Khái niệm pháp luật Pháp luật là hệ thống các quy tắc xử sự chung mang tính bắt buộc do nhà nước ban hành hoặc thừa nhận và bảo đảm thực hiện nhằm điều chỉnh các quan hệ xã hội vì lợi
Trang 1Sau khi học bài này, các bạn cần:
Trình bày được khái niệm, đặc điểm,
bản chất của pháp luật
Phân tích được chức năng của pháp luật
Trình bày được các hình thức và nguồn
Liên hệ và lấy các ví dụ trong thực tế
để minh họa cho nội dung bài học
BÀI 4: MỘT SỐ VẤN ĐỀ CƠ BẢN VỀ PHÁP LUẬT
Trang 2Cùng với sự xuất hiện và phát triển của nhà nước là pháp luật Với vai trò là một công cụ quản lý của nhà nước pháp luật có những chức năng đặc trưng riêng (mục 4.1.4), có những hình thức thể hiện riêng (mục 4.2) và những loại nguồn tạo thành nhất định (mục 4.3) Dù là sản phẩm của nhà nước tuy nhiên pháp luật cũng có tác động nhất định đến sự tồn tại và phát triển của nhà nước Mỗi kiểu nhà nước lại có một kiểu pháp luật riêng của mình (4.4) Để hiểu rõ vấn đề này, trước tiên chúng ta cùng làm rõ khái niệm, đặc điểm, bản chất của pháp luật (mục 4.1)
4.1 Khái niệm, đặc điểm, bản chất của pháp luật
4.1.1 Khái niệm pháp luật
Pháp luật là hệ thống các quy tắc xử sự chung mang tính bắt buộc do nhà nước ban hành hoặc thừa nhận và bảo đảm thực hiện nhằm điều chỉnh các quan hệ xã hội vì lợi ích, mục đích của giai cấp thống trị, vì sự tồn tại, phát triển của xã hội
o Khái niệm "quy tắc"
Quy tắc là những chuẩn mực trong xử sự hoặc là những quy định về công việc, quy trình, thủ tục bắt buộc phải thực hiện trong một hoạt động chung
Phân biệt các loại quy tắc: Quy tắc trong công việc, trong hoạt động chung, quy tắc trong một đơn vị, trong một đơn vị hành chính lãnh thổ, trong một nhà nước, quy tắc trong tôn giáo quy tắc trong quan hệ xã hội… Ví dụ: quy tắc đặt ra đối với bác sỹ "suốt đời hành nghề trong sự vô tư và thân thiết"; quy tắc đặt ra đối với nghề xây dựng: "an toàn là trên hết"; quy tắc tại một địa phương là: "đổ rác đúng nơi quy định"; quy tắc khi tham gia giao thông: "không vượt đèn đỏ"
Quy tắc xử sự chung là những chuẩn mực trong xử sự, là những khuôn mẫu hành vi chung của con người Các quy tắc này do nhà nước ban hành hoặc thừa nhận theo những trình tự, thủ tục được quy định rõ, nhằm điều chỉnh các quan hệ xã hội vì lợi ích, mục đích của giai cấp thống trị và vì sự tồn tại và phát triển của xã hội Các quy tắc xử sự này gọi chung là quy phạm pháp luật
Các quy phạm pháp luật này được sắp xếp theo một hệ thống, có mối liên hệ chặt chẽ, thống nhất với nhau cùng điều chỉnh các quan hệ xã hội Sự sắp xếp của các quy tắc được thực hiện một cách thống nhất, theo trật tự thứ bậc nhất định, được thể hiện dưới các hình thức pháp luật nhất định
đã dự liệu
o Về sự hình thành pháp luật
Chỉ nhà nước mới có thẩm quyền làm ra pháp luật Nhà nước thông qua các cơ quan có thẩm quyền của mình ban hành hoặc thừa nhận các quy phạm pháp luật
Trang 3Mỗi cơ quan nhà nước có thẩm quyền ban hành các loại văn bản quy phạm pháp luật nhất định
Sự hình thành của pháp luật vừa mang tính khách quan, vừa mang tính chủ quan Tính khách quan thể hiện ở việc pháp luật được hình thành do nhu cầu, đòi hỏi của xã hội Khi xã hội ngày càng phát triển thì nhu cầu về pháp luật ngày càng cao, ngày càng cụ thể, rõ ràng hơn Tính chủ quan của pháp luật thể hiện ở việc pháp luật được hình thành xuất phát từ lợi ích của nhà nước, của giai cấp, của dân tộc
Có nhiều học thuyết giải thích về sự hình thành của pháp luật trong đó có: thuyết khế ước xã hội, thuyết pháp luật thực chứng, thuyết pháp quyền tự nhiên Thuyết khế ước xã hội cho rằng nhà nước và pháp luật ra đời không phải bắt nguồn từ thượng đế mà là kết quả của một sự thỏa thuận thống nhất giữa những con người với nhau như một thứ khế ước, hợp đồng xã hội với mục đích ngăn chặn tác hại có thể nảy sinh trong mối quan hệ giữa người với người Thuyết pháp luật thực chứng khẳng định sức mạnh pháp lý của đạo luật bắt nguồn từ chỗ nó là mệnh lệnh của người đứng đầu nhà nước, là lực lượng và là nguồn gốc đầu tiên sinh ra pháp luật và pháp luật do nhà nước đặt
ra mang tính mệnh lệnh Tất cả những gì do nhà nước đặt ra, quy định đều phải được xem là pháp luật, ngay cả khi đạo luật đó là vô nhân đạo Thuyết pháp quyền tự nhiên chủ trương có một thứ pháp luật tự nhiên điều chỉnh quan hệ giữa người với người khi con người tồn tại trong trạng thái tự nhiên, của tự do, bình đẳng và sở hữu tư nhân Việc thiết lập nhà nước và pháp luật
là để bảo vệ các quyền tự nhiên, bảo vệ sở hữu tư nhân của con người Quan điểm Mac-Lênin cho rằng pháp luật ra đời cùng với sự ra đời của nhà nước
Về phương diện khách quan, nhà nước và pháp luật ra đời cùng một nguồn gốc Về phương diện chủ quan, pháp luật do nhà nước đề ra và trở thành phương tiện, công cụ của nhà nước để bảo vệ lợi ích của giai cấp thống trị
Pháp luật phụ thuộc vào cơ sở hạ tầng kinh tế – xã hội Sự hình thành và phát triển của pháp luật thường không cao hơn so với sự phát triển của hạ tầng kinh tế – xã hội Do vậy, có những quan hệ xã hội phát sinh nhưng chưa được pháp luật điều chỉnh ở những giai đoạn nhất định do trình độ phát triển của cơ
sở hạ tầng kinh tế – xã hội chưa đạt được đến mức độ phát triển tương ứng Ví
dụ như quan hệ hôn nhân đồng giới, quan hệ mang thai hộ, những vấn đề liên quan đến việc xác định lại giới tính,
o Về mục đích của pháp luật
Pháp luật điều chỉnh hành vi của các chủ thể, điều chỉnh quan hệ giữa các chủ thể trong xã hội Nói đến một xã hội là nói đến mối quan hệ giữa con người với con người Xã hội càng phát triển sẽ nảy sinh nhiều mối quan hệ mới và phức tạp Do vậy, để có thể tạo lập nên trật tự xã hội, nhà nước phải sử dụng công cụ pháp luật để điều chỉnh hành vi của các chủ thể trong xã hội theo đúng mục đích của mình
Trang 4 Pháp luật tạo nên trật tự, an toàn cho xã hội Pháp luật tạo khuôn mẫu cho các hành vi của chủ thể Nhờ đó, các chủ thể có những xử sự phù hợp với ý chí của nhà nước và tạo nên một trật tự xã hội nhất định Pháp luật giúp tránh xung đột giữa các chủ thể thông qua các hệ thống các quy tắc cho phép các chủ thể làm hoặc không được làm những việc nhất định
