Nghị định số 56/2006/NĐ-CP về xử phạt vi phạm hành chính tronghoạt động văn hóa – thông tin được Chính phủ ban hành ngày 6 tháng 6 năm 2006, khi chưa có sự thay đổi cơ cấu tổ chức của Ch
Trang 1Chuyên đề:
MỘT SỐ VẤN ĐỀ CƠ BẢN VỀ NGHỊ ĐỊNH QUY ĐỊNH XỬ PHẠT VI PHẠM HÀNH CHÍNH TRONG HOẠT ĐỘNG BÁO CHÍ, XUẤT BẢN
Chúng ta đang sống trong kỷ nguyên của sự bùng nổ thông tin, hộinhập và toàn cầu hóa Sự phát triển nhanh của công nghệ thông tin đã tácđộng mạnh mẽ đến hoạt động báo chí, xuất bản, làm phát sinh những quan hệ
xã hội mới trong lĩnh vực này cần cập nhật, bổ sung, thể hiện rõ nhất là sựtham gia của thành phần xã hội khác, xu hướng hội tụ diễn ra mạnh mẽ, loạihình mới xuất hiện Nằm trong tiến trình này, Luật Xuất bản đã được sửađổi, bổ sung, Luật Báo chí đang trong quá trình xem xét, sửa đổi Những thayđổi này dẫn đến nghị định xử phạt vi phạm hành chính cũng phải sửa đổi đểbảo đảm sự thống nhất, đồng bộ
Xã hội ngày càng phát triển, mỗi công dân ngày càng ý thức hơn vềnhu cầu thông tin và đòi hỏi đáp ứng quyền được thông tin của mình đã đượcluật pháp ghi nhận Thông tin ngày càng trở nên quan trọng đối với mọi mặtcủa đời sống xã hội Để thông tin thông suốt, kịp thời, đầy đủ, trung thực,khách quan cần có cơ chế đồng bộ, trước hết là hệ thống văn bản quy phạmpháp luật
Trang 21 Đánh giá quá trình thực hiện Nghị định số 56/2006/NĐ-CP ngày 6/6/2006 của Chính phủ về xử phạt vi phạm hành chính trong hoạt động văn hóa – thông tin.
Ngày 06 tháng 06 năm 2006, Chính phủ ban hành Nghị định số56/2006/NĐ-CP về xử phạt vi phạm hành chính trong hoạt động văn hóa -thông tin Sự ra đời của Nghị định đã góp phần nâng cao hiệu lực, hiệu quảquản lý nhà nước về lĩnh vực văn hoá - thông tin, mở ra hành lang pháp lýthông thoáng và cần thiết cho tổ chức, cá nhân tham gia vào hoạt động này.Thời điểm xây dựng nghị định, trong xã hội phát sinh nhiều hoạt động thiếulành mạnh trong lĩnh vực văn hoá- thông tin, tình hình vi phạm bản quyềndiễn biến phức tạp… đòi hỏi phải kịp thời chấn chỉnh Nghị định số 56/2006/NĐ-CP về xử phạt hành chính trong hoạt động văn hoá - thông tin là cơ sởpháp lý quan trọng, góp phần lập lại trật tự, kỷ cương trong hoạt động văn hóa– thông tin, làm lành mạnh môi trường văn hoá xã hội
So với Nghị định số 31/2001/NĐ-CP ngày 26/6/2001 của Chính phủ về
xử phạt hành chính trong lĩnh vực văn hoá – thông tin, Nghị định số 56/2006/NĐ-CP đã bao quát hầu hết các hành vi vi phạm có thể xảy ra trong lĩnh vựcvăn hóa – thông tin Nhiều hành vi mới được bổ sung, hoàn thiện phù hợphơn, dễ áp dụng trong thực tiễn
Sau gần 4 năm triển khai thực hiện, Nghị định số 56/2006/NĐ-CP tạothuận lợi cho hoạt động thanh tra, kiểm tra chuyên ngành Các quy định cụthể của Nghị định giúp lực lượng thanh tra chuyên ngành văn hóa thông tin,nhất là địa phương xử lý các vụ việc vi phạm chính xác hơn, chặt chẽ hơn,bảo đảm tính nghiêm minh của pháp luật Nghị định một mặt, góp phần nângcao hiệu quả quản lý nhà nước, mặt khác bảo đảm thực hiện đúng nguyên tắccủa pháp luật: “Mọi vi phạm hành chính phải được phát hiện kịp thời và phải
bị đình chỉ ngay Việc xử lý vi phạm hành chính phải được tiến hành nhanhchóng, công minh, triệt để; mọi hậu quả do vi phạm hành chính gây ra phảiđược khắc phục theo đúng quy định của pháp luật” Cùng với các mặt hoạtđộng khác, Nghị định số 56/2006/NĐ-CP góp phần quan trọng trong việc xâydựng và bảo vệ nền văn hoá Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc
Tuy nhiên, bên cạnh đóng góp quan trọng trong công tác quản lý nhànước về văn hóa thông tin, Nghị định số 56/2006/NĐ-CP còn một số hạn chế,tồn tại: Trong một số điều khoản, ngôn từ pháp lý chưa chặt chẽ; các khungchế tài quy định chưa thống nhất, một số điều khoản kết cấu chưa hợp lý, dẫn
Trang 3đến có hành vi vi phạm không xử lý được; một số điều quy định khung phạtquá rộng, dễ gây ra sự tùy tiện trong quá trình xử lý, không bảo đảm đượctính chính xác, công bằng.
2 Sự cần thiết ban hành Nghị định quy định xử phạt vi phạm hành chính trong hoạt động báo chí, xuất bản để thay thế Nghị định số 56/2006/NĐ-CP ngày 6/6/2006 của Chính phủ về xử phạt vi phạm hành chính trong hoạt động văn hóa – thông tin.
Thực hiện Nghị quyết số 01/2007/QH12 ngày 31 tháng 7 năm 2007 củaQuốc hội về cơ cấu tổ chức của Chính phủ nhiệm kỳ khoá XII, ngày 08 tháng
8 năm 2007, Thủ tướng Chính phủ ban hành Quyết định số 1000/QĐ-TTg vềviệc chuyển chức năng, nhiệm vụ quản lý nhà nước về báo chí, xuất bản vàchuyển tổ chức biên chế cán bộ, công chức, viên chức làm công tác báo chí,xuất bản từ Bộ Văn hoá, Thể thao và Du lịch sang Bộ Thông tin và Truyềnthông Sự thay đổi chức năng, nhiệm vụ quản lý nhà nước đối với lĩnh vựcbáo chí, xuất bản đặt ra yêu cầu phải hoàn thiện hệ thống pháp luật để phùhợp với tình hình nhiệm vụ mới của Bộ Thông tin và Truyền thông
Nghị định số 56/2006/NĐ-CP về xử phạt vi phạm hành chính tronghoạt động văn hóa – thông tin được Chính phủ ban hành ngày 6 tháng 6 năm
2006, khi chưa có sự thay đổi cơ cấu tổ chức của Chính phủ, trong đó quyđịnh xử phạt đối với nhiều lĩnh vực như: báo chí, xuất bản, điện ảnh, nghệthuật biểu diễn, hoạt động văn hóa và kinh doanh dịch vụ văn hóa công cộng,
mỹ thuật, triển lãm văn hóa, nghệ thuật, nhiếp ảnh, quyền tác giả tác phẩmvăn học nghệ thuật và quyền liên quan, quảng cáo, viết đặt biển hiệu, di sảnvăn hóa, thư viện, công trình văn hóa, nghệ thuật, xuất khẩu, nhập khẩu sảnphẩm văn hóa, công bố, phổ biến tác phẩm ra nước ngoài Cho đến nay, cả hai
bộ (Bộ Thông tin và Truyền thông, Bộ Văn hoá, Thể thao và Du lịch) vẫnđang áp dụng Nghị định này để xử phạt Việc Bộ Thông tin và Truyền thông
áp dụng nghị định số 56/2006/NĐ-CP, trong đó quy định thẩm quyền xử phạtthuộc thanh tra chuyên ngành văn hóa – thông tin là chưa phù hợp với sự thayđổi chức năng quản lý nhà nước đối với hoạt động báo chí, xuất bản
Cùng với sự phát triển kinh tế xã hội nói chung, phát triển báo chí, xuấtbản nói riêng cũng như việc ban hành các văn bản quy phạm pháp luật mớitrong thời gian qua, đã khiến những quy định trong Nghị định số56/2006/NĐ-CP bộc lộ một số điểm không phù hợp Ví dụ, quy định mức
Trang 4chánh thanh tra chuyên ngành cấp sở, giấy phép thiết lập trang thông tin điện
tử trên Internet, thông tin về những chuyện thần bí, viện dẫn nguồn tin, xuấtbản, phát hành trên mạng Internet, chế độ báo cáo… trong đó, một số hành vichưa được quy định trong Nghị định số 56/2006/NĐ-CP
Ngoài ra, các quy định pháp luật mới ban hành cho phép các thànhphần xã hội tham gia vào một số khâu nhất định trong hoạt động báo chí, xuấtbản Vì vậy, bên cạnh quyền lợi, trách nhiệm, việc bổ sung chế tài xử phạt viphạm hành chính đối với các thành phần này là cần thiết, bảo đảm sự côngbằng của pháp luật và trách nhiệm xã hội của công dân
Trong quá trình áp dụng Nghị định số 56/2006/NĐ-CP, cho thấy nhiềutrường hợp vi phạm của tổ chức cá nhân với mức độ nhẹ, chưa gây ra hậu quảxấu, không cần thiết phải xử phạt hành chính bằng tiền mà có thể xử phạtcảnh cáo Tuy nhiên, trong Nghị định số 56/2006/NĐ-CP các quy định liênquan đến báo chí, xuất bản hoàn toàn không có hình thức xử phạt cảnh cáo,dẫn đến một số trường hợp phải xử lý cứng nhắc
Từ những lý do nêu trên, việc ban hành Nghị định của Chính phủ quyđịnh xử phạt vi phạm hành chính trong hoạt động báo chí, xuất bản tách riêngkhỏi Nghị định số 56/2006/NĐ-CP là rất cần thiết
III QUÁ TRÌNH SOẠN THẢO NGHỊ ĐỊNH
xử phạt vi phạm hành chính trong hoạt động văn hóa – thông tin
c) Tạo hành lang pháp lý đầy đủ, rõ ràng, thuận lợi cho các tổ chức, cánhân tham gia hoạt động báo chí, xuất bản, đồng thời góp phần nâng cao hiệulực, hiệu quả quản lý nhà nước đối với hoạt động báo chí, xuất bản
2 Quá trình soạn thảo Nghị định
a) Quy trình
Cũng giống như việc xây dựng văn bản quy phạm pháp luật nói chung,trước hết nó nằm trong chương trình xây dựng văn bản luật năm 2009 của
Trang 5Chính phủ, Chính phủ giao Bộ Thông tin và Truyền thông chủ trì soạn thảo.Quá trình soạn thảo tuân thủ đúng quy trình, thủ tục:
- Bộ trưởng Bộ Thông tin và Truyền thông Quyết định thành lập BanSoạn thảo do một đồng chí Thứ trưởng làm Trưởng ban, thành viên gồm cóđại diện các cơ quan chỉ đạo, quản lý nhà nước về báo chí, xuất bản, các cơquan có liên quan Cụ thể: Đại diện Văn phòng Chính phủ, Bộ Tư pháp, BanTuyên giáo Trung ương, Thanh tra Bộ, Cục Báo chí, Cục Xuất bản, Cục Quản
