CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG PHÁP LUẬT VIỆT NAM VÀ THỰC TIỄN TẠI TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ BUÔN HỒ VỀ HOẠT ĐỘNG THU THẬP
2.2. THỰC TIỄN HOẠT ĐỘNG THU THẬP CHỨNG CỨ TRONG QUÁ TRÌNH GIẢI QUYẾT VỤ ÁN DÂN SỰ TẠI TAND TX BUÔN HỒ
2.2.1. Thực tiễn thực hoạt động thu thập chứng cứ tại tòa án Nhân dân thị xã Buôn Hồ
Tòa án nhân dân thị xã Buôn Hồ là tòa án nhân dân cấp sơ thẩm, Tòa án đã giải rất nhiều vụ liên quan đến các vấn dân sự, hôn nhân gia đình, kinh doanh thương mại, hành chính và hình sự.,.. Đặc biệt là về lĩnh vực tố tụng dân sự, hằng năm Tòa án đã giải quyết rất nhiều vụ án tranh chấp như: dân sự, kinh doanh thương mại, hôn nhân gia đình,.. Và các vụ án tại Tòa có đơn giản nhưng cũng có phức tạp, nên vì vậy cũng có nhiều vụ án phải xử đi xử lại nhiều lần, kéo dài thời gian, và bị kháng nghị.
Mà một trong những điều khiến cho vụ việc xảy ra như vậy là do hoạt động thu thập chứng cứ của Tòa án. Chính vì vậy, hoạt động thu thập chứng cứ là một giai đoạn vô cùng quan trọng trong quá trình giải quyết vụ án dân sự.
Đối với những công việc thu thập chứng cứ tại Tòa án thường là Thẩm phán giải quyết vụ án và thư ký Tòa án tiến hành thu thập. Họ có trách nhiệm xem xét hồ sơ vụ án, nhận thấy những vấn đề chưa rõ ràng, cần được làm rõ để phục vụ cho quá trình giải quyết vụ án để từ đó đưa ra những biện pháp thu thập chứng cứ phù hợp với từng trường hợp, vụ việc cụ thể. Các biện pháp thu thập chứng cứ thường được Tòa án sử dụng là lấy lời khai của đương sự, thẩm định tại chỗ, định giá tài sản, một số trường hợp còn có thể ủy thác tư pháp để thu thập thông tin. Hầu hết các vụ án cần Tòa án thu thập chứng cứ thì Tòa án đều tiến hành hiệu quả. Hoạt động lấy lời khai, thẩm định, định giá tài sản đều đem về những thơng tin hữu ích, góp phần giải quyết vụ án chính xác, nhanh chóng, thê hiện dưới số liệu dưới đây:
Bảng thống kê số vụ án dân sự đã được giải quyết giai đoạn 2017 – 2021
Với những số liệu trên đây đã là minh chứng rõ ràng nhất cho những thành tựu mà hoạt động thu thập chứng cứ của Tòa án đem lại. Tỉ lệ số vụ án được giải quyết tăng dần theo các năm cho thấy Tòa án ngày càng chú trọng và đẩy mạnh công tác thu thập chứng cứ cũng như hiệu quả của hoạt động thu thập chứng cứ của Tòa án, góp phần to lớn vào việc tăng chất lượng của cơng tác xét xử.
Tuy nhiên, trong quá trình áp dụng pháp luật vào thực tiễn cũng không tránh khỏi
những hạn chế và bất cập. Theo Báo cáo tổng kết của ngành Tòa án 2016 đã nêu lên những nguyên nhân bản án bị hủy, sửa: “Các sai sót thường gặp dẫn đến việc các bản
án, quyết định về dân sự bị hủy, sửa là do Tòa án xác định sai quan hệ pháp luật tranh
chấp; xác định không đúng tư cách hoặc thiếu người tham gia tố tụng; áp dụng không
đúng pháp luật; sai sót trong việc tính lãi suất; đánh giá chứng cứ còn phiến diện nên
quyết định giải quyết vụ án không đúng”30.
