1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Một số vấn đề cơ bản về quyền con người và cơ chế bảo vệ quyền con người theo pháp luật quốc tế (luận văn thạc sỹ luật)

106 12 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 106
Dung lượng 679 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Ở đó, sự hình thành và phát triển của nhân quyền phản ánh quy luật phát triển của xã hội loài người từ thấp đến cao cũng như phản ánh quy luật tiến hóa trong nhận thức lẫn hành động của

Trang 1

DÂU HUỲNH PHÚC PHI

Mã số sinh viên: 3160123

MỘT SỐ VẤN ĐỀ CƠ BẢN VỀ QUYỀN CON NGƯỜI VÀ CƠ CHẾ BẢO VỆ

QUYỀN CON NGƯỜI THEO

PHÁP LUẬT QUỐC TẾ

KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP CỬ NHÂN LUẬT

Niên khóa: 2006 – 2010

Giảng viên hướng dẫn: Th.S Nguyễn Thị Yên

Tp Hồ Chí Minh – 2010

Trang 2

Khóa luận tốt nghiệp này là kết quả của suốt bốn năm được giảng dạy và truyền đạt tận tình từ các thầy cô trường Đại học Luật thành phố Hồ Chí Minh Em xin chân thành cảm ơn quý thầy cô trường Đại học Luật thành phố Hồ Chí Minh đã giảng dạy và hướng dẫn cho em những kiến thức cơ bản, nền tảng cũng như tạo điều kiện thuận lợi cho em được phát huy khả năng của mình

Đặc biệt, trong khóa luận này, em xin chân thành cảm ơn cô Nguyễn Thị Yên đã tận tình hướng dẫn, định hướng và giúp đỡ em hoàn thành khóa

luận theo mong muốn của mình Mong cô nhận nơi em lòng cảm ơn chân thành và sâu sắc

Em xin trân trọng kính chào!

Trang 3

NGƯỜI THEO PHÁP LUẬT QUỐC TẾ

Chương 1: Khái quát chung về quyền con người

1.1 Khái niệm quyền con người 1

1.2 Các thế hệ quyền con người 3

1.2.1 Thế hệ quyền con người thứ nhất 4

1.2.2 Thế hệ quyền con người thứ hai 7

1.2.3 Thế hệ quyền con người thứ ba 10

1.3 Đặc điểm quyền con người 11

1.3.1 Tính phổ biến của quyền con người 12

1.3.2 Quyền con người mang tính đặc thù 13

1.3.3 Tính không thể bị tước đoạt một cách vô cớ, tùy tiện của quyền con người 14

1.3.4 Quyền con người có tính không thể phân chia 15

1.3.5 Tính liên hệ, phụ thuộc lẫn nhau giữa các quyền con người 17

1.3.6 Quyền con người được xây dựng trên cơ sở tôn trọng nhân phẩm và những giá trị của mỗi cá nhân 18

1.3.7 Quyền con người xác định nghĩa vụ của các chủ thể khác 18

1.3.8 Quyền con người không chỉ được bảo vệ bằng pháp luật của quốc gia mà còn được bảo vệ bằng pháp luật quốc tế 19

1.4 Phân loại quyền con người 19

1.4.1 Dựa vào bản chất quyền 20

Trang 4

1.5 Quyền con người và quyền công dân 22

Chương 2: Pháp luật quốc tế về quyền con người và cơ chế đảm bảo quyền con người 2.1 Khái quát chung của pháp luật quốc tế về quyền con người 27

2.2 Giới thiệu Bộ luật quốc tế về quyền con người 32

2.2.1 Tuyên ngôn Thế giới về nhân quyền 1948 33

2.2.2 Công ước quốc tế về các quyền dân sự và chính trị 1966 39

2.2.3 Công ước quốc tế về các quyền kinh tế, xã hội và văn hóa 1966 44

2.3 Pháp luật quốc tế về nhân quyền và nhân đạo – Mối quan tâm chung và những khác biệt 48

2.4 Cơ chế bảo vệ và phát triển quyền con người theo pháp luật quốc tế 51

2.4.1 Cơ chế bảo vệ quốc tế 51

a Cơ chế bảo vệ nhân quyền theo Hiến chương Liên hợp quốc 52

b Một số cơ quan bảo vệ nhân quyền được thành lập theo các công ước quốc tế khác 60