Pháp luật tạo nên công lý Pháp luật tạo sự công bằng giữa các thành viên trong xã hội, chia sẻ lợi ích giữa các thành viên trong xã hội Pháp luật giúp thay các quan hệ vũ lực, kẻ mạnh người yếu bằng quan hệ công bằng giữa người với người bằng các chế định về giao dịch, về hợp đồng trong các ngành, các lĩnh vực khác nhau của đời sống xã hội, Pháp luật giúp cân bằng lại lợi ích giữa các thành viên trong xã hội bằng các đạo luật như đạo luật về thuế, về bảo hiểm xã hội, về giáo dục,
Pháp luật phục vụ, bảo vệ lợi ích của giai cấp thống trị Về mặt bản chất, pháp luật là công cụ của nhà nước, của giai cấp thống trị, do vậy, pháp luật vẫn luôn hướng tới mục đích căn bản của mình là phục vụ và bảo vệ lợi ích của giai cấp thống trị Mục đích này được cụ thể hóa thông qua các đạo luật, thông qua các quy phạm pháp luật
Phân biệt pháp luật với các hệ thống quy tắc xử sự khác trong xã hội Trong xã hội, hành vi của các chủ thể được điều chỉnh bởi nhiều hệ thống quy tắc xử sự khác nhau, gọi chung là các quy phạm xã hội Điểm chung của các quy phạm xã hội là đều nhằm mục đích điều chỉnh hành vi của các chủ thể trong xã hội, đều được một nhóm người, một cộng đồng người hoặc toàn xã hội công nhận và thực hiện theo Tuy nhiên, giữa các quy phạm này có sự khác biệt
o Phân biệt pháp luật với đạo đức và tôn giáo Cả pháp luật, đạo đức và tôn giáo đều là những hình thái ý thức xã hội được hình thành nhằm điều chỉnh xử sự của con người trong xã hội
o Phân biệt pháp luật với tôn giáo
Khái niệm tôn giáo: là hệ thống tín ngưỡng và phong tục thể hiện mối liên hệ giữa con người với đấng sáng tạo hoặc thần thánh Là hình thái ý thức xã hội phản ánh xã hội một cách hư ảo được một bộ phận quần chúng tin theo, tôn thờ theo những lễ nghi, lề luật chặt chẽ
Tôn giáo bao gồm các quy tắc xử sự về trách nhiệm, quyền, nghĩa vụ của những người theo tôn giáo đó, những nghi lễ, cách ứng xử cần thiết mà mỗi tín đồ cần thực hiện Các quy tắc trong tôn giáo có tính bắt buộc đối với người theo tôn giáo đó (tính bắt buộc thể hiện thông qua các chế tài, hình phạt)
Các quy tắc này không do nhà nước ban hành mà do các tổ chức tôn giáo tự
đề ra nhằm phục vụ cho sự tồn tại và phát triển của tôn giáo đó
o Phân biệt pháp luật với đạo đức
Khái niệm đạo đức: Là những tiêu chuẩn, nguyên tắc được dư luận xã hội thừa nhận, quy định hành vi, quan hệ của con người đối với nhau, đối với xã hội (Theo Từ điển Tiếng Việt) Cụ thể, đạo đức là hệ thống những quy tắc xử
sự của con người, của tập thể, của cộng đồng được hình thành trên cơ sở quan
Trang 5niệm về cái thiện, cái ác, về sự công bằng, về nghĩa vụ, lương tâm, danh dự, nhân phẩm và về những phạm trù khác thuộc đời sống tinh thần của xã hội Các quy tắc đạo đức làm cho quan hệ giữa con người với con người được tốt đẹp
Các quy tắc đạo đức không mang tính bắt buộc theo phương thức cưỡng chế nhà nước như pháp luật Các quy tắc đạo đức được thực hiện bằng niềm tin, lương tâm, nhận thức của mỗi cá nhân hoặc do sức ép của dư luận xã hội chứ không được đảm bảo thực hiện bằng sức mạnh quyền lực của nhà nước Do vậy, việc thực hiện đạo đức mang tính tự giác, tự nguyện, tự thân, thể hiện tính chủ quan của người thực hiện
Đạo đức là hình thái ý thức xã hội xuất hiện trước pháp luật Trong xã hội có giai cấp đối kháng thì đạo đức mang tính giai cấp và tồn tại cả hai hệ thống đạo đức của giai cấp thống trị của giai cấp bị trị Giai cấp nào thống trị xã hội thì đạo đức biểu hiện đặc trưng cho xã hội ấy Trong khi đó, chỉ có một hệ thống pháp luật chung thể hiện ý chí của giai cấp thống trị nhằm mục đích quản lý xã hội trong vòng trật tự
Mối quan hệ giữa pháp luật với tôn giáo, đạo đức
o Pháp luật với tôn giáo
Ảnh hưởng qua lại giữa tôn giáo và pháp luật thể hiện ở điểm các quy tắc xử
sự của tôn giáo có thể trở thành pháp luật Nhưng pháp luật cũng có thể làm cản trở các quy tắc xử sự tôn giáo Ví dụ: Pháp luật của Pháp cấm phụ nữ hồi giáo được che mạng trong trường học của Pháp
Mức độ ảnh hưởng của tôn giáo đến pháp luật phụ thuộc vào mức độ phi tôn giáo của nhà nước Ví dụ: Pháp luật của các quốc gia theo đạo Hồi sẽ chịu ảnh hưởng nhiều của Hồi giáo
o Pháp luật với đạo đức
Pháp luật và đạo đức có mối liên hệ khăng khít với nhau Pháp luật sẽ bị vi phạm nếu xã hội có môi trường đạo đức tha hóa Ngược lại, pháp luật không nghiêm cũng ảnh hưởng xấu đến đời sống môi trường đạo đức
Dù pháp luật là công cụ quản lý của nhà nước, thể hiện quan điểm lợi ích của giai cấp thống trị, cầm quyền nhưng pháp luật cũng phản ánh, thể hiện những quan điểm, chuẩn mực ứng xử của các tầng lớp xã hội, các cộng đồng dân cư, đặc biệt là những quan điểm đạo đức mang tính truyền thống, sâu sắc Trong
xã hội càng phát triển thì những chuẩn mức càng được luật pháp hóa Do vậy, mối quan hệ giữa pháp luật và đạo đức càng chặt chẽ hơn
Đạo đức có vai trò quan trọng trong việc xác định nội dung của pháp luật Trong pháp luật luôn chứa đựng, thể hiện các nội dung đạo đức Đạo đức là
cơ sở để hình thành các chuẩn mực pháp luật Có thể thấy những giá trị cơ bản nhất của pháp luật là công bằng, bình đẳng, tự do, lẽ phải, bác ái cũng là những giá trị đạo đức cao cả mà con người luôn hướng tới Các quy tắc đạo đức phổ biến, phù hợp với sự phát triển và tiến bộ xã hội luôn được đưa vào trong các quy phạm pháp luật, nhất là pháp luật trong các lĩnh vực hôn nhân
và gia đình, văn hóa, xã hội, giáo dục Ngay cả trong các quan hệ thương mại,
Trang 6các quy tắc đạo đức có thể trở thành pháp luật như nguyên tắc giao kết hợp đồng trung thực, thiện chí Chính các yếu tố đạo đức trong nội dung của pháp luật khiến pháp luật trở nên gần gũi, dễ được người dân chấp nhận và tuân thủ một cách tự nguyện Do vậy, đạo đức là cơ sở, động lực thúc đẩy người dân thực hiện nghiêm chỉnh pháp luật Thực tế cho thấy, nếu đạo đức xuống cấp thì dù pháp luật có nghiêm đến mấy cũng trở nên vô nghĩa Ngược lại pháp luật không nghiêm thì sẽ làm rối loạn kỷ cương, đạo đức xã hội
