KIẾN NGHỊ HOÀN THIỆN PHÁP LUẬT VỀ HOẠT ĐỘNG THU THẬP CHỨNG CỨ CỦA TÒA ÁN

Một phần của tài liệu Đề-cương-BCTT-Bùi-Thị-Thanh-Xuân-44K13.1 (Trang 28 - 33)

3.1. Một số kiến nghị hoàn thiện pháp luật Việt Nam về hoạt động thu thập chứng cứ trong quá trình giải quyết vụ án dân sự tại Tòa án

- Đối với nông thôn, trung du, miền núi, vùng Tây nguyên, Nhà nước cần ưu tiên đầu tư tài chính, cơ sở vật chất, phát triển hệ thông bổ trợ tư pháp mạnh mẽ hơn nữa, đặc biệt là cơ quan trợ giúp pháp lý để hỗ trợ cho ngưòi dân nghèo, hiểu biết pháp luật đặc biệt là pháp luật dân sự, tố tụng dân sự còn hạn chế. Nhằm tạo cho người dân nghèo những điểu kiện cần thiết để họ bảo vệ được quyển và lợi ích hợp pháp của mình.

- Đẩy mạnh tuyên truyền giáo dục pháp luật dân sự và tố tụng dân sự để người dân biết và chủ động tự bảo vệ quyền và lợi ích chính đáng của mình.

- Khi sửa đổi, bổ sung Bộ luật tố tụng dân sự hiện hành nên quy định thời hạn giao nộp tài liệu, chứng cứ.

- Nếu như việc thông báo về việc thụ lý vụ án đã được quy định ở Điều 196 Bộ luật tố tụng dân sự hiện hành trong đó có đoạn đã viết rõ “những vấn đề cụ thể người khởi kiện yêu cầu Toà án giải quyết; danh sách tài liệu, chứng cứ người khởi kiện nộp kèm theo đơn khởi kiện”, nhưng nếu quá trình tố tụng các bên đương sự mới giao nộp chứng cứ, tài liệu hoặc tài liệu do Toà án thu thập thì Bộ luật chưa quy định ai phải gửi, phải thông báo tài liệu, chứng cứ cho phía bên kia biết, sẽ gâý khó khăn cho việc thực hiện quyển và nghĩa vụ chứng minh nhằm bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự.

- Cần quy định trong Bộ luật tốtụng dân sự về trách rihiệm của cơ quan, tổ chức phải cung cấp tài liệu có liên quan đến vụ án theo yêu cầu của người dân, nếu từ chốỉ phải nêu rõ lý do và trả lời bằng văn bản, đồng thòi xác định rõ trách nhiệm của người đứng đầu cơ quan, tổ chức khi khồng đáp ứng yêu cầu của người dân, của Toà án.

Trong khi chưa kịp sửa Bộ luật tố tụng dân sự hiện hành, cần kiến nghị với Chính phủ đưa ra những quy định rõ ràng về trách nhiệm cung cấp tài liệu chứng cứ hên quan đến Vụ việc dân sự theo yêu cầu của ngưòi dân và xác định rõ cơ chế trách nhiệm của người đứng đầu cơ quan, tổ chức khi cơ quan, tổ chức đó không thực hiện yêu cầu của Toà án về cung cấp tài liệu, chứng cứ hoặc cung cấp không đầy đủ, không đúng.

- Cần quy định trong Bộ luật việc định giả là một loại giám định và cho thành lập các trung tâm (tư nhân hoặc Nhà nước) về giám định giá. Trong khi chưa được quy định trong Bộ luật, Chính phủ cần ban hành nghị định quy định trách nhiệm của cơ

quan liên quan phối hợp với Toà án trong việc định giá hoặc ít ra phải có ngay một thông tư liên tịch về vấn đề này.

- Cần sửa đổi bổ sung Điều 89 Bộ luật tố tụng dân sự hiện hành về xem xét, thẩm định tại chỗ theo hướng: khi có yêu cầu của đương sự hoặc khi Toà án xét thấy cần thiết thì có quyền chủ động xem xét thẩm định tại chỗ.