2.4.2 Cơ chế bảo vệ khu vực 62

a Cơ chế bảo vệ nhân quyền ở Châu Âu 62

b Cơ chế bảo vệ nhân quyền ở Châu Mỹ 66

c Cơ chế bảo vệ nhân quyền ở Châu Phi 67

d Cơ chế bảo vệ nhân quyền ở Arập 68

Trang 5

a Tiêu chuẩn một cơ quan nhân quyền quốc gia theo Các nguyên tắc

Pari 72

b Chức năng và nhiệm vụ của các cơ quan nhân quyền quốc gia 72

c Một số “kênh” bảo vệ nhân quyền ở một số quốc gia trên Thế giới 73

2.5 Cơ chế bảo vệ và phát triển quyền con người ở Việt Nam 77

Trang 6

Tính cấp thiết của đề tài

Quyền con người (còn được gọi là nhân quyền) đã trở thành một đề tài nghiên cứu của các công trình nghiên cứu khoa học trên Thế giới và đã được cộng đồng quốc tế thừa nhận, bảo vệ với tư cách là giá trị chung của nhân loại bằng một hệ thống hai mươi tư công ước quốc tế về quyền con người Ngày nay, quyền con người vẫn tiếp tục được phát triển, đã trở thành mối quan tâm hàng đầu của nhân loại và cộng đồng quốc tế trước bối cảnh quan hệ quốc tế mới (quan hệ của hội nhập và phát triển) và sự tiến bộ của khoa học kỹ thuật Nói cách khác, nhân quyền là một đề tài nghiên cứu “xưa” nhưng không bao giờ “cũ” vì nó gắn liền với con người – hạt nhân của xã hội Quyền con người càng trở thành một đề tài nghiên cứu cấp thiết hơn nữa trước sự phát triển nhanh chóng của xã hội và trước những vấn đề thách thức của toàn cầu

Việt Nam là một quốc gia đang trên đà hội nhập và phát triển cùng Thế giới nên việc nghiên cứu quyền con người và pháp luật quốc tế về quyền con người cùng với những cơ chế của nó hẳn nhiên trở thành một tất yếu vì đó là phương thức tốt nhất để nắm bắt xu hướng phát triển của nhân loại, phản ánh quy luật vận động và phát triển của xã hội Việc nghiên cứu quyền con người càng cần thiết hơn khi chủ trương của Đảng và nhà nước ta là xây dựng Việt Nam thành một quốc gia có nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa Tuy nhiên, với một thực tế rằng trong khi Việt Nam cũng đang phải đối mặt với những thách thức lớn như vấn đề ô nhiễm môi trường, bạo hành gia đình, bạo hành với trẻ em, vấn đề việc làm… nhưng nước ta chưa có một cơ quan bảo vệ nhân quyền chuyên trách nào Trước bối cảnh đó, ở Việt Nam hiện nay, việc nghiên cứu

Trang 7

Mục đích nghiên cứu

Với đề tài nghiên cứu này, tác giả có hai mục đích Thứ nhất là mang lại những kiến thức tổng quát nhất về quá trình hình thành và phát triển quyền con người và pháp luật quốc tế về quyền con người để khẳng định rằng nhân quyền mang những ý nghĩa lịch sử to lớn xứng đáng là giá trị chung và là tài sản quý báu của nhân loại trong mọi thời đại Đây là cơ sở vững chắc cho việc nghiên cứu quyền con người trong bối cảnh mới với sự phát triển, hội nhập của các quốc gia và sự tiến bộ của khoa học kỹ thuật Thứ hai, đề tài mang lại những kiến thức cơ bản nhất về cơ chế bảo vệ và thúc đẩy nhân quyền trên phạm vi toàn cầu để qua đó, mọi người có thể hiểu rõ hơn các quốc gia cũng như cộng đồng quốc tế đã bảo vệ và thúc đẩy các quyền con người bằng những thiết chế nào và những cơ quan nào Từ đó, con người có thể sử dụng nhân quyền ngày càng hiệu quả hơn trong việc bảo vệ quyền và lợi ích của dân tộc mình cũng như quyền và tự do cơ bản của mình

Phạm vi nghiên cứu

Quyền con người vốn dĩ là một vấn đề có phạm vi và đối tượng nghiên cứu rất rộng lớn Nó là một vấn đề toàn cầu liên quan đến toàn bộ cộng đồng quốc tế và mọi mặt của đời sống xã hội Do đó, khi nghiên cứu các vấn đề về quyền con người cũng như pháp luật về quyền con người thì người nghiên cứu cần phải có góc nhìn tương đối rộng Tuy nhiên, trong nghiên cứu này, do trình độ của tác giả còn nhiều hạn chế cũng như sự giới hạn về thời gian và tài liệu nên tác giả chỉ tập trung nêu lên những vấn đề tổng quát nhất về quyền con người và pháp luật quốc tế về quyền con người cùng với các cơ chế bảo vệ của nó Tác giả chú