lý Phát thanh, Truyền hình và Thông tin điện tử, Cục Thông tin đối ngoại, VụPháp chế Trưởng Ban soạn thảo Quyết định thành Tổ biên tập giúp việc BanSoạn thảo
- Trong quá trình soạn thảo nghị định, Bộ Thông tin và Truyền thông
đã tổ chức các hội thảo theo chuyên đề với sự tham gia của cơ quan quản lýnhà nước về báo chí, xuất bản ở Trung ương và địa phương, các cơ quan báochí, nhà xuất bản đại diện cho các vùng miền, các tổ chức, cá nhân có thamgia hoạt động báo chí, xuất bản, qua các hội thảo, Ban Soạn thảo đã tiếp nhậnnhiều ý kiến đóng góp rất thiết thực, có chất lượng giúp Ban Soạn thảo điềuchỉnh, sửa đổi các quy định phù hợp thực tế hơn Ngoài ra, Ban Soạn thảo xin
ý kiến của các hội nghề nghiệp như: Hội Nhà báo Việt Nam, Hội Xuất bảnViệt Nam, Hiệp hội quảng cáo, Hiệp hội In Việt Nam Dự thảo đã được đưalên cổng thông tin điện tử của Chính phủ, cổng thông tin điện tử Bộ Thông tin
và Truyền thông ngày 19/10/2009 để xin ý kiến rộng rãi của toàn dân
- Ngày 23 tháng 11 năm 2009, Bộ Thông tin và Truyền thông đã có vănbản số 3769/BTTTT-TTra gửi các Bộ, ngành có liên quan để xin ý kiến Tiếpthu ý kiến đóng góp, Ban Soạn thảo đã chỉnh sửa và hoàn thiện Dự thảo lầnthứ 8 Ngày 18 tháng 12 năm 2009, Bộ Thông tin và Truyền thông đã có vănbản số 4096/BTTTT-TTra xin ý kiến thẩm định của Bộ Tư pháp Dự thảo 10,
dự thảo cuối cùng sau khi tiếp thu ý kiến thẩm định của Bộ Tư pháp đã đượctrình Chính phủ vào tháng 6/2010
b) Thuận lợi
- Kế thừa Nghị định số 56/2006/NĐ-CP ngày 6/6/2006 của Chính phủ
về xử phạt vi phạm hành chính trong hoạt dộng văn hóa thông tin, trong đóđáng kể là tư duy về những vấn đề lớn, hướng kết cấu, nhiều điều khoản vẫncòn phù hợp và đang phát huy tác dụng
- Hệ thống văn bản quy phạm pháp luật về xuất bản mới được ban
Trang 6của Luật Xuất bản 2008 và hàng loạt văn bản dưới luật như Nghị định số111/2005/NĐ-CP ngày 26 tháng 8 năm 2005 của Chính phủ Quy định chi tiết
và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật Xuất bản, Nghị định số 11/2009/NĐ-CP ngày 10/02/2009 của Chính phủ sửa đổi, bổ sung Nghị định số111/2005/NĐ-CP ngày 26 tháng 8 năm 2005 quy định chi tiết và hướng dẫnthi hành một số điều của Luật Xuất bản, Nghị định số 105/2007/NĐ-CP ngày21/6/2007 Về hoạt động in các sản phẩm không phải là xuất bản phẩm, Thông
tư số 30/2006/TT-BVHTT của Bộ Văn hoá-Thông tin về việc hướng dẫn thihành Nghị định số 111/2005/NĐ-CP ngày 26/8/2005 của Chính phủ quy địnhchi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật Xuất bản, Thông tư số04/2008/TT-BTTTT ngày 09 tháng 07 năm 2008 hướng dẫn thực hiện một sốnội dung của Nghị định số 105/2007/NĐ-CP ngày 21 tháng 6 năm 2007 củaChính phủ về hoạt động in các sản phẩm không phải là xuất bản phẩm, Nghịđịnh số 110/2010/NĐ-CP của Chính phủ về việc sửa đổi, bổ sung một số điềucủa Nghị định số 111/2005/NĐ-CP ngày 26/08/2005 của Chính phủ quy địnhchi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật Xuất bản đã được sửa đổi,
bổ sung bằng Nghị định số 11/2009/NĐ-CP ngày 10/02/2009 của Chính phủ,Thông tư liên tịch số 03/2006/TTLT-BTNMT-BVHTT ngày 15/3/2006 giữa
Bộ Văn hóa – Thông tin và Bộ Tài nguyên và mội trường hướng dẫn quản lýhoạt động xuất bản bản đồ, Thông tư số 61/2006/TT-BVHTT ngày 15 tháng
06 năm 2006 của bộ Văn hóa – Thông hướng dẫn in các thông tin trên lịch,Thông tư liên tịch số 01/2007/TTLT-BVHTT-BTC ngày 22 tháng 01 năm
2007 giữa Bộ Văn hóa – Thông tin và Bộ Tài chính hướng dẫn định mức vàchế độ thù lao đọc xuất bản phẩm lưu chiểu, Thông tư 22/2010/TT-BTTTTngày 6/10/2010 của Bộ Thông tin và Truyền thông quy định về tổ chức vàhoạt động in; sửa đổi, bổ sung một số quy định của Thông tư số 04/2008/TT-BTTTT ngày 09/07/2008 và Thông tư số 02/2010/TT-BTTTT ngày11/01/2010 của Bộ Thông tin và Truyền thông, Thông tư 02/2010/TT-BTTTTcủa Bộ Thông tin và Truyền thông quy định chi tiết thi hành một số quy địnhcủa Luật Xuất bản ngày 03 tháng 12 năm 2004, Luật sửa đổi, bổ sung một sốđiều của Luật Xuất bản ngày 03 tháng 6 năm 2008, Nghị định số111/2005/NĐ-CP ngày 26 tháng 8 năm 2005 và Nghị định số 11/2009/NĐ-CPngày 10 tháng 02 năm 2009, Quyết định số 102/2006/QĐ-BVHTT ngày 29tháng 12 năm 2006 của Bộ trưởng Bộ Văn hóa – Thông tin Ban hành Quy chếLưu chiểu xuất bản phẩm, Quyết định số 63/2006/QĐ-BVHTT của Bộ Vănhoá-Thông tin về việc ban hành Quy chế sử dụng ảnh trong tranh cổ động và
Trang 7bìa xuất bản phẩm, Quyết định số 38/2008/QĐ-BTTTT của Bộ Thông tin vàTruyền thông về việc ban hành Quy chế liên kết trong hoạt động xuất bản.
- Tham gia Ban soạn thảo, Tổ biên tập có nhiều chuyên gia có chuyênmôn sâu, am hiểu tường tận lĩnh vực báo chí, xuất bản, đó là các đồng chíđang công tác tại cơ quan chỉ đạo, cơ quan quản lý báo chí: Ban Truyên giáoTrung ương, Cục Báo chí, Cục Quản lý phát thanh truyền hình và Thông tinđiện tử, Cục Xuất bản, Thanh tra Bộ…
- Quá trình xây dựng Nghị định nhận được nhiều ý kiến tham gia góp ýcủa nhiều tổ chức, đơn vị có liên quan, chịu tác động của Nghị định Đượccác bộ, ngành đồng thuận, ủng hộ, ý kiến đóng góp tập trung, ít ý kiến khácbiệt
- Một số đồng chí trong Ban soạn thảo, Tổ biên tập đã trực tiếp, giántiếp tham gia xây dựng Nghị định số 56/2006/NĐ-CP, có nhiều kinh nghiệmtrong hoạt động này
c) Khó khăn
- Luật Báo chí đang trong quá trình xây dựng, Pháp lệnh quảng cáođang trong quá trình sửa đổi, nâng lên thành luật, khó cập nhật những thay đổikhi luật được ban hành
- Những vấn đề liên quan đến TVRO vốn đã có nhiều bất cập, hướng
xử lý chưa cụ thể, phải tạm thời chấp nhận thực tế và tuân thủ các quy địnhđang còn hiệu lực
- Theo quan điểm chỉ đạo, cần đưa những quy định xử phạt về thông tinđiện tử còn thiếu trong Nghị định số 28/2009/NĐ-CP ngày 20/3/2009 củaChính phủ quy định xử phạt vi phạm hành chính trong quản lý, cung cấp, sửdụng dịch vụ Internet và thông tin điện tử trên Internet vào Nghị định này,nhưng những quy định mới còn nằm trong dự kiến, chưa được định hình cụthể
- Thời gian xây dựng theo kế hoạch không nhiều, từ khi có quyết địnhthành lập Ban soạn thảo, Tổ biên tập đến thời điểm phải trình Chính phủ là 6tháng, đây là thách thức lớn đối với lĩnh vực nhạy cảm cần thận trọng
d) Ý kiến của các Bộ, ngành, các hội Nghề nghiệp
- Số lượng ý kiến đóng góp: 86
Trang 8+ Cơ quan quản lý: 15 + Hội nghề nghiệp: 2 + Đơn vị bị quản lý: 19
- Các hành vi được tham gia góp ý: 225 (trong đó có ý kiến trùng lắp),
25 hành vi được góp ý không thuộc phạm vi điều chỉnh của Nghị định
- Tiếp thu, bổ sung, chỉnh sửa 60 hành vi
- Không tiếp thu ý kiến đóng góp đối với 101 hành vi
- Xem xét, báo cáo Ban Soạn thảo 21 ý kiến đóng góp về những vấn đềmới phát sinh trong thực tiễn: Quy định về bản thảo gửi đến nhà in cần mởrộng khái niệm, vì hiện nay bản thảo không hòan toàn giống như cách hiểutruyền thống là bản giấy, mà cùng với sự phát triển của khoa học công nghệ,bản thảo có thể là file, bản can…; quy định về in vượt quá số lượng cần tínhđến bù hao trong quá trình in, vì trong định mức in cũng tính đến yếu tố này,như vậy mới bảo đảm tính chính xác, quyền lợi của cơ sở in; vấn đề lưu bảnthảo trong tình hình mới (lưu trong máy, trong USB), về thẩm quyền, xácđịnh tiêu chí nội dung…
Trong số ý kiến góp ý nổi lên một số vấn đề cần quan tâm:
* Thẩm quyền xử lý vi phạm về quyền tác giả, quyền liên quan: Một số
ý kiến cho rằng, thẩm quyền này đã được quy định trong Nghị định số47/2009/NĐ-CP của Chính phủ
* Phân định ranh giới giữa vi phạm hành chính và vi phạm pháp luậthình sự: có ý kiến cho rằng một số hành vi vi phạm điều 10 Luật Báo chíkhông quy định xử lý hành chính, phải xử lý theo quy định pháp luật hình sự
* Cần định lượng hành vi một cách rõ ràng: Gây ảnh hưởng xấu, gâyảnh hưởng nghiêm trọng, hở thân, khoả thân, kích dâm, kích động bạo lực,không phù hợp thuần phong mỹ tục Việt Nam…
* Ban hành hệ thống biểu mẫu biên bản vi phạm hành chính, Quyếtđịnh xử phạt vi phạm hành chính phục vụ công tác xử lý
* Thời điểm trình Chính phủ: cần xem xét lui lại thời gian trình chờ banhành Luật Báo chí mới, các quy định pháp luật về hoạt động báo chí liên quanđến người nước ngoài đang được sửa đổi
đ) Dư luận xung quanh việc xây dựng Nghị định
Trang 9Dự thảo nghị định được dư luận rất quan tâm, đang có nhiều ý kiến trênbáo chí, tập trung chủ yếu về mảng báo chí.