- Nếu như trong tố tụng hình sự nhà nưốc phải chứng minh hành vi phạm tội thì mới được kết tội, do đó việc giám định bắt buộc phải theo trình tự tư pháp. Còn trong dân sự để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình đương sự phải thực hiện nghĩa vụ chứng minh. Giám định cũng lấ một biện pháp thu thập chứng cứ để chứng minh cho yêu cầu của mình; dành quyền chủ động cho đương sự, thì không cần quy định khi giám định bắt buộc phải theo trình tự tư pháp. Đương sự có quyền chủ động yêu cầu cơ sở nào đó giám định và họ xuất trình kết quả đó để chứng minh cho yêu cầu của mình hay phản bác yêu cầu của người khác. Nếu việc giám định đó là chính xác thì kết quả giám định sẽ là chứng cứ của vụ việc dân sự. Đương sự bên kia nếu không chấp nhận kết quả giám định thì có quyển yêu cầu Toà án trưng cầu giám định lại theo trình tự tư pháp, như vậy sẽ vừa bảo đảm được quyền và lợi ích của đương sự, vừa bảo đảm khách quan. Thiết nghĩ, khi sửa đổi Bộ luật tố tụng dân sự hiện hành nên quy định mỏ hơn về vấn đề này: cụ thể là đương sự có thể tự yêu cầu giám định hoặc yêu cầu Toà án trưng cầu giám định theo trình tự tư pháp, như thế sẽ hợp lý hơn.

- Để tạo ra sự nhất quán giữa các quy định ở Điều 93, 94, 95, 96 Bộ luật tố tụng dân sự hiện hành, tránh sự nhầm lẫn, hiểu sai, nên bổ sung từ “nguồn” vào trước từ

“chứng cứ” được quy định ở khoản 1, 2, 3, 4, 5, 6, 7, 8 Điều 95 và bổ sung vào những nội dung tướng ứng của Điềư 96 Bộ luật tố tụng dân sự hiện hành.

3. Đương sự giao nộp cho Toà án chứng cứ bằng tiếng dân tộc thiểu số, tiếng nước ngoài phải kèm theo bản dịch tiếng Việt, được công chứng, chứng thực hợp pháp”.

- Cần quy định rõ trong Bộ luật tố tụng dân sự về việc cấp giám đốc thẩm có quyền thu thập chứng cứ không? nếu có quyền thu thập thì được tiến hành trước khi có kháng nghị hay sau khi có kháng nghị hoặc khi xét xử giám đốc thẩm; Khi tiến hành các biện pháp thu thập chứng cứ có phải tuân theo quy định ở Điều 97 Bộ luật tố tụng dân sự hay không? Đây là vấn đề hiện đang có rất nhiều ý kiến khác nhau, nhưng có lẽ nên quy định theo hướng cấp giám đốc thẩm không có quyền thu thập chứng cứ. Vì đây là cấp phá án, không phải là một cấp xét xử. Nếu quy định theo hướng nói trên sẽ tạo thêm sự ổn định cho các bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật. Xin được đề cập sâu hơn vấn đề này trong một bài khác.

- Trong xu thế hội nhập kinh tế quốc tế và mở rộng giao lưu hợp tác nhiều mặt với các nước, hiện nay các tranh chấp có yếu tố nước ngoài, phải ủy thác tư pháp ngày càng tăng. Vì vậy, việc tháo gỡ các vướng mắc trong vấn đề ủy thác tư pháp cho cơ quan ngoại giao của Việt Nam ở nước ngoài hoặc cho Tòa án nước ngoài đặt ra ngày càng gay gắt và nóng bỏng. Do đó, cần sớm có một văn bản quy phạm dưởi dạng nghị định của Chính phủ hoặc thông tư liên tịch quy định thật đầy đủ về phạm vi, trình tự, thủ tục, trách nhiệm của các cơ quan liên quan trong vấn đề thực hiện việc ủy thác tư pháp có yếu tố nước ngoài.

3.2. NHỮNG BIỆN PHÁP NHẰM NÂNG CAO HOẠT ĐỘNG THU THẬP CHỨNG CỨ TẠI TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ BUÔN HỒ

Trong số các nguồn chứa đựng chứng cứ thì các tài liệu đọc được, nghe được, nhìn được chiếm một tỷ lệ tương đối lớn. Nhưng trong nhiều trường hợp đương sự lại khơng có các chứng cứ đó mà do cá nhân, cơ quan, tổ chức khác lưu giữ. Rất nhiều trường hợp dù đương sự đã cất công đi lại nhiều lần, yêu cầu cơ quan giao nộp cho Tịa án nhưng đều từ chới với đủ lý do. Cho nên cần có một sớ biện pháp sau nhằm nâng cao hoạt động thu thập chứng cứ tại Tòa án nhân dân thị xã Buôn Hồ.