Trang 8

phát triển của cộng đồng quốc tế Về vấn đề pháp luật quốc tế về quyền con người, tác giả chỉ giới thiệu khái quát về nội dung bộ ba văn kiện pháp lý quốc tế quan trọng nhất về quyền con người Đó là Tuyên ngôn Thế giới về nhân quyền năm 1948, Công ước quốc tế về các quyền dân sự và chính trị năm 1966 và Công ước quốc tế về các quyền kinh tế, xã hội và văn hóa năm 1966 Ngoài ra, tác giả cũng cố gắng khái quát một cách có hệ thống những cơ chế cũng như cơ quan chủ yếu trong việc bảo vệ, thúc đẩy và phát triển quyền con người trên bình diện toàn cầu, ở khu vực cũng như các “kênh” bảo vệ nhân quyền phổ biến ở một số quốc gia trên Thế giới

Phương pháp nghiên cứu

Quyền con người vừa là phạm trù của triết học, của chính trị và của lịch sử – xã hội nhưng cũng là vấn đề pháp lý nên với việc nghiên cứu quyền con người một cách tổng quát nói trên, tác giả đã kết hợp nhiều phương pháp nghiên cứu khác nhau như: phương pháp duy vật lịch sử, phương pháp duy vật biện chứng, phương pháp so sánh, phương pháp tổng hợp, phương pháp thống kê, phương pháp quy nạp, phương pháp suy luận logic

Bố cục

Ngoài phần Lời cảm ơn, Mục lục, Lời nói đầu, Kết luận và Danh mục tài liệu tham khảo, đề tài “Một số vấn đề cơ bản về quyền con người và cơ chế bảo vệ quyền con người theo pháp luật quốc tế” có nội dung chính được trình bày thành hai chương như sau:

 Chương 1: Khái quát chung về quyền con người

Trang 9

Mặc dù đã có nhiều cố gắng nhưng do trình độ tác giả còn hạn chế trước một đề tài rất rộng cũng như các hạn chế về thời gian và tài liệu tham khảo nên khóa luận chắc chắn không thể tránh khỏi những thiếu sót Rất mong nhận được những

ý kiến đóng góp từ các thấy cô, độc giả quan tâm đến đề tài để đề tài được hoàn thiện hơn nữa

Xin chân thành cảm ơn!

Trang 10

CHƯƠNG 1: KHÁI QUÁT VỀ QUYỀN CON NGƯỜI

1.3 KHÁI NIỆM QUYỀN CON NGƯỜI

Xuất phát từ văn hóa, tôn giáo và đạo đức, những ý tưởng sơ khai về quyền con người (còn được gọi là nhân quyền) đã xuất hiện từ rất lâu đời trong các học thuyết tôn giáo (kinh Coran, kinh Thánh, kinh Vệ Đà của Ấn Độ) cũng như trong các văn tuyển Nho giáo Cùng với bao biến cố, thăng trầm của lịch sử, ngày nay, quyền con người đã trở thành giá trị chung của toàn nhân loại và được hầu hết các quốc gia, dân tộc trên toàn Thế giới mặc nhiên thừa nhận Nhân quyền đã và đang là trung tâm của hàng trăm, hàng ngàn công trình nghiên cứu Tùy từng mục đích nghiên cứu khác nhau, các nhà nghiên cứu sẽ nhìn nhân quyền dưới những

góc độ khác nhau Có người tiếp cận nhân quyền như là một phạm trù mang giá

trị đạo đức – tôn giáo Dưới góc độ này, quyền con người bắt nguồn từ những

nhân phẩm vốn có, thể hiện đậm nét tính nhân văn, tư tưởng nhân ái, lòng yêu thương con người cũng như khát vọng tự do, công bằng, bình đẳng Cũng có

người tiếp cận nhân quyền như một phạm trù lịch sử – xã hội Qua đó, nó được

biết đến như là một sản phẩm của lịch sử, tức là nó được sinh ra, tồn tại và phát triển cùng với sự phát triển của lịch sử, xã hội chứ không phải “thiên phú nhân quyền” như đã được biết đến ở trường phái pháp luật tự nhiên Và họ khẳng định rằng nhân quyền không phải là bẩm sinh mà là sản sinh trong lịch sử 1 Một số

nhà nghiên cứu lại nhìn nhận nhân quyền là một phạm triết học – chính trị Ở đó,

sự hình thành và phát triển của nhân quyền phản ánh quy luật phát triển của xã hội loài người từ thấp đến cao cũng như phản ánh quy luật tiến hóa trong nhận thức lẫn hành động của con người về các khái niệm tự do, công bằng, bình