- Nội dung được tranh luận nhiều nhất:
+ Không nên ra nghị định riêng xử phạt báo chí
+ Nghị định siết chặt báo chí hơn
+ Quy định về “viện dẫn nguồn tin” là không sát thực tế, gây khó khăncho báo chí, hạn chế khả năng sáng tạo của các nhà báo, không phù hợp thông
lệ quốc tế
+ Tính khách quan trong thông tin, tiêu chí đánh giá “gây ảnh hưởngxấu”, “ảnh hưởng nghiêm trọng”
+ Quy định ”Tiếp tục hoạt động báo chí sau khi bị thu hồi thẻ nhà báo”
là không chính xác Quy định này đã được chỉnh sửa trong dự thảo
- Nhiều thế lực thù địch nước ngoài lợi dụng hoạt động xây dựng vănbản này để xuyên tạc, chống phá nhà nước ta
IV NỘI DUNG VÀ BỐ CỤC NGHỊ ĐỊNH
1 Kết cấu
Nghị định được kết cấu thành 4 chương 37 điều
Chương 1: Những quy định chung (3 điều)
Điều 1 Phạm vi điều chỉnh
Điều 2 Đối tượng áp dụng
Điều 3 Các hình thức xử phạt hành chính và biện pháp khắc phục hậuquả
Chương 2: Hành vi vi phạm trong hoạt động báo chí, xuất bản hình thức và mức phạt (4 mục, 26 điều)
Mục 1: Hành vi vi phạm trong hoạt động báo chí (13 điều)
Điều 4 Vi phạm các quy định về giấy phép hoạt động thông tin báo chíĐiều 5 Vi phạm các quy định về sử dụng thẻ nhà báo, hoạt động nghềnghiệp của nhà báo
Điều 6 Hành vi cản trở bất hợp pháp hoạt động báo chí
Trang 10Điều 8 Vi phạm các quy định về cung cấp thông tin cho báo chí và sửdụng thông tin của cơ quan báo chí
Điều 9 Vi phạm các quy định về cải chính trên báo chí
Điều 10 Vi phạm các quy định về họp báo
Điều 11 Vi phạm các quy định về trình bày sản phẩm thông tin báo chíĐiều 12 Vi phạm các quy định về phát hành sản phẩm thông tin báochí
Điều 13 Vi phạm các quy định về lưu chiểu sản phẩm thông tin báo chíĐiều 14 Vi phạm các quy định về xuất, nhập khẩu báo chí
Điều 15 Vi phạm các quy định về quản lý việc thu các chương trìnhtruyền hình nước ngoài
Điều 16 Vi phạm các quy định về liên kết trong hoạt động sản xuấtchương trình phát thanh, truyền hình
Mục 2: Hành vi vi phạm trong hoạt động xuất bản (9 điều)
Điều 17 Vi phạm các quy định về giấy phép hoạt động xuất bản
Điều 18 Vi phạm các quy định về nội dung xuất bản phẩm
Điều 19 Vi phạm các quy định về trình bày, minh hoạ xuất bản phẩmĐiều 20 Vi phạm các quy định về lưu chiểu xuất bản phẩm
Điều 21 Vi phạm các quy định về liên kết trong lĩnh vực xuất bản Điều 22 Vi phạm các quy định về hoạt động in
Điều 23 Vi phạm các quy định về nhập khẩu thiết bị ngành in
Điều 24 Vi phạm các quy định về tàng trữ, phát hành xuất bản phẩmĐiều 25 Vi phạm các quy định về xuất nhập khẩu xuất bản phẩm
Mục 3: Vi vi phạm về quảng cáo trong hoạt động báo chí, xuất bản (2
điều)
Điều 26 Vi phạm các quy định về quảng cáo trong hoạt động thông tin báo chí
Điều 27 Vi phạm các quy định về quảng cáo trên xuất bản phẩm
Mục 4: Vi phạm chế độ báo cáo, ngăn cản bất hợp pháp hoạt động
Trang 11Điều 28 Vi phạm các quy định về chế độ báo cáo
Điều 29 Hành vi cản trở bất hợp pháp hoạt động quản lý nhà nước, thanh tra, kiểm tra
Chương 3: Thẩm quyền, thủ tục xử phạt vi phạm hành chính trong hoạt động báo chí, xuất bản (6 điều)
Điều 30 Thẩm quyền xử phạt vi phạm hành chính của Thanh trachuyên ngành Thông tin và Truyền thông
Điều 31 Thẩm quyền xử phạt của Thanh tra chuyên ngành khác
Điều 32 Thẩm quyền xử phạt của Ủy ban nhân dân các cấp
Điều 33 Thẩm quyền xử phạt của Công an nhân dân, Bộ đội Biênphòng, Cảnh sát biển, Hải quan, cơ quan Thuế, cơ quan Quản lý thị trường
Điều 34 Thủ tục xử phạt, xử lý tang vật, phương tiện vi phạm hànhchính và thi hành quyết định xử phạt
Điều 35 Ban hành mẫu biên bản, mẫu quyết định sử dụng trong xửphạt vi phạm hành chính
Chương 4: Điều khoản thi hành (2 điều)
Điều 36 Hiệu lực thi hành
Điều 37 Trách nhiệm thi hành
2 Những điểm mới so với Nghị định số 56/2006/NĐ-CP
- Kết cấu khung phạt thống nhất, đồng bộ Mức 1: Cảnh cáo hoặc phạttiền từ 1.000.000 đồng đến 3.000.000 đồng, mức 2: phạt tiền từ 3.000.000đồng đến 5.000.000 đồng, mức 3: phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 10.000.000đồng, mức 4: phạt tiền từ 10.000.000 đồng đến 20.000.000 đồng, mức 5: phạttiền từ 20.000.000 đồng đến 30.000.000 đồng, mức 6: phạt tiền từ 30.000.000đồng đến 40.000.000 đồng
- Mức phạt cao nhất nâng lên 40.000.000 đồng phù hợp với Pháp lệnh
Xử lý vi phạm hành chính sửa đổi, tăng 10.000.000 đồng so với quy định cũ
- Sửa đổi một số hành vi không còn phù hợp
+ Thông tin về những chuyện thần bí, những vấn đề khoa học mới màkhông có chú dẫn xuất xứ tư liệu
Trang 12+ Đăng ký kế hoạch xuất bản
+ Đăng ký thiết bị in
+ Thu chương trình nước ngoài trực tiếp từ vệ tinh
- Cụ thể hóa một số hành vi chưa rõ ràng
+ Quảng cáo trong lĩnh vực y tế, nông nghiệp
+ Liên kết trong hoạt động xuất bản
+ Liên kết sản xuất chương trình phát thanh, chương trình truyền hình
- Bỏ hành vi không còn phù hợp
+ Thiết lập trang thông tin điện tử trên Internet
+ Hành vi truy nhập quản lý và cung cấp thông tin trên mạng thông tinmáy tính
+ Đăng ký thiết bị in nói chung
- Bổ xung các hành vi:
+ Giấy phép quảng cáo
+ Truyền hình trên mạng Internet
+ Viện dẫn nguồn tin
+ Thông tin không khách quan về sự việc, sự kiện, vấn đề
+ Sử dụng bản đồ Việt Nam
+ Họat động báo chí liên quan đến người nước ngoài
+ Xuất nhập khẩu báo chí
+ In sản phẩm in không phải là xuất bản phẩm
+ Xuất khẩu xuất bản phẩm
+ Nhập khẩu tài liệu hội thảo, hội nghị quốc tế
+ Quảng cáo trong hoạt động xuất bản
+ Thực hiện chế độ báo cáo
+ Cản trở bất hợp pháp hoạt động quản lý nhà nước, thanh tra, kiểm tra
- Bổ xung hình thức xử phạt cảnh cáo
Trang 13- Bổ xung các hình thức xử phạt bổ xung và biện pháp khắc phục hậuquả
- Ban hành hệ thống biểu mẫu xử dụng trong xử lý vi phạm hành chínhtrong hoạt động báo chí, xuất bản
V NHỮNG VƯỚNG MẮC TRONG QUÁ TRÌNH XÂY DỰNG NGHỊ ĐỊNH
1 Về tên Nghị định
- Trong quá trình xây dựng có hai quan điểm Quan điểm thứ nhất chorằng tên nghị định là Nghị định quy định xử phạt vi phạm hành chính tronghọat động báo chí, xuất bản, quan điểm thứ hai cho rằng tên nghị định là Nghịđịnh quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực báo chí, xuất bản
- Căn cứ tình hình thực tế, thuật ngữ đã sử dụng trong Luật Xuất bản,Ban Soạn thảo thống nhất lấy tên là Nghị định quy định xử phạt vi phạm hànhchính trong họat động báo chí, xuất bản
2 Vấn đề thông tin không phải báo chí.
Trong nhiều năm qua, các loại hình thông tin không phải báo chí như:xuất bản bản tin, tài liệu, tờ rơi; phát hành thông cáo báo chí, đăng phát bảntin trên màn hình điện tử Các hoạt động này đều phải xin phép, và cơ quanquản lý được giao cho Cục Báo chí (trước đây) Trong nghị định về xử phạt viphạm hành chính trong hoạt động báo chí, xuất bản các vi phạm thuộc loạihình này được quy định chung trong hoạt động thông tin báo chí nói chung
Vì vậy nếu căn cứ vào tên nghị định thì nó không nằm trong phạm vi điềuchỉnh Tuy nhiên, nếu không có chế tài thì không bảo đảm hiệu quả quản lý,
vì vậy quan điểm vẫn giữ lại các quy định trong Nghị định này
3 Vấn đề bản quyền trong hoạt động báo chí, xuất bản.
Nghị định số 47/2009/NĐ-CP không quy định thẩm quyền của Thanhtra Thông tin truyền thông, mặc dù hoạt động báo chí, xuất bản gắn bó chặtchẽ với quyền tác giả, quyền liên quan, tuy nhiên nếu quy dịnh hành vi cụ thể
sẽ trùng lắp với Nghị định số 47/2009/NĐ-CP Trong phần thẩm quyền, Nghịđịnh này quy định thẩm quyền xử phạt vi phạm về quyền tác giả, quyền liênquan cho lực lượng thanh tra thông tin và truyền thông, hành vi cụ thể sẽ ápdụng theo Nghị định số 47/2009/NĐ-CP
Trang 14- Có nhiều bất cập so với thực tiễn, đối tượng quá hẹp, việc sử dụng lạiquá dễ dàng, thuận tiện, dễ mua bán, lắp đặt, việc quản lý khó khăn do liênquan đến nhiều ngành, lực lượng mỏng, nhận thức chưa thật sự thống nhất
- Hiện tại, Thủ tướng Chính phủ đã ban hành quy định mới, có nhiềusửa đổi phù hợp hơn với thực tiễn, tuy nhiên đến 15/5/2011 quy định mới mới
có hiệu lực
5 Vấn đề chồng lấn giữa Luật Xuất bản và Luật sở hữu trí tuệ.
In vượt quá số lượng ghi trong hợp đồng, in nối bản, thực chất là saochép bất hợp pháp, vi phạm quyền tác giả Có nghĩa là xử phạt theo lĩnh vựcvào cũng phù hợp, điều này cũng đồng nghĩa với việc liên quan đến hai cơquan quản lý nhà nước khác nhau là Bộ Thông tin và Truyền thông, Bộ Vănhóa, Thể thao và Du lịch
6 Vấn đề xuất khẩu ấn phẩm báo chí, xuất bản phẩm.
- Việc xuất nhập khẩu ấn phẩm báo chí, xuất bản ngòai việc tuận thủLuật Báo chí, Luật Xuất bản còn liên quan đến Luật Thương mại, vì vậy nóphải tương thích và phù hợp với các Luật vừa được viện dẫn
7 Vấn đề thông tin điện tử trên Internet.
- Được quy định trong Nghị định số 97/2008/NĐ-CP, Nghị định số28/2009/NĐ-CP nhưng chưa bao quát đầy đủ lĩnh vực này Ngay trong Nghịđịnh số 28/2009/NĐ-CP cũng viện dẫn một số hành vi được áp dụng theo quyđịnh về báo chí, xuất bản
- Mặc dù Ban Soạn thảo có kế hoạch đưa các quy định này thành mộtchương, nhưng không thực hiện được do các quy định đang trong quá trìnhxây dựng, chưa được định hình và ban hành chính thức
8 Vấn đề phát thanh có hình, truyền hình trên mạng viễn thông.
- Phát thanh có hình là khái niệm mới xuất hiện, còn nhiều ý kiến tranhluận, phần lớn cho rằng phát thanh có hình chính là truyền hình
- Truyền hình trên mạng điện thoại di động đang phát triển, nhưng chưa
có quy định cụ thể
9 Vấn đề bổ nhiệm, miễn nhiệm, cách chức lãnh đạo cơ quan báo chí.
Trang 15Có hai luồng ý kiến khác nhau, do quy định này được quy định trongLuật Báo chí, nên có ý kiến cho rằng cần có chế tài xử lý, ý kiến khác chorằng không nên quy định chế tài vì khó xử lý, không hiệu quả, nếu vi phạm cóthể xử lý trách nhiệm theo Luật Cán bộ Công chức.
10 Vấn đề giấy phép họat động báo chí của Phóng viên nước ngoài tại Việt Nam.
- Liên quan đến Bộ Ngoại Giao, với đối tượng này chịu sự quản lý củahai cơ quan, Bộ Thông tin và Truyền thông, Bộ Ngoại giao
- Có ý kiến đề nghị đưa vào một điều riêng để dễ áp dụng, có ý kiếncho rằng không nên quy định riêng vì dễ tạo ra tâm lý cho rằng có sự phânbiệt giữa phóng viên trong nước và phóng viên nước ngoài Khó khăn đặt rađối với quy định này là Nhà nước đang xem xét để sửa đổi, do vậy rất có thểkhi ban hành nó sẽ nhanh chóng bị lạc hậu
- Việc bổ sung chế tài đối với phóng viên nước ngòai hoạt động tại ViệtNam thể hiện sự bình đẳng của mọi cá nhân, tổ chức kể cả người nước ngòaitrong hoạt động báo chí trên lãnh thổ Việt Nam
11 Việc thành lập các chuyên trang của báo điện tử sử dụng tên miền không được quy định trong giấy phép báo chí, hội chợ báo chí.
- Thông thường, trong giấy phép hoạt động báo chí điện tử quy định rõthông tin báo chí đăng tải tại địa chỉ tên miền cụ thể Tuy nhiên, các chuyêntrang của báo thông thường sử dụng tên miền khác
- Hội chợ báo chí chưa có quy định cụ thể
VI ÁP DỤNG NGHỊ ĐỊNH
- Ngày có hiệu lực: Nghị định có hiệu lực và được áp dụng từ ngày25/2/2011
- Nghị định không quy định hiệu lực trở về trước
- Đối vi phạm xảy ra trước ngày nghị định có hiệu lực nhưng nằm trongthời hiệu xử lý, thì thực hiện theo quy định tại điều 83 Luật ban hành văn bảnquy phạm pháp luật
VII TỒN TẠI
- Quy định hành vi trong lĩnh vực thông tin điện tử được đặt ra nhưng
Trang 16- Còn thiếu quy định xử phạt về giấy phép in gia công cho nước ngoàiđối với sản phẩm không phải xuất bản phẩm.
