp độ tác phẩm, tác giả, nhóm tác giả hay rộng hơn là những vấn đề thuộc về nội dung và hình thức nghệ thuật của các sáng tác văn học trên ba tờ báo ấy Phương pháp phân tích tổng hợp giúp chúng tôi có điều kiện đi sâu vào khám phá bản chất của vấn đề trên cơ sở vừa phân tích vừa tổng hợp
Phương pháp so sánh: Phương pháp so sánh được vận dụng để làm sáng tỏ những phương diện khác nhau của đối tượng nghiên cứu, giúp chúng tôi dễ dàng tìm ra những nét tương đồng hay dị biệt trên từng vấn đề, từng đối tượng hay nhóm đối
Trang 2017
tượng Phương pháp so sánh sẽ làm nổi bật những đóng góp đặc sắc của các sáng tác văn học trên ba tờ báo được chọn khảo sát vào quá trình hiện đại hoá văn học dân tộc
Chúng tôi không sử dụng các phương pháp nghiên cứu trên một cách độc lập mà
có sự phối hợp với nhau Ví dụ như kết hợp phương pháp lịch sử-xã hội với phương pháp so sánh thành liên phương pháp: lịch sử-xã hội-so sánh Mục đích là song song với việc nhìn đối tượng từ góc độ lịch sử phát sinh vừa khảo sát đối tượng trong mối tương quan đa chiều với các đối tượng khác trong cùng phạm vi hoặc ngoài phạm vi khảo sát, để kết quả nghiên cứu thêm khách quan hơn
Sáng tác văn học suy cho cùng cũng là sản phẩm của văn hoá Nó là những giá trị văn hoá tinh thần, phi vật thể Cho nên, thông qua nghiên cứu một tác phẩm, một tác giả hoặc rộng hơn là một giai đoạn, một nền văn học, chúng ta có thể tìm thấy ở đấy dấu vết của đời sống văn hoá của một vùng, một giai đoạn lịch sử, rộng hơn là đời sống văn hoá tinh thần của cả một dân tộc Vì vậy, trong những trường hợp cụ thể, cần chỉ ra
sự phản ánh của văn hoá Nam Bộ trong văn học, chúng tôi sử dụng phương pháp tiếp cận văn hoá học
6 Những đóng góp mới của luận văn
Luận văn hoàn thành chúng tôi mong muốn có một số đóng góp mới như sau:
- Kiểm điểm lại tình hình tư liệu báo chí và sáng tác văn học trên báo chí một cách có hệ thống
- Tìm ra những đóng góp đặc sắc về nội dung và hình thức nghệ thuật của các sáng tác văn học trên ba tờ báo vào quá trình hiện đại hoá nền văn học dân tộc qua một
số tác giả nổi bật
Trang 2118
7 Cấu trúc của luận văn
Luận văn dài 205 trang Ngoài phần mở đầu (18 trang), kết luận (5 trang), thư mục tham khảo (12 trang), phụ lục (64 trang), luận văn được chia thành 3 chương:
Chương I: Giới thiệu khái quát ba tờ báo (23 trang)
Chương này sẽ giới thiệu khái quát về ba tờ báo, từ những nguyên nhân thành lập, tình hình nhân sự cho đến những đặc điểm về hình thức, nội dung và bước đầu nhận xét về đặc trưng của mỗi tờ báo Trong quá trình giới thiệu, chúng tôi đặc biệt chú
ý tới mảng văn học-linh hồn của mỗi tờ báo; khẳng định đây là những tờ báo có khuynh hướng văn nghệ nổi bật, có đóng góp đáng kể vào quá trình hiện đại hoá văn học dân tộc
Chương II: Những cảm hứng chủ đạo (27 trang)
Chương này sẽ trình bày những cảm hứng chủ đạo của truyện ngắn, tiểu hai thể loại phát triển mạnh trên ba tờ báo Qua đó, chúng tôi muốn khẳng định sự đa dạng, phong phú về nội dung tư tưởng, thẩm mĩ-nghệ thuật của các sáng tác văn học còn ít người biết đến này
thuyết-Chương III: Những phương thức biểu hiện chủ yếu (56 trang)
Chương này sẽ trình bày những phương thức nghệ thuật chủ yếu được sử dụng trong truyện ngắn, tiểu thuyết trên ba tờ báo Trên cơ sở đó, chúng tôi đi sâu vào việc cắt nghĩa, lí giải ý nghĩa thẩm mĩ-nghệ thuật của những phương thức biểu hiện ấy
Trang 2219
Chương 1 GIỚI THIỆU KHÁI QUÁT BA TỜ BÁO
Khi đề cập đến sự khai sinh nền văn học hiện đại Việt Nam, giới chuyên môn đều thống nhất cho rằng nó được “thoát thai” từ báo chí Bằng cái nhìn lịch sử xã hội-
so sánh, Thiếu Sơn trong Phê bình và cảo luận, thấy: “Ở các nước văn minh tân tiến