1 C.Mac – Ăngghen về quyền con người, NXB Chính trị quốc gia, trang 44

Trang 11

đẳng… Ở góc nhìn này, nhân quyền không chỉ thể hiện giá trị của mình về mặt lý luận mà còn mang thêm một màu sắc mới trong lĩnh vực chính trị khi trở thành công cụ chính trị hiệu quả trong các quan hệ quốc tế, chính sách đối ngoại Một số nhà nghiên cứu khác lại khẳng định rằng quyền con người vừa là hình thức biểu hiện của pháp luật nhưng cũng vừa là nội dung của pháp luật Nói cách khác, quyền con người là trung tâm, là mục tiêu và cũng là động lực của mọi nhà

nước, mọi hệ thống pháp luật Họ cho rằng quyền con người là một phạm trù

pháp lý Dù có nhiều cách tiếp cận khác nhau cũng như những quan điểm khác

nhau, nhưng, tựu chung lại, quyền con người vẫn là một thể thống nhất không thể tách rời hay phân chia được Do đó, khi nghiên cứu về quyền con người nói riêng hay những tổng thể khác nói chung, thiết nghĩ người nghiên cứu nên đặt nó vào mối tương quan tổng hòa chứ không thể chỉ xem xét dưới một góc độ nhất định

nào đó

Trên cơ sở những giá trị nền tảng đó cũng như nhu cầu của xã hội, Tuyên ngôn Thế giới về quyền con người, hàng loạt các Công ước quốc tế về quyền con

người lần lượt ra đời và đã chính thức khẳng định rằng “Quyền con người là nhân

phẩm, các nhu cầu (về vật chất và tinh thần), lợi ích cùng với nghĩa vụ của con người được thể chế hóa trong các quy định của pháp luật quốc tế và pháp luật quốc gia”2 Như vậy, quyền con người được thừa nhận là giá trị chung của toàn nhân loại và thực sự phát huy vai trò của mình hơn bao giờ hết trong “xã hội dân sự”3 mới

1.4 CÁC THẾ HỆ QUYỀN CON NGƯỜI

Trang 12

Như đã nói ở trên, những ý tưởng về quyền con người có nguồn gốc từ rất lâu đời trong các học thuyết tôn giáo Nếu xét về mặt lịch sử thì học thuyết về quyền tự nhiên là cơ sở, nền tảng cho sự tồn tại và phát triển của quyền con người Ở đó, nó được biết đến như những giá trị vốn có và chỉ thuộc về con người Cũng theo cách hiểu này, quyền con người không có bất kỳ mối quan hệ nào với nhà nước và pháp luật Do vậy, khi đứng trước những biến cố của xã hội, đặc biệt là khi nhà nước và pháp luật ngày càng chiếm giữ những vị trí quan trọng, quyền con người theo cách hiểu của học thuyết trên trở nên không còn phù hợp nữa Nhìn chung, cho đến ngày nay, quyền con người đã trải qua ba biến cố lớn

tương ứng với ba “thế hệ quyền con người” 4 Đây là tên gọi chung thống nhất thể hiện một cách khái quát nhất về những nội dung và đặc trưng cơ bản của quyền con người ở tất cả các lĩnh vực và trong những điều kiện khác nhau của sự phát triển xã hội và quyền con người 5 Mỗi thế hệ quyền con người là kết quả của một “biến cố xã hội” nhưng cũng là thành quả của sự phát triển xã hội

1.4.1 Thế hệ quyền con người thứ nhất

Mặc dù những ý tưởng về quyền con người đã xuất hiện từ rất lâu, là sự kết hợp giữa tôn giáo, văn hóa, triết học và luật pháp nhưng mãi đến những năm của thế kỷ XVII – XVIII, cùng với thắng lợi của cuộc cách mạng tư sản ở Châu Âu, quyền con người mới thực sự phát triển mạnh mẽ Đây cũng chính là bước phát triển đầu tiên của quyền con người và được gọi là “quyền con người thế hệ thứ nhất” Trước đó, loài người biết đến những quyền của con người dưới góc nhìn

4 Đây là tên gọi chung thống nhất được hầu hết các công trình nghiên cứu chấp nhận và sử dụng như Giáo trình Luật quốc tế của Đại học Luật Hà Nội năm 2007 trang 136, Quyền con người và Luật quốc tế về quyền con người của PTS Chu Hồng Thanh trang 35…

5 Giáo trình Luật quốc tế, Trường Đại học Luật Hà Nội, NXB Công an nhân dân, Hà Nội 2007, trang 126

Trang 13

của các quyền bình đẳng, tự do Có thể nói đây là điểm tiến bộ nhất trong nhận thức của nhân loại thời kỳ này Tuy vậy, những nhận thức này đã gặp phải sự cản trở khốc liệt từ chế độ phong kiến cũng như sự kìm hãm từ sức mạnh tôn giáo Tín ngưỡng, tôn giáo và thần thoại được xem là những “màn sương bao phủ” 6