- Thẩm quyền của Thanh tra chuyên ngành thông tin và truyền thôngđối với vi phạm trong lĩnh vực quyền tác giả, quyền liên quan trong hoạt độngbáo chí, xuất bản đã được quy định Tuy nhiên không có chế tài nào quy địnhtrong Nghị định này, mà phải áp dụng chế tài tại Nghị định số 47/2009/NĐ-
CP ngày 13/5/2009 của Chính phủ quy định xử phạt vi phạm hành chính vềquyền tác giả, quyền liên quan Có nghĩa là Nghị định này chỉ bổ sung thẩmquyền của Thanh tra chuyên ngành thông tin và truyền thông đối với vi phạmtrong lĩnh vực quyền tác giả, quyền liên quan, nếu quy định hành vi cụ thể sẽ
bị trùng lắp Thực tế các quy định trong Nghị định số 47/2009/NĐ-CP mangtính bao quát, chung chung, hầu như không cụ thể hóa luật, nên có nhiều thuậtngữ chuyên môn khó hiểu Chúng ta cần tính đến việc đưa ra các quy định cụthể phù hợp với lĩnh vực báo chí, xuất bản để mọi cá nhân, tổ chức, cơ quanquản lý có thể hiểu một cách rõ ràng và áp dụng chính xác./
Trang 17là thành viên của mạng, cung cấp dịch vụ viễn thông không có giấy phépv.v… Nghị định số 142/2004/NĐ-CP là cơ sở pháp lý quan trọng, góp phầnngăn chặn và xử lý nghiêm các hành vi vi phạm pháp luật trong lĩnh vực viễnthông, tạo sự chuyển biến mạnh mẽ ý thức tôn trọng pháp luật của các cán bộcông chức và các đối tượng có trách nhiệm thực hiện nhằm đảm bảo hiệu lựcthi hành của các văn bản quy phạm pháp luật, nâng cao hiệu quả quản lý nhànước
Trong năm 2009, các cơ quan có thẩm quyền đã kịp thời xử lý 1.705 vụxâm phạm an toàn mạng lưới viễn thông, gây thiệt hại 30.000 km cáp cácloại, rút giấy phép cung cấp dịch vụ viễn thông của 1 doanh nghiệp, chỉ riêngThanh tra Bộ Thông tin và Truyền thông đã ban hành quyết định xử phạt viphạm hành chính đối với 58 lượt cơ quan, đơn vị và cá nhân, với tổng số tiền763.500.000 đồng, số tiền này đã được nộp ngân sách nhà nước (tỷ lệ 100%).Qua đó cho thấy nhìn chung các tổ chức, cá nhân tham gia hoạt động cung
Trang 18cấp và sử dụng dịch vụ viễn thông đã chấp hành nghiêm túc các quy định củaChính phủ, của Bộ Thông tin và Truyền thông.
b) Mặt hạn chế
Bên cạnh những kết quả cơ bản đã đạt được nêu trên, trước nhữngchuyển đổi của tình hình phát triển kinh tế - xã hội cũng như tình hình viphạm pháp luật về viễn thông trong thực tiễn, hệ thống các văn bản quy phạmpháp luật về viễn thông nói chung và Nghị định số 142/2004/NĐ-CP đã bộc
lộ nhiều bất cập đòi hỏi phải điều chỉnh cho phù hợp, cụ thể như sau:
- Trong một số điều, khoản, ngôn từ chưa chặt chẽ; các khung chế tàiquy định chưa thống nhất, một số điều khoản kết cấu chưa hợp lý, dẫn đến cóhành vi vi phạm không xử lý được; một số điều quy định khung phạt quárộng, dễ gây ra sự tùy tiện trong quá trình xử lý, không bảo đảm được tínhchính xác, công bằng
- Nhiều hành vi vi phạm nhưng tại thời điểm đó chưa có quy định xửphạt như: thực hiện các hoạt động ngoài việc khảo sát, lắp đặt, bảo dưỡng, sửachữa tuyến cáp viễn thông trong vùng biển Việt Nam; ngừng cung cấp dịch
vụ viễn thông nhưng không đảm bảo quyền lợi cho khách hàng sử dụng dịchvụ; sản xuất, nhập khẩu thiết bị viễn thông phải chứng nhận hợp quy nhưngkhông chứng nhận hợp quy; kinh doanh hàng hoá viễn thông chuyên dùng,khuyến mại không đúng quy định đối với các bộ hoà mạng thuê bao trả trước(Sim thuê bao di động trả trước); áp dụng vùng được cung cấp dịch vụ viễnthông công ích không đúng quy định; nắm cổ phần chi phối không đúng quyđịnh đối với doanh nghiệp cung cấp dịch vụ có hạ tầng mạng do Nhà nướcnắm cổ phần chi phối; không chia sẻ hoặc không sử dụng chung cơ sở hạ tầngviễn thông, doanh nghiệp viễn thông hạn chế hoặc không cung cấp các thôngtin kỹ thuật về phương tiện thiết yếu cho doanh nghiệp khác nhằm cản trởviệc cung cấp dịch vụ v.v
Theo số liệu thống kê chưa đầy đủ, tỷ lệ các đơn vị vi phạm các quyđịnh trong lĩnh vực viễn thông chiếm tỷ lệ trung bình từ 1,5-2% số cơ sở đượcthanh tra (năm 2009 đã rút giấy phép cung cấp dịch vụ viễn thông của 1doanh nghiệp), qua đó cho thấy bên cạnh những tổ chức, cá nhân đã chấphành đầy đủ và nghiêm túc các quy định trong hoạt động cung cấp và sử dụngdịch vụ viễn thông thì vẫn còn nhiều hành vi vi phạm xảy ra trên thực tếnhưng chưa có chế tài để xử lý
Trang 19Nghị định số 142/2004/NĐ-CP được xây dựng dựa trên một trongnhững căn cứ hết sức quan trọng là Pháp lệnh Xử lý vi phạm hành chính năm
2002 Tuy nhiên, Uỷ ban thường vụ Quốc hội ban hành Pháp lệnh sửa đổi, bổsung một số điều của Pháp lệnh xử lý vi phạm hành chính vào năm 2008.Theo đó, thanh tra viên chuyên ngành đang thi hành công vụ có quyền phạttiền 500.000 thay vì 200.000 như trước đây
Nghị định số 142/2004/NĐ-CP cũng được xây dựng dựa trên căn cứPháp lệnh Bưu chính, Viễn thông ngày 25/5/2002 Tuy nhiên, đến thời điểm
hiện nay Pháp lệnh này đã không còn hiệu lực thi hành Ngày 23/11/2009, Quốc hội thông qua Luật Viễn thông số 42/2009/QH12 Luật Viễn thông có
nhiều nội dung mới mà trước đây chưa có quy định hoặc chưa được quy địnhchi tiết như chuyển nhượng, đấu giá, thi tuyển quyền sử dụng kho số viễnthông, tài nguyên Internet; Quy hoạch công trình viễn thông và sử dụng chung
cơ sở hạ tầng kỹ thuật; cạnh tranh trong kinh doanh, nghĩa vụ nộp phí quyềnhoạt động viễn thông; Sở hữu trong kinh doanh dịch vụ viễn thông v.v…Những quy định mới này hiện chưa có chế tài xử phạt khi có vi phạm, do vậynếu chỉ áp dụng Nghị định số 142/2004/NĐ-CP sẽ dẫn tới bỏ lọt các hành vi
vi phạm
Thực hiện Đề án quản lý thông tin thuê bao di động trả trước của Chínhphủ, Bộ Thông tin và Truyền thông đã ban hành các quy định về quản lý, lưutrữ và sử dụng thông tin thuê bao Ngày 25/5/2009, Chính phủ đã ban hànhNghị định Bổ sung Điều 12a Nghị định số 142/2004/NĐ-CP nhằm áp dụngcho công tác xử lý vi phạm Điều đó cho thấy hệ thống văn bản pháp luật quyđịnh xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực viễn thông còn chưa thốngnhất và đồng bộ
Bộ Thông tin và Truyền thông đã ban hành các quy định về khuyếnmại đối với dịch vụ thông tin di động mặt đất và hàng hoá viễn thông chuyêndùng, mặc dù Nghị định số 06/2008/NĐ-CP ngày 16/1/2008 quy địnhXPVPHC trong hoạt động thương mại đã có một điều xử phạt về khuyến mại,tuy nhiên điều này vẫn chưa có đủ các hành vi để áp dụng khi tổ chức, cánhân vi phạm các quy định về khuyến mại đối với dịch vụ thông tin di động,
do vậy cần phải bổ sung thêm các hành vi
Nghị định số 142/2004/NĐ-CP quy định thẩm quyền của Thanh traviên, Chánh thanh tra Bộ, Chánh thanh tra Sở, tuy nhiên, ngày 15/11/2010
Trang 20sung thêm thẩm quyền xử phạt của người được giao thực hiện chức năngthanh tra chuyên ngành.
Theo Điều 38 Nghị định số 128/2008/NĐ-CP quy định chi tiết thi hànhmột số điều của Pháp lệnh Xử lý vi phạm hành chính năm 2002 và Pháp lệnhsửa đổi bổ sung một số điều của Pháp lệnh Xử lý vi phạm hành chính năm
2008 thì các mẫu biên bản và quyết định để sử dụng trong XPVPHC phảiđược ban hành kèm theo nghị định quy định về XPVPHC, tuy nhiên Nghịđịnh số 142/2004/NĐ-CP được xây dựng trước thời điểm Nghị định số128/2008/NĐ-CP có hiệu lực nên không có các mẫu biểu này
Từ cơ sở thực tiễn và pháp lý nêu trên, đòi hỏi phải xây dựng Nghị địnhquy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực viễn thông một cáchđồng bộ nhằm bãi bỏ Mục 2, Mục 4, Mục 5 và Mục 6 Chương II Nghị định số142/2004/NĐ-CP, bãi bỏ Nghị định 50 để góp phần ngăn chặn và xử lýnghiêm các vi phạm hành chính trong lĩnh vực viễn thông là hết sức cần thiết
2 Nguyên tắc xây dựng Nghị định
Nghị định được xây dựng trên cơ sở các nguyên tắc sau:
- Đảm bảo các chế tài xử phạt phù hợp với các quy định của Luật Viễnthông và Nghị định hướng dẫn chi tiết thi hành Luật Viễn thông; bảo đảm tínhhợp hiến, hợp pháp, tính thống nhất, đồng bộ trong hệ thống văn bản quyphạm pháp luật trong lĩnh vực viễn thông
- Kế thừa những quy định hiện hành còn phù hợp và đang phát huy hiệuquả của Nghị định số 142/2004/NĐ-CP ngày 8/7/2004 của Chính phủ về xửphạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực bưu chính, viễn thông và tần số vôtuyến điện
- Xác định mức xử phạt vi phạm hành chính hợp lý, đúng luật, đảm bảotính khả thi cao, đồng thời có tác dụng răn đe, phòng ngừa hành vi vi phạm
- Tạo hành lang pháp lý đầy đủ, rõ ràng, thuận lợi cho các tổ chức, cánhân tham gia cung cấp và sử dụng dịch vụ, đồng thời góp phần nâng caohiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước trong lĩnh vực viễn thông
3 Quá trình xây dựng Nghị định
Ngày 27/4/2010, Bộ trưởng Bộ Thông tin và Truyền thông đã ban hànhQuyết định số 581/QĐ-BTTTT thành lập Ban soạn thảo xây dựng Nghị địnhQuy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực viễn thông, bao gồm
Trang 21lãnh đạo các đơn vị thuộc Bộ, đại điện từ các Bộ ngành có liên quan như Bộ
Tư pháp, Bộ Công an, Văn phòng Chính phủ, các chuyên gia từ các tập đoànviễn thông lớn Ban soạn thảo tiến hành các hoạt động sau:
- Tổ chức xây dựng khung Dự thảo Nghị định và xây dựng các nộidung chi tiết của các chương, điều, khoản, điểm chi tiết của Dự thảo Nghịđịnh
- Đã tổ chức nhiều cuộc họp, hội thảo để trao đổi, thống nhất các nộidung quan trọng của dự thảo Nghị định
- Lấy ý kiến của các Sở TTTT đánh giá những mặt hạn chế, bất cập củaNghị định số 142/2004/NĐ-CP, đánh các kết quả đã đạt được khi áp dụngNghị định này trong thanh tra, kiểm tra xử lý vi phạm
Sau một thời gian tích cực triển khai, dự thảo Nghị định đã hoàn thành
và đưa lên cổng thông tin điện tử của Chính phủ, cổng thông tin điện tử BộThông tin và Truyền thông để xin ý kiến rộng rãi
Ngày 7/10/2010, Bộ Thông tin và Truyền thông đã có văn bản số 3353/BTTTT-TTra gửi các Bộ, ngành có liên quan để xin ý kiến Tiếp thu ý kiếnđóng góp, Ban Soạn thảo đã chỉnh sửa và hoàn thiện Dự thảo Ngày20/12/2010, Bộ Thông tin và Truyền thông đã có văn bản số 4257/BTTTT-TTra xin ý kiến thẩm định của Bộ Tư pháp, ngày 13/1/2011 Bộ Tư pháp đã cóCông văn số 147/BTP-PLHSHC thẩm định, đồng ý trình Dự thảo Nghị định
để Chính phủ xem xét, ban hành và đề nghị chỉnh lý một số vấn đề Bộ Tưpháp đưa ra
4 Bố cục Dự thảo Nghị định
Dự thảo Nghị định gồm 4 chương, 53 điều, cụ thể như sau:
Chương I Những quy định chung, gồm 4 điều, từ điều 1 đến điều 4.