Pháp luật cũng củng cố, bảo vệ các quy tắc đạo đức phù hợp với lợi ích của giai cấp thống trị, phù hợp với sự phát triển văn minh của xã hội Ví dụ như việc quy định chế tài, hình phạt đối với hành vi trộm cắp, gian dối, lừa đảo giúp cho quan hệ giữa con người với con người được tốt đẹp hơn
Pháp luật củng cố quy tắc đạo đức của người con đối với người cha khi quy định nghĩa vụ nuôi dưỡng cha mẹ Pháp luật cũng hạn chế, loại trừ những quy tắc đạo đức không phù hợp, đi ngược lại với lợi ích của giai cấp thống trị, với tiến bộ xã hội Pháp luật góp phần hình thành những quan điểm, quy tắc đạo đức tiến bộ phù hợp với xã hội văn minh
Thực tế cuộc sống cho thấy phải kết hợp giữa pháp luật và đạo đức để điều chỉnh các quan hệ xã hội Pháp luật cần được xây dựng trên cơ sở và phù hợp với đạo đức tiến bộ
4.1.2 Đặc điểm của pháp luật
Từ khái niệm của pháp luật suy ra đặc điểm của pháp luật Đây là những điểm phân biệt pháp luật với những khái niệm khác
o Pháp luật có ba đặc điểm
Tính quy phạm phổ biến
Tính được đảm bảo bằng nhà nước
Tính xác định chặt chẽ về mặt hình thức
Phân tích tính quy phạm phổ biến
o Pháp luật là hệ thống các quy tắc xử sự chung làm khuôn mẫu, chuẩn mức để hướng dẫn, kiểm tra, đánh giá hành vi, xử sử của các cá nhân, tổ chức trong xã hội Đây chính là tính quy phạm của pháp luật Tính quy phạm của pháp luật giúp phân biệt pháp luật với các mệnh lệnh cá biệt Tuy nhiên, không chỉ pháp luật mới có tính quy phạm Các quy phạm xã hội khác như đạo đức, tôn giáo, tập quán, cũng có tính quy phạm
o Đặc điểm giúp phân biệt pháp luật với các quy phạm xã hội khác là tính quy phạm phổ biến Tính quy phạm phổ biến thể hiện ở điểm pháp luật có tính bao quát, rộng khắp Hiệu lực của pháp luật có khả năng bao trùm trên toàn bộ lãnh thổ quốc gia đối với bất kỳ ai, không phân biệt giới tính, địa vị xã hội, tôn giáo, vùng miền,
Trang 7 Pháp luật áp dụng đến tất cả các chủ thể thuộc đối tượng áp dụng và phạm vi điều chỉnh của pháp luật.Đối tượng áp dụng của pháp luật là các chủ thể thực hiện hành vi, tham gia vào các quan hệ xã hội mà các quy phạm pháp luật điều chỉnh Chỉ những chủ thể thuộc đối tượng áp dụng của pháp luật mới phải thực hiện các quy phạm pháp luật Phạm vi điều chỉnh của pháp luật là giới hạn các quan hệ xã hội mà pháp luật cụ thể điều chỉnh Ví dụ: pháp luật thương mại điều chỉnh các quan hệ phát sinh trong hoạt động thương mại Nếu các chủ thể thuộc đối tượng áp dụng và phạm vi điều chỉnh của pháp luật thì tất cả đều phải thực hiện pháp luật ở mọi nơi, mọi lúc Pháp luật được thực hiện như nhau đối với các chủ thể
Pháp luật không hướng tới một cá nhân cụ thể nào, dù có thể hướng tới một số nhóm đối tượng nhất định Ví dụ: Luật cán bộ công chức có đối tượng áp dụng là các cán bộ công chức Nếu như các chủ thể thuộc đối tượng điều chỉnh của pháp luật thì dù người đó có giàu hay nghèo, có địa vị hay không có địa vị trong xã hội, có tôn giáo hay không có tôn giáo, là nam hay nữ đều phải chịu sự điều chỉnh của pháp luật
Tính quy phạm phổ biến của pháp luật còn thể hiện ở phạm vi điều chỉnh của pháp luật, pháp luật được thiết lập để điều chỉnh các quan hệ xã hội trên phạm
vi lãnh thổ Việt Nam, bao hàm cả phần lãnh thổ trên đất liền, phần hải đảo và phần lãnh thổ trên không trung Ngoài ra, trong một số trường hợp nhất định, pháp luật còn điều chỉnh các các quan hệ ở ngoài lãnh thổ quốc gia
o Tính quy phạm phổ biến của pháp luật xuất phát từ quyền lực nhà nước Bởi quyền lực nhà nước là duy nhất và bao trùm toàn bộ lãnh thổ quốc gia Pháp luật
là công cụ để thực hiện quyền lực nhà nước, do vậy, pháp luật có tính quy phạm phổ biến Hệ quả là mọi cá nhân, tổ chức sống trên lãnh của nhà nước đều phải thực hiện pháp luật
o Phân biệt pháp luật với tôn giáo, với các quy tắc xử sự khác
Tôn giáo: Các quy tắc tôn giáo chỉ áp dụng cho những người theo tôn giáo đó
Tập quán về nguyên tắc chỉ có giá trị áp dụng bắt buộc trong từng vùng, từng địa phương nhất định
Các quan niệm đạo đức của các giai cấp, của các tầng lới xã hội khác nhau cũng khác nhau
Các quy tắc trong một ngành, nghề chỉ áp dụng cho những người làm trong ngành, nghề đó
Phân tích tính được đảm bảo bằng nhà nước
o Chỉ Nhà nước là chủ thể ban hành pháp luật
Đây là đặc điểm phân biệt pháp luật với hệ thống các quy phạm xã hội khác
Nhà nước là chủ thể có thẩm quyền tự ban hành các quy phạm pháp luật hoặc thừa nhận các quy phạm xã hội là các quy phạm pháp luật thông qua các trình
tự, thủ tục nhất định
Các quy tắc xử sự không do Nhà nước hoặc không được Nhà nước thừa nhận
sẽ không phải là các quy phạm pháp luật, không phải là pháp luật
Trang 8o Thông qua bộ máy các cơ quan của mình, nhà nước tạo ra pháp luật, thừa nhận pháp luật
Nhà nước thiết lập một hệ thống các cơ quan nhằm xây dựng, ban hành pháp luật Chỉ những cơ quan được nhà nước trao quyền mới được quyền xây dựng, ban hành pháp luật
Đối với những quy tắc xử sự không phải do Nhà nước ban hành, nhưng được Nhà nước thừa nhận là pháp luật cũng phải tuân thủ những quy định về thẩm quyền, trình tự, thủ tục, hình thức và nội dung ban hành của quy phạm pháp luật
o Nhà nước cũng là chủ thể tổ chức thực hiện và bảo đảm thực hiện pháp luật
Nhà nước thiết lập một hệ thống các cơ quan nhằm thực hiện và bảo đảm thực hiện pháp luật Các cơ quan này được thiết lập từ trung ương đến địa phương một cách chặt chẽ, có hệ thống Các cơ quan này có nhiệm vụ tổ chức thực hiện pháp luật, giám sát, kiểm tra việc thực hiện pháp luật cũng như cưỡng chế thực hiện Nếu các chủ thể vi phạm pháp luật sẽ dẫn đến khả năng gánh chịu trách nhiệm pháp lý Trách nhiệm pháp lý này được xác định trên cơ sở loại quan hệ xã hội được điều chỉnh, hành vi của chủ thể và mức độ thiệt hại xảy ra, Trách nhiệm hình sự, trách nhiệm hành chính là những loại trách nhiệm thể hiện rõ nét nhất tính cưỡng chế nhà nước của pháp luật Thiếu tính cưỡng chế, tính bắt buộc của pháp luật khó được đảm bảo Tuy nhiên, pháp luật không đồng nghĩa với hình phạt, sự cưỡng chế