những tư tưởng về các quyền cơ bản của con người

Nội dung quyền con người thế hệ thứ nhất chủ yếu là sự đặc biệt nhấn mạnh, phát triển tư tưởng bình đẳng Tư tưởng bình đẳng ở đây chủ yếu là sự bình đẳng trong mối quan hệ giữa cá nhân, công dân và nhà nước Mặc dù ở những quốc gia khác nhau, sự nhấn mạnh tư tưởng này có hình thức và khuynh hướng khác nhau nhưng hầu hết đều khẳng định rằng bản thân nhà nước cũng chỉ là một thiết chế được con người tạo ra để hoàn thành các nhiệm vụ cũng như những mục đích bảo vệ quyền con người 7 Tư tưởng bình đẳng của quyền con người thế hệ này đã phê phán chế độ phong kiến một cách mạnh mẽ và qua đó nêu lên tính thiết yếu của pháp luật trong mối quan hệ giữa cá nhân và nhà nước Dưới sự tác động của hệ tư tưởng bình đẳng, tự do, bác ái, quyền con người thế hệ thứ nhất đấu tranh mạnh mẽ cho các quyền dân sự, chính trị, cho sự bình đẳng giữa người với người và chống chế độ phong kiến tàn bạo cũng như những tàn dư khắc nghiệt của chế độ nô lệ

Trường phái pháp luật tự nhiên là sản phẩm của thời kỳ cải cách và cũng là

cơ sở tư tưởng của quyền con người thế hệ thứ nhất Có thể nói rằng khái niệm nhân quyền đã được xây dựng căn cứ vào bản năng của con người và do đó, nó đã khẳng định quyền con người như một tổng thể các giá trị của tự nhiên, là thiên phú và không thể bị tước đoạt Trong bất cứ tình huống nào, con người cũng có

6 Tác phẩm “Nguồn gốc của gia đình, của chế độ tư hữu và của nhà nước” của Ph.Ăngghen

7 PTS Chu Hồng Thanh, Quyền con người và luật quốc tế về quyền con người, NXB Chính trị quốc gia, trang 35

Trang 14

phần hành động theo các bản năng tự nhiên, nhằm thỏa mãn các lợi ích của bản thân và bị chi phối bởi hệ tư tưởng và nhận thức của cá nhân họ

Như vậy, quyền con người ở thế hệ này gắn liền với cuộc cánh mạng tư sản và khẳng định mạnh mẽ các quyền dân sự, chính trị, quyền tự do cá nhân như quyền sống, quyền tự do, quyền được xét xử công bằng trước pháp luật Qua đó, quyền con người bước đầu xác lập nên nguyên tắc bảo vệ quyền của các cá nhân con người trước quyền lực nhà nước Ngoài ra, nó cũng gián tiếp và bước đầu xác định nghĩa vụ của nhà nước đối với con người nói chung và công dân nói riêng Cuộc cách mạng tư sản và những tư tưởng bình đẳng, tự do, bác ái của quyền con người thế hệ thứ nhất đã xác lập một nấc thang mới và quan trọng trong lịch sử phát triển nhân quyền Theo đó, nó cũng thức tỉnh con người trong việc nhận thức những quyền thiêng liêng của mình và khơi dậy một cách mạnh mẽ động lực phát triển cũng như những khát vọng của họ

Cùng với sự ra đời của các nhà nước tư sản mới, hàng loạt văn kiện tiêu biểu cũng đã xuất hiện và tạo nên một sức ảnh hưởng rất lớn đến nhân quyền Thế giới Có thể kể đến các văn kiện sau: Bộ luật các quyền của nước Anh 1689, Tuyên ngôn độc lập của Hợp chủng quốc Hoa Kỳ 1776, Tuyên ngôn nhân quyền và dân quyền của Pháp 1789, Hiến pháp của Mỹ 1791 Dù rằng các văn kiện này chỉ là những văn kiện pháp lý quốc gia nhưng sự ra đời của nó cũng như nội dung của nó đã có những tác động không nhỏ đến cách tư duy và hệ tư tưởng của cộng đồng quốc tế về quan hệ giữa quyền con người – nhà nước và pháp luật Có thể nói quyền con người thế hệ thứ nhất đóng vai trò quan trọng trong việc hình thành nhà nước tư sản, xã hội tư sản, chế định “công dân” và đặc biệt là đối với chủ nghĩa lập hiến cũng như sự phân chia các nhánh quyền lực lập pháp, hành pháp và tư pháp

Trang 15

Bên cạnh những sự tiến bộ vượt bậc đó, quyền con người thế hệ này vẫn còn những nhược điểm nhất định Quyền con người thế hệ thứ nhất này chịu sự kìm hãm nhất định từ hệ tư tưởng phân biệt giai cấp rõ rệt của chế độ tư bản chủ nghĩa cũng như màu sắc duy tâm của trường phái pháp luật tự nhiên Để minh thị cho nhận định trên C.Mác đã chỉ ra rằng, nhà nước của giai cấp tư sản chính là