thì văn học có trước báo chí, mà ở nước ta thì chính lại nhờ báo chí xây dựng nền văn học” [118, tr.115] Huỳnh Văn Tòng trong Báo chí Việt Nam từ khởi thuỷ đến 1945,
cũng lưu ý: “Khi nghiên cứu văn học hiện đại, chúng ta hẳn chú ý rằng đa số các tác
phẩm văn học đều đăng trước nhứt trên mặt báo, sau đó mới in thành sách Bởi vậy, theo thiển ý của chúng tôi, muốn nghiên cứu văn học hiện đại, ta nên xem qua lịch sử báo chí” [28, tr.416]…
Nhận xét của các nhà nghiên cứu về mối quan hệ giữa báo chí và văn học hiện đại Việt Nam là rất xác thực Nếu nghiên cứu văn học hiện đại Việt Nam mà chỉ căn cứ vào tác phẩm đã xuất bản thì không thể thấy được toàn bộ sự đa dạng, phong phú của
nó Thực tế khảo sát các văn bản gốc tư liệu báo chí (những tờ báo có khuynh hướng văn nghệ) còn lưu trữ ở các thư viện công tại thành phố Hồ Chí Minh, cũng như các tư liệu do chúng tôi sưu tầm được thì có rất nhiều tác phẩm đã bị lãng quên, bỏ sót, chưa từng được đề cập đến ở bất kì một công trình nghiên cứu hay tuyển tập nào về văn học hiện đại Việt Nam
Nhận thức về tầm quan trọng của văn bản gốc trong công tác nghiên cứu văn học hiện đại Việt Nam, nhất là mảng văn học trên báo chí, chúng tôi tiến hành giới thiệu khái quát ba tờ báo có đăng nhiều các sáng tác văn học, nhằm làm tiền đề cho việc nghiên cứu sâu hơn các sáng tác văn học đặc thù này
Trang 23“Phần nhiều người nước ta sống một cách buồn rầu, yếu đuối, chán nản, hẫng
hờ, sống một cách lạnh lùng, gượng gạo (…), cá nhân thì bị một bầu không khí mờ mịt, tối tăm, là bầu không khí nặng nề khó thở của luân lý lễ tục vây bọc bao trùm, khiến cho người nước mình càng sinh lòng mềm yếu, ghét đời, sợ sống (…) Lại nữa, ngọn sóng kinh tế khủng hoảng mấy năm nay tràn ngập khắp nơi nơi, làm cho cuộc sinh hoạt của người mình càng thêm khó khăn, khuẩn bách; sự sống càng thấy thiếu thốn khổ sở” (Sống, số 1/1935)
Vì vậy, tất yếu cần có một cơ quan truyền bá tư tưởng học thuật, văn hoá, văn học… để phục hưng tinh thần ấy
Mặc khác, những người Việt Nam có tinh thần ái quốc, đều muốn đem trí lực
của mình ra giúp đời Sự thành lập Trí đức học xá (1926) ở Hà Tiên là một ví dụ Nhưng “trường thường bị nhà cầm quyền đương thời nghi kỵ, theo dõi, cho nên việc
giảng tập gặp nhiều khó khăn” [90, tr.11] Mộng Tuyết trong Hồi ký Núi mộng gương
hồ cho biết: “Cuối năm 1934, Trí Đức học xá của Đông Hồ ở Hà Tiên nghỉ giảng Tôi, Đông Hồ cùng các bạn có cảm tình với Trí Đức học xá dự trù cho xuất bản một cơ quan ngôn luận ở Sài Gòn để tiếp tục cổ động tuyên truyền cho việc dạy và học Quốc ngữ” [48, tr.63] Căn cứ vào thời gian báo Sống xuất bản số đầu tiên (báo Sống, số 1,
ra ngày 22 tháng giêng năm 1935), có thể nói không lâu sau khi Trí Đức học xá bị nhà cầm quyền Pháp đóng cửa thì báo Sống ra đời tại Sài Gòn
Trang 2421
1.1.1.2 Quá trình phát triển
- Năm xuất bản: Báo Sống, năm thứ nhất, số 1, ra ngày 22/1/1935
- Năm đình bản: Báo Sống, số cuối cùng, số 30, ra ngày 18/9/1935
- Nguyên nhân đình bản: Báo Sống ra được 30 số thì tự đình bản, vì thiếu kinh phí hoạt động Mộng Tuyết trong Hồi ký Núi mộng gương hồ nhớ lại:
“Báo Sống ra nhằm thời kỳ kinh tế khủng hoảng, khó khăn, ở miền sâu, vùng xa vẫn có người thiếu ăn, thiếu mặc, phải mặc bố tời che thân, ở cái miền gọi là vựa lúa đồng bằng sông Cửu Long này
Ra được 30 số thì báo Sống phải tự đình bản, ngoài kia báo Tinh Hoa ở Hà Nội cũng không tiếp tục được Và báo Phụ nữ tân văn cũng nghỉ luôn vào thời đó” [48,
tr.62]
1.1.1.3 Tình hình nhân sự
Người sáng lập báo Sống là Trần Phước Phận Chủ nhiệm là Trần Thiêm Thới
(tức Trúc Hà) Chủ bút là Đông Hồ Song cần nói thêm, khi báo mới xuất bản được 7
số, trên măng-sét tờ báo vẫn chưa thấy xuất hiện Đông Hồ với vai trò chủ bút Theo