Đến năm 2017, báo cáo tổng kết của ngành Tòa án vẫn nhấn mạnh những nguyên nhân trên : “Tỷ lệ các bản án, quyết định của Tòa án bị hủy, sửa do lỗi chủ quan của Thẩm phán chưa giảm mạnh; một số trường hợp, việc của Tòa án cấp phúc thẩm sửa
bản án, quyết định sơ thẩm còn thiếu căn cứ thuyết phục; một số Tòa án địa phương cịn để xa tình trạng chậm đưa ra xét xử đối với những vụ án dân sự đã có quyết định giảm đốc thẩm hủy bản án có hiệu lực pháp luật để xét xử lại. Sau đây là một số khuyết điểm, thiếu sót cụ thể… Xác minh, thu thập chứng cứ không đầy đủ; áp dụng không đúng các quy định của pháp luật nội dung về đường lối giải quyết”31. Như vậy, bên cạnh những thành tựu đã đạt được thì cơng tác thu thập chứng cứ của Tịa án vẫn cịn tồn tại nhiều hạn chế. Một số vụ án không được giải quyết nhanh chóng, kịp thời là do vướng mắc trong quá trình thu thập chứng cứ như thẩm định tại chỗ, định giá tài sản. Thủ tục tiến hành các công việc giám định, thẩm định, định giá tài sản còn khá phức tạp, kéo dài thời gian dẫn đến gây khó khăn trong quá trình giải quyết vụ án.
Ngồi ra, việc lấy lời khai của đương sự, người làm chứng cũng chưa thực sự đạt hiệu
quả cao. Nhiều trường hợp, đương sự từ chối trả lời câu hỏi của những người tiến hành thủ tục lấy lời khai, cho lời khai không đúng, thường xuyên thay đổi lời khai dẫn đến không thể xác định đâu là lời khai cuối cùng của đương sự, hoặc có trường hợp ngay tại phiên tịa, đương sự, người làm chứng thay đổi lời khai trong bản tự khai,… Các trường hợp này đã gây ra khơng ít khó khăn cho những người tiến hành tố tụng. Hoặc khi tiến hành thu thập chứng cứ bằng phương pháp ủy thác tư pháp,
30 Nguyễn Kim Lượng (2015), Thu thập, nghiên cứu và đánh giá chứng cứ trong tố tụng dân sự của Tòa án cấp sơ thẩm, Luận văn (Thạc sĩ), khoa Luật, Đại học Quốc gia Hà Nội, tr. 20.
31 Nguyễn Kim Lượng (2015), Thu thập, nghiên cứu và đánh giá chứng cứ trong tố tụng dân sự của Tòa án cấp sơ thẩm, Luận văn (Thạc sĩ), khoa Luật, Đại học Quốc gia Hà Nội, tr. 25
quá trình, thủ tục, thời gian kéo dài, chi phí tốn kém nhưng không phải lúc nào cũng đạt được hiệu quả như mong ḿuốn, thậm chí, nhiều trường hợp ủy thác tư pháp cịn dẫn đến tình trạng tạm đình chỉ giải quyết vụ án, gây ảnh hưởng không nhỏ đến đương sự cũng như các bên tham gia tố tụng.
2.2.2. NGUYÊN NHÂN DẪN ĐẾN NHỮNG HẠN CHẾ, BẤT CẬP TRONG HOẠT ĐỘNG THU THẬP CHỨNG CỰ TẠI TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ BUÔN HỒ
Về thời điểm thu thập chứng cứ của Tịa án trong quá trình giải quyết vụ án:
Theo quy định tại khoản 4 Điều 96 Bộ luật tố tụng dân sự 2015 thì: Thời hạn giao nộp tài liệu, chứng cứ do Thẩm phán được phân công giải quyết vụ việc ấn định nhưng không được vượt quá thời hạn chuẩn bị xét xử theo thủ tục sơ thẩm, thời hạn chuẩn bị giải quyết việc dân sự theo quy định của Bộ luật này. Theo như vậy, thì đương sự phải nộp tài liệu chứng cứ cho Tịa án tới đa là 02 tháng hoặc 04 tháng tùy theo từng loại án được quy định tại Điều 203 Bộ luật tố tụng dân sự 2015, về thời hạn chuẩn bị xét xử. Và như vậy, Bộ luật tố tụng dân sự 2015 quy định giới hạn quyền cung cấp tài liệu chứng cứ của đương sự mà không hề giới hạn thời hạn thu thập chứng cứ của Tòa án, mà cụ thể là thẩm phán trực tiếp thụ lý, xét xử vụ án đó.