- Sửa đổi, bổ sung Bộ luật tớ tụng dân sự 2015 cần quy định tính hợp pháp của chứng cứ đã được Tòa án thu thập trong trường hợp Thẩm phán bị thay đổi hoặc từ chối tiến hành tố tụng. Để tránh việc nhận thức và áp dụng không thống nhất chúng tôi kiến nghị bổ sung thêm về việc sử dụng kết quả thu thập chứng cứ, tài liệu của Thẩm phán từ chối tiến hành tố tụng hoặc bị thay đổi theo hướng sau đây: “Tòa án có thể sử dụng các chứng cứ do Thẩm phán đã từ chối tiến hành tố tụng hoặc bị thay đổi thu thập để tiếp tục giải quyết vụ việc dân sự nếu việc thu thập chứng cứ được tiến hành theo đúng các quy định của pháp luật và các đương sự khơng có phản đối hoặc khiếu nại”33.

- Ngoài ra, để xác định chứng cứ nào là có thật, giúp cho việc giải quyết vụ án được đúng đắn, khách quan, đòi hỏi Kiểm sát viên và Thẩm phán phải có trình độ nghiệp vụ, có kiến thức xã hội và khả năng nhạy bén trong quá trình xác minh, thu thập, đánh giá chứng cứ và Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015 đã có những quy định phù hợp với thực tế, đảm bảo được quyền và lợi ích hợp pháp của tổ chức, công dân.

- Để công tác thu thập chứng cứ của Tòa án được diễn ra thuận lợi, nhanh chóng, cần phải có sự phới hợp giữa các cơ quan chuyên ngành như các sở, các phỏng trên địa bản tỉnh, cơ quan viện kiểm sát, công an,… Chính sự phối hợp, giúp đỡ của các cơ quan trên sẽ tạo điều kiện cho Tòa án hoàn thành được những vai trị của mình.

33Nguyễn Kim Lượng (2015), Thu thập, nghiên cứu và đánh giá chứng cứ trong tố tụng dân sự của Tòa án cấp sơ thẩm, Luận văn (Thạc sĩ), khoa Luật, Đại học Quốc gia Hà Nội, tr. 27

- Phát triển mơ hình Thừa phát lại tại các địa phương để hỗ trợ đương sự lập vi bằng giảm áp lực công việc của Tòa án trong việc thi thập chứng cứ. theo quy định của pháp luật thì hoạt động của Thừa phát lại gồm: Tớng đạt văn bản của Tịa án và cơ quan thi hành án dân sự, lập vi bằng, xác minh điều kiện thi hành án theo yêu cầu của đương sự và trực tiếp tổ chức thi hành án các bản án, quyết định của Tòa án theo yêu cầu của đương sự. Trên cơ sở nghị quyết của Quốc hội và các văn bản pháp luật về Thừa phát lại, Bộ Tư pháp cũng như các địa phương đã tổ chức hội nghị quán triệt, các phiên họp để đánh giá tình hình triển khai thực hiện, những thuận lợi, khó khăn, vướng mắc và đề ra các giải pháp nhằm chỉ đạo, lãnh đạo thực hiện tốt việc thí điểm. Tại các địa phương, Tỉnh ủy/Thành ủy và Ủy ban nhân dân cấp tỉnh cũng đã thành lập Ban Chỉ đạo thực hiện thí điểm chế định Thừa phát lại để chỉ đạo, xác định các nhiệm vụ, công việc cụ thể nhằm thực hiện hiệu quả việc thí điểm và tổ chức hội nghị quán triệt để triển khai thực hiện.

Thừa phát lại đã giúp giảm tải cơng việc, từ đó góp phần nâng cao chất lượng, hiệu quả công tác xét xử và thi hành án. Hoạt động lập vi bằng của Thừa phát lại đã tạo thêm một công cụ pháp lý để người dân tự bảo vệ qùn, lợi ích hợp pháp của mình khi tham gia các giao dịch dân sự, kinh tế và trong q trình tớ tụng. Hoạt động xác minh điều kiện thi hành án của Thừa phát lại đã giúp người dân có thêm cơng cụ hỗ trợ tích cực để bảo đảm quyền, lợi ích hợp pháp của mình trong q trình tổ chức thi hành án, góp phần nâng cao hiệu quả công tác thi hành án dân sự. Hoạt động trực tiếp tổ chức thi hành án của Thừa phát lại đã tạo điều kiện để người dân có thêm sự lựa chọn phù hợp với mong muốn, niềm tin của mình khi yêu cầu thi hành án dân sự; góp phần giảm tải cho cơ quan thi hành án dân sự, từ đó nâng cao hiệu quả, chất lượng của hoạt động này.