Mộng Tuyết trong Hồi ký Núi mộng gương hồ, thì lúc này Đông Hồ vẫn còn dạy học ở
Hà Tiên, vì lẽ “phụ mẫu tại từ đường bất khả viễn du” (Phụng dưỡng cha mẹ già yếu ở
nhà, phận làm con không thể đi xa-NTN) và ông bác của Đông Hồ cũng không được khoẻ, nên Đông Hồ chỉ gởi bài, góp ý và mời các cụ Đồ Nam, Tản Đà giúp bài vở thêm cho tờ báo [48, tr.56] Bắt đầu từ số 8 ngày 19 tháng 3 năm 1935, Đông Hồ mới chính thức làm chủ bút tờ báo cho đến khi đình bản Báo Sống ngoài những cây bút trụ cột như: Đông Hồ, Mộng Tuyết, Trúc Hà, Trúc Phong… còn có các cộng tác viên nhiệt tình như Tản Đà, Á Nam Trần Tuấn Khải, Thiếu Sơn, Huỳnh Văn Nghệ, Nguyễn Hữu Trí… Các cây bút khắp Nam, Trung, Bắc cũng thường xuyên gởi tác phẩm đến điểm tô cho báo Sống thêm phong phú như: Lê Văn Nhuận (Cao Lãnh), Lê Trung Hằng (Bạc Liêu), Huỳnh Văn Nghệ (Bình Dương), Hạc Thuỷ (Thanh Hoá), Ngô Chung Tử (Nam Định), Nguyễn Lang (Hà Nội)…
Trang 2522
1 1.2 Về hình thức
1.1.2.1 Măng-sét và logo
Thống kê các số báo đã thu thập được, cho thấy măng-sét báo từ số 1-số 30, ít
nhiều có sự thay đổi từ kiểu chữ, kích thước chữ đến một số thông tin xung quanh Măng-sét, báo Sống, số 1/1935 như sau:
Trang 2623
Ở góc dưới, bên phải có ghi thêm dòng chữ: “Đạo trời tiến hành mạnh mẽ,
người ta cũng theo lẽ đó mà sống mạnh mẽ mãi không thôi” (Lời Kinh Dịch) Hình
thức măng-sét này ổn định đến số 17/1935 Đến số 18, báo Sống lại có một sự thay đổi lớn về hình thức măng-sét, logo và bổ sung thêm một số thông tin về giá báo, người phụ trách và địa chỉ giao dịch của tờ báo Những cải cách này thực hiện dưới thời Đông
Hồ làm giám đốc Cụ thể của những thay đổi lần này đã dẫn đến kiểu chữ Sống (cũ), dạng thư pháp, được thay bằng kiểu chữ Sống (mới), chữ in hoa
Hình 1.3 Măng-sét báo Sống, số 18/1935
Những thông tin mới mà báo Sống bổ sung thêm ở số 18 cho biết từ nay “tuần
báo xuất bản mỗi thứ tư” (trước đây, từ số 1-số 12, báo ra ngày thứ ba) và thông tin về
giá báo: “Giá báo: Sáu tháng (26 số)… 2$50; một năm (52 số)… 5$00; thơ từ, bưu
phiếu gởi cho Ô Trần Thiêm Thới, 43 Frère Louis-Sài Gòn” (Báo Sống, số 18/1935)
Hình thức măng-sét này duy trì đến số 23, lại bổ sung thêm thông tin người sáng lập ra
tờ báo là Trần Phước Phận vào dưới góc trái măng-sét và kéo dài đến số 30, vẫn giữ y nguyên hình thức trình bày như thế Báo Sống cho biết, nguyên nhân đột ngột thay đổi
kiểu măng-sét là do: “chữ Sống, vì thợ làm hỏng chúng tôi đổi không kịp và sợ báo ra
trễ nên tạm cho in bìa như thế này Chúng tôi chưa lấy làm bằng lòng Kỳ sau sẽ chữa lại” (Sống, số 18/1935) Nhưng kể từ số 18 đến số 30, Sống vẫn giữ nguyên hình thức
măng-sét này
Về logo tờ báo: Từ số 1-số 17, hình thức của Logo gồm có chữ T & Đ đặt trong
hình tròn
Trang 2724
Hình 1.4 Logo báo Sống từ số 1-số 17/1935
Báo Sống giải thích: “T.Đ là Trí Đức, tức là TRÍ ĐỨC VĂN ĐOÀN, một văn
đoàn, do ông Đông Hồ chủ trương, lập nên nhà Trí Đức Học xá ở Hà Tiên đã mười năm nay chuyên dạy Quốc văn” (Sống, số 8/1935) Nhưng kể từ số 18-số 30, logo lại
có sự thay đổi, vẫn là vòng tròn ấy nhưng hai chữ T & Đ có chút cải biến, tạo thành một vòng tròn cách điệu bên trong
Hình 1.5 Logo báo Sống từ số 18-số 30/1935
1.1.2.2 Khổ giấy, số trang, cách đánh số trang
- Khổ giấy: Báo Sống được in trên khổ giấy: 25x35 cm
- Số trang: Số trang khá ổn định, không tuỳ thuộc vào nội dung bài vở Bình thường ổn định ở mức 24 trang Số trang chỉ tăng đột biến khi phát hành số đặc biệt như số Xuân (số 2/1935) chẳng hạn, báo dày đến 32 trang Nhưng có khi ra số đặc biệt
về kinh tế (số 6/1935) và số đặc biệt kỉ niệm Nguyễn Du (số 28/1935), số trang vẫn không thay đổi
Trang 281.1.2.3 Giá tiền, ngày và địa điểm phát hành