“biểu hiện chính thức của quyền lực độc chuyên của nó và xác nhận về mặt chính trị những lợi ích riêng biệt của nó” 8 Theo Jacques Mourgon thì Chúa trời là một đồng minh để hợp pháp hóa các quyền uy của các nhà cai trị một cách tốt nhất 9 Kể cả các văn kiện pháp lý cũng thể hiện rõ nét tính duy tâm trong việc thừa nhận quyền con người Lời cuối cùng trong Tuyên ngôn độc lập năm 1776 của Hợp chủng quốc Hoa Kỳ khẳng định rằng “Hy vọng một cách vững chắc vào sự giúp đỡ của đấng thần linh tối cao, chúng tôi giao ước với nhau giữ gìn tuyên bố này bằng tính mạng, tài sản và danh dự” Sau đó, nhà nước Pháp cũng khẳng định rằng “Quốc hội thừa nhận và tuyên bố, với sự chứng kiến và bảo hộ của đấng tối cao, các quyền sau đây của con người và của công dân…” 10

1.4.2 Thế hệ quyền con người thứ hai

Nếu như thế hệ quyền con người thứ nhất gắn liền với cuộc cách mạng dân

chủ tư sản ở Châu Âu thì thế hệ quyền con người thứ hai lại gắn liền với cuộc

Cách mạng tháng Mười Nga và chiến tranh Thế giới lần thứ hai

Đầu thế kỷ XIX, chủ nghĩa tư bản bắt đầu bộc lộ rõ những tính chất phản động của mình đối với xã hội Do vậy, để phản ánh tình hình xã hội cũng như nêu lên những khát vọng của con người, lần đầu tiên có sự xuất hiện của các tư tưởng

8 C.Mác và Ph.Ăngghen: Toàn tập, NXB Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1995, trang 189

9 Jacques Mourgon: Quyền con người, Trung tâm nghiên cứu quyền con người, Hà Nội, 1995, trang 43

10 Lời mở đầu trong Tuyên ngôn dân quyền và nhân quyền của Pháp năm 1789

Trang 16

về một xã hội mới không còn bất công, bất bình đẳng cũng như phân biệt giai cấp một cách nặng nề nữa Điều đó cũng đồng nghĩa với việc chủ nghĩa tư bản đã vứt bỏ ngọn cờ bình đẳng, tự do, bác ái mà họ mang theo Đến cuối thế kỷ thứ XIX và đầu thế kỷ XX, chủ nghĩa tư bản tự do cạnh tranh chuyển sang chủ nghĩa đế quốc Chống lại chủ nghĩa tư bản, chủ nghĩa đế quốc, C.Mác và Ăngghen với hệ thống quan điểm duy vật biện chứng, duy vật lịch sử đã chỉ ra rằng sự phát triển tự do và hạnh phúc của con người mới là tiền đề và điều kiện cho sự phát triển của xã hội Và để giành được thắng lợi trong cuộc đấu tranh chống lại chủ nghĩa

tư bản, chủ nghĩa đế quốc, các quốc gia thuộc địa hoặc chậm phát triển phải dựa vào nhân quyền và sử dụng nó như một loại vũ khí chính yếu và hiệu quả nhất Với phương thức sản xuất tư bản chủ nghĩa, quá trình tích lũy tư bản ở giai đoạn này diễn ra vô cùng mạnh mẽ Chính quá trình này đã làm cho sự phân hóa giàu nghèo ngày càng mạnh mẽ, quyền bình đẳng, tự do mà cách mạng tư sản mang lại không còn được đảm bảo, thậm chí là bị vi phạm một cách trầm trọng từ những nhà nước tư sản Do vậy, những quyền lợi về dân sự và chính trị mà người dân được hưởng đã không làm thỏa mãn khát vọng của họ Cùng với sự phát triển mạnh mẽ của hệ thống tư tưởng duy vật biện chứng và duy vật lịch sử, một lần nữa, con người mới nhận thức được những quyền lợi về kinh tế, văn hóa và xã hội mà họ phải được đảm bảo trong điều kiện xã hội mới Quan trọng hơn cả là quyền tự do, độc lập và bình đẳng của các dân tộc thuộc địa, các quốc gia chậm phát triển dưới gót giày của chủ nghĩa đế quốc Một lần nữa, quyền con người lại trở thành mục tiêu, cơ sở và “công cụ” của các cuộc đấu tranh, các cuộc cách mạng giải phóng loài người, giải phóng dân tộc khỏi gông cùm của chủ nghĩa tư bản và chủ nghĩa đế quốc

Nước Nga, vào đầu thế kỷ XX, đã chứng kiến sự hội tụ đầy đủ các mâu thuẫn của Thế giới (mâu thuẫn giữa tư sản và vô sản, giữa địa chủ và nông dân, giữa

