Sau khi Thẩm phán nhận được vụ án dân sự thì sẽ có nhiệm vụ, quyền hạn khi được lập hồ sơ vụ án như là:“Lập hồ sơ vụ án theo quy định tại điều 204 của Bộ luật này; Yêu cầu đương sự nộp t
Trang 1GVHD: Đỗ Trần Hà Linh
SVTH: Bùi Thị Thanh Xuân – 44K13.1
TÊN ĐỀ TÀI: THỰC TIỄN HOẠT ĐỘNG THU THẬP CHỨNG CỨ TRONG QUÁ TRÌNH GIẢI QUYẾT VỤ ÁN DÂN SỰ TẠI TAND TX BUÔN HỒ.
MỞ ĐẦU
1 TÍNH CẤP THIẾT CỦA VIỆC NGHIÊN CỨU ĐỀ TÀI
2 TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU ĐỀ TÀI
3 MỤC TIÊU, NHIỆM VỤ VÀ PHẠM VI NGHIÊN CỨU ĐỀ TÀI
4 KẾT CẤU CHƯƠNG
Trang 2CHƯƠNG 1: PHÁP LUẬT VỀ HOẠT ĐỘNG THU THẬP CHỨNG CỨ TRONG QUÁ TRÌNH GIẢI QUYẾT VỤ ÁN DÂN SỰ TẠI TÒA ÁN
1.1 Khái quát cơ bản về hoạt động thu thập chứng cứ trong quá trình giải
quyết vụ án dân sự
1.1.1 Khái niệm về hoạt động thu thập chứng cứ
a Khái niệm về vụ án dân sự
Theo như chúng ta đã biết, hiện nay tại Việt Nam càng ngày xảy ra càng nhiều mâuthuẫn, tranh chấp liên quan đến nhiều vấn đề như là: mâu thuẫn gia đình, về đất đai,
về lao động, về kinh tế, và cũng có thể những tranh chấp giữa cá nhân với nhau,giưa cá nhân với cơ quan, tổ chức, và cũng có thể là giữa các cơ quan, tổ chức vớinhau Vậy đây có được xem là một vụ án dân sự hay không?
Theo như Pháp lệnh Thủ tục giải quyết các vụ án dân sự 1989 thì “những tranh chấphay yêu cầu, liên quan đến tài sản, nhân thân trong quan hệ dân sự, hôn nhân giađình, và lao động có thể hiểu là vụ án dân sự trong trường hợp khởi kiện lên Tòa án
để giải quyết”1
Như vậy, theo PLTTGQCVADS 1989 thì để trở thành một vụ án dân sự thì các :mâu thuẫn gia đình, về đất đai, về lao động, về kinh tế, và cũng có thể những tranhchấp giữa cá nhân với nhau, giưa cá nhân với cơ quan, tổ chức, và cũng có thể làgiữa các cơ quan, tổ chức với nhau phải được khởi kiện lên Tòa
Tuy nhiên đến năm 1994, 1995 thì sau khi Luật tổ chức Tòa án nhân dân 1992 đượcsửa đổi bổ sung thì cũng cho ra đời các Pháp lệnh Thủ tục giải quyết các vụ án kinh
tế (1994), Pháp lệnh Thủ tục giải quyết các vụ án hành chính (1996), Pháp lệnh Thủtục giải quyết các vụ tranh chấp lao động (1996) lần lượt được ban hành Nhữngquy định này quy định cụ thể về các vấn đề liên quan đến kinh tế, hành chính và laođộng làm chúng ta không thể hiểu theo nghĩa rộng về “vụ án dân sự” như Pháp lệnhThủ tục giải quyết các vụ án dân sự 1989
1 Điều 10 Pháp lệnh Thủ tục giải quyết các vụ án dân sự 1989 qui định “Các Toà án có thẩm quyền giải quyết các vụ án dân sự sau đây: (1) Những việc tranh chấp về quyền sở hữu, về hợp đồng, về bồi thường
thiệt hại ngoài hợp đồng hoặc những tranh chấp khác về quyền, nghĩa vụ theo quy định của pháp luật dân sự giữa công dân với nhau, giữa công dân với pháp nhân, giữa pháp nhân với nhau, trừ những việc thuộc thẩm quyền của cơ quan, tổ chức khác; (2) Những việc về quan hệ hôn nhân và gia đình; (3) Những việc tranh chấp về lao động; (4) Những việc xác định cơng dân mất tích hoặc đã chết, trừ những trường hợp quân nhân, cán bộ mất tích hoặc chết trong chiến tranh thuộc trách nhiệm giải quyết của các cơ quan hữu quan; (5) Những việc khiếu nại cơ quan hộ tịch về việc từ chối đăng ký hoặc không chấp nhận yêu cầu sửa đổi những điều ghi trong giấy tờ về hộ tịch; (6) Những việc khiếu nại về danh sách cử tri; (7) Những việc khiếu nại cơ quan báo chí về việc khơng cải chính thơng tin có nội dung xúc phạm danh dự, nhân phẩm của người khác; (8) Những việc khác do pháp luật quy định”.