Do đó, có thể dẫn đến khả năng có sự tùy tiện trong việc cho đương sự giao nộp chứng cứ, tài liệu và thực tế có vụ án Thẩm phán giới hạn cho đương sự giao nộp chứng cứ với thời hạn trên, nhưng có vụ án khi mở phiên tịa sơ thẩm vẫn được giao nộp chứng cứ, mặc dù trước đó đã được yêu cầu giao nộp chứng cứ, tài liệu cụ thể32. Trên thực tế xét xử, việc đương sự xuất trình tài liệu, chứng cứ hoặc khai thêm những vấn đề khác có liên quan buộc Tịa án phải hỗn hoặc tạm ngừng phiên tòa, khiến cho việc giải quyết vụ việc bị kéo dài.
Trường hợp do Thẩm phán thiếu sự đánh giá, xem xét khách quan, kĩ lưỡng khi thu thập chứng cứ:
Thẩm phán không tiến hành xem xét, thẩm định tại chỗ bất động sản để thẩm định lại lời khai của đương sự mà vẫn tiến hành giải quyết vụ án dẫn tới nhiều sai sót.
Thực
tiễn xét xử cho thấy, khi giải quyết tranh chấp đất đai, nhất là trường hợp các bên yêu cầu phân chia bằng hiện vật, nếu Thẩm phán chỉ nhìn trên sơ đồ, bản vẽ do
32Lê Hằng Vân (2017), Một số điểm bất cập của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015
[online], ngày truy cập 15/05/2018, từ:
http://www.sotuphapqnam.gov.vn/index.php/2017-03-13-06-49-51/3118-2017-09- 18-05-27-55.
đương sự cung cấp mà không xuống xem xét, thẩm định tại chỗ để dẫn đến sai sót khi quyết định. Rất nhiều vụ án đã phải kháng nghị chỉ vì phân chia hiện vật không phù hợp với thực tế, có vụ đã chia đơi cả bàn thờ hoặc trên đất có cây, trong ao có cá, có cơng trình kiến trúc nhưng do không xuống xem xét thẩm định hoặc xem xét thẩm định không kĩ nên thẩm phán, Hội đồng xét xử không biết dẫn tới không đề cập trong bản án, quyết định.
Về tính hợp pháp của chứng cứ đã được Tòa án thu thập trong trường hợp Thẩm phán bị thay đổi hoặc từ chối tiến hành tố tụng:
Thực tiễn giải quyết vụ việc dân sự có trường hợp Thẩm phán đang tiến hành tố tụng
trong vụ việc dân sự nhưng bị thay đổi hoặc phải từ chối tiến hành tố tụng theo quy định của pháp luật. Trước khi bị thay đổi thẩm phán đã lập hồ sơ thu thập chứng cứ, khi Thẩm phán bị thay đổi thì những chứng cứ do họ thu thập có được sử dụng để tiếp tục giải quyết vụ việc dân sự đó khơng? Trong tình h́ng này có những quan điểm khác nhau dẫn đến việc áp dụng pháp luật khác nhau giữa Tòa án các cấp, có trường hợp bản án sơ thẩm bị hủy vì cấp phúc thẩm cho rằng chứng cứ quan trọng trong vụ án được thu thập có vi phạm tớ tụng vì sử dụng chứng cứ do Thẩm phán đã bị thay đổi thu thập.
Về quy định trong lĩnh vực giám định:
Với số lượng tranh chấp dân sự ngày càng tăng, trong đó có liên quan tới vấn đề giám định đang rất nhiều. Nhưng hiện nay chi phí giám định trên thực tế nhiều loại vụ việc quá cao khiến cho việc giám định thường trở nên rất khó khăn.
Về vấn đề thu thập chứng cứ cịn gặp nhiều khó khăn:
Các chứng cứ quan trọng của vụ tranh chấp đang được lưu giữ tại cơ quan, tổ chức hoặc do các đương sự khác nắm giữ thì việc thu thập của đương sự sẽ gặp khó khăn, vướng mắc. Ví dụ: trong vụ án ly hơn có tranh chấp về tài sản nhưng giấy tờ liên quan
đến tài sản chỉ đứng tên một bên và do bên đó giữ tồn bộ, bên có yêu cầu chia tài sản
không giữ bất kỳ tài liệu nào có thể chứng minh việc có tài sản đó để cung cấp cho Tòa án.
KẾT LUẬN CHƯƠNG II