Chương này quy định phạm vi điều chỉnh, nguyên tắc xử phạt, thời hiệu xửphạt, các hình thức xử phạt hành chính và biện pháp khắc phục hậu quả
Chương II Hành vi vi phạm hành chính về viễn thông, hình thức và
mức phạt Chương này gồm có 10 mục và 40 điều, từ điều 5 đến điều 44 Việcphân thành từng Mục và mỗi Mục đều được quy định cho một nhóm hành viliên quan nhằm thuận lợi tra cứu khi áp dụng văn bản sau này, cụ thể các Mụcnhư sau:
Trang 22Mục 1 Hành vi vi phạm các quy định về kinh doanh viễn thông (từđiều 5 đến điều 9);
Mục 2 Hành vi vi phạm các quy định về viễn thông công ích (từ điều
Mục 7 Hành vi vi phạm các quy định về quản lý chất lượng, giá cước
và khuyến mại dịch vụ viễn thông (từ điều 31 đến điều 35);
Mục 8 Hành vi vi phạm các quy định về công trình viễn thông (từ điều
Chương III Thẩm quyền, thủ tục xử phạt vi phạm hành chính bao gồm
7 điều, từ điều 45 đến điều 51 Chương này quy định thẩm quyền xử phạt viphạm hành chính của thanh tra viên chuyên ngành về viễn thông, Chánh thanhtra Sở TTTT, Chánh thanh tra Bộ TTTT, người được giao thực hiện chứcnăng thanh tra chuyên ngành về viễn thông và thẩm quyền xử phạt của các lựclượng khác có liên quan
Chương IV Điều khoản thi hành, gồm 2 điều, từ điều 52 đến điều 53.
Chương này quy định về hiệu lực thi hành và trách nhiệm thi hành Nghị định
5 Đánh giá tác động của Nghị định
5.1 Đánh giá về các quy định xử phạt vi phạm hành chính về kinh doanh viễn thông
Trang 23Quy định về mức xử phạt đối với các hành vi vi phạm hành chính trongkinh doanh viễn thông được quy định từ Điều 5 đến Điều 9 của Dự thảo Nghịđịnh Theo đó, mức xử phạt cao nhất được áp dụng là 70.000.000 đồng đốivới các hành vi đại lý viễn thông cung cấp dịch vụ viễn thông người sử dụng
vi phạm các điều cấm được quy định trong Luật Viễn thông (Điều 12); sở hữuchéo vượt mức quy định; không thực hiện đúng cam kết đầu tư; vi phạm vềcạnh tranh
Hiện nay, mức xử phạt vi phạm hành chính đối với các hành vi vi phạmhành chính trong kinh doanh viễn thông, bao gồm: đại lý viễn thông, sở hữutrong kinh doanh dịch vụ viễn thông, cam kết đầu tư, cạnh tranh trong viễnthông chưa có quy định Do vậy, việc Dự thảo Nghị định quy định các hành vi
vi phạm này là phù hợp với chính sách quản lý quy định tại Luật Viễn thông
và Nghị định hướng dẫn Luật Viễn thông
Đa số ý kiến góp ý Dự thảo Nghị định đều cho rằng, mức phạt đối vớicác hành vi vi phạm hành chính trong kinh doanh viễn thông là phù hợp thực
tế Trong đó, phần lớn ý kiến đồng ý từ phía các doanh nghiệp viễn thông.Phần lớn những chuyên gia trong lĩnh vực viễn thông khi được hỏi về mức xửphạt áp dụng đối với các hành vi vi phạm đều thống nhất cao Một số ý kiếncòn cho rằng, việc xử phạt đối với các hành vi vi phạm về kinh doanh viễnthông cần đưa mức cao hơn để đảm bảo tính răn đe với đối tượng vi phạm.Tuy nhiên, khung phạt tối đa được quy định trong Pháp lệnh Xử lý vi phạmhành chính trong lĩnh vực viễn thông là 70 triệu đồng Các hành vi xây đựngcho khung này đảm bảo tính khả thi, xét cả về mức độ vi phạm, khả năng thựcthi quyết định xử phạt vi phạm hành chính của đối tượng vi phạm
Như vậy, quy định của Dự thảo Nghị định về mức xử phạt đối với cáchành vi vi phạm hành chính trong kinh doanh viễn thông là phù hợp Dự thảoNghị định được thông qua, ký ban hành sẽ hỗ trợ công tác giám sát thực thipháp luật đạt hiệu quả cao hơn và được sự đồng thuận của cả cơ quan quản lý
và đối tượng chịu sự điều chỉnh của Nghị định
5.2 Đánh giá về các quy định xử phạt vi phạm hành chính về kết nối và chia sẻ cơ sở hạ tầng viễn thông
Mức xử phạt về kết nối và chia sẻ cơ sở hạ tầng viễn thông được quyđịnh từ Điều 26 đến Điều 28, mức xử phạt cao nhất là 70 triệu đồng trên mộthành vi Mức xử phạt về kết nối mạng viễn thông công cộng cao nhất là 70
Trang 24triệu Mức xử phạt vi phạm về kết nối mạng viễn thông dùng riêng là 50 triệu.Mức xử phạt vi phạm hành chính về chia sẻ cơ sở hạ tầng là 70 triệu.
Quy định hiện hành về mức xử phạt về kết nối được quy định tại Nghịđịnh số 142/2004/NĐ-CP như sau: Từ 5.000.000 đến 10.000.000 đồng
Như vậy, so với quy định tại Nghị định 142/2004/NĐ-CP, dự thảo mới
đã nâng mức phát tối thiểu là 10 triệu và tối đa là 70 triệu
Từ các kết quả đánh giá về kết nối và chia sẻ cơ sở hạ tầng viễn thông,phần lớn các ý kiến đều thống nhất về mức xử phạt vi phạm hành chính vàcho rằng các mức phạt là phù hợp Trên cơ sở đánh giá tác động, thiệt hại màcác hành vi vi phạm gây ra, việc đưa một số hành vi vi phạm vào mức phạtlớn là nhằm răn đe đối tượng cố tình vi phạm các quy định kết nối và chia sẻ
cơ sở hạ tầng viễn thông Điều này gây ảnh hưởng rất lớn đến mạng lưới vàhiệu quả đầu tư của các doanh nghiệp
Trên cơ sở đó, nhằm tăng cường tính khả thi và hiệu quả trong việcthực hiện kết nối và chia sẻ cơ sở hạ tầng viễn thông thì việc quy định chế tài
xử phạt là thiết yếu, giúp cho các doanh nghiệp chấp hành nghiêm chỉnh cácquy định về kết nối và chia sẻ cơ sở hạ tầng viễn thông
Như vậy, so với quy định ở văn bản quy phạm pháp luật cũ, Dự thảoNghị định mới đã cập nhật thêm nhiều hành vi vi phạm mới Bên cạnh đó, sựphát triển của kinh tế, xã hội trong thời gian qua đã vượt qua những quy địnhcủa văn bản cũ Do đó, việc quy định mức phạt, khung phạt và các hành vi viphạm mới về kết nối và chia sẻ cơ sở hạ tầng viễn thông là cần thiết, tính khảthi rất cao
5.3 Đánh giá về các quy định xử phạt vi phạm hành chính về tài nguyên viễn thông
Quy định xử phạt vi phạm hành chính về tài nguyên viễn thông đượcquy định trong Nghị định số 142/2004/NĐ-CP, ngoài ra có thể được áp dụngsang xử phạt ở một số văn bản quy phạm pháp luật khác có liên quan
Quy định xử lý vi phạm về tài nguyên viễn thông được quy định tạiĐiều 15 Nghị định số 142/2004/NĐ-CP bao gồm 06 hành vi Mức xử phạt đốivới các hành vi này từ 1 triệu đồng đến 5 triệu đồng Đó là các hành vi viphạm về kho số viễn thông
So với quy định tại Nghị định 142, Dự thảo Nghị định đã quy định tăngthêm 06 hành vi và phân nhỏ thành 03 khung xử phạt Mức phạt được quy
Trang 25định tại Nghị định 142 từ 1 triệu đồng đến cao nhất là 5 triệu đồng Mức phạtnày đã được áp dụng đối với các hành vi vi phạm về kho số viễn thông trongthời gian từ năm 2004 đến nay Dự thảo Nghị định mới quy định chi tiết thêmcác hành vi và bổ sung thêm các hành vi vi phạm mới Trong dự thảo mức xửphạt được tăng lên từ 10 triệu đến 50 triệu Đây là các hành vi đã phát sinhtrong thực tế và được các chuyên gia, các đơn vị, doanh nghiệp sử dụng nhiều
về viễn thông đồng ý đưa vào Dự thảo Đồng thời, các ý kiến đều thống nhất
về mức xử phạt đốivới các hành vi vi phạm này
Ngoài ra Nghị định 142/2004/NĐ-CP không quy định xử phạt đối với
vi phạm về tài nguyên Internet Do đó trong dự thảo Nghị định lần này đã bổsung thêm các hành vi vi phạm về tài nguyên Internet còn thiếu trong Nghịđịnh 142/2004/NĐ-CP và các văn bản quy dịnh xử phạt có liên quan khác
Các vấn đề nêu trên cho thấy việc quy định chi tiết trong dự thảo cáchành vi vi phạm về tài nguyên viễn thông mang tính khả thi cao Mức xử phạt
áp dụng là phù hợp, rất cần thiết và tính khả thi cao, cần thiết được đưa vào
mà còn vi phạm về quy hoạch công trình viễn thông thụ động, vi phạm vềthiết kế, xây dựng, sử dụng công trình viễn thông, vi phạm về sử dụng chung
cơ sở hạ tầng kỹ thuật Những hành vi này trong Nghị định 142/2004/NĐ-CPchưa được quy định
Chính sách về quản lý công trình viễn thông là tạo điều kiện để cácdoanh nghiệp viễn thông, người sử dụng chủ động đàm phán với đối tác, tổchức trong việc khai thác, sử dụng công trình viễn thông Trên cơ sở đó, cơquan quản lý nhà nước sẽ xem xét quy định các hình thức xử phạt vi phạmhành chính tương ứng để nâng cao hiệu quả quản lý Khi Nghị định này cóhiệu lực thì cơ quan có thẩm quyền có thể xử lý các vi phạm của các đối
Trang 26chức, doanh nghiệp và các chuyên gia thống nhất khi xây dựng Luật Viễnthông và Nghị định hướng dẫn thi hành Luật Viễn thông.