Trang 3Nhưng sau đó đến năm 2004 cho đến nay thì Bộ luật tố tụng dân sự đã có nhiều sựthay đổi quy định về khái niệm vụ án dân sự Theo quy định tại Điều 1 Bộ luật Tố
tụng dân sự 2004 thì: “Trình tự, thủ tục khởi kiện để Tòa án nhân dân giải quyết các vu án về tranh chấp dân sự, hôn nhân và gia đình, kinh doanh, thương mại, lao động sau đây được gọi chung là Vụ án dân sự” Và quy định này vẫn còn còn được
quy định tại Điều 1 BLTTDS 2015
Và theo như chúng ta tìm hiểu ở trên, thì việc xảy ra tranh chấp giữa các cá nhânvới nhau, giữa cá nhân cới tổ chức, và các tổ chức với nhau về các vấn đền như mâuthuẫn gia đình, về đất đai, về lao động, về kinh tế, để đủ yếu tố được gọi là vụ ándân sự thì chúng ta phải có trình tự, thủ tục khởi kiện lên Tòa án để bảo về quyền vànghĩa vụ liên quan của bản thân ta thì mới được gọi là vụ án dân sự
b Khái niệm hoạt động thu thập chứng cứ của tòa án trong tố tụng dân sự
Đối với việc tìm hiểu Hoạt động thu thập chứng cứ là gì? Thì chúng ta có thể giảithích theo hai góc độ: một là ngôn ngữ học, hai là dưới góc độ pháp lý để có một cáinhìn khách quan hơn
Theo ngôn ngữ học thì sẽ tìm hiểu theo các cụm sau “ hoạt động”, “ thu thập”, “chứng cứ” Theo định nghĩa của Từ điển Tiếng việt thì “hoạt động” là tiến hànhnhững việc làm có quan hệ với nhau chặt chẽ nhằm một mục đích nhất định trong
xã hội2, “thu thập là “ góp nhặt” và “tập hợp” lại3 Định nghĩa chứng cứ đã được tìmhiểu ở trước đó Chứng cứ là “ chứng cứ là cái được dẫn ra để làm căn cứ xác địnhđiều gì đó là có thật4 ” Như vậy, có thể hiểu hoạt động thu thập chứng cứ theo góc
độ ngôn ngữ học là những việc làm có quan hệ với nhau có để góp nhặt và tập hợp
nó lại với mục đích là làm căn cứ xác minh một điều gì đó là thật
Đứng dưới góc độ là khoa học pháp lí thì chứng cứ là phương tiện xác minh sự thật.Pháp luật có nhiều quy định về chứng cứ phải đảm bảo tính xác thực và kiểm tra,đánh giá tính đúng đắn của chứng cứ: chứng cứ phải có tài liệu xác thực liên quanđến vụ án cụ thể; chứng cứ phải có nguồn gốc hợp pháp theo điều luật quy địnhđược ghi trong tài liệu do cơ quan, tổ chức cung cấp hoặc trong kết nối với tronghoàn cảnh cá nhân liên quan đến vụ án, nó có thể được sử dụng làm bằng chứng Vàthu thập chứng cứ là hoạt động của các cơ quan tiến hành tố tụng nhằm tìm ra và
2 Viện Ngôn ngữ học (2003), Từ điển tiếng việt, Nxb Đà Nẵng – Trung tâm từ điển học, Đà Nẵng, tr.452
3 Viện Ngôn ngữ học (2003), Từ điển tiếng việt, Nxb Đà Nẵng – Trung tâm từ điển học, Đà Nẵng, tr.958
4
Trang 4thu giữ những sự kiện chứng minh hoặc những nguồn chứng cứ theo đúng trình tự,thủ tục luật định, để từ đó khai thác những sự kiện chứng minh.5
Theo nguyên tắc được quy định trong Bộ luật tố tụng dân sự thì “ Tòa án chỉ tiếnhành xác minh, thu thập chứng cứ trong những trường hợp do Bộ luật này quyđịnh”6 Tại quy định này Bộ luật vẫn chưa nói rõ những biện pháp nào mà Tòa áncần phải tiến hành và phải tiến hành như thế nào? Để giải đáp thắc mắc này thì tạiTại khoản 2 Điều 97 BLTTDS 2015 thì có quy định rõ về các biện pháp mà Tòa sẽ
sử dụng trong quá trình giải quyết vụ việc dân sự Ngoài sử dụng điều khoản tạikhoản 2 Điều 97 BLTTDS 2015, thì Tòa án này còn sử dụng chứng cứ thu thậpđược qua các đương sự cung cấp, hoạt động hòa giải, xét xử của Tòa án dân sự sơthẩm, xử phúc thẩm vụ án Cụ thể:
Thứ nhất, đối với hoạt động mà Tòa án tiếp nhận tài liệu, chứng cứ do người khởikiện nộp kèm theo đơn khởi kiện theo quy định tại Điều 190 Bộ luật tố tụng dân sự
2015 Tài liệu, chứng cứ mà nguyên đơn nộp cho Tòa án thì Tòa án thu thập và tiếnhành lập biên bản giao nhân đưa cho người khởi kiện theo quy định tại Khoản 2 vàKhoản 3 Điều 96 Bộ luật tố tụng dân sự 2015
Thứ hai, đối với giai đoạn chuẩn bị xét xử thì sau khi vụ án đã thụ lý, thì đượcChánh án phân công giải quyết vụ việc dân sự Sau khi Thẩm phán nhận được vụ án
dân sự thì sẽ có nhiệm vụ, quyền hạn khi được lập hồ sơ vụ án như là:“Lập hồ sơ
vụ án theo quy định tại điều 204 của Bộ luật này; Yêu cầu đương sự nộp tài liệu, chứng cứ cho Tòa án; Thực hiện một hoặc một số biện pháp thu thập chứng cứ theo quy định tại Khoản 2,3 Điều 97 Bộ luật tố tụng dân sự 2015”7
Thứ ba, hoạt động xét xử tại phiên tòa sơ thẩm theo Khoản 1 Điều 225 Bộ luật tốtụng dân sự 2015 quy định:
1 Tòa án phải trực tiếp xác định những tình tiết của vụ án bằng cách: Hỏi vànghe lời trình bày của nguyên đơn, bị đơn, người có quyền lợi và nghĩa vụ liênquan đến vụ án, người đại diện hợp pháp, người bảo vệ quyền lợi ích củađương sự và những người tham gia tố tụng khác; Xem xét , kiểm tra tài liệu,chứng cứ đã thu thập được; Nghe Kiểm sát viên phát biểu ý kiến của Việnkiểm sát về giải quyết vụ án, trong trường hợp có Kiểm sát viên tham giaphiên tòa Và bản án được tuyên phải căn cứ vào kết quả tranh tụng, việc hỏitại phiên tòa và các chứng cứ đã được xem xét và kiểm tra tại phiên tòa