Đây cũng là đặc điểm phân biệt pháp luật với các quy phạm xã hội khác Các quy tắc đạo đức được đảm bảo thực hiện bởi chế tài "bên trong" là lương tâm của người thực hiện và "chế tài bên ngoài" là dư luận xã hội Các quy tắc tôn giáo được đảm bảo thực hiện bằng niềm tin tôn giáo và sức mạnh của bản thân tôn giáo Các quy tắc tập quán được đảm bảo thực hiện bằng thói quen hành vi, bằng sự tự nguyện của người thực hiện và bằng dư luận xã hội Các quy tắc của tổ chức chính trị xã hội được đảm bảo thực hiện bởi chính tổ chức
đó và trong khuôn khổ pháp luật cho phép
Phân tích tính xác định chặt chẽ về mặt hình thức
o Kết cấu của các quy phạm pháp luật được xác định rõ ràng, chặt chẽ và có tính chính xác cao
Đây là đặc điểm phân biệt pháp luật với hệ thống các quy phạm xã hội khác
Sự rõ ràng, chặt chẽ và có tính chính xác cao này nhằm đảm bảo việc thực hiện chức năng điều chỉnh của pháp luật Theo đó, bất kỳ ai đặt trong hoàn cảnh, điều kiện được dự liệu trước sẽ không thể làm khác những khuôn mẫu, chuẩn mực được quy định Sự rõ ràng, chặt chẽ, chính xác của pháp luật cũng giúp các chủ thể thực hiện hiểu rõ những gì được phép làm, những xử sự cần phải làm và những hành vi bị cấm thực hiện
o Hình thức thể hiện của pháp luật cũng được xác định rõ ràng, chặt chẽ và với những dạng nhất định
Trang 9 Pháp luật được quy định rõ ràng, chặt chẽ trong các khoản, các điều, các văn bản quy phạm pháp luật nhất định Tên gọi, cách thức ban hành và giá trị pháp
lý của các văn bản quy phạm pháp luật này là khác nhau Ví dụ: Hiến pháp, Luật, Pháp lệnh, Nghị định, Thông tư,
Các quy phạm pháp luật được soạn thảo, ban hành hoặc thừa nhận thông qua các trình tự, thủ tục nhất định, được quy định rõ
4.1.3 Bản chất của pháp luật
"Bản chất của pháp luật là những thuộc tính bền vững tạo nên nội dung, cốt lõi bên trong của pháp luật, quyết định sự tồn tại và phát triển của pháp luật" (PGS TS Nguyễn Văn Động (2010), Giáo trình Lý luận chung về nhà nước và pháp luật, NXB
Tư pháp, trang152)
o Pháp luật ra đời trên cơ sở ý chí của giai cấp thống trị, cầm quyền, của cộng đồng xã hội được nâng lên thành các quy tắc xử sự chung do nhà nước ban hành Pháp luật là công cụ quản lý xã hội của nhà nước theo lợi ích của giai cấp cầm quyền
o Mục đích của pháp luật là nhằm điều chỉnh hành vi của các chủ thể trong xã hội, điều chỉnh các quan hệ xã hội
Để giảm bớt sự đối kháng giai cấp, nhằm thực hiện được mục tiêu quản lý xã hội của nhà nước và sâu xa hơn là nhằm phục vụ lợi ích của giai cấp thống trị, pháp luật cũng thể hiện sự thỏa hiệp giai cấp bằng việc thừa nhận, bảo vệ ở mức độ nhất định lợi ích của các thành viên trong xã hội
Bản chất của pháp luật thể hiện ở: Tính giai cấp và tính xã hội
o Pháp luật thể hiện tính giai cấp bởi pháp luật là công cụ quản lý của nhà nước
Mà nhà nước là sản phẩm của xã hội có giai cấp
Tính giai cấp thể hiện qua quá trình tạo lập nên nhà nước Trên cơ sở sự hình thành của nhà nước, pháp luật được hình thành Do vậy, pháp luật cũng thể hiện tính giai cấp
Nhu cầu hình thành pháp luật là nhằm thiết lập trật tự xã hội theo mục đích của giai cấp thống trị Pháp luật phản ánh ý chí của giai cấp thống trị
Nhờ nắm trong tay quyền lực nhà nước, giai cấp thống trị đã thông qua nhà nước để thể hiện ý chí của giai cấp mình một cách tập trung, thống nhất thông qua hệ thống các văn bản pháp luật do nhà nước ban hành và các hoạt động áp dụng pháp luật của nhà nước
o Pháp luật được thiết lập nhằm mục đích phục vụ và bảo vệ quyền lợi của giai cấp thống trị, bảo vệ và phát triển những giá trị mà giai cấp thống trị theo đuổi
Mục đích của pháp luật là tạo ra một trật tự xã hội ổn định, phù hợp với lợi ích của giai cấp thống trị Như vậy, pháp luật thể hiện sự thống trị của giai cấp thống trị đối với các giai cấp khác, tầng lớp khác
C.Mac và Ph Anghen khi nghiên cứu về giai cấp tư sản đã khẳng định: "Pháp luật của các ông chỉ là ý chí của giai cấp của các ông đề lên thành luật pháp,
Trang 10cái ý chí mà nội dung là do những điều kiện sinh hoạt vật chất của giai cấp các ông quyết định"
Ví dụ, pháp luật của nhà nước tư sản luôn hướng tới việc bảo vệ quyền lợi của giai cấp tư sản Pháp luật của nhà nước phong kiến luôn bảo vệ quyền lợi của vua chúa, của giai cấp địa chủ Pháp luật xã hội chủ nghĩa mang bản chất của giai cấp công nhân, mà đại diện là nhà nước của nhân dân lao động Mọi người đều được sống tự do, bình đẳng, bảo đảm thực sự dân chủ và công bằng
xã hội…
o Pháp luật thể hiện tính xã hội
Là sản phẩm của nhà nước, bên cạnh việc phục vụ lợi ích của giai cấp thống trị, pháp luật còn nhằm phục vụ nhu cầu của các thành viên trong xã hội Thuộc tính xã hội là một thuộc tính khách quan, tất yếu và phổ biến của pháp luật
Để duy trì sự ổn định và phát triển của xã hội, nhà nước phải quan tâm đến ý chí và lợi ích của các giai cấp, các tầng lớp khác trong xã hội, phải giải quyết các vấn đề phát sinh trong xã hội như: tội phạm, thất nghiệp, tệ nạn xã hội, môi trường…
Pháp luật được hình thành xuất phát từ nhu cầu của cuộc sống chung giữa con người với con người Pháp luật được thiết lập để xây dựng một cộng đồng xã hội văn minh Do vậy, pháp luật phải bao quát tất cả nội dung của cuộc sống
xã hội Nó phải tuân thủ và giải quyết nhiều yêu cầu của xã hội con người và các yêu cầu đó về nguyên tắc có ảnh hưởng lẫn nhau, có khi loại trừ nhau Các quy phạm pháp luật bắt nguồn từ thực tiễn đời sống xã hội, phản ánh những nhu cầu, lợi ích của các giai cấp và các tầng lớp trong xã hội, được các
cá nhân, các cộng đồng dân cư, các tầng lớp khác nhau trong xã hội chấp nhận, coi là chuẩn mực, là quy tắc xử sự chung Các hành vi xử sự của cá nhân, tổ chức, cộng đồng dân cư phù hợp với những quy định của pháp luật làm cho xã hội phát triển trong vòng trật tự, ổn định, quyền và lợi ích hợp pháp luật của mỗi người đều được tôn trọng Sự vận hành của các quan hệ
xã hội được điều chỉnh bằng pháp luật và phù hợp với quy định của pháp luật tạo nên một trật tự xã hội đặc biệt, đó là trật tự pháp luật, cấu thành của trật tự
xã hội