Trong các văn bản quy định xử phạt vi phạm về xây dựng chỉ mới quyđịnh hành vi xử phạt chung cho các vi phạm về xây dựng Tuy nhiên, trongquản lý chuyên ngành về công trình viễn thông có nhiều quy định quản lý mới
mà chưa được điều chỉnh bởi chế tài xử phạt Do đó sẽ gây khó khăn chocông tác quản lý nhà nước và hiệu quả thực thi sẽ không cao
Việc quy định xử phạt về các hành vi vi phạm về công trình viễn thông
là cần thiết Những vi phạm của các doanh nghiệp về công trình viễn thông sẽảnh hưởng to lớn đến các chính sách, ảnh hưởng đến xã hội Do đó, khung xửphạt đối với các hành vi vi phạm về công trình viễn thông để ở mức từ 5 triệuđến 70 triệu là phù hợp và có khả thi trong thực tiễn
Thực tế sự thay đổi chính sách quản lý về công trình viễn thông, sựđồng thuận của các cơ quan, doanh nghiệp, nhà quản lý và các chuyên gia thìviệc quy định xử phạt vi phạm hành chính về công trình viễn thông là rất cầnthiết Khung tiền phạt là phù hợp và khả thi trong thực tế Do đó, kiến nghịđưa nội dung này vào Dự thảo Nghị định là rất cần thiết nhằm đảm quyền vàbảo lợi ích quốc gia trong lĩnh vực viễn thông
3.5 Đánh giá về các quy định xử phạt vi phạm hành chính về chế độ báo cáo, không chấp hành sự kiểm tra, kiểm soát của cơ quan nhà nước có thẩm quyền
Quy định hiện hành về chế độ báo cáo, không chấp hành sự kiểm tra,kiểm soát của cơ quan nhà nước có thẩm quyền trong lĩnh vực viễn thông nóiriêng và các lĩnh vực khác nói chung được quy định ở Nghị định 142, Nghịđịnh số 73/2010/NĐ-CP ngày 12/7/2010 quy định xử phạt vi phạm hànhchính trong lĩnh vực an ninh và trật tự, an toàn xã hội và nhiều Nghị định xửphạt vi phạm hành chính trong các lĩnh vực khác
Thực tế, các hành vi vi phạm chế độ báo cáo, không chấp hành sự kiểmtra, kiểm soát của cơ quan nhà nước có thẩm quyền được quy định ở nhiềuvăn bản pháp luật khác nhau Tuy nhiên, một số hành vi phát sinh trong thực
tế chưa được quy định trong các Nghị định có liên quan Hơn nữa, việc quyđịnh trong Dự thảo Nghị định sẽ giúp thuận tiện trong quá trình thực hiệnthanh tra, xử lý vi phạm hành chính Đồng thời, để đối tượng chịu sự điềuchỉnh hiểu rõ các hành vi không chấp hành sự thanh kiểm tra, báo cáo trong
Trang 27Các hành vi, khung xử phạt được các chuyên gia, các doanh nghiệp, tổchức thống nhất, không có ý kiến ngược chiều và tương đương với các Nghịđịnh khác đã được ban hành Do đó, đề xuất đưa vào Dự thảo Nghị định làcần thiết, góp phần đảm bảo hiệu quả, hiệu lực công tác quản lý trong lĩnhvực viễn thông và hoạt động thanh kiểm tra, giám sát của cơ quan có thẩmquyền.
Như vậy, việc đưa phần quy định xử phạt vi phạm hành chính về chế
độ báo cáo, không chấp hành sự kiểm tra, kiểm soát của cơ quan nhà nước cóthẩm quyền là cần thiết Tuy nhiên, còn một số ý kiến cho rằng việc xử phạt
về chế độ báo cáo, không chấp hành sự kiểm tra, kiểm soát của cơ quan nhànước có thẩm quyền đã được quy định trong các văn bản khác Để tạo sựthống nhất trong hệ thống văn bản quy phạm pháp luật, cần nghiên cứu kỹ cácquy định có liên quan ở các văn bản pháp luật khác để không có sự chênhlệnh quá lớn về mức xử phạt đối với các hành vi tương tự nhau
6 Những nội dung mới so với Nghị định 142
Bộ Thông tin và Truyền thông gửi văn bản xin ý kiến các Bộ, ngành và
đã nhận được ý kiến góp ý của 12 Bộ Ý kiến góp ý của các Bộ, ngành đềuthống nhất về sự cần thiết ban hành nghị định, nhất trí bố cục, các chương,mục, điều, khoản, điểm và nội dung Dự thảo Nghị định Những ý kiến cụ thểBan Soạn thảo đã tiếp thu, chỉnh sửa trong Dự thảo Tuy nhiên, còn một số ítvấn đề có ý kiến khác nhau như sau:
- Mức phạt tối đa trong lĩnh vực viễn thông là 100 triệu đồng
Pháp lệnh xử lý vi phạm hành chính quy định mức phạt tối đa đối vớilĩnh vực bưu chính, viễn thông và tần số vo tuyến điện là 70 triệu đồng và tạithời điểm ban hành Nghị định số 142/2004/NĐ-CP (năm 2004) mức phạt này
là phù hợp do chưa có sự cạnh tranh cao, dịch vụ được cung cấp chủ yếu bởicác doanh nghiệp Nhà nước Tuy nhiên hiện nay, rất nhiều doanh nghiệp cổphần, tư nhân kể cả doanh nghiệp nước ngoài đã và sẽ được phép tham giađầu tư, cung cấp dịch vụ, thị trường viễn thông ngày càng mang tính cạnhtranh cao hơn Thực tế trong thời gian qua, tình hình vi phạm trong lĩnh vựcnày có xu hướng gia tăng và diễn biến phức tạp, nhiều hành vi vi phạm đã gây
ra thiệt hại hàng chục tỷ đồng do vậy, nếu tiếp tục áp dụng mức phạt tối đanhư cũ là không đảm bảo tính răn đe
Mặt khác, Viễn thông đã được tách thành lĩnh vực độc lập, theo khoản
Trang 28trong những lĩnh vực quản lý nhà nước chưa được quy định thì Chính phủ quyđịnh mức phạt tiền, nhưng tối đa không vượt quá 100 triệu đồng
Vì các lý do như trên, Bộ Thông tin và Truyền thông đề nghị được ápdụng mức phạt tối đa là 100 triệu đồng Hiện tại trong Dự thảo Nghị định có
18 hành vi áp dụng mức phạt này
- Xử phạt về không lập hóa đơn dưới 200 nghìn đồng
Quy định xử phạt về lập hoá đơn và thanh toán giá đã được quy định tại
pháp luật chuyên ngành về hóa đơn (điểm b khoản 1, khoản 5 Điều 33 Nghị
định số 51/2010/NĐ-CP ngày 14/5/2010 của Chính phủ quy định về việc in,phát hành, sử dụng hóa đơn) do vậy nên bỏ điểm b khoản 2 Điều 21 Tuynhiên khoản 5 Điều 33 Nghị định số 51/2010/NĐ-CP chỉ quy định xử phạthành vi không lập hóa đơn khi bán hàng hóa, dịch vụ có giá trị thanh toán trên200.000 đồng, trong khi đó khoản 1 Điều 32 Luật Viễn thông quy định doanhnghiệp viễn thông có trách nhiệm lập hoá đơn thanh toán giá cước cho người
sử dụng dịch vụ theo hình thức trả sau mà không quy định mức tiền sử dụngdịch vụ Thực tế số lượng người sử dụng dịch vụ viễn thông có mức cướcdưới 200.000 đồng là rất lớn, nếu không có hoá đơn người sử dụng sẽ khôngtheo dõi và kiểm soát được chi phí sử dụng dịch vụ hàng tháng của mình dovậy Bộ Thông tin và Truyền thông đề nghị giữ nguyên quy định này
7 Những nội dung mới của chính sách quản lý viễn thông
7.1 Quy định tỷ lệ sở hữu chéo tối đa cho phép là 20%
Bộ Tài chính, Tập đoàn Bưu chính Viễn thông Việt Nam nhận xét quyđịnh tỷ lệ sở hữu chéo tối đa là đúng với quy định của Luật Viễn thông, tuynhiên cần xem xét lại tỷ lệ sở hữu chéo 20% cho phù hợp Bộ Tài chính chorằng quy định tỷ lệ này sẽ ảnh hưởng tới 2 doanh nghiệp viễn thông làVinaPhone và MobiFone hiện đang do Tập đoàn Bưu chính Viễn thông ViệtNam nắm giữ 100% vốn Ủy ban nhân dân thành phố Đà Nẵng đề nghị giảithích rõ cơ sở chọn tỷ lệ là 20% Tuy nhiên Ủy ban nhan dân Thành phố ĐàNẵng, Bộ Tài chính không đưa ra con số đề xuất là bao nhiêu phần trăm (%)
Quy định hạn chế tỷ lệ sở hữu chéo đã được nêu tại Điều 17 khoản 2Luật Viễn thông, Nghị định 25 chỉ làm rõ tỷ lệ này được xác định là 20%.Nếu đặt trần tỷ lệ sở hữu chéo quá cao, ví dụ 30% trở lên, sẽ không có tácdụng hạn chế các doanh nghiệp viễn thông liên kết với nhau để cạnh tranhkhông lành mạnh Nếu đặt trần tỷ lệ quá thấp, ví dụ 10% (kinh nghiệm của
Trang 29Ấn Độ), sẽ gây khó khăn cho doanh nghiệp trong việc huy động và thu hútvốn đầu tư Thực tế thị trường viễn thông Việt Nam hiện nay cũng có Tậpđoàn Bưu chính Viễn thông Việt Nam đang nắm giữ 14% vốn điều lệ củaCông ty Cổ phần dịch vụ bưu chính viễn thông Sài Gòn (SPT) và việc nắmgiữ này không ảnh hưởng tới hoạt động cạnh tranh lành mạnh giữa hai doanhnghiệp Khi quy định mức tỷ lệ 20%, Bộ Thông tin và Truyền thông cũng đãcân nhắc tới vấn đề sở hữu chéo giữa 2 doanh nghiệp này, có tham khảo kinhnghiệm của các nước trong khu vực (ví dụ Hàn Quốc quy định tỷ lệ sở hữuchéo là 15%).
Riêng đối với trường hợp VinaPhone và MobiFone hiện cùng do Tậpđoàn Bưu chính Viễn thông Việt Nam sở hữu 100% vốn, Tập đoàn sẽ có kếhoạch thoái vốn ở một trong hai doanh nghiệp theo lộ trình do Thủ tướngChính phủ quy định để bảo đảm tuân thủ tỷ lệ sở hữu trên Việc thoái vốn đểbảo đảm tuân thủ tỷ lệ sở hữu chéo này sẽ giúp hai doanh nghiệp kinh doanh
có hiệu quả hơn, vì thực tế hiện nay hai doanh nghiệp chỉ cạnh tranh ở mức
độ thấp, nhiều nội dung về giá cước, chiến lược kinh doanh đều do Tập đoànquyết định dẫn đến đầu tư trùng lặp tại nhiều địa bàn, việc sử dụng tài nguyênviễn thông chưa thực sự hiệu quả
7.2 Về tỷ lệ phần góp vốn tối đa của một nhà đầu tư nước ngoài
Bộ Kế hoạch Đầu tư, Bộ Giao thông vận tải, Phòng thương mại vàCông nghiệp Mỹ (AmCham), Diễn đàn Doanh nghiệp Việt Nam (VBF) có ýkiến về việc dự thảo quy định ”Một Nhà đầu tư nước ngoài không được sởhữu quá 30% vốn điều lệ trong một doanh nghiệp viễn thông” có thể vi phạmcác cam kết của Việt Nam khi gia nhập WTO
WTO quy định tỷ lệ phần vốn góp của phía nước ngoài trong các doanhnghiệp cung cấp dịch vụ viễn thông có hạ tầng mạng không vượt quá 49%,nhưng không quy định là một hay nhiều nhà đầu tư nước ngoài Trong cácvăn bản cam kết của Việt Nam không quy định là khi góp vốn liên doanh vớidoanh nghiệp Việt Nam, phía nước ngoài có thể gồm một hay nhiều nhà đầu
tư nước ngoài Như vậy có thể hiểu là chỉ một nhà đầu tư nước ngoài cũng cóthể góp vốn tới 49% vào liên doanh với một hay nhiều doanh nghiệp ViệtNam
Dự thảo Nghị định trước đây quy định tỷ lệ 30% dựa trên kinh nghiệmcủa Thái Lan, Trung Quốc nhằm hạn chế quyền kiểm soát của một pháp nhân
Trang 30phía Việt Nam luôn có khả năng kiểm soát doanh nghiệp Dự thảo dự địnhhạn chế một nhà đầu tư nước ngoài chỉ được đầu tư tối đa tới 30% vốn điều lệ(chứ không phải 49%) trong một liên doanh với các doanh nghiệp Việt Nam,tức là không hoàn toàn tuân thủ các cam kết của Việt Nam khi gia nhậpWTO.