5 https://hocluat.vn/wiki/thu-thap-chung-cu/
6 Khoản điều 6 blttds
7 Điều 198 Bộ luật tố tụng dân sự 2015
Trang 5Thứ tư, hoạt động xét xử tại phiên tòa phúc thẩm (chỉ đối với những vụ án có khángcáo, kháng nghị) theo Điều 270 Bộ luật tố tụng dân sự 2015 quy định tính chất của
xét xử như sau: “Xét xử phúc thẩm là Việc Tòa án cấp trên trực tiếp xét xử lại vụ
án, quyết định của Tòa án cấp sơ thẩm chủa có hiệu lực pháp luật bị kháng cáo hoặc kháng nghị” Cho nên, cấp phúc thẩm khi diễn ra khi có kháng cáo, kháng
nghị phù hợp với quy định tại các điều từ Điều 271 đến 277 Bộ luật tố tụng dân sự
2015 (đối với kháng cáo) và từ Điều 278 đến 281 Bộ luật tố tụng dân sự 2015 (đốivới kháng nghị)
Tóm lại, hoạt động thu thập chứng cứ của Tòa án không những bao gồm các hoạtđộng quy định tại Khoản 2 Điều 97 và Điều 198 Bộ luật tố tụng dân sự 2015 mà cònthông qua nhiều hoạt động khác
1.1.2 Đặc điểm pháp lý về hoạt động thu thập chứng cứ
Chứng cứ trước hết là những gì có thật tồn tại khách quan không phụ thuộc vào ýthức chủ quan của con người Đương sự và các cơ quan tiến hành tố tụng khôngđược tạo ra chứng cứ, nếu vậy tính khách quan sẽ không còn; do đó không thể coi làchứng cứ
Con người phát hiện tìm kiếm và thu thập chứng cứ, con người nghiên cứu vàđánh giá để sử dụng nó
b) Tính liên quan của chứng cứ
Tính liên quan: Theo Từ điển tiếng Việt, Nhà xuất bản Giáo dục, 1998: "Tính liên quan là sự liên hệ, dính dáng nhau ở một hay một số tính chất" Tính Liên quan
trong vụ án dân sự được hiểu là những tình tiết, sự kiện có liên quan trực tiếp hoặcgián tiếp đến vụ án dân sự trước toà án Chứng cứ là những tình tiết, tình tiết, tàiliệu khách quan có liên quan đến vụ án được Tòa án xét xử Bộ luật Tố tụng dân sựViệt Nam quy định rõ các loại nguồn chứng cứ nhưng Tòa án chỉ phải lựa chọn,đánh giá những tình tiết có thật liên quan đến vụ án Mức độ liên quan của bằngchứng có thể trực tiếp hoặc gián tiếp Quan hệ trực tiếp là quan hệ trên cơ sở đó xácđịnh được ngay những tình tiết được coi là tình tiết, tình tiết không cần chứng minhtheo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự Mối quan hệ gián tiếp là tìm kiếm các chitiết và sự kiện thông qua các giai đoạn trung gian Tuy nhiên, dù là trực tiếp haygián tiếp đều phải có mối quan hệ bên trong, mối quan hệ nhân quả Chính vì vậy,đánh giá rõ tình tiết liên quan, Tòa án có thể xác định đúng chứng cứ cần sử dụng
để giải quyết đúng đắn vụ việc dân sự mà không để xảy ra trường hợp thừa, hoặckhông đầy đủ chứng cứ
Trang 6c) Tính hợp pháp của chứng cứ
Các tình tiết, sự việc phải được thu thập, lưu giữ, xem xét, đánh giá và nghiên cứutheo thủ tục luật định để đảm bảo giá trị của chứng cứ Thứ nhất, chứng cứ phảiđược pháp luật thừa nhận, và các tình tiết, sự kiện chỉ được coi là chứng cứ nếupháp luật dân sự quy định đó là một trong những nguồn chứng cứ Vật chứng phảiluôn là vật ban đầu có giá trị pháp lý, có tính chất đặc thù liên quan đến vụ án dân
sự Vì vậy, Tòa án không chỉ phải thu thập chứng cứ theo đúng trình tự mà còn phảitiến hành lưu giữ, bảo quản và đánh giá chứng cứ một cách đầy đủ, toàn diện đểđảm bảo đúng đắn tính hợp pháp của chứng cứ.Tính hợp pháp của chứng cứ đượcxác định cụ thể:
- Phải là một trong các nguồn hợp pháp mà Bộ luật Tố tụng dân sự quy định
- Phải từ phương tiện chứng minh hợp pháp mà Bộ luật Tố tụng dân sự quy định
- Phải được giao nộp trong một thời hạn hợp pháp (Bộ luật Tố tụng dân sự đang
để trống quy định này)
- Phải được công bố công khai theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự
- Phải được thu thập, cung cấp đúng pháp luật tố tụng dân sự
1.1.3 Các nguyên tắc cơ bản trong hoạt động thu thập chứng cứ trong quá
trình giải quyết vụ án dân sự tại Tòa án
Nguyên tắc cung cấp chứng cứ trong tố tụng dân sự
Trong mỗi vụ án dân sự việc đương sự cung cấp chứng cứ cho Tòa án là rất cầnthiết.Việc cung cấp chứng cứ của các bên đương sự có nhiều mâu thuẫn dẫn đến
phức tạp Theo Điều 6 của Bộ luật tố tụng dân sự 2015 quy định: “Các đương sự có quyền và nghĩa vụ cung cấp chứng cứ cho Tòa án và chứng minh cho yêu cầu của mình là có căn cứ và hợp pháp Cá nhân, cơ quan, tổ chức khởi kiện, yêu cầu để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của người khác có quyền và nghĩa vụ cung cấp chứng cứ như đương sự”.