Trang 17

Nga hoàng và các dân tộc bị áp bức, giữa đế quốc Nga và các chế độ khác) Cùng với những hậu quả nặng nề của cuộc chiến tranh Thế giới lần thứ nhất và sự đan xen, chồng chéo của những mâu thuẫn xã hội ngày càng gay gắt nói trên, một cuộc cách mạng xã hội xảy ra là điều không thể tránh khỏi Và đến tháng 2 năm 1917, cuộc cách mạng dân chủ tư sản thắng lợi rực rỡ ở Nga đã lật đổ chế độ Nga hoàng chuyên chế Theo đó, một chế độ xã hội mới ra đời – chế độ Cộng hòa Xô Viết Và ngay từ những tháng đầu tiên của chế độ mới, chính quyền đã ban hành nhiều sắc lệnh quan trọng mà sau đó đã trở thành cơ sở cho Hiến pháp đầu tiên của nước Nga Xô Viết 1918 Tiêu biểu là sắc luật xóa bỏ mọi sự phân biệt đẳng cấp, phân biệt dân tộc và mọi tước vị phong kiến, tuyên bố sự bình đẳng giữa nam nữ, quyền tự do tín ngưỡng

Với Việt Nam thời kỳ đó, quyền con người lại càng có vai trò đặc biệt quan trọng trong cuộc cách mạng giành độc lập, tự do cho dân tộc Tuyên ngôn độc lập năm 1945 của nước Việt Nam dân chủ cộng hòa đã sử dụng những tư tưởng bình đẳng, tự do, độc lập của con người cũng như của các dân tộc, quốc gia để đòi lại sự độc lập, tự do cho đất nước Những tư tưởng cũng như lý lẽ đó được xem là “lẽ phải không ai chối cãi được” 12

Nếu như thế hệ quyền con người thứ nhất còn chịu sự ảnh hưởng mạnh mẽ từ các học thuyết pháp luật tự nhiên và trường phái duy tâm thì quyền con người ở thế hệ thứ hai đã có bước chuyển mình mạnh mẽ với hệ thống tư tưởng duy vật biện chứng và duy vật lịch sử Sở dĩ nói như vậy là vì với cuộc cách mạng dân chủ tư sản trước đó, hệ tư tưởng phân biệt giai cấp vẫn còn tồn tại và ảnh hưởng sâu sắc đến nhân quyền nhưng sang đến giai đoạn này, nhân quyền không còn bị ảnh hưởng và chi phối bởi tư tưởng phân biệt giai cấp đó nữa Đây là một bước

11 Vũ Dương Ninh, Lịch sử văn minh thế giới, NXB Giáo dục, trang 334

12 Tuyên ngôn độc lập năm 1945 của nước Việt Nam dân chủ cộng hòa

Trang 18

tiến rất lớn trong quá trình phát triển của nhân quyền, thay đổi cả nhận thức về bản chất nhân quyền Mặt khác, vai trò của nhà nước ở giai đoạn này cũng mang màu sắc khác Nếu như ở giai đoạn trước nhà nước chỉ cần thừa nhận, tôn trọng và đảm bảo quyền con người ở một mức độ nhất định về dân sự và chính trị thì ở thế hệ quyền con người thứ hai, nhà nước còn phải đảm bảo các quyền về kinh tế, văn hóa, xã hội và mang lại những giá trị phúc lợi mà họ đáng phải có Kể từ sau chiến tranh Thế giới lần thứ hai 1945, cùng với sự ra đời của hàng loạt văn kiện về nhân quyền (đặc biệt là: Hiến chương Liên hợp quốc 1945, Tuyên ngôn thế giới về nhân quyền 1948, Công ước về các quyền dân sự và chính trị 1966, Công ước về các quyền kinh tế, xã hội và văn hóa 1966), nhân quyền Thế giới bước vào giai đoạn phát triển cực kỳ mạnh mẽ với sự ủng hộ từ hệ thống các nước xã hội chủ nghĩa và các nước đang phát triển

1.4.3 Thế hệ quyền con người thứ ba

Sau hai cuộc chiến tranh Thế giới, với thảm họa tàn khốc mà nó mang lại, một trật tự thế giới mới đã được thiết lập trở lại trên nền tảng nguyên tắc cùng nhau tôn trọng và đảm bảo quyền con người trên phạm vi toàn cầu Trên nền

tảng những thành quả của hai thế hệ quyền con người trước đó, quyền con người

thế hệ thứ ba được biết đến như là một giá trị chung và là nền tảng phát triển của

toàn nhân loại Trong điều kiện diễn ra xu thế khu vực hóa, toàn cầu hóa như hiện nay, con người ngày càng nhận thức rõ ràng hơn những giá trị, lợi ích của quyền con người cũng như những thành quả mà nhân quyền đã mang lại Con người ngày càng ý thức hơn về quyền, nghĩa vụ của mình đối với nhà nước và ngược lại Do vậy, ngày nay, việc xác định trách nhiệm của các quốc gia, các tổ chức quốc tế trong việc giải quyết những vấn đề của thời đại (vấn đề về môi trường và biến đổi khí hậu, phân biệt chủng tộc, phân biệt giới tính…) ngày càng trở nên bức thiết và cũng chịu sự tác động mạnh mẽ từ quyền con người Với sự