Vì vậy trong dự thảo Nghị định trình Chính phủ, Bộ Thông tin vàTruyền thông đã bỏ quy định này Đối với các doanh nghiệp lớn, có ảnhhưởng đến quốc phòng, an ninh của đất nước, sau này Thủ tướng Chính phủ
có thể có quy định riêng về việc liên doanh, liên kết với nước ngoài bởi vìNhà nước vẫn nắm cổ phần chi phối trong các doanh nghiệp này (khoản 1Điều 17 Luật Viễn thông)
Trong Nghị định 25 chỉ quy định tỷ lệ góp vốn của bên nước ngoài phùhợp với các quy định của pháp luật Việt Nam, điều ước quốc tế mà Việt Nam
là thành viên (khoản 4 Điều 4)
7.3 Về thẩm quyền chấp thuận chủ trương đầu tư
Bộ Kế hoạch và Đầu tư, Bộ Ngoại giao, Bộ Giao thông Vận tải, Ủy bannhân dân tỉnh Vĩnh Phúc có ý kiến về quy định thủ tục đăng ký, thẩm tra dự
án đầu tư của nước ngoài trong kinh doanh dịch vụ viễn thông cho phù hợpvới các quy định của pháp luật về đầu tư và dự thảo sửa đổi Nghị định 108hướng dẫn thi hành Luật Đầu tư
Bộ Thông tin và Truyền thông đã góp ý với dự thảo sửa đổi Nghị định
108 hướng dẫn thi hành Luật Đầu tư theo hướng dự thảo Nghị định này Vềthẩm quyền chấp thuận chủ trương đầu tư, Điều 5 Dự thảo Nghị định nêu rõ
“Thủ tướng Chính phủ quyết định chấp thuận chủ trương đầu tư đối với dự
án đầu tư nước ngoài để cung cấp dịch vụ viễn thông có hạ tầng mạng với quy mô vốn đầu tư từ 3000 tỷ đồng trở lên; Bộ trưởng Bộ Thông tin và Truyền thông quyết định chấp thuận chủ trương đầu tư đối với dự án đầu tư nước ngoài để cung cấp dịch vụ viễn thông có hạ tầng mạng với quy mô vốn đầu tư dưới 3000 tỷ đồng” Trước đây, Nghị định 108 hướng dẫn thi hành
Luật Đầu tư quy định mọi dự án đầu tư nước ngoài trong lĩnh vực viễn thôngđều phải được Thủ tướng Chính phủ chấp thuận chủ trương đầu tư vì theo quyđịnh của Pháp lệnh Bưu chính, Viễn thông, việc cấp phép thiết lập mạng viễnthông phải được sự chấp thuận của Thủ tướng Chính phủ Theo quy trình cấpphép quy định tại Luật Viễn thông, thủ tục xin ý kiến chấp thuận của Thủtướng Chính phủ đã được lược bớt
Trang 31Bộ Thông tin và Truyền thông cho rằng đối với những dự án lớn có vốnđầu tư nước ngoài, có vốn đầu tư trên 3000 tỷ đồng để thiết lập mạng viễnthông có sử dụng tài nguyên viễn thông quý hiếm thì mới cần quyết định chấpthuận chủ trương đầu tư của Thủ tướng Chính phủ Các dự án đầu tư nướcngoài với tổng số vốn đầu tư dưới 3000 tỷ đồng vẫn cần thẩm tra đầu tư,nhưng giao Bộ trưởng Bộ Thông tin Truyền thông chấp thuận chủ trương đầu
tư, thay vì phải trình lên Thủ tướng Chính phủ quyết định Điều này hoàn toànphù hợp với quy định của Luật Viễn thông
7.4 Về việc bảo đảm thực hiện giấy phép
Đối với yêu cầu bảo đảm thực hiện giấy phép đã cấp, Bộ Tài chính có ýkiến là việc yêu cầu đặt cọc 5% vốn cam kết đầu tư trong 3 năm đầu tiên sẽlàm doanh nghiệp bị đọng một số vốn lớn Tuy nhiên Bộ Tài chính không đưa
ra con số cụ thể
Kinh nghiệm quản lý các giấy phép đã được cấp trong những năm vừaqua của Bộ Thông tin và Truyền thông cho thấy nếu không có yêu cầu tàichính ràng buộc các doanh nghiệp thì sẽ có nhiều doanh nghiệp xin giấy phéprồi không triển khai, chờ đợi cơ hội trục lợi bằng giấy phép đã được cấp (ví
dụ tính giấy phép có giá trị lớn để góp vốn vào liên doanh) Nhiều nước trênthế giới áp dụng hình thức đấu giá tần số để xét cấp giấy phép, nhất là giấyphép kinh doanh các dịch vụ có khả năng sinh lợi cao như di động Tuy nhiên,
áp dụng hình thức đấu giá có nhược điểm là dù ngân sách Nhà nước thu đượcmột khoản tiền từ doanh nghiệp thắng thầu, nhưng khoản tiền đó doanhnghiệp phải trả vĩnh viễn cho nhà nước, vì thế cũng ảnh hưởng tới nguồn vốnđầu tư của doanh nghiệp Bộ Thông tin và Truyền thông nhận thấy việc quyđịnh mức đặt cọc 5% là hợp lý, so với mức tự nguyện đặt cọc của các doanhnghiệp xin cấp phép 3G trong thời gian vừa qua (có doanh nghiệp đặt cọc tới25%), và so với kinh nghiệm của các nước trên thế giới (Singapore yêu cầuđặt cọc 5% vốn đầu tư, Ấn Độ yêu cầu đặt cọc 1 tỷ rupi, tương đương khoảng21.5 triệu USD) Quy định này cũng chỉ áp dụng đối với một số mạng có quy
mô lớn, sử dụng tài nguyên viễn thông (mạng toàn quốc, mạng sử dụng kênhtần số vô tuyến điện, băng tần số vô tuyến điện, số thuê bao viễn thông)./
Trang 32về tiêu chuẩn, quy chuẩn kỹ thuật; phân tách rõ các nghiệp vụ vô tuyếnđiện…
Bên cạnh đó, trong thời gian qua, công nghiệp chế tạo, sản xuất thiết bị
vô tuyến điện, thiết bị ứng dụng tần số vô tuyến điện đã đạt được những bướcphát triển vượt bậc Số lượng thiết bị vô tuyến điện, thiết bị ứng dụng sóng vôtuyến điện được sản xuất gia tăng nhanh chóng, sử dụng trong nhiều lĩnh vựckhác nhau của đời sống xã hội Nhiều dịch vụ sử dụng thiết bị và tần số vôtuyến điện được cung cấp ra xã hội, đặc biệt là dịch vụ thông tin di động, vệtinh, phát thanh, truyền hình, dẫn đường, cứu nạn… đã khiến nhu cầu sử dụngtần số tăng cao Theo số lượng thống kê, so với năm 1994, số lượng giấy phépđược cấp đã tăng gấp 11 lần Từ đó nảy sinh nhiều vụ vi phạm phát sinh trongthời gian qua
Trang 33Nhằm đáp ứng yêu cầu công tác thanh tra, xử lý vi phạm hành chínhđối với các hành vi vi phạm trong lĩnh vực tần số vô tuyến điện, góp phầnđảm bảo sử dụng một cách hiệu quả tài nguyên tần số vô tuyến điện, giảmthiểu những vi phạm của mọi cơ quan, tổ chức, cá nhân trong lĩnh vực này.Nghị định quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực tần số vôtuyến điện được xây dựng, ban hành.
Tài liệu tập huấn năm 2011 về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnhvực tần số vô tuyến điện được biên soạn nhằm mục đích hướng dẫn cụ thể cácnội dung quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực tần số vô tuyếnđiện, những điểm mới so với phần quy định xử phạt tần số vô tuyến điện quyđịnh tại Nghị định số 142/2004/NĐ-CP Đây là tài liệu để thanh tra viên,người có thẩm quyền lập biên bản vi phạm hành chính, xử phạt vi phạm hànhchính tham khảo khi thực thi nhiệm vụ của mình
Trang 34PHẦN 1 KHÁI QUÁT VỀ NGHỊ ĐỊNH QUY ĐỊNH XỬ PHẠT VI PHẠM HÀNH
CHÍNH TRONG LĨNH VỰC TẦN SỐ VTĐ
1 Căn cứ pháp lý quy định hành vi vi phạm trong nghị định
Ngày 23/11/2009, Quốc hội đã ban hành Luật Tần số Vô tuyến điện số42/2009/QH12 thay thế các quy định về tần số vô tuyến điện của Pháp lệnhbưu chính, viễn thông số 43/2002/PL-UBTVQH10 Đây không phải chỉ là sựthay đổi về hình thức văn bản pháp luật, hiệu lực thi hành mà là sự thay đổirất lớn về chính sách nhằm đáp ứng yêu cầu quản lý nhà nước và đáp ứngthực tế phát triển của xã hội, khoa học, công nghệ ở lĩnh vực tần số vô tuyếnđiện
So với Pháp lệnh bưu chính, viễn thông số năm 2002, Luật Tần số Vôtuyến điện năm 2009 quy định thêm nhiều nội dung không được quy địnhtrong Pháp lệnh Bưu chính Viễn thông về tần số VTĐ như: Quy định về đấugiá, tuyển chọn quyền sử dụng tần số vô tuyến điện; cho phép chuyển nhượngquyền sử dụng tần số trong trường hợp việc cấp phép được thực hiện thôngqua đấu giá quyền sử dụng tần số; sử dụng chung tần số; cho thuê, mượn thiết
bị vô tuyến điện; thu hồi tần số vô tuyến điện; phù hợp quy chuẩn, tiêu chuẩnthiết bị vô tuyến điện và thiết bị ứng dụng sóng vô tuyến điện trên cơ sở cácquy định của pháp luật về chất lượng sản phẩm hàng hoá, về tiêu chuẩn, quychuẩn kỹ thuật; phân tách rõ các nghiệp vụ vô tuyến điện…
Nhằm đưa Luật nhanh chóng đi vào cuộc sống, Bộ Thông tin vàTruyền thông đã ban hành Thông tư số 24/2010/TT-BTTTT ngày 28/10/2010quy định chi tiết và hướng dẫn thủ tục cấp giấy phép sử dụng tần số vô tuyếnđiện; cho thuê, cho mượn thiết bị vô tuyến điện; sử dụng chung tần số vôtuyến điện Thông tư quy định rất rõ về thủ tục cấp, gia hạn giấy phép, ngừng
sử dụng tần số vô tuyến điện, cho thuê cho mượn thiết bị vô tuyến điện, sửdụng chung tần số vô tuyến điện Điều này tạo sự thuận lợi rất lớn cho việcđăng ký sử dụng tần số, thay đổi nội dung giấy phép, sử dụng tần số
Bên cạnh đó, Pháp lệnh xử lý vi phạm hành chính năm 2002 đã đượcthay đổi, bổ sung, điều chỉnh các quy định để phù hợp với thực tiễn xử lý viphạm hành chính về thẩm quyền xử phạt, cụ thể: Tăng thẩm quyền xử phạtcho Thanh tra chuyên ngành (gồm Thanh tra viên, Chánh thanh tra cấp Sở,
Trang 35Chánh thanh tra cấp Bộ) thẩm quyền áp dụng các hình thức xử phạt bổ sung,biện pháp khắc phục hậu quả Trong quá trình dự thảo Nghị định, Bộ Tư phápcho ý kiến thẩm định là tăng mức xử phạt trong lĩnh vực tần số VTĐ lên tối
đa 100 triệu/hành vi để phù hợp với tình hình thực tế xử lý vi phạm hànhchính, nhằm đảm bảo hiệu quả giáo dục, răn đe đối với hành vi vi phạm.Đồng thời, quy định mức phạt như vậy nhằm phù hợp với Luật Xử lý vi phạmhành chính đang được Bộ Tư pháp dự thảo để Chính phủ trình Quốc hội
Luật Thanh tra số 56/2010/QH12 ban hành ngày 15/11/2010 có hiệulực từ 01/7/2011 quy định cơ quan thanh tra nhà nước chuyên ngành baogồm: Thanh tra Bộ, Thanh tra tỉnh/huyện, Thanh tra Sở và Cơ quan được giaothực hiện chức năng thanh tra chuyên ngành, người được giao thực hiệnnhiệm vụ thanh tra chuyên ngành Đây là điểm mới so với quy định tại LuậtThanh tra năm 2004, đồng thời, thẩm quyền xử phạt của 02 lực lượng mớibao gồm Cơ quan được giao thực hiện chức năng thanh tra chuyên ngành vàngười được giao thực hiện nhiệm vụ thanh tra chuyên ngành Dự thảo Nghịđịnh quy định thêm thẩm quyền xử phạt vi phạm hành chính của Thủ trưởng
Cơ quan được giao thực hiện chức năng thanh tra chuyên ngành thuộc Bộgiống như thẩm quyền của Chánh Thanh tra Bộ và Thủ trưởng Cơ quan đượcgiao thực hiện chức năng thanh tra chuyên ngành thuộc Sở giống như thẩmquyền của Chánh thanh tra Sở Đồng thời quy định thẩm quyền của ngườiđược giao thực hiện nhiệm vụ thanh tra chuyên ngành giống như thanh traviên
2 Cấu trúc nghị định và các hành vi vi phạm được quy định trong nghị định
Dự thảo Nghị định được xây dựng bao gồm 32 Điều, 4 chương với 81hành vi vi phạm (tăng 46 hành vi so với Nghị định số 142/2004/NĐ-CP phầnquy định xử phạt vi phạm hành chính về tần số vô tuyến điện) Cụ thể nhưsau:
Chương I – Quy định chung gồm bốn điều (Điều 1 đến Điều 4)
Điều 1 Phạm vi điều chỉnh
Điều 2 Nguyên tắc xử phạt
Điều 3 Thời hiệu xử phạt Tương tự như các văn bản quy phạm phápluật về xử phạt vi phạm hành chính khác, các điều trên của dự thảo Nghị định
Trang 36dụng của dự thảo Nghị định, nguyên tắc xử phạt, thời hiệu xử phạt và cáchình thức xử phạt Nội dung các điều này đều được dựa trên quy định Pháplệnh xử lý vi phạm hành chính và được cụ thể hóa nhằm hỗ trợ trong quá trìnhtra cứu văn bản không phải đối chiếu nhiều.