Trong tố tụng dân sự, hoạt động chứng minh bao gồm hoạt động cung cấp, thu thập,nghiên cứu và đánh giá chứng cứ Hoạt động này chỉ ra các căn cứ hợp pháp để làmcho đương sự nhận thức đúng vụ việc Chủ thể chứng minh bao gồm các đương sự
và các chủ thể khác tham gia vào quá trình giải quyết vụ việc dân sự Trong khi đó,
tại Điều 91 của Bộ luật tố tụng dân sự 2015 quy định: “Đương sự có nghĩa vụ đưa
ra chứng cứ để chứng minh mà không đưa ra được chứng cứ và không đưa đủ chứng cứ thì phải chịu hậu quả của việc không chứng minh được hoặc không chứng minh đầy đủ đó” Pháp luật quy định nghĩa vụ cung cấp chứng cứ thuộc về các
đương sự vì họ là người khởi kiện, đưa ra yêu cầu nên họ phải có trách nhiệmchứng minh cho yêu cầu kiện tụng của mình Hơn nữa, các vụ án dân sự phát sinh
Trang 7chủ yếu là do có sự tranh chấp về quyền và lợi ích của các đương sự với nhau Do
đó, họ là người biết rõ các nguyên nhân và điều kiện cung cấp cho Tòa án cácchứng cứ của vụ án Trong quá trình giải quyết vụ án, Tòa án có trách nhiệm hướngdẫn cho các đương sự cung cấp chứng cứ chứng minh cho các yêu cầu của mình, đểbảo vệ quyền và lợi ích của họ Đương sự có quyền cung cấp chứng cứ trong bất kỳgiai đoạn nào của quá trình giải quyết vụ án Tòa án có trách nhiệm tiếp nhận mọigiấy tờ, tài liệu liên quan đến vụ án và các vật chứng do đương sự cung cấp
Trách nhiệm cung cấp tài liệu, chứng cứ của cá nhân, cơ quan, tổ chức có thẩm quyền
Việc yêu cầu cá nhân, cơ quan, tổ chức cung cấp chứng cứ là một trong những biệnpháp thu thập chứng cứ để đảm bảo cho Tòa án có thêm chứng cứ để giải quyết vụviệc dân sự Khi đó, quy định của pháp luật tố tụng dân sự Tòa án cũng phải tiếnhành khi đương sự yêu cầu cá nhân, cơ quan, tổ chức lưu giữ chứng cứ không đápứng Tại Điều 7 Bộ luật tố tụng dân sự 2015:
Cá nhân, cơ quan, tổ chức trong phạm vi nhiệm vụ, quyền hạn của mình cótrách nhiệm cung cấp đầy đủ và đúng thời hạn cho đương sự, Tòa án tài liệu,chứng cứ mà mình đang lưu giữ, quản lý khi có yêu cầu của đương sự, Tòa án
và phải chịu trách nhiệm trước pháp luật về việc cung cấp tài liệu chứng cứđó; trong trường hợp không cung cấp được thì phải thông báo bằng văn bản cođương sự, Tòa án biết và nêu rõ lý do của viêc không cung cấp được tài liệu,chứng cứ
Để đảm bảo cho đương sự có thể thực hiện quyền và nghĩa vụ chứng minh và cungcấp chứng cứ thì cần có sự hỗ trợ từ phía cá nhân, cơ quan, tổ chức
Trong trường hợp, Tòa án đang thụ lý hồ sơ vụ án xét thấy hồ sơ cần thực hiện yêucầu cá nhân, cơ quan, tổ chức cung cấp chứng cứ theo khoản 3 Điều 106 Bộ luật tố
tụng dân sự 2015: “Cá nhân, cơ quan, tổ chức đang quản lý, lưu giữ chứng cứ có trách nhiệm cung cấp đầy đủ, kịp thời chứng cứ theo yêu cầu của Tòa án; trường hợp không cung cấp đầy đủ, kịp thời chứng cứ theo yêu cầu của Tòa án thì tùy mức
độ vi phạm có thể bị xử lý theo quy định của pháp luật của pháp luật”.
1.2 Các quy đinh pháp luật về chứng cứ trong tố tụng dân sự
Trang 8- Các dấu vết, vật chứng là vật chất
Dựa vào hai dạng cơ bản trên mà có các cách gọi khác nhau như: chứng cứ gián tiết,chứng cứ thuật lại, chứng cứ gốc, chứng cứ miệng, chứng cứ phủ định, chứng cứkhẳng định, chứng cứ viết ; nhưng dù có gọi như thế nào thì cũng không làm thayđổi giá trị của nó Việc phân loại có giá trị trong việc nghiên cứu và ban hành cácquy định về chứng cứ để giải quyết vụ việc dân sự có hệ thống và minh bạch
- Chứng cứ theo người: Là chứng cứ được rút ra từ lời khai của đương sự, ngườilàm
cứ đối với vụ việc dân sự
Chứng cứ qua phân loại được gọi với những tên khác nhau Tuy vậy, việc phân loạichứng cứ không làm thay đổi giá trị chứng minh của chứng cứ Việc phân loạichứng cứ chủ yếu có ý nghĩa đối với việc nghiên cứu; và đưa ra những quy định vềchứng cứ Từ việc phân loại chứng cứ, tòa án có thể xác định được phạm vi nhữngchứng cứ; tài liệu cần phải thu thập; xác định được yêu cầu sử dụng đối với chứng
cứ cụ thể; bảo đảm việc giải quyết đúng vụ việc dân sự
1 Các tài liệu đọc được, nghe được, nhìn được;
2 Các vật chứng;
3 Lời khai của đương sự,
4 Lời khai của người làm chứng;
5 Kết luận giám định;
6 Biên bản ghi kết quả thẩm định tại chỗ;
7 Kết quả định giá tài sản;
8 Văn bản ghi nhận sự kiện, hành vi pháp lý do người có chức năng lập
9 Văn bản công chứng, chứng thực
Trang 910.Các nguồn khác mà pháp luật có quy định8
Có thể hiểu nguồn của chứng cứ là nơi chứa đựng chứng cứ