Giá trị xã hội của pháp luật thể hiện ở chỗ pháp luật là thước đo hành vi của con người, là công cụ để nhận thức xã hội và điều chỉnh các quan hệ xã hội phù hợp với quy luật phát triển khác quan Thông qua pháp luật, những giá trị của xã hội, những giá trị mà cả cộng đồng xã hội thừa nhận, trân trọng được bảo vệ và phát triển Ví dụ như quyền bình đằng giữa nam và nữ, sự trân trọng đối với người phụ nữ, …
Dựa vào pháp luật, có thể xác định được sự tiến bộ, mức độ phát triển của xã hội Mức độ phát triển của pháp luật chịu ảnh hưởng vào mức độ phát triển của xã hội Do vậy, giá trị xã hội của các kiểu pháp luật khác nhau rất khác nhau Giá trị xã hội của pháp luật chủ nô khác với giá trị xã hội của pháp luật
tư sản hoặc pháp luật xã hội chủ nghĩa Tuy nhiên, có thể thấy rằng, ở mức độ
Trang 11nhất định, pháp luật chủ nô cũng đóng vai trò vô cùng quan trọng trong quá trình tiến hóa của xã hội Cùng với sự phát triển lịch sử của pháp luật giá trị
xã hội của pháp luật ngày càng tăng lên, đặt biệt là đối với pháp luật xã hội chủ nghĩa
Trong thời đại hiện nay, tính xã hội của pháp luật không chỉ bó hẹp trong phạm vi một quốc gia, mà còn mở rộng, có quan hệ đến nhiều quốc gia trong khu vực và lan rộng ra toàn thế giới
o Tóm lại, pháp luật là một hiện tượng vừa mang tính giai cấp vừa mang tính xã hội sâu sắc Hai thuộc tính này có mối liên hệ với nhau, tác động qua lại lẫn nhau Do những điều kiện khách quan và chủ quan, sự thể hiện tính giai cấp và tính xã hội của pháp luật là khác nhau trong các kiểu nhà nước
Ý nghĩa của việc hiểu bản chất của pháp luật
o Hiểu được bản chất của pháp luật giúp xác định được nội dung của pháp luật cũng như mục tiêu của pháp luật:
Bản chất của pháp luật giúp xác định được nội dung các quy định của pháp luật Chúng ta sẽ giải thích được tại sao các quan hệ xã hội này được điều chỉnh và tại sao được điều chỉnh như thế Ví dụ, hiểu được bản chất của pháp luật tư sản giúp hiểu được việc ban hành các đạo luật về các công ty đa quốc gia, các đạo luật về chống quốc hữu hóa của nhà nước tư sản
Bản chất của pháp luật giúp xác định được mục tiêu của pháp luật Mục tiêu của pháp luật là những kết quả mà pháp luật hướng tới thông qua việc ban hành các quy tắc để điều chỉnh hành vi của các chủ thể, cũng như quan hệ giữa các chủ thể trong xã hội Ví dụ, hiểu được bản chất của pháp luật xã hội chủ nghĩa giúp xác định được mục tiêu của pháp luật xã hội chủ nghĩa là xây dựng một xã hội công bằng cho tất cả mọi người dân, mang lại lợi ích cho tất
cả thành viên trong xã hội
o Bản chất của pháp luật giúp chúng ta xác định được pháp luật đó là của ai, do ai
và vì ai
Việc xác định được nội dung, mục tiêu của pháp luật sẽ giúp ta xác định được pháp luật này thực chất là mang lại lợi ích cho ai, phục vụ quyền và lợi ích của ai Nhất là trong xã hội có giai cấp
Trong xã hội có giai cấp, pháp luật được coi như một công cụ để bảo vệ và phục vụ quyền lợi của giai cấp thống trị
Bản chất của pháp luật giúp chúng ta phân biệt được các kiểu pháp luật Bởi bản chất của pháp luật quyết định kiểu pháp luật Giống như bản chất của nhà nước quyết định kiểu nhà nước
4.2 Chức năng của pháp luật
Chức năng của pháp luật được hiểu là những tác động chủ yếu của pháp luật tới các quan
hệ xã hội mà pháp luật điều chỉnh Chức năng của pháp luật cũng có thể được hiểu là những phương diện, mặt hoạt động chủ yếu của pháp luật thể hiện bản chất giai cấp và ý nghĩa xã hội của pháp luật
Trang 124.2.1 Chức năng điều chỉnh
Đây là chức năng đầu tiên của pháp luật Chức năng điều chỉnh thể hiện sự tác động của pháp luật đến hành vi của con người, hướng dẫn hành vi của con người theo những khuôn mẫu nhất định nhằm thực hiện những mục tiêu mà nhà nước hướng tới
o Pháp luật tác động đến hành vi của con người, hướng dẫn hành vi của con người
Nhu cầu điều chỉnh hành vi của con người, điều chỉnh mối quan hệ giữa con người với con người chính là nguyên nhân và động cơ dẫn đến sự hình thành pháp luật ở mỗi quốc gia
Pháp luật hướng hành vi của con người theo những khuôn mẫu nhất định Chức năng điều chỉnh giúp cho hành vi của con người được tiết chế Theo đó, những hành vi xấu đối với người khác, đối với xã hội bị kiểm soát Chức năng điều chỉnh của pháp luật giúp tạo nên trật tự xã hội
Về vấn đề điều chỉnh hành vi con người, có nhiều thuyết: Thuyết đức trị/nhân trị và Thuyết pháp trị Thuyết đức trị/nhân trị (Khổng tử) chủ trường dùng đức
để cai trị xã hội: Đề cao cái đức của kẻ cầm quyền Mục đích là tạo ổn định trật tự xã hội, thuần hóa dân chúng Mặt khác nhằm phản đối nền chính trị hà khắc, tàn bạo dễ làm đân chúng oán giận mà nổi dậy chống đối Thuyết pháp trị (Hàn Phi) chủ trương dùng pháp luật để cai trị xã hội: Người theo phái pháp gia cho rằng bản tính con người là ác, con người thuộc tính ác, yếu, hèn,
dễ phạm sai lầm, nên phải dùng hình phạt thật nghiêm khắc để sai khiến và giáo hóa được họ Ở Việt Nam, Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ VI (1986) đã xác định: "quản lý đất nước bằng pháp luật chứ không phải bằng đạo lý" Quản lý đất nước bằng pháp luật đặt ra như một nhu cầu khách quan để thiết lập trật tự, kỷ cương xã hội và cao hơn nữa là sự tồn tại vững mạnh của đất nước
o Pháp luật tác động đến nhận thức của con người theo những mục tiêu mà nhà nước đặt ra
Những quy định của pháp luật tạo nên các khuôn mẫu, chuẩn mực về hành vi cho các chủ thể trong xã hội Qua hệ thống các quy phạm này các chủ thể nhận thức được tính đúng đắn trong xử sự, hành vi của mình, xác định được cách xử sự, hành vi cần phải được thực hiện trong những hoàn cảnh, điều kiện tương tự Pháp luật, trên cơ sở đưa ra những qui định nhằm thực hiện những mục tiêu nhất định của nhà nước và giai cấp cầm quyền, sẽ tạo nên nhận thức chung của người dân và xã hội theo những mục tiêu mang tính chủ quan đó