- Điều 4 Các hình thức xử phạt vi phạm hành chính về lĩnh vực tần số
vô tuyến điện và các biện pháp khắc phục hậu quả Tại điều này, ngoài cácquy định theo Pháp lệnh xử lý vi phạm hành chính đối với hình thức xử phạt,Nghị định bổ sung thêm hình thức “Truy thu phí sử dụng tần số trong thờigian sử dụng tần số không có giấy phép” Biện pháp này nhằm tăng cườngcông tác quản lý và tiết kiệm tài nguyên tần số đồng thời hỗ trợ cho thẩmquyền của Thanh tra chuyên ngành Thông tin và Truyền thông được quy địnhtại Chương III
Chương II – Hành vi vi phạm hành chính về lĩnh vực tần số vô tuyến điện, hình thức và mức xử phạt gồm 18 điều (từ Điều 5 đến Điều 22) và được chia làm 5 mục:
- Mục 1 Hành vi vi phạm các quy định về giấy phép và sử dụng tần
số vô tuyến điện (từ Điều 5 đến Điều 14)
Điều 5 Vi phạm các quy định về giấy phép Bao gồm: Hành vi khôngkhai báo, không làm thủ tục xin cấp lại giấy phép tối đa sau 15 ngày kể từ khithay đổi tên cá nhân, tổ chức được cấp giấy phép hoặc giấy phép bị mất hoặcgiấy phép bị hư hỏng Giấy phép được quy định trong điều này bao gồm tất cảcác loại giấy phép như:
- Giấy phép sử dụng tần số và thiết bị vô tuyến điện đối với đài vôtuyến điện nghiệp dư;
- Giấy phép sử dụng tần số và thiết bị vô tuyến điện đối với đài vôtuyến điện đặt trên phương tiện nghề cá;
- Giấy phép sử dụng tần số và thiết bị vô tuyến điện đối với đài vôtuyến điện liên lạc với phương tiện nghề cá
- Giấy phép sử dụng tần số và thiết bị vô tuyến điện đối với đài truyềnthanh không dây;
- Giấy phép sử dụng tần số và thiết bị vô tuyến điện đối với thiết bị vôtuyến điện dùng cho mục đích giới thiệu công nghệ tại triển lãm, hội chợ
Trang 37- Giấy phép sử dụng tần số và thiết bị vô tuyến điện đối với mạng thôngtin vô tuyến điện nội bộ;
- Giấy phép sử dụng tần số và thiết bị vô tuyến điện đối với mạng viễnthông dùng riêng sử dụng tần số thuộc nghiệp vụ di động
- Giấy phép sử dụng tần số và thiết bị vô tuyến điện đối với tuyếntruyền dẫn vi ba;
- Giấy phép sử dụng tần số và thiết bị vô tuyến điện đối với thiết bịphát thanh, truyền hình;
- Giấy phép sử dụng tần số và thiết bị vô tuyến điện đối với đài tàu;
- Giấy phép sử dụng tần số và thiết bị vô tuyến điện đối với đài vệ tinhtrái đất;
- Giấy phép sử dụng tần số và thiết bị vô tuyến điện đối với đài cố định,đài bờ, thiết bị riêng lẻ và các trường hợp khác
- Giấy phép sử dụng băng tần;
- Giấy phép sử dụng tần số và quỹ đạo vệ tinh
Điều 6 Vi phạm các quy định về sử dụng tần số, thiết bị vô tuyến điệnBao gồm các hành vi:
- Đặt ăng-ten thiết bị phát sóng vô tuyến điện sai vị trí hoặc đặt thiết bịphát sóng vô tuyến điện sai địa điểm quy định trong giấy phép sử dụng tần số
và thiết bị vô tuyến điện trong phạm vi tỉnh, thành phố trực thuộc Trungương; ngoài phạm vi tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương
- Sử dụng sai quy định trong giấy phép về: Hô hiệu hoặc nhận dạng,giờ hoạt động, quy cách ăng-ten, phương thức phát, hệ tiêu chuẩn, mục đích
sử dụng, đối tượng liên lạc;
- Phát vượt quá công suất quy định trong giấy phép sử dụng tần số vàthiết bị phát sóng vô tuyến điện hoặc không đảm bảo các quy chuẩn kỹ thuậtkhác theo quy định của pháp luật;
- Sử dụng sai nghiệp vụ quy định trong giấy phép;
- Sử dụng tần số, thiết bị phát sóng vô tuyến điện không có giấy phép;
- Sử dụng tần số, thiết bị phát sóng vô tuyến điện đã có quyết định tạmngừng hoặc chấm dứt hoạt động của cơ quan Nhà nước có thẩm quyền;
Trang 38- Sử dụng tần số, thiết bị phát sóng vô tuyến điện không có giấy phép;
- Sử dụng tần số không đúng với tần số được quy định trong giấy phép;
- Sử dụng đài vệ tinh trái đất không đúng quy định trong giấy phép;
- Sử dụng tần số và quỹ đạo vệ tinh, thiết bị vô tuyến điện thông tin vệtinh không đúng với các quy định trong giấy phép;
- Không tuân thủ các quy định về thông tin liên lạc khi tầu bay, tầu biểncủa Việt Nam hoặc nước ngoài ra, vào, trú đậu tại các sân bay, cảng biển củaViệt Nam;
- Sử dụng tần số nằm ngoài giới hạn băng tần được cấp theo giấy phép;
- Có mức phát xạ cực đại ngoài băng tần vượt quá mức cho phép trongGiấy phép sử dụng băng tần;
- Có mức phát xạ cực đại ngoài phạm vi phủ sóng vượt quá mức chophép trong Giấy phép sử dụng băng tần;
- Sử dụng sai mục đích hoặc sai quy định các tần số vô tuyến điện dànhriêng cho mục đích cấp cứu, an toàn, tìm kiếm, cứu hộ, cứu nạn, quốc phòng,
an ninh;
- Sử dụng tần số, quỹ đạo vệ tinh không có giấy phép
Điều 7 Vi phạm các quy định về chuyển nhượng quyền sử dụng tần số
vô tuyến điện Bao gồm các hành vi sau:
- Chuyển nhượng quyền sử dụng tần số vô tuyến điện nhưng không có
sự đồng ý bằng văn bản của Bộ Thông tin và Truyền thông;
- Khai báo không trung thực về hồ sơ chuyển nhượng để nhận quyền sửdụng tần số vô tuyến điện
Điều 8 Vi phạm các quy định về thuê, mượn thiết bị vô tuyến điện.Bao gồm các hành vi:
- Không điền đầy đủ vào hợp đồng thuê, mượn thiết bị vô tuyến điện;
- Không sửa đổi, bổ sung nội dung hợp đồng thuê, mượn thiết bị vôtuyến điện khi thay đổi nội dung giấy phép sử dụng tần số và thiết bị vô tuyếnđiện;
- Không lập hồ sơ cho thuê, cho mượn thiết bị vô tuyến điện;
Trang 39- Không lưu giữ bản sao có chứng thực theo quy định Giấy chứng minhnhân dân hoặc Hộ chiếu còn thời hạn của cá nhân thuê, mượn; hoặc bản sao
có chứng thực theo quy định Quyết định thành lập hoặc Giấy chứng nhậnđăng ký kinh doanh hoặc Giấy chứng nhận đầu tư của tổ chức thuê, mượnhoặc bản sao có chứng thực theo quy định Chứng chỉ vô tuyến điện viên củabên thuê, bên mượn hoặc Hợp đồng cho thuê, cho mượn thiết bị vô tuyếnđiện;
- Không gửi hồ sơ cho thuê, cho mượn cho Cục Tần số vô tuyến điệnhoặc có gửi hồ sơ cho thuê, cho mượn nhưng đã bàn giao thiết bị vô tuyếnđiện trong vòng 5 ngày sau khi gửi;
- Khai báo không trung thực để thuê, mượn thiết bị vô tuyến điện;
- Cho đối tượng không được quy định tại khoản 1 Điều 19 Luật Tần số
vô tuyến điện thuê, mượn thiết bị vô tuyến điện
- Không chấm dứt Hợp đồng cho thuê, cho mượn thiết bị vô tuyến điệnkhi các bên thuê, mượn không còn nhu cầu thuê, mượn hoặc cá nhân, tổ chứccho thuê, cho mượn, thuê, mượn vi phạm pháp luật và bị áp dụng các hìnhthức thu hồi giấy phép hoặc đình chỉ hoạt động;
- Không huỷ bỏ hợp đồng cho thuê, cho mượn thiết bị vô tuyến điệntrong thời hạn 07 ngày kể từ khi nhận được thông báo yêu cầu huỷ bỏ của cơquan có thẩm quyền;
- Huỷ bỏ Hợp đồng cho thuê, cho mượn thiết bị vô tuyến điện nhưngkhông thông báo bằng văn bản cho Trung tâm tần số vô tuyến điện khu vực;
Điều 9 Vi phạm quy định về sử dụng chung tần số vô tuyến điện Baogồm các hành vi sau:
- Đàm thoại ngoài mục đích phục vụ cho công việc, không đúng đốitượng, không đúng mục đích sử dụng trong giấy phép;
- Thiết lập cuộc gọi khi kênh tần số vô tuyến điện đang bận trừ khi liênquan đến cấp cứu, an toàn tính mạng con người;
- Sử dụng hô hiệu, tín hiệu nhận dạng không đúng hoặc không sử dụng
hô hiệu, tín hiệu nhận dạng theo quy định trong giấy phép sử dụng tần số vàthiết bị vô tuyến điện;
- Thời gian liên lạc liên tục vượt quá 5 phút;
Trang 40- Chuyển sang tần số dự phòng trong trường hợp tần số ấn định chínhkhông bị nhiễu hoặc không có cá nhân, tổ chức khác sử dụng;
- Cố ý thu hoặc sử dụng thông tin thu được từ các đài vô tuyến điệnkhác sử dụng chung tần số vô tuyến điện;
- Không sử dụng đúng mã hoá do Cục Tần số vô tuyến điện cấp khi sửdụng tín hiệu mã hoá
Điều 10 Vi phạm quy định về cung cấp, sử dụng thiết bị tần số vôtuyến điện không cần giấy phép
- Sử dụng thiết bị thuộc Danh mục thiết bị vô tuyến điện không cầngiấy phép nhưng không tuân thủ điều kiện kỹ thuật và khai thác đối với thiết
bị vô tuyến điện được miễn giấy phép;
- Sản xuất hoặc nhập khẩu hoặc lưu thông thiết bị thuộc Danh mục thiết
bị vô tuyến điện không cần giấy phép nhưng không công bố, bảo đảm thiết bịphù hợp với điều kiện kỹ thuật và khai thác;
- Sản xuất hoặc nhập khẩu thiết bị thuộc Danh mục thiết bị vô tuyếnđiện không cần giấy phép nhưng không phù hợp với tham số, tiêu chuẩn đãđược công bố;
Điều 11 Vi phạm các quy định về phí, lệ phí Được dẫn chiếu xử phạttheo Nghị định của Chính phủ quy định xử phạt vi phạm hành chính tronglĩnh vực phí, lệ phí (hiện nay là Nghị định số 106/2003/NĐ-CP)
Điều 12 Vi phạm các quy định về chứng chỉ vô tuyến điện viên
- Khai thác thiết bị vô tuyến điện thuộc nghiệp vụ yêu cầu phải cóchứng chỉ vô tuyến điện viên nhưng không có chứng chỉ vô tuyến điện viênphù hợp do cơ quan có thẩm quyền cấp;
- Khai báo, cung cấp thông tin không trung thực để được cấp chứng chỉ
vô tuyến điện viên;
- Sử dụng người không có chứng chỉ vô tuyến điện viên hoặc sử dụngngười có chứng chỉ vô tuyến điện viên không phù hợp để khai thác thiết bị vôtuyến điện thuộc nghiệp vụ yêu cầu phải có chứng chỉ vô tuyến điện viên;
- Giả mạo, tẩy xóa, sửa chữa chứng chỉ vô tuyến điện viên để khai thácthiết bị vô tuyến điện thuộc nghiệp vụ yêu cầu phải có chứng chỉ vô tuyếnđiện viên;