Nó tồn tại hai loại nguồn chủ yếu là nguồn vật và tài liệu Nguồn chứng cứ vàphương tiện chứng minh là hai khái niệm khác nhau; nhưng thực tế là thường đượchiểu chung Vì một số trường hợp các phương tiện chứng minh cũng chính là cái cóthể rút ra các tin tức và vụ việc dân sự như vật chứng, tài liệu chứa đựng chứng cứtức cũng là nguồn của chứng cứ Tòa án chỉ có thể thu thập các nguồn chứng cứ, từ
đó rút ra các chứng cứ Bất kỳ loại chứng cứ nào cũng phải nằm trong một loạinguồn chứng cứ nhất định; nhưng không có nghĩa là khi thu thập một nguồn chứng
cứ nào đó thì nhất định trong đó sẽ chứa đựng chứng cứ, vì vậy sẽ phạm sai lầmtrong đánh giá, sử dụng Ví dụ, vật chứng đương sự cung cấp cho Tòa án là nguồnnhưng là vật chứng được đương sự làm giả, gian dối thì không thể coi vật chứngnày là nguồn được; hay kết luận giám định là nguồn chứng cứ nhưng kết luận giámđịnh sai thì không thể coi là nguồn của chứng cứ được Theo pháp luật Việt Namban hành, có các loại nguồn cụ thể:
- Các tài liệu đọc được, nghe được, nhìn được
Các tài liệu đó phải là bản chính hoặc bản sao có công chứng, chứng thực hợppháp hoặc do tổ chức có thẩm quyền cung cấp, xác nhận Bản chính có thể là bảngốc
hoặc bản được dùng làm cơ sở lập ra các bản sao Các tài liệu nghe được, nhìn đượcphải xuất trình kèm theo văn bản xác định xuất xứ của tài liệu đó hoặc văn bản và
sự liên quan tới cuộc thu âm, thu hình đó Các tài liệu này có thể là băng ghi âm, đĩaghi hình, phim ảnh Nếu đương sự không xuất trình được các văn bản nêu trên thìtài liệu nghe, đọc, nhìn được mà đương sự giao nộp không thể được coi là chứng cứ
9
Ví dụ: Trong vụ tai nạn giao thông, người bị hại hoặc người đại diện hợp phápcủa người bị hại được một người cung cấp băng ghi hình về hiện trường vụ tainạn giao thông Trong trường hợp này, cùng với việc giao nộp băng ghi hình đó,người bị hại hoặc người đại diện hợp pháp của người bị hại phải xuất trình cho
Tồ án bản xác nhận của người đã cung cấp cho mình về xuất xứ của băng ghihình đó
Trang 10luôn có tính đặc định liên quan đến vụ việc dân sự thì mới có giá trị pháp lý Vì vậy,Tòa án không chỉ thu thập vật chứng theo trình tự luật định mà phải bảo quản, giữgìn để bảo đảm giá trị đặc tính của vật chứng Nếu đương sự cung cấp vật chứng,Thẩm phán phải lập biên bản miêu tả chi tiết hình thức cũng như đặc tính lý hóa của
sự vật, đặc biệt dấu vết thể hiện trên vật chứng đó Đối với vật không thể di chuyểnđược thì phải xem xét tại chỗ; vật mau hỏng phải xem xét kịp thời và phản ánh đầy
đủ trong quá trình xem xét như ghi biên bản, chụp hình, ghi hình để lưu
- Lời khai của đương sự
Đương sự là người có quyền và lợi ích gắn liền với vụ việc dân sự, họ tham gia trựctiếp vào quan hệ pháp luật đang có tranh chấp hay giải quyết của mình tại Tòa án11.Lời khai của đương sự dựa trên trí nhớ và sự kiện, tình tiết nên thường mang tínhchủ quan Tâm lý trong lời khai của đương sự thường thiên về bảo vệ cái quyền lợi
cá nhân, nên xem xét yếu tố này để Tòa án thận trọng khi đánh giá Lời khai củađương sự có thể bằng văn bản hay ghi âm, ghi hình theo đúng trình tự và ký tên củamình Lưu ý tuổi của đương sự khi lấy lời khai.12
- Lời khai của người làm chứng
Người làm chứng là người biết rõ những thông tin liên quan đến vụ kiện nhưng lạikhông có quyền lợi trong việc việc đó, vì vậy lời khai của người làm chứng thườngthể hiện yếu tố khách quan hơn13 Có thể do một số yếu tố nào đó như bị dụ dỗ, bịmua chuộc, bị đe dọa, hành hung mà đưa ra những lời khai sai lệch, thiếu chính xác.Lời khai của người làm chứng theo quy định phải được ghi bằng văn bản hoặc ghi
âm, ghi hình, nhưng phải ký tên xác nhận Người làm chứng phải đủ 18 tuổi, có đủnăng lực hành vi dân sự; nếu bị hạn chế hoặc mất năng lực hành vi dân sự phải cóngười đại diện 14
Trang 11hay không, nó quyết định toàn bộ vụ án Bởi vậy, các kết luận giám định có thểđược giám định lại, giám định bổ sung ở các cơ quan có chức năng giám định khác
- Biên bản ghi kết quả thẩm định tại chỗ 16
Kết quả xem xét thẩm định tại chỗ, nếu việc thẩm định được tiến hành theo đúngthủ tục do pháp luật quy định và phải có chữ ký của các thành viên tham gia thẩmđịnh Cụ thể, Tòa án đến tận nơi có sự việc để làm việc cùng có đại diện của cơquan sở tại cóthẩm quyền Tòa án phải báo cho đương sự biết trước để họ chứngkiến việc xem xét, thẩm định
- Kết quả định giá tài sản17
Định giá có vai trò quan trọng trong việc giải quyết vụ án Định giá có thể dođương sự yêu cầu, hay tự Tòa án nhận thấy cần định giá Kết quả định giá là nguồncủa chứng cứ nên việc định giá do Hội đồng định giá được lập thành văn bản vàthực hiện theo đúng quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự Khi định giá tài sản, Hộiđồng định giá tiến hành định giá riêng từng tài sản Để xác định đúng giá trị tài sảncủa vụ việc dân sự phải căn cứ vào mức phố biến giá cả thị trường địa phương tạithời điểm định giá mà có vật, tài sản cần định giá