Việc áp dụng pháp luật của các cơ quan nhà nước nói riêng và thực hiện pháp luật của tất cả các chủ thể trong xã hội nói chung tạo nên nhận thức của các chủ thể về pháp luật, về các mục tiêu mà nhà nước đặt ra Quá trình thực hiện pháp luật của các chủ thể một mặt nhằm thực hiện mục tiêu quản lý của nhà nước, nhưng mặt khác cũng có tác động trở lại tới nhà nước trong việc điều chỉnh mục tiêu của mình trong từng thời kỳ nhất định với những điều kiện cơ bản nhất định
o Pháp luật tác động đến các quan hệ xã hội, giúp cho xã hội được ổn định, phát triển theo hướng, theo mục tiêu mà nhà nước xác định
Trang 13 Pháp luật thay thế các quan hệ dựa trên sức mạnh của các chủ thể trong xã hội bằng các quan hệ pháp lý Pháp luật bảo đảm cho các chủ thể trong xã hội là các chủ thể bình đẳng
Những cách xử sự có lợi cho xã hội nhằm thiết lập trật tự xã hội và những cách xử sự có hại cho xã hội sẽ được pháp luật điều chỉnh nhằm mục đích thiết lập và giữ gìn trật tự xã hội theo chiều hướng mà nhà nước mong muốn
Chức năng điều chỉnh của pháp luật giúp nhà nước thực hiện được các mục tiêu của mình Với chức năng điều chỉnh, pháp luật trở thành một trong những công cụ quản lý của nhà nước nhằm thực hiện các chức năng của nhà nước
Ví dụ, với mục tiêu bảo vệ môi trường, nhà nước xây dựng và ban hành pháp luật về bảo vệ môi trường qua đó điều chỉnh hành vi của các chủ thể theo hướng bảo vệ môi trường
Mức độ, nội dung điều chỉnh của pháp luật thay đổi phụ thuộc vào ý chí, thái độ của của nhà nước, của giai cấp thống trị đối với các quan hệ xã hội đó
o Pháp luật không điều chỉnh tất cả các quan hệ xã hội mà chỉ điều chỉnh những quan hệ mà nhà nước cho là quan trọng, có tính chất điển hình và phổ biến có ảnh hưởng đến lợi ích của giai cấp thống trị hoặc/và của toàn xã hội
Không phải mọi quan hệ xã hội đều được pháp luật điều chỉnh Có những quan hệ xã hội sau một thời gian phát sinh mới được điều chỉnh Ví dụ: quan
hệ mang thai hộ Sự điều chỉnh của pháp luật phụ thuộc không chỉ vào ý chí của giai cấp thống trị, của nhà nước mà còn vào trình độ nhận thức của xã hội, điều kiện vật chất của xã hội, truyền thống văn hóa, dân tộc, Có những quan
hệ xã hội chưa được pháp luật điều chỉnh dù đang ngày càng phổ biến trong
xã hội như quan hệ hôn nhân đồng giới, vấn đề xác định lại giới tính cho người chuyển giới,
Thông qua pháp luật, nhà nước thể hiện thái độ, sự quan tâm của mình đến các quan hệ xã hội phát sinh Có những quan hệ xã hội nhà nước thấy cần thiết phải hạn chế phát triển, thậm chí loại bỏ hoặc ngược lại, có những quan
hệ xã hội nhà nước lại muốn khuyến khích phát triển
Sự điều chỉnh của pháp luật đến các quan hệ xã hội có thể thay đổi theo thời gian, tùy vào quan điểm của nhà nước, của giai cấp thống trị, của xã hội đối với quan hệ xã hội đó Quay trở lại ví dụ về quan hệ mang thai hộ, hôn nhân đồng giới
o Chức năng điều chỉnh của pháp luật thể hiện thông qua các hình thức ngăn cấm, bắt buộc, cho phép hoặc khuyến khích các chủ thể thực hiện những hành vi nhất định
Pháp luật ngăn cấm thực hiện những hành vi nhất định thông qua các quy phạm pháp luật ngăn cấm
Pháp luật bắt buộc các chủ thể thực hiện những hành vi nhất định thông qua các quy phạm bắt buộc hoặc mệnh lệnh
Pháp luật cho phép thực hiện các hành vi thông qua các quy phạm cho phép hoặc giao quyền
Trang 14o Mức độ, nội dung điều chỉnh của pháp luật phụ thuộc vào thái độ, ý chí của nhà nước, sự nhận thức của các chủ thể xây dựng pháp luật, nhận thức của cộng đồng
xã hội đối với các quan hệ xã hội đó
Có những quan hệ xã hội nhà nước điều chỉnh chi tiết, cụ thể, nhưng lại có những quan hệ xã hội nhà nước lại cho rằng không cần thiết phải điều chỉnh
Có những quan hệ xã hội pháp luật chỉ tạo ra cái khung pháp lý để cho các chủ thể được tự do thực hiện trong cái khung đó Ví dụ trong quan hệ hợp đồng, có những loại hợp đồng pháp luật cho phép các chủ thể được tự do lựa chọn hình thức của hợp đồng và chỉ quy định những vấn đề liên quan đến hiệu lực của hợp đồng Có những quan hệ xã hội pháp luật lại quy định một cách chi tiết nội dung các hành vi mà các chủ thể phải thực hiện Ví dụ như quan
hệ thừa kế, quan hệ về nhận nuôi con nuôi,…
Nếu nhà nước cho rằng các quan hệ xã hội đó là quan trọng, có ảnh hưởng đến lợi ích của cộng đồng của nhà nước thì nhà nước sẽ can thiệp sâu đến hành vi của các chủ thể để hướng các hành vi đó thực hiện được đúng các mục tiêu mà nhà nước đặt ra
Đối với những quan hệ xã hội không có ảnh hưởng nhiều đến cộng đồng xã hội, đến quyền và lợi ích của nhà nước, nhà nước có thể chỉ định ra khung pháp lý cho phép các chủ thể thực hiện hành vi nhằm đảm bảo cho các hành
vi này không làm ảnh hưởng đến việc thực hiện mục tiêu của nhà nước
Phụ thuộc vào sự nhận thức của các chủ thể xây dựng pháp luật mà mức độ điều chỉnh, nội dung điều chỉnh đến các quan hệ xã hội của pháp luật có sự khác nhau theo từng thời kỳ
4.2.2 Chức năng phản ánh
Chức năng phản ánh của pháp luật thể hiện ở điểm thông qua pháp luật có thể nhận diện sự phát triển của xã hội, nhu cầu khách quan của đời sống xã hội, ý chí của giai cấp thống trị
o Pháp luật phản ánh sự phát triển của cơ sở kinh tế – xã hội, nhu cầu khách quan của đời sống kinh tế – xã hội
Pháp luật phản ánh trình độ phát triển của xã hội, của nền kinh tế Thông qua các quan hệ xã hội được pháp luật điều chỉnh có thể nhận thấy được mức độ phát triển của nền kinh tế, của cơ sở hạ tầng xã hội Ví dụ, thông qua pháp luật có thể phân biệt được một xã hội chậm phát triển với một xã hội phát triển, một nền kinh tế lạc hậu với một nền kinh tế hiện đại
Pháp luật phản ánh nhu cầu khách quan của đời sống kinh tế Ví dụ, thông qua pháp luật có thể thấy được nhu cầu của người dân về vấn đề bảo vệ môi trường, về vấn đề bảo đảm an toàn cho các giao dịch thương mại điện tử, vấn
đề trao đổi thương mại quốc tế, …
o Sự phản ánh của pháp luật không mang tính thụ động mà có tính độc lập tương đối với các quan hệ kinh tế, xã hội
Trang 15 Tính chất của các quan hệ kinh tế, của các quan hệ xã hội quyết định tính chất của các quan hệ pháp luật, mức độ và phương pháp điều chỉnh của pháp luật Các tổ chức, thiết chế pháp lý chịu ảnh hưởng quyết định từ chế độ kinh tế –
xã hội