- Giá tiền: Từ số 1-số 30, giá báo chỉ thay đổi một lần Bình thường giá mỗi số
là 10 xu, in ngoài bìa, dưới góc trái tờ báo, giá thay đổi đột ngột khi ra số đặt biệt Ví
dụ như: giá bán số 1 là 10 xu thì đến số 2 tăng lên 5 xu, vì đây là số đặc biệt-số Xuân Song có khi ra số đặc biệt, như các số số đặc biệt về kinh tế (số 6/1935), số đặc biệt kỉ niệm Nguyễn Du (số 28/1935), giá báo vẫn giữ ở mức 10 xu
Như vậy giá phát hành lẻ từng số báo là 10 xu Sống, số 4/1935, bên cạnh hình thức tính giá một năm là 5$00, sáu tháng là 2$50, còn có thông tin cho biết giá báo ba tháng (13 số) là 1$30
- Ngày phát hành: Sống là tuần báo (mỗi tuần ra một số) Từ số 1-số 12, ra ngày thứ ba Từ số 13-số 30, ra ổn định vào ngày thứ tư
- Địa điểm phát hành: Báo được phát hành tại toà soạn báo số: 49 Frère Sài Gòn (nay là đường Nguyễn Trãi, Q.1, TP HCM) [116, tr.600] và thông qua hệ thống đại lý khắp Nam, Trung, Bắc
Louis-1.1.3 Về nội dung
1.1.3.1 Tôn chỉ
Tôn chỉ của báo sống thể hiện trong lời tuyên bố ở số ra mắt (Sống, số 1/1935)
Ngay sau lời tựa “Báo Sống ra đời” là hai câu đề từ, một lấy từ Kinh Dịch: “Đạo trời
tiến hành mạnh mẽ, người ta cũng coi theo cái lẽ đó mà sống mạnh mẽ mãi không Thiên hành kiện, quân tử dĩ tư cường bất tức”; một là câu nói của văn hào Pháp Victor
thôi-Hugo: “Sống là chiến đấu-ceux qui vivent sont ceux qui luttent” Lời đề từ này phần
nào nói lên tư tưởng muốn kế thừa những giá trị tinh thần phương Đông cổ kính và
phương Tây hiện đại của những người chủ trương báo Sống
Trang 2926
Về xã hội: “Gây cho cuộc đời của ta một sự sống tươi cười ấp áp, mạnh mẽ,
hoạt động hơn, là một cuộc đời đầy dẫy bông hoa và ánh sáng”
Về chính trị: “Trong làng báo, trong làng văn, chúng tôi giữ cái địa vị trung
lập, không dựa vào một đảng phái nào; tôn trọng tự do cá nhân
Ngay thẳng trình bày cho quốc dân cái dư luận, cái khuynh hướng chung của người nước mình”
Về kinh tế: “Làm cho quốc dân biết cái địa vị, cái thân phận của mình trong
trường sinh hoạt ganh đua của thế giới”
Về văn hoá: “Tuỳ lúc, đem văn chương mà bài bác, chỉ trích những luân lí cũ
kỹ, những phong tục, lễ giáo tồi tệ không hợp thời, không thích nghi với sự sống của người ta nữa”
Về văn học: “Gây cho nước ta có một nền văn chương sáng sủa, giản dị, vui vẻ,
hợp với sự sống ngày nay”
Tóm lại tôn chỉ của báo Sống trước sau vẫn là “một cơ quan ngôn luận dùng
văn chương để gây cảm tình với nòi giống, gây lòng yêu bình dân, yêu non sông, đất nước” (Sống, số 30/1935)
1.1.3.2 Các chuyên mục trên báo Sống
- Chuyên mục kinh tế-xã hội: Chuyên mục này đã tập hợp hàng loạt bài viết về
kinh tế, xã hội của Văn Liễn Hà Nhân, Tản Đà… Đúng như tôn chỉ báo đã đề ra là sẽ
“chú trọng kinh tế”, đến số 6, báo Sống ra số đặc biệt về kinh tế Hàng loạt cây bút
được huy động: Nghề làm ruộng của Văn Liễn, Dân cày với thầy giáo của Vọng Đức,
Sản xuất và tiêu thụ của Lê Vĩnh An, Vấn đề tơ lụa của Minh Nghĩa Các số báo tiếp
theo cho đến số 30, vấn đề kinh tế-xã hội cũng rất được quan tâm Các cây bút như Hà Nhân, Nhị Bình, Đông Hồ, Trúc Phong, Tô Mai, Quang Đức, Trúc Hà, Nguyễn Văn Đính, Trí Dưỡng, Dư Sơn… đã dành nhiều trang đề cập đến các vấn đề kinh tế-xã hội, dân sinh cấp thiết Đáng quý là ngay cả những cây bút làm thơ, viết văn, viết phê bình,
Trang 30Trang thơ trên báo Sống khá đặc sắc, với nhiều nguồn cảm hứng khác nhau: cảm hứng về tình yêu (tình yêu lứa đôi và tình yêu quê hương đất nước), cảm hứng thế
sự, cảm hứng thương cảm… Có thể kể một số tác giả quen thuộc như: Tản Đà, Đông
Hồ, Trúc Hà, Huỳnh Văn Nghệ, Nguyễn Hữu Trí, Huy Hà, Hoài Vân, Liên Thành…