- Văn bản ghi nhận sự kiện, hành vi pháp lý
Văn bản ghi nhận sự kiện, hành vi pháp lý do người có chức năng lập được coi làchứng cứ nếu việc lập văn bản ghi nhận sự kiện, hành vi pháp lý được tiến hànhtheo đúng thủ tục do pháp luật quy định.18 Trong đó, điển hình của loại nguồnchứng cứ này là vi bằng 19
- Văn bản công chứng, chứng thực20
Văn bản công chứng là hợp đồng, giao dịch, bản dịch đã được công chứng viênchứng nhận theo quy định của Luật Công chứng 2014 Các văn bản công chứng bảođảm sự an tồn của các giao dịch, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của các bên,phòng ngừa rủi ro và tranh chấp, tạo ra sự ổn định của quan hệ giữa các bên tronggiao dịch dân sự, tài sản, bảo đảm trật tự, kỷ cương, là cơ sở thực hiện quyền vànghĩa vụ của các bên Văn bản công chứng, chứng thực được coi là chứng cứ khiviệc công chứng, chứng thực được thực hiện theo đúng thủ tục do Luật Công chứng
2014 và Nghị định 23/2015/NĐ-CP về cấp bản sao từ sổ gốc, chứng thực bản sao từbản chính, chứng thực chữ ký và chứng thực hợp đồng, giao dịch
20 Khoản 10 Điều 95 BLTTDS 2015
Trang 121.2.3 Ý nghĩa về việc hoạt động thu thập chứng cứ
- Trong quá trình tố tụng, không chỉ người tiến hành tố tụng, người tiến hành
tố tụng được sử dụng chứng cứ trong quá trình đưa ra chứng cứ mà mọi người thamgia tố tụng đều có quyền cung cấp chứng cứ và sử dụng chứng cứ để bảo vệ lợi íchhợp pháp của mình nhằm làm rõ khách quan sự thật Tòa án hình thành đối tượngchứng minh thông qua các chứng cứ và sắp xếp các tình tiết theo một trình tự nhấtđịnh Chứng minh là việc làm rõ và xác định các tình tiết, sự kiện của vụ án dân sự
để bảo đảm cho tòa án giải quyết đúng đắn vụ việc dân sự
– Đối với các đương sự, chứng cứ trong tố tụng dân sự là cơ sở để chứng minhcho yêu cầu của họ hoặc yêu cầu khác, không có chứng cứ thì yêu cầu của các bênkhó được Tòa án giải quyết
– Đối với tòa án, chứng cứ là cơ sở quan trọng để tòa án xét xử đúng đắn vụ án
và đưa ra bản án, quyết định khách quan, đúng pháp luật
- Chứng cứ ảnh hưởng đến thủ tục xét xử của Tòa án : Đối với những vụ án cótình tiết đơn giản, mối quan hệ pháp luật trong vụ án đã quá rõ ràng, đương sự đãthừa nhận nghĩa vụ của mình, các tài liệu và chứng cứ đã đầy đủ,… đảm bảo đủ căn
cứ để giải quyết vụ án thì lúc này Tòa án sẽ không phải thu thập tài liệu, chứng cứnữa
Kết Luận chương 1
CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG PHÁP LUẬT VIỆT NAM VÀ THỰC TIỄN TẠI TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ BUÔN HỒ VỀ HOẠT ĐỘNG THU THẬP CHỨNG CỨ TRONG QUÁ TRÌNH GIẢI QUYẾT VỤ ÁN DÂN SỰ
2.1 Thực trạng pháp luật Việt Nam quy định về việc hoạt động thu thập chứng cứ trong quá trình giải quyết vụ án dân sự tại Tòa án
2.1.1 Chủ thể tiến hành thu thập chứng cứ theo quy định của BLTTDS
Chủ thể thu thập chứng cứ trong tố tụng dân sự bao gồm: Đương sự, người bảo vệquyền và lợi ích của đương sự, người đại diện, Viện kiểm sát nhân dân và Tòa ánnhân dân
a Đương sự
Trên thực tế đã có nhiều khái niệm về đương sự được đưa ra như: Từ điển TiếngViệt là: “Đương sự là người, là đối tượng trực tiếp của một sự việc đang giảiquyết”21 hay trong định nghĩa khoa học pháp lý, “đương sự” được hiểu là: “người có
21 Viện Ngôn ngữ học (2003), Từ điển tiếng việt, Nxb Đà Nẵng – Trung tâm từ điển học, Đà Nẵng, tr357
Trang 13quyền và lợi ích gắn liền với vụ việc dân sự, họ tham gia trực tiếp vào quan hệ phápluật đang có tranh chấp hay giải quyết của mình tại Tòa án”22
Theo pháp luật Việt Nam thì tại Điều 68 Bộ luật tố tụng dân sự hiện hành quy định
cụ thể: “Đương sự trong vụ án dân sự là cá nhân, cơ quan, tổ chức bao gồm nguyên đơn, bị đơn, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan” Trong đó:
(1) Nguyên đơn trong vụ án dân sự là người khởi kiện, người được cá nhân, cơquan, tổ chức khác do Bộ luật tố tụng dân sự 2015 quy định khởi kiện đểyêu cầu Tòa án giải quyết vụ án dân sự khi cho rằng quyền và lợi ích hợppháp của người đó bị xâm phạm; Cơ quan, tổ chức do Bộ luật tố tụng dân
sự 2015 quy định khởi kiện vụ án dân sự để yêu cầu Tòa án bảo vệ lợi íchcông cộng, lợi ích của Nhà nước thuộc thuộc lĩnh vực mình phụ trách cũng
là nguyên đơn
(2) Bị đơn trong vụ án dân sự là người bị nguyên đơn khởi kiện hoặc cá nhân,
cơ quan, tổ chức khác do Bộ luật tố tụng dân sự 2015 quy định khởi kiện đểyêu cầu Tòa án giải quyết vụ án dân sự khi cho rằng quyền và lợi ích hợppháp của nguyên đơn bị người đó xâm phạm