Tuy nhiên, pháp luật cũng tác động trở lại đối với nền kinh tế, xã hội Nếu pháp luật được xây dựng phù hợp với các quy luật phát triển kinh tế – xã hội thì sẽ tác động tích cực tới sự phát triển kinh tế, đến cách tổ chức, vận hành toàn bộ nền kinh tế cũng như cơ cấu bên trong của nền kinh tế một cách có hiệu quả
Nếu pháp luật được xây dựng không phù hợp với các quy luật kinh tế – xã hội thì nó sẽ kìm hãm sự phát triển của nền kinh tế, sự phát triển của xã hội nói chung
o Pháp luật phản ánh khả năng nhận thức chủ quan của các chủ thể xây dựng pháp luật
Sự tác động của pháp luật đến nền kinh tế, đến xã hội phụ thuộc không nhỏ vào yếu tố chủ quan, khả năng nhận thức của các chủ thể xây dựng pháp luật
Thông qua các quy định của pháp luật, cách thức điều chỉnh của pháp luật, có thể nhận thấy được sự nhận thức của các chủ thể xây dựng pháp luật ở từng giai đoạn, ở từng thời kỳ là khác nhau
o Pháp luật phản ánh ý chí của nhà nước, của giai cấp thống trị đối với các quan hệ
Thông qua pháp luật, có thể xác định được những quan hệ xã hội đang được nhà nước khuyến khích phát triển
o Pháp luật cũng phản ánh được khả năng, mức độ quản lý của nhà nước đối với
do nhất định để tự quyết định hành vi của mình
4.2.3 Chức năng giáo dục
Chức năng giáo dục thể hiện sự tác động của pháp luật vào ý thức, tâm lý của con người trong xã hội, hướng hành vi của con người phù hợp với yêu cầu của pháp luật Khi thực hiện chức năng điều chỉnh các quan hệ xã hội nhằm thiết lập một trật tự xã hội nhất định, pháp luật tác động lên ý thức của con người bằng các biện pháp khuyến khích các hành
Trang 16vi có ích cho xã hội, trừng phạt các hành vi vi phạm pháp luật, qua đó pháp luật giáo dục con người thành công dân, cá nhân tốt trong xã hội
Pháp luật giáo dục con người nhận thức được cái tốt, cái xấu, nhận thức được những giá trị mà cộng đồng xã hội đề cao, bảo vệ
Ví dụ, pháp luật giúp con người nhận thức được những giá trị chung của cộng đồng thông qua các quy phạm pháp luật về bảo tồn di tích lịch sử, về bảo vệ bà mẹ và trẻ
em, quy định về các giá trị của gia đình, của làng xóm, của văn hóa truyền thống,…
Pháp luật giáo dục con người về cách xử sự của mình trong những hoàn cảnh, điều kiện nhất định
Từ giáo dục nhận thức, pháp luật hướng tới giáo dục hành vi của con người Thông qua việc xây dựng những khuôn mẫu ứng xử, pháp luật giúp con người xác định được cách xử sự của mình để hành động cho phù hợp Thông qua việc mô tả những hành vi được cho là sai trái và đưa ra các chế tài cụ thể, pháp luật giúp con người dự kiến được những hành vi không phù hợp để tránh thực hiện Trên cơ sở nhận thức được nội dung, yêu cầu của pháp luật, con người sẽ có những hành vi phù hợp Do vậy, pháp luật giáo dục hành vi của con người, hướng con người hành động hoặc không hành động vì lợi ích của cộng đồng, vì lợi ích của nhà nước
4.2.4 Chức năng bảo vệ
Với tư cách là công cụ quản lý nhà nước, pháp luật có chức năng bảo vệ những quan
hệ xã hội được cho là quan trọng, cần thiết cho trật tự xã hội, cho lợi ích của giai cấp thống trị, của nhà nước
o Pháp luật bảo vệ các quan hệ xã hội được cho là quan trọng, cần thiết cho trật tự
xã hội
Pháp luật bảo vệ các quan hệ xã hội là nền tảng của xã hội: quan hệ hôn nhân gia đình, quan hệ dân sự,… Pháp luật bảo vệ các quan hệ xã hội được quan trọng, cần thiết cho trật tự xã hội
Quan hệ xã hội được pháp luật điều chỉnh là các quan hệ xã hội được bảo vệ Pháp luật quy định những quyền và nghĩa vụ pháp lý nhất định cho các bên chủ thể tham gia quan hệ Với việc thực hiện các quyền và nghĩa vụ pháp lý này, lợi ích của các chủ thể tham gia quan hệ xã hội đó được bảo vệ Những người xâm phạm các quyền hoặc không thực hiện các nghĩa vụ pháp lý này sẽ
có khả năng phải chịu trách nhiệm pháp lý
Một quan hệ xã hội không được pháp luật điều chỉnh thì các chủ thể tham gia quan hệ xã hội đó sẽ không có công cụ pháp lý để bảo vệ những lợi ích của họ phát sinh từ quan hệ xã hội đó
o Pháp luật bảo vệ các quan hệ xã hội được cho là quan trọng, cần thiết cho lợi ích của nhà nước, của giai cấp thống trị
Pháp luật bảo vệ đường lối, chính sách của nhà nước, của giai cấp thống trị, cầm quyền
Pháp luật bảo vệ các quan hệ xã hội có mang lại lợi ích của giai cấp thống trị, cầm quyền
Trang 17 Chức năng bảo vệ của pháp luật được thực hiện như thế nào?
Pháp luật xây dựng môi trường an toàn cho các quan hệ xã hội vận động, phát triển
o Xây dựng các chế tài, hình phạt chống lại các hành vi phá vỡ trật tự xã hội, làm ảnh hưởng xấu đến lợi ích của nhà nước, của giai cấp thống trị
o Xây dựng cơ chế thực hiện các chế tài, hình phạt áp dụng đối với các chủ thể có hành vi xâm phạm đến lợi ích của các chủ thể tham gia vào quan hệ xã hội được pháp luật bảo vệ
Nghiên cứu tình huống:
Đạo đức và pháp luật trong tư tưởng Hồ Chí Minh – Đức trị hay pháp trị *
Chủ tịch Hồ Chí Minh chủ trương pháp trị, hay Người chủ trương đức trị? Vấn đề này gần
đây được nêu ra ở nhiều cuộc hội thảo, ở đâu, tranh luận cũng sôi nổi Nhưng ở đâu, hai
phe vẫn cứ “bất phân thắng phụ” ! Vì cả hai phe đều nói có đủ sách, đủ chứng Lại có phe
thứ ba chiết trung, dung hoà hai phe mà nói rằng, phương thức trị quốc an dân của Lãnh
tụ kết hợp hài hoà đức trị và pháp trị Đức trị của văn hiến á Đông, Pháp trị của khoa học
quản lý Âu Mỹ
I Vài nét lịch sử
Riêng tôi nghĩ, phải chăng cả ba ý kiến đều có tính chất cực đoan tuy mức độ có khác
nhau Họ đã nhìn tách bạch hai sự vật: đạo đức và pháp luật, đức trị và pháp trị, mà theo
tôi, vốn chỉ là Một, cùng một căn nguyên, một bản chất Trước khi đi thẳng vào vấn đề, tôi
xin phép thử phác vài nét lịch sử, mặc dầu kiến thức lịch sử rất lõm bõm
Tôi nghĩ, nên xuất phát từ nhu cầu tự nhiên của con người, con người xã hội, con người
phần tử của xã hội, trong một xã hội nhất định sống chết với xã hội đó
Để tồn tại và phát triển, từng gia tộc, từng bộ tộc, liên minh bộ tộc, kế đó, từng dân tộc,
mọi người sống trong cùng một cộng đồng tất yếu phải thương yêu nhau, đùm bọc nhau,