Truyện ngắn trên báo Sống có nội dung phong phú, phản ánh nhiều khía cạnh tinh tế của đời sống nội tâm cá nhân và sự biến động ngoài xã hội Cảm hứng chủ đạo của các truyện ngắn này vẫn là cảm hứng tình yêu, cảm hứng hứng đạo lý, cảm hứng phê phán… Các cây bút tham gia có: Mộng Tuyết, Trúc Hà, Hoài Vân, Nguyễn Lang, Ngô Chung Tử, Minh Hồng, Lê Tuấn Sinh.… Trong số đó, Mộng Tuyết là cây bút chủ lực Kế đó là Trúc Hà
Tiểu thuyết trên báo Sống khá đặc sắc Có thể kể một vài tiểu thuyết nổi bật
như: Băn khoăn, Sóng gió hồ Đông của Trúc Phong Nhìn chung các tác phẩm chủ yếu
được viết bằng cảm hứng đạo lí và cảm hứng phê phán
Các trang khảo cứu, phóng sự, kịch… trên báo Sống cũng khá đặc sắc Khảo cứu có Tản Đà, Lê Văn Thơ…; phóng sự có Trúc Hà, Liên Tiếu, Thanh Ngôn, Trí Dưỡng…; kịch có Mộng Tuyết, Bạch Như, Tùng Hương, Mai Châu … Nhiều vấn đề
về học thuật, kinh tế-xã hội, văn hoá, văn học… rất có ý nghĩa đã được khai thác, đăng trên các trang này để mọi người cùng theo dõi, thưởng thức
- Chuyên mục phải chăng: Do Tô Mai “độc diễn” Ngay từ số 1 đã có chuyên mục thú vị này Tất cả mọi vấn đề thuộc mọi lĩnh vực từ kinh tế, xã hội, chính trị đến
Trang 31- Chuyên mục dịch thuật: Hai chuyên ngành được dịch đó là triết học và văn học Cuộc đời và sự nghiệp của các triết gia nổi tiếng như: Kant, Henri Bergson… được Nguyễn Thắng trích dịch, giới thiệu Về thơ hầu như chỉ có chùm thơ cổ của Hy lạp được Nguyễn Hữu Trí dịch từ Pháp ngữ ra Quốc ngữ
- Các chuyên mục Chuyện nước ngoài, Tin tức, Quảng cáo… mỗi chuyên mục
có một nội dung đặc thù, thú vị riêng, tất cả góp phần làm cho báo Sống thêm đa dạng, phong phú, hấp dẫn bạn đọc
1.1.4 Ngôn ngữ
Nhận xét về báo Sống, tạp chí Văn học ngày nay (Hà Nội-1935) cho rằng báo Sống được viết bằng một lối văn giản dị, nhẹ nhàng, là một tờ tuần báo có giá trị nhứt trong Nam (Sống, số 18/1935) Nhận xét này hoàn toàn chính xác Ngay cả một chi tiết
nhỏ như “dấu hỏi, dấu ngã”, ban biên tập báo Sống cũng thận trọng cố gắng để: “báo
Sống in được đúng dấu hỏi dấu ngã như các báo ở Bắc”; báo Sống bao giờ cũng “lưu tâm đến sự học, sự viết chữ “ của đồng bào; những người chủ trương báo Sống còn
“muốn báo Sống là một tờ báo có bổ ích cho các học trò quốc ngữ” (Sống, số
8/1935) Căn cứ vào thực tế khảo sát 30 số báo Sống mà chúng tôi hiện có, có thể khẳng định: So với mặt bằng ngôn ngữ báo chí đương thời thì rõ ràng Sống là một tờ
báo có văn phong “giản dị, nhẹ nhàng”, hướng đến sự hoà nhập với văn phong cả
nước
1.1.5 Vài nhận xét về báo Sống
Trang 3229
Báo Sống ra đời bởi sự thôi thúc của hoàn cảnh khách quan và tinh thần hăng hái chấn hưng kinh tế, văn hoá, văn học dân tộc của những trí thức trong nhóm “Trí Đức học xá” ở tận Hà Tiên, do Đông Hồ đứng đầu Tuy tồn tại chỉ có một năm nhưng Sống đã chiếm được cảm tình của đa số độc giả Bằng sự nỗ lực của các cây bút trụ cột như: Trúc Hà, Đông Hồ, Mộng Tuyết, Trúc Phong… báo Sống đã thật sự có đóng góp lớn vào sự nghiệp nâng cao dân trí, nhận thức của người dân trên nhiều lĩnh vực
Sự hiện diện của báo Sống đã góp phần làm cho bức tranh sinh hoạt tinh thần ở Nam Bộ nói riêng và Việt Nam nói chung thêm phong phú, đa dạng Vì báo Sống phát hành rộng khắp Nam, Trung, Bắc, lượng độc giả cũng rất đông đảo, đủ mọi thành phần nên tác động xã hội của nó là rất lớn Báo Sống vừa phổ thông, vừa chuyên sâu, có thể phục vụ nhiều dạng đối tượng độc giả khác nhau, từ giới bình dân cho đến giới trí thức
Bên cạnh việc chú trọng đến nội dung, luôn có ý thức nâng cao chất lượng bài
vở, báo Sống cũng rất để ý trau dồi hình thức, luôn muốn cho tờ báo của mình ngày càng hoàn hảo và làm hài lòng độc giả
Riêng ở lĩnh vực văn học, báo Sống đã có những đóng góp rất đáng ghi nhận Chuyên mục văn học trên báo Sống đa dạng và phong phú, có đóng góp đáng kể vào quá trình hiện đại hoá văn học quốc ngữ Nam Bộ nói riêng và văn học hiện đại Việt Nam nói chung