(3) Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan trong vụ án dân sự là người tuykhông kiện, không bị khởi kiện, nhưng việc giải quyết vụ án dân sự có liênquan đến quyền lợi, nghĩa vụ của họ nên họ tự mình đề nghị hoặc các đương
sự khác đề nghị và được Tòa án chấp nhận và đưa vào tham gia tố tụng với
tư cách là người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Trong trường hợp việcgiải quyết vụ án dân sự có liên quan đến quyền lợi và nghĩa vụ cuả mộtngười nào đó mà không có ai đề nghị đưa họ vào tham gia tố tụng với tưcách là người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan
(4) Người yêu cầu giải quyết việc dân sự là người tham gia tố tụng đưa ra yêucầu để giải quyết vụ việc dân sự Việc tham gia tố tụng của họ chủ động nhưnguyên đơn trong vụ án dân sự Người yêu cầu tham gia tố tụng để bảo vệquyền và lợi ích hợp pháp của mình Người có liên quan đến yêu cầu đótrong việc dân sự là người tham gia tố tụng dân sự để bảo vệ quyền và lợiích hợp pháp của mình hoặc trả lời những vấn đề liên quan đến quyền lợi,nghĩa vụ của họ Việc tham gia tố tụng của người có liên quan trong viêcdân sự cũng như việc tham gia tố tụng của người có liên quan trong vụ ándân sự, có thể họ chủ động hoặc theo yêu cầu của đương sự khác hoặc theoyêu cầu của Tòa án
22
Trang 14Tóm lại, Bản chất của việc dân sự là Tòa án xác định một sự kiện pháp lý hoặc côngnhận hay không công nhận quyền và nghĩa vụ dân sự chứ không phải là giải quyếtcác tranh chấp giữa các bên đương sự Khi sự kiện pháp lý được xác định sẽ dẫnđến việc phát sinh, thay đổi hay chấm dứt một quan hệ pháp luật.
Việc thu thập chứng cứ thì đương sự là người thực hiện hầu hết công việc thu thập
và cung cấp chứng cứ Do đó, trách nhiệm thu thập chứng cứ của đương sự đối vớiyêu cầu của mình, họ có sự chủ động trong các thao tác thu thập, yêu cầu thu thập.Tuy nhiên không thể nói là thu thập chứng cứ không có sự can thiệp của Nhà nướcbởi nếu không can thiệp sẽ gây ra tình trạng lộn xộn và đôi khi chứng cứ thu thậpđược không có giá trị pháp lý Trong Bộ luật tố tụng dân sự đã quy định đầy đủ vàđiều kiện để đương sự thực hiện quyền năng này, đây chính là vấn đề về thủ tục.Khi vi phạm về thủ tục luật định thì chứng cứ do đương sự thu thập được cũng sẽkhông được chấp nhận, tạo ra tính công bằng giữa các bên Trong giai đoạn cungcấp chứng cứ thì đương sự chính là người cung cấp chứng cứ cho Tòa án Đây làhoạt động giao nộp chứng cứ vào hồ sơ vụ án, chứng cứ nhiều hay ít sẽ giới hạnviệc tranh luận giữa các bên, chứng cứ càng cụ thể, xác đáng bao nhiêu thì việctranh luận và trách nhiệm của Tòa án càng đơn giải bấy nhiêu Quyền và nghĩa vụcung cấp chứng cứ của đương sự được quy định thành một nguyên tắc tố tụng
“Đương sự có quyền và nghĩa vụ cung cấp chứng cứ cho Tòa án”23 Trong quá trìnhgiải quyết vụ án đương sự có quyền cung cấp chứng cứ ở bất kỳ giai đoạn nào, nếu
không cung cấp và cung cấp không đầy đủ sẽ phải chịu hậu quả về việc đó “Trong quá trình Tòa án giải quyết vụ việc dân sự, đương sự có quyền và nghĩa vụ giao nộp tài liệu, chứng cứ cho Tòa án Trường hợp tài liệu, chứng cứ đã được giao nộp chưa bảo đảm đủ cơ sở để giải quyết vụ việc thì Thẩm phán yêu cầu đương sự giao nộp bổ sung tài liệu, chứng cứ Nếu đương sự không giao nộp hoặc giao nộp không đầy đủ tài liệu, chứng cứ do Tòa án yêu cầu mà không có lý do chính đáng thì Tòa
án căn cứ vào tài liệu, chứng cứ mà đương sự đã giao nộp và Tòa án đã thu thập theo quy định tại Điều 97 của Bộ luật này để giải quyết vụ việc dân sự.” được quy
định tại Khoản 1 Điều 96 của Bộ luật tố tụng dân sự 2015 Vì vậy, đương sự khitham gia vào quan hệ pháp luật trên cơ sơ bình đẳng về quyền và nghĩa vụ đượcpháp luật bảo vệ, nên trong tố tụng dân sự các đương sự có quyền, nghĩa vụ cungcấp chứng cứ và chứng minh là như nhau cũng đóng vai trò quan trọng trong việcgiải quyết vụ án dân sự
b Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự
23 Khoản 1, Điều 6 BLTTDS 2015
Trang 15Theo khoản 1 Điều 75 của Bộ luật tố tụng dân sự 2015: “Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự là người tham gia tố tụng để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự” Những người này có thể là luật sư hoặc bất cứ chủ thể nào
đủ điều kiện mà đương sự tin tưởng, họ có thể tham gia vào vụ án ở bất cứ giai đoạnnào Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự có quyền: “Thu thập vàcung cấp tài liệu, chứng cứ cho Tòa án; nghiên cứu hồ sơ vụ án và được ghi chép,sao chụp những tài liệu cần thiết có trong hồ sơ vụ án để thực hiện việc bảo vệquyền và lợi ích hợp pháp của đương sự, trừ tài liệu, chứng cứ quy định tại khoản 2Điều 109 của Bộ luật này”24