- Nâng cao trình độ chuyên môn, nghiệp vụ của những người tiến hành tớ tụng. Khi xét xử, Tịa án tìm hiểu sự thật, nhận thức sự thật chủ yếu thông qua việc nghe các bên hỏi, tranh luận, đối đáp. Tịa án có trách nhiệm tạo điều kiện để các bên tranh tụng dân chủ tại phiên tịa, tơn trọng và lắng nghe đầy đủ ý kiến của các bên, ra phán quyết trên cơ sở kết quả tranh tụng tại phiên tịa. Cần xem xét thêm về những thẩm qùn khơng thật sự phù hợp với chức năng xét xử như: Khởi tố vụ án, tiếp tục xét xử khi Kiểm sát viên rút tồn bộ quyết định truy tớ. Tiếp tục xác định Tịa án có trách nhiệm trong việc chứng minh tội phạm. Không nên quy định trình độ của các hội thẩm nhân dân quá thấp và chung chung nhưng cũng không nên quy định quá cao để tránh rơi vào tình trạng “chuyên mơn hóa” hay “thẩm phán hóa” hội thẩm làm cho hoạt động xét xử mất dần đi tính chất xã hội rộng rãi của mình. Cần sửa đổi, bổ sung quy định về tiêu chuẩn hội thẩm theo hướng quy định người được bầu hoặc cử

làm hội thẩm cần phải có trình độ pháp lý nhất định, tới thiểu phải có bằng trung cấp pháp lý hoặc ít nhất phải qua một lớp bồi dưỡng về pháp luật từ ba đến sáu tháng. Đồng thời, bồi dưỡng cho hội thẩm, đặc biệt là tập huấn các văn bản pháp luật hoặc văn bản hướng dẫn áp dụng pháp luật mới; tổ chức rút kinh nghiệm trong xét xử một số loại vụ án đặc thù...

- Bảo đảm điều kiện về vật chất và tinh thần cho Thẩm phán, tạo điều kiện để họ yên tâm công tác. Khi nghiên cứu hồ sơ cũng như khi xét xử, Thẩm phán, Hội thẩm không bị phụ thuộc vào kết luận của cơ quan điều tra, không bị lệ thuộc vào cáo trạng truy tố của Viện kiểm sát, không phụ thuộc vào ý kiến của các cơ quan khác hay của Tịa

án cấp trên. Trong quá trình xét xử, Thẩm phán và Hội thẩm độc lập từ việc nhận định vụ án, diễn giải pháp luật, quyết định áp dụng pháp luật và ra bản án. Các cá nhân, cơ quan, tổ chức không được can thiệp, tác động tới các thành viên của Hội đồng xét xử để buộc họ phải xét xử theo ý chí của mình. Mọi hành vi can thiệp vào hoạt động xét xử của Tòa án đều bị coi là vi phạm pháp luật và ảnh hưởng tới tính khách quan của hoạt động xét xử.

- Thúc đẩy công tác đàm phán, ký Hiệp định song phương và tham gia vào một số công ước đa phương về tương trợ tư pháp. Nghiên cứu, triển khai các Đề án xây dựng

Hiệp định khung về tương trợ tư pháp trong từng lĩnh vực cụ thể. Cần sớm triển khai xây dựng Hiệp định khung về tương trợ tư pháp trong lĩnh vực dân sự và thương mại, Hiệp định khung về tương trợ tư pháp trong lĩnh vực dân sự, Hiệp định khung về dẫn độ, Hiệp định khung về chuyển giao người đang chấp hành hình phạt tù để làm cơ sở cho việc đàm phán, ký kết các Hiệp định trong tương lai. Hoàn thiện quy trình đàm phán, ký kết điều ước quốc tế nói chung, Hiệp định tương trợ tư pháp nói riêng. Sửa đổi một số điều của Luật Ký kết, gia nhập và thực hiện điều ước quốc tế. Đề nghị sửa đổi quy định của Luật Ký kết, gia nhập và thực hiện điều ước q́c tế về quy trình thẩm định điều ước quốc tế theo hướng cho phép thẩm định điều ước q́c tế sau khi tiến hành vịng đàm phán.

- Nâng cao nhận thức pháp luật và tránh nhiệm của cá nhân, cơ quan, tổ chức. Để làm tốt công tác tuyên truyền, phổ biến, giáo dục pháp luật cần có sự tìm hiểu về thái độ

của người dân đới với pháp luật, họ hiểu pháp luật như thế nào? Pháp luật có vai trị gì trong cuộc sớng của họ?... Có thể nói, phần lớn người dân thường cho rằng “pháp luật” là những mệnh lệnh mà người ta cần phải tuân thủ, là hình phạt, là trừng trị…

người khác thì cho rằng, pháp luật chỉ là để giải quyết các tranh chấp. Người dân

Một phần của tài liệu Đề-cương-BCTT-Bùi-Thị-Thanh-Xuân-44K13.1 (Trang 28 - 33)

Tải bản đầy đủ (DOCX)

(33 trang)
w