Tóm lại, Sống là một “tập báo đẹp, vui và có ích” (Sống, số 15/1935) “Sống,
sống được có một năm Nhưng lắm người thương tiếc nó” [61, tr.40]
1 2 Tiểu thuyết Nam Kỳ
1.2.1 Nguyên nhân thành lập, quá trình phát triển và tình hình nhân sự
1.2.1.1 Nguyên nhân thành lập
TTNK là một tờ tạp chí ra đời năm 1935 ở Sài Gòn Tạp chí chỉ xuất hiện với 13
số, nhằm đáp ứng nhu cầu đọc truyện của độc giả Sài Gòn và Nam Bộ nói chung thời
đó Không phải chỉ ở Sài Gòn, mà tại Hà Nội cũng ra đời tờ Tiểu thuyết thứ bảy 1945), Tiểu thuyết Thứ Năm (1937-1942)… nhằm mục đích đăng tải các truyện ngắn
Trang 33(1934-30
và truyện dài Có lẽ do tình hình xuất bản thời Pháp thuộc, giấy in báo thường bán rẻ hơn giấy in sách, nên các nhà xuất bản thường phải mượn danh làm báo để được in sách với giấy mua giá rẻ
1.2.1.2 Quá trình phát triển
TTNK, năm thứ nhất, số 1, xuất bản vào tháng 6 năm 1935 Ra được 13 số, đến
tháng 9 năm 1935 bị đình bản Theo Nguyễn Khuê trong Chân dung Hồ Biểu Chánh, khi đề cập đến tờ TTNK, có cho biết sau khi ra được 13 tập buộc phải đình bản, vì đơn
xin phép bị chính quyền bác [53, tr.54]
Như vậy, TTNK có tuổi thọ thật ngắn ngủi: sống vỏn vẹn chỉ có ba tháng, từ tháng 6/1935 đến 9/12935, xuất bản được 13 số
1.2.1.3 Tình hình nhân sự
Quản lí TTNK là Nguyễn Văn Quới Trên TTNK xuất hiện nhiều nhà văn danh
tiếng đương thời như: Hồ Biểu Chánh, Phú Đức… Ngoài ra còn có một số cây bút đáng chú ý khác như: Ngô Long Phụng, Đặng Ngọc Anh, Đào Thanh Phước, Đồng Tâm…
Trang 341.2.2.2 Khổ giấy, số trang, cách đánh số trang
- Khổ giấy: TTNK được in trên khổ giấy 245 x 160mm
- Số trang: Khảo sát TTNK từ số 1-số 13, số trang ổn định ở mức 40 trang, đúng
như những gì mà TTNK đã thông báo ở mỗi lần xuất bản, “sách dày 40 trương”
- Cách đánh số trang: TTNK đánh số trang theo tập và theo từng số báo Số trang đánh ngay chính giữa, phía trên trang báo Trang có măng-sét thì không đánh số trang Từ số 1-số 12, số trang đánh theo tập Bắt đầu từ số 13, bổ sung thêm cách đánh
số trang theo số Với cách đánh mới này, số chẵn đánh phía trên, góc trái trang báo; số
lẻ đánh phía trên, góc phải trang báo
1.2.2.3 Giá tiền, ngày và địa điểm phát hành
Trang 3532
- Giá tiền: Giá in ngoài bìa mỗi số báo, từ số 1-số 13/1935 “chỉ bán có 0$10”
(tức 10 xu-NTN) TTNK, số 2/1935, trang 40, có đăng một mẩu thông báo của nhà
xuất bản Quang Minh, đơn vị giữ bản quyền TTNK, về giá bán TTNK trọn bộ từ số
1-số 50 là: 4$00; nửa bộ từ 1-số 1-1-số 25 là: 2$30 Từ bảng giá tổng hợp này cho thấy, mua TTNK nửa bộ hoặc trọn bộ sẽ rẻ hơn mua từng số riêng lẻ So với mặt bằng giá bán
báo đương thời ở Sài Gòn thì giá TTNK không cao lắm, bằng với giá báo Sống (1935),
10 xu/1 số
- Ngày phát hành: TTNK không đề ngày phát hành cụ thể trên từng số báo như
cách làm của báo Sống (Sài Gòn-1935) Song, căn cứ vào nội dung thông báo ở trang
mục lục tờ báo, cho thấy TTNK “ra 3, 4 quyển mỗi tháng”
- Địa điểm phát hành: Tô Huy Rứa trong Thư tịch báo chí Việt Nam [120, tr.510] và Nguyễn Thành trong Từ điển thư tịch báo chí Việt Nam [65, tr.622], đã nhầm
lẫn khi cho rằng toà soạn TTNK đặt ở số 172, phố Lagrăngđie Chính xác địa chỉ toà
soạn TTNK, từ số 1-số 7/1935, đặt tại số 175, Rue Lagrandière (nay là đường Lý Tự
Trọng, quận 1-NTN), Sài Gòn; từ số 7-số 13/1935 dời về số 18 Rue Heurteaux, Sàigòn (nay là đường Nguyễn Trường Tộ, quận 4) [116, tr.600] TTNK, số 7/1935, trang 241,
có một mẩu thông báo nhỏ như sau: “TIỂU THUYẾT NAM KỲ Kể từ đầu tháng Aout
1934 (tức tháng 8-NTN) toà soạn T.T.N.K sẽ dọn về số 18 Rue Heurteaux (Khánh Hội) vậy có mấy lời thanh minh cùng chư quý vị độc giả.T.T.N.K.”