Theo quy định của pháp luật tố tụng dân sự Việt Nam, vị trí pháp lý của người bảo
vệ quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự không có gì khác so với đương sự vì họthuộc cùng nhóm người tham gia tố tụng Nói cách khác, người bảo vệ quyền và lợiích hợp pháp của đương sự cũng đưa ra các chứng cứ, lý lẽ để chứng minh cho cácyêu cầu và sự phản đối yêu cầu của đương sự là có cơ sở
c Người đại diện
Theo quy định tại khoản 1 Điều 134 Bộ luật Dân sự 2015 thì “đại diện được hiểu là chủ thể dân sự này nhân danh và vì lợi ích hợp pháp của một chủ thể dân sự khác
để tham gia vào giao dịch dân sự.” Người đại diện trong tố tụng dân sự bao gồm
người đại diện theo pháp luật và người đại diện theo ủy quyền quy định tại khoản 1Điều 85 của Bộ luật tố tụng dân sự 2015 Tại Bộ luật Dân sự 2015 quy định về chủthể dân sự của quan hệ đại diện theo ủy quyền là cá nhân và pháp nhân Cá nhânphải có năng lực hành vi dân sự đầy đủ Pháp nhân thì phải có tư cách pháp nhântrong quá trình tham gia quan hệ ủy quyền Những chủ thể khác như tổ chức khôngphải là pháp nhân thì phải lựa chọn ra một cá nhân có đủ thẩm quyền để đại diện tổchức đó tham gia vào quan hệ đại diện theo ủy quyền
(1) Người đại diện theo pháp luật bao gồm: Đại diện theo pháp luật của cá nhân
và đại diện theo pháp luật của pháp nhân
+ Đại diện theo pháp luật của cá nhân bao gồm: Cha, mẹ đối với con chưathành niên; Người giám hộ đối với người được giám hộ Người giám hộ củangười có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi là người đại diện theopháp luật nếu được Tòa án chỉ định; Người do Tòa án chỉ định trong trườnghợp không xác định được người đại diện quy định tại khoản 1 và khoản 2Điều này Người do Tòa án chỉ định đối với người bị hạn chế năng lực hành
vi dân sự quy định tại Điều 136 của Bộ luật dân sự 2015
24 Khoản 2 Điều 76 BLTTDS 2015
Trang 16+ Ngoài ra, Người được pháp nhân chỉ định theo điều lệ; Người có thẩmquyền đại diện theo quy định của pháp luật; Người do Tòa án chỉ định trongquá trình tố tụng tại Tòa án là đại diện theo pháp luật của pháp nhân.25
(2) Còn theo quy định tại khoản 1 Điều 138 thì “ủy quyền” phải là “việc chính chủ thể có quyền tự mình trao quyền cho chủ thể khác (đủ năng lực thực hiện) để thay mình tham gia vào các giao dịch dân sự.” Như vậy thì đại diện
theo ủy quyền tức là việc một cá nhân, pháp nhân (bên đại diện) nhân danh
và vì lợi ích của một cá nhân, pháp nhân khác (bên được đại diện) tiến hànhxác lập và thực hiện các giao dịch dân sự thông qua việc được bên được đạidiện “trao quyền” hợp pháp.26
Quyền và nghĩa vụ của người đại diện cho đương sự quy định theo Điều 86 của Bộluật tố tụng dân sự 2015: “Người đại diện theo pháp luật trong tố tụng dân sự thựchiện quyền và nghĩa vụ tố tụng dân sự của đương sự mà mình đại diện; người đạidiện theo ủy quyền trong tố tụng dân sự thực hiện các quyền và nghĩa vụ tố tụngdân sự theo nội dung văn bản ủy quyền” Đương sự không thể hoặc có hạn chế nhấtđịnh không thực hiện được quyền và nghĩa vụ của mình thì theo quy định của phápluật họ có thể nhờ đến sự giúp đỡ của người đại diện hoặc Tòa án chỉ định cho họ
d Tòa án nhân dân
Tòa án được thể hiện cụ thể trong một vụ việc dân sự là thẩm phán tiến hành giảiquyết vụ việc đó giữ thái độ trung lập Hoạt động thu thập chứng cứ của Tòa án chủyếu dựa trên cung cấp chứng cứ của đương sự Khi đương sự trình bày sự kiện, xuấtnạp giấy tờ, yêu cầu của mình và liên hệ trực tiếp đến yêu cầu đó bằng những chứng
cứ, kết quả sẽ tùy thuộc vào việc có hay không những bằng chứng cụ thể Như vây,Tòa án phải có tính khách quan khi giải quyết vu án dân sự, phán quyết đưa ra phảicông bằng với cả hai bên trong phạm vi hoạt động chứng minh của họ thì đương sựlại chứng minh cho yêu cầu của mình cũng như hoàn toàn có thể phủ nhận yêu cầuhay phản yêu cầu của đương sự bên kia
Hoạt động thu thập chứng cứ của Tòa án thể hiện một số quyền và nghĩa vụ như:Theo yêu cầu của đương sự Tòa án sẽ quyết đinh các biện pháp thu thập chứng cứnhư: lấy lời khai của người làm chứng, quyết định trưng cầu giám định, giám định
bổ sung, định giá tài sản, đối chất27 Tòa án có quyền “nghiên cứu, đánh giá chứng
cứ, công bố và sử dụng chứng cứ là do đương sự cung cấp”28 Do đó, Tòa án là
25 Khoản 1 Điều 137 BLTTDS 2015
26 https://luatduonggia.vn/dai-dien-theo-uy-quyen-trong-bo-luat-dan-su-2015/
27 Khoản 2 Điều 97 BLTTDS 2015
28 Điều 108, 109 BLTTDS 2015