bảo vệ nhau Và làm được như vậy là nhờ – như thuở xưa, anh và tôi, ta hằng ê a: “Nhân
chi sơ, tính bản thiện” con người sinh là có lương tâm, lương tri rồi Thời đại nguyên thuỷ,
cái Thiện bẩm sinh còn đơn sơ, chia đều cho mỗi thành viên cộng đồng, nên mọi người suy
nghĩ, hành động dễ thống nhất: Nhưng qua phát triển, cộng đồng càng lớn lên, càng phân
nhỏ thành nhiều đơn vị, dần dần sống xa nhau Do đó “tập tương viễn” Tuy vậy, dầu tập
quán xa nhau thế nào, thì tính Người, tình Người vẫn làm cho các xã hội gần nhau: “Tính
tương cận” Đạo đức con người là mạch sống gắn họ lại với nhau
Rồi nhân loại đông lên gấp bội Đời sống xã hội trong cộng đồng dân tộc trở nên phức tạp,
cơ sở kinh tế phân hoá, giai cấp manh nha, khai triển làm rắc rối các quan hệ giữa người
với người trong cùng một xã hội
II Mặt khác, có yêu cầu về tổ chức
Ngay từ thời nguyên thuỷ, cuộc sống cộng đồng làm nảy nở phong tục tập quán Thường
là truyền miệng qua các thế hệ, có nơi được vẽ, viết một cách nguệch ngoặc trên vách
hang động, có nơi ghi trên giấy tờ, đặc biệt có nơi đục khắc tinh vi trên bia đá Đó là Lệ:
“Lệ làng”, hình thành từ đức Thiện bẩm sinh
Khi giai cấp đã hình thành sắc nét, thì lớp người thống trị đặt ra Luật, chủ yếu để tự bảo vệ
lợi ích sống còn của tầng lớp mình Luật ấy tất nhiên xung đột với Lệ Nhưng không thể
phủ định hoàn toàn Lệ của dân chúng số nhiều Vì lẽ đơn giản, tập đoàn thống trị nào thì
cũng phải dựa vào dân chúng mới sống được, mặt khác, vì dân chúng không ngừng đấu
tranh để tồn tại, nhân danh chính nghĩa của Chí Thiện, của Đạo Trời, cũng là Đạo Người
mà thôi
Có thể ở đâu đó và lúc nào đó, Luật xoá “toẹt” Lệ – Chó sói muốn diệt đức của dân lành Ở
đâu đó, như ta biết, phái học gia “pháp gia” dựng lên thuyết pháp luật độc tôn, chủ trương
Trang 18phát triển Luật rừng để giúp kẻ trị vì đàn áp dân chúng Họ bịa ra nguyên lý “Nhân chi sơ, tính bản ác” làm cơ sở cho một thứ đạo lý phi nghĩa để biện luận cho chế độ pháp trị tàn bạo ấy May thay cho thiên hạ: cả thầy lẫn tớ, chúng đều mệnh yểu Bởi vì cả “đạo” lẫn
“pháp” của họ đều “vô nhân đạo”, “vô pháp”, “vô thiên”
Một thực tế lịch sử nữa phổ biến hơn rất nên chú ý là ở đâu tập đoàn thống trị cũng tìm cách thoả hiệp với đạo lý nhân bản truyền thống và để cùng tồn tại được lâu dài với quần chúng, thì chúng cũng gắng uốn luật pháp của chúng cho phù hợp với đạo lý ấy Nghĩa là nhìn chung có xu hướng nhất thể hoá hai nhân tố Đạo đức và Pháp luật cùng tác động đến đời sống xã hội Có điều là xu hướng nhất thể hoá phải lành mạnh, làm cho cả Đạo đức lẫn Pháp luật đều bắt nguồn từ cái Thiện bẩm sinh, đều thể hiện tính nhân bản, nhân văn thì ý
đồ nhất thể hoá mới phát huy tác dụng, có lợi cho sự phát triển xã hội
III Ở Hồ chí Minh: Đạo đức là Gốc, Pháp luật là Chuẩn
Trong cái nhất thể “đạo đức – pháp luật”, xét về cội nguồn thì Thiện, Đức có trước và là gốc của Lệ, Luật; mà xét về công dụng đối với đời sống xã hội thì: Đạo đức gây men sống, còn Pháp luật là chuẩn, xác định mức độ phạm vi, phương pháp tác động của men sống ấy chỉ đạo hành động con người và bảo đảm cho hành động ấy có hiệu quả đối với xã hội Pháp luật là tất yếu cần cho công cuộc xây dựng và phát triển đất nước, làm hình thành mọi quan hệ xã hội hợp với chuẩn đã định Không có pháp luật thì xã hội khó mà tồn tại được Cho nên trước Cách mạng Tháng Tám và ngay sau ngày tuyên bố độc lập, Chủ tịch
Hồ Chí Minh đã nghĩ đến, đã tự thân lo việc soạn thảo Hiến pháp và Luật pháp
Nhưng, gốc có bền thì cây mới đứng được và tươi tốt lên Cho nên đồng thời, Bác phải lo vun gốc Không phải tình cờ mà liền với việc soạn thảo Hiến pháp, chưa có Hiến pháp, thì Bác ra lệnh giữ lại mọi luật lệ cũ còn thích hợp với chế độ mới Rồi Hồ Chí Minh gửi ngay thư “khẩn cấp”; cho các Uỷ ban nhân dân, các bộ, tỉnh, huyện, làng (vào đầu tháng 12/1945) và gửi thư cho đồng bào Bắc Bộ (vào đầu năm 1947) để răn bảo cán bộ ngoài Đảng, trong Đảng sớm biết tu tỉnh, tẩy rửa mọi thói hư tật xấu, tư thù, tư oán, cậy thế, cậy thần, quân phiệt hà hiếp, kể cả hẹp hòi, chuộng hình thức, ích kỷ, hám lợi danh; nghĩa là những điều luân lý thông thường, những yêu cầu sơ đẳng của Đạo đức làm người, của cái Thiện bẩm sinh
Khi mở lớp đầu tiên huấn luyện cán bộ thanh niên Cách mạng, bài giảng đầu của Bác là cái luân lý ấy Rồi giữa lúc kháng chiến ác liệt, Người đã viết sách dạy dỗ phải “sửa đổi lề lối làm việc”, đi thăm đồng bào, cán bộ khắp nơi, khuyên bảo nên rèn đức “trung với nước, hiếu với dân, cần kiệm liêm chính, chí công vô tư ”
Nhiều người trong chúng ta ở đây hẳn còn in sâu trong ký ức bóng dáng người Cha, người Anh thân thiết ấy đã lên bục chỉnh huấn giảng bài khai tâm “Thiện và ác” trên thế giới, trong xã hội và trong bản thân mỗi người: làm sao cho Thiện đánh lùi được ác
Việc làm của Bác làm ta nhớ đến gương các vị danh thần, danh tướng Nguyễn Trãi, Trần Hưng Đạo , dạy dỗ con em, binh lính biết giữ lòng cho ngay thẳng, ý nghĩ trong sáng, làm tròn phận sự với gia đình, xóm giềng, đất nước, đồng bào Có gì cao xa đâu! Nhưng làm được thế thì gia đình, làng xóm, xã hội yên vui, thái bình
Đạo đức làm người mà vững, thì phép nước, lệ làng, kỷ cương xã hội bảo đảm Luật lệ không bao giờ đủ, ở đâu cũng thế Chưa có luật nhưng giữ được tính Thiện, căm thù điều
ác, thì đỡ nghĩ bậy, làm bậy Đỡ nhiều lắm Có luật đấy rồi, nhưng không có lương tâm thì
sẽ bất chấp luật, sẽ xuyên tạc luật, bẻ queo luật như chơi Có người phàn nàn là không đủ luật nên trật tự bát nháo; thậm chí nghĩ rằng nguyên nhân sâu xa là bởi vì Hồ Chủ tịch quá thiên Đức trị và coi nhẹ Pháp trị Tôi cho nghĩ thế là một sai lầm về nhận thức tư tưởng Tham nhũng lan tràn có phải vì do không đủ luật đâu có phải vì do cơ quan bảo vệ pháp luật không đủ người đâu? Kém đạo đức, vô giáo dục thì quả là “vô pháp, vô thiên” Dột nát
cả mái thì luật dùng vào đâu được."
Trích: Vũ Đình Hoè – Pháp quyền Nhân nghĩa Hồ Chí Minh, NXB Văn hoá Thông tin,
Hà Nội, 2001, tr 327 – 338 Trích nguồn từ <http://www.moj.gov.vn/65nam/News/Lists/TuLieu/View_Detail.aspx?ItemID=6>