Như vậy, mới ra đời chỉ có 2 tháng, TTNK đã phải dời địa chỉ toà soạn Sau khi dời đến địa điểm mới được một tháng, đến tháng 9 năm 1935 thì TTNK đã phải khai
tử Bao nhiêu thay đổi đó cũng đủ thấy số phận long đong, yểu mệnh của tờ báo thú vị này
1.2.3 Về nội dung
Trang 3633
1.2.3.1 Tôn chỉ
Không thấy TTNK đăng tôn chỉ của mình trên các số báo đã xuất bản Nhưng căn cứ vào tính chất đặc thù của tờ báo, chúng ta biết được đây là một tờ báo chuyên chú về tiểu thuyết, phổ biến tiểu thuyết
1.2.3.2 Các chuyên mục trên Tiểu thuyết Nam Kỳ
TTNK có hai chuyên mục chính: Chuyên mục văn học và Chuyên mục quảng cáo Chuyên mục văn học gồm có trang tiểu thuyết, trang truyện ngắn và một vài bài phóng sự
Tiểu thuyết là thể loại chủ lực, hấp dẫn nhất trên TTNK “Có nhiều tiểu thuyết
rất có giá trị của hai nhà đại tiểu thuyết trứ danh là ông Hồ Biểu Chánh và ông Phú Đức” (TTNK, số 2/1935) với các tác phẩm như: Ở theo thời (Hồ Biểu Chánh), Tôi có tội (Phú Đức) Ngoài ra còn có tiểu thuyết Lê Vĩnh Thạnh của Ngô Long Phụng cũng
khá đặc sắc Các tiểu thuyết này chủ yếu được sáng tác bằng cảm hứng tình yêu, cảm
hứng phê phán và cảm hứng đạo lí… Tiểu thuyết dịch trên TTNK có quyển “lịch sử
tiểu thuyết” Mẹ hại con của dịch giả Đào Thanh Phước Ngoài ra trên TTNK còn có
vài bài phóng sự của Luck Tack
Truyện ngắn trên TTNK khá hay Đa số các tác phẩm được viết bằng cảm hứng đạo lí và cảm hứng phê phán Có thể kể vài cây bút quen thuộc, như: Hồ Biểu Chánh, Đặng Ngọc Anh, Thân Văn, Đồng Tâm, Tuyết Vân…
Chuyên mục quảng cáo: TTNK quảng cáo cho hình ảnh tờ báo của mình và quảng cáo vì mục đích kinh doanh Nội dung quảng cáo kinh doanh rất phong phú, đủ các lĩnh vực, như: quảng cáo cho phòng mạch bác sĩ, hiệu thuốc đông y, tiệm may quần
áo, dạy làm bánh mứt… đều có trên trang này
1.2.4 Vài nhận xét về Tiểu thuyết Nam Kỳ
Sự hiện diện của TTNK làm cho lịch sử báo chí Nam Bộ thời kì trước 1945 nói riêng, báo chí cả nước nói chung thêm phong phú, đa dạng TTNK tuy không sống lâu, nhưng đóng góp của nó ở lĩnh vực văn học là rất đáng ghi nhận: thúc đẩy sáng tác, góp
Trang 3734
phần hiện đại hoá nền văn học Nam Bộ nói riêng và văn học hiện đại Việt Nam nói chung, nhất là ở thể loại tiểu thuyết
1.3 Nam Kỳ tuần báo
1.3.1 Nguyên nhân thành lập, quá trình phát triển và tình hình nhân sự
1.3.1.1 Nguyên nhân thành lập
Sau khi về hưu (1942), Hồ Biểu Chánh đã nhận kinh phí từ sở thông tin tuyên
truyền Pháp để xuất bản NKTB và Đại Việt tập chí Thiếu Sơn trong Nhớ lại Hồ Biểu
- Năm xuất bản: NKTB, năm thứ nhất, số 1, xuất bản ngày 3.9.1942
- Năm đình bản: NKTN, năm thứ 2, sau khi ra số 85 ngày 8 tháng 6 năm 1944 thì đình bản
- Nguyên nhân đình bản: NKTB không chính thức tuyên bố nguyên nhân tại sao
phải đình bản Nhưng tháng 9 năm 1942, sau khi xuất bản được hai số, NKTB “kính
cáo độc giả” rằng: “Vì giấy mực đắt giá nên bổn báo không thể gởi tặng quí ngài nhiều số nữa để xem; bởi vậy sau khi gởi cho quí ngài ba số mà không nhận được tiền mua báo thì bổn báo xin cáo lỗi trước với quí ngài mà buộc lòng phải ngưng gởi Xin quí ngài biết cho” (NKTB, số 3/1942)
Trang 3835
Sang năm 1943, lúc này đã xuất bản được 20 số, NKTB lại thông báo:
“Vậy bạn đọc nào chưa trả tiền báo, xin vui lòng gởi trả, chúng tôi rất cảm ơn Chắc các bạn đã dư biết lúc này giấy mực đã mắt lại khó mua, nhưng vì cảm tình đối với độc giả, bấy lâu chúng tôi vẫn gởi báo luôn cho các bạn xem, ấy cũng là một sự khó khăn cho chúng tôi lắm đó
Ước mong các bạn lưu ý, chúng tôi rất cảm ơn Ty quản lí N-K-T-B” (NKTB, số
20/1943)
Đến số 83/1944, NKTB tiếp tục cho đăng một mẩu tin có nội dung như sau:
“Mấy tuần nay Nam Kỳ tuần báo xuất bản không còn đúng lệ thứ năm như trước, thật chúng tôi lấy làm tiếc lắm Nhưng biết làm sao, trong thời buổi khó khăn, công việc bận rộn đủ trăm thứ, lẽ cố nhiên là N.K.T.B cũng phải chịu ảnh hưởng ấy chớ không tránh khỏi Số báo tuần rồi (Jeudi 11 Mai) không thể ra được Số báo này phải ra trễ mất mấy ngày, ấy cũng bởi tại sự thay đổi nhà in, xin độc giả vui lòng miễn nghị
Bắt đầu từ nay trở đi, chúng tôi sẽ cố gắng làm cho tờ N.K.T.B ra sớm chừng nào càng tốt chừng nấy”
Theo chúng tôi, cần phải hiểu cụm từ “trong thời buổi khó khăn” mà NKTB sử dụng để “kính cáo độc giả”, trước hết là khó khăn do giá giấy tăng cao NKTB từng cam kết với độc giả là “sẽ cố gắng làm cho N.K.T.B ra sớm chừng nào càng tốt chừng
nấy”, tức ra đúng vào ngày thứ năm như đã định trước Song, tờ báo này chỉ xuất bản
thêm được hai số nữa, số 84 và số 85 năm 1944, thì đình bản luôn
Nạn khan hiếm giấy, giá giấy tăng cao là nguyên nhân trực tiếp khiến nhiều tờ báo đương thời phải đình bản Ba tháng sau khi NKTB đình bản, tuần báo Thanh Niên (1941-1944), cũng chịu chung số phận, cũng đình bản vì nạn khan giấy [52, tr.159]
Nguyễn Khuê [65, tr.58], Trương Ngọc Tường-Nguyễn Phan Ngọc [149, tr.11], khi đề cập đến nguyên nhân NKTB đình bản, đều thống nhất cho rằng: vì thiếu giấy in nên báo phải đình bản Các ý kiến này cũng đúng với những bằng chứng mà chúng tôi
Trang 3936
đã tìm thấy trên văn bản gốc của tờ NKTB Riêng Nguyễn Khuê còn cho biết thêm,
NKTB đình bản: “phần vì Hồ Biểu Chánh bất bình về thái độ của ông chủ sở thông tin
Quản lý NKTB là Hồ Văn Kỳ Trân, con trưởng nam Hồ Biểu Chánh
Tô Huy Rứa [120, tr.283], Nguyễn Thành [65, tr.345] quả quyết rằng chủ nhiệm NKTB lúc đầu là Hồ Văn Trung, sau là R.P.Giắccơ Quân; quản lí lúc đầu là Hồ Văn Kì Trân, sau là Pôn Vang Đây là những thông tin thiếu xác thực
NKTB có một đội ngũ cộng tác viên là những nhà văn, nhà báo nổi tiếng đương thời như: Trúc Hà, Thiếu Sơn, Khuông Việt, Lê Chí Thiệp, Lê Thọ Xuân, Ngạc Xuyên, Miễn Trai, Trường Sơn Chí, Hương Trà, Bất Tử, Mã Sanh Long, Thượng Tân Thị, Trọng Liêm…
1.3.2 Về hình thức
1.3.2.1 Măng-sét
NKTB từ số 1/1942 đến-số 85/1944, đã trải qua nhiều lần thay đổi măng-sét, cụ thể ở các số: số 4/1942, số 6/1942, số 9/1942, số 16/1942, số 24/1943, số 49/1943, số 52/1943, số 69/1944, số 70/1944 Nội dung thay đổi măng-sét giữa các số báo chủ yếu
là ở hình thức viết chữ và cách trình bày các thông tin về chức danh giám đốc, ngày, tháng, năm,… xuất bản các số báo Xin đơn cử vài ví dụ:
Măng-sét NKTB, từ số 1-số 3/1942, có dạng:
Trang 401.3.2.2 Khổ giấy, số trang, cách đánh số trang
Khổ giấy: NKTB được in trên khổ giấy 19x27 cm
Số trang: Số trang của NKTB không ổn định Các số xuất bản trong năm 1942 (từ số 1-số 18), số trang ổn định ở mức 31 trang Sang năm 1943, chỉ ba số của tháng giêng (số 19, số 20, số 21) là còn giữ được ở mức 31 trang Đặc biệt số 22/1943, dày tới 66 trang, vì đây là số Xuân Còn lại, từ số 23-số 67/1943, số trang ổn định ở mức 19
trang NKTB, số 39/1943 từng thông báo rằng: “Số báo đặc biệt về cụ đồ Chiểu sẽ
nhiều trang gấp đôi số báo thường, sẽ in vào 1 thứ giấy thật tốt và cách sắp đặt ấn loát cũng công phu khéo léo hơn số thường nhiều” Nhưng trên thực tế, số đặc biệt về