Trang 19

phát triển của khoa học kỹ thuật, quyền con người ngày càng được nâng cao, thay đổi và hoàn thiện hơn nữa để đảm bảo tốt nhất nhu cầu, lợi ích của con người trong hoàn cảnh mới Không chỉ vậy hầu hết các quốc gia trên Thế giới, đặc biệt là các nước xã hội chủ nghĩa, đều khẳng định rằng nhân quyền là trung tâm của mọi hoạt động quốc gia, mọi quan hệ quốc tế Nói cách khác, họ thừa nhận con người và quyền lợi của con người vừa là “hạt nhân” vừa là mục tiêu của nhà nước, mọi chính sách xã hội và pháp luật

Quyền con người thế hệ này bắt đầu từ những năm 70 của thế kỷ XX và có nội dung chủ yếu là sự đấu tranh cho các vấn đề có tính toàn cầu mới Theo đó, nội dung quyền con người và các quyền cụ thể của nó cũng có những thay đổi nhất định Quyền con người thế hệ này nhấn mạnh các vấn đề có tính toàn cầu và đòi hỏi các quốc gia cùng nhau thực hiện nghĩa vụ của mình đối với những vấn đề này một cách triệt để hơn nữa Cụ thể là quyền con người trong các vấn đề hòa bình, dân chủ, quyền phát triển, quyền chống lại và sự hủy diệt của chiến tranh hạt nhân và vũ khí giết người hàng loạt…13 Các chuẩn mực về quyền con người như về quyền sống, quyền tự do, quyền được hưởng những thành tựu khoa học kỹ thuật… đang thay đổi từng ngày để phù hợp với sự phát triển của xã hội

mới

Nhìn lại lịch sử phát triển quyền con người là một trong những cách thức tiếp cận quyền con người đầy đủ và tổng quát nhất Cũng với cách tiếp cận này, người nghiên cứu có thể nhìn nhận sâu sắc hơn về bản chất, đặc trưng của quyền con người qua mọi thời đại

13 PTS Chu Hồng Thanh, Quyền con người và luật quốc tế về quyền con người, NXB Chính trị quốc gia, trang 40

Trang 20

1.5 ĐẶC ĐIỂM QUYỀN CON NGƯỜI

Ở từng giai đoạn khác nhau, quyền con người cũng có những đặc điểm riêng phản ánh quy luật phát triển của loài người Nhưng nhìn chung, từ bản chất quyền con người, từ những văn kiện pháp lý quốc tế, những công trình nghiên cứu khoa học và những lý luận chung về quyền con người, các đặc điểm cơ bản của quyền con người có thể kể đến như: tính phổ biến và tính đặc thù, tính không thể tước đoạt, tính không thể phân chia và sự liên hệ, phụ thuộc lẫn nhau giữa các quyền Bên cạnh đó, quyền con người cũng mang một số đặc điểm chung khác như: quyền con người được xây dựng trên cơ sở tôn trọng nhân phẩm và giá trị của cá nhân; quyền con người đặt ra nghĩa vụ cho các chủ thể khác; quyền con người không chỉ được bảo vệ bằng pháp luật của quốc gia mà còn được bảo vệ bằng pháp luật quốc tế 14

1.5.1 Tính phổ biến của quyền con người

Tính phổ biến được biết đến như một đặc điểm chung cơ bản nhất của quyền

con người vượt qua mọi sự khác biệt về chế độ chính trị, trình độ phát triển kinh tế, văn hóa, xã hội giữa các quốc gia trên Thế giới Có thể nói đây là tiêu chí chung, cơ bản nhất để đánh giá xem ở một quốc gia nào đó có “nhân quyền” hay không (ở đây chưa đề cập đến mức độ thực hiện nhân quyền ở quốc gia đó là như thế nào) Nói về tính phổ biến của nhân quyền, Tổng giám đốc Unesco Federico Mayer đã từng phát biểu rằng: “Những quyền đó chung cho tất cả chúng ta vì chúng thuộc về mỗi người Không một nhóm người nào, không một nước nào có thể tự nhận là một kẻ duy nhất nắm giữ một di sản toàn cầu Những quyền ấy mang tính toàn cầu vì chúng vượt qua những khác biệt văn hóa Cố nhiên, có thể phản bác rằng chúng không thể áp dụng đồng đều cho mọi nền văn hóa, nhưng

14 Quyền con người – Tiếp cận đa ngành và liên ngành khoa học xã hội, Viện khoa học xã hội Việt Nam, NXB khoa học xã hội, trang 116

Trang 21

không thể phủ nhận một điều là những giá trị mà nhân danh chúng các quyền này được nêu lên, là phù hợp với những nguyện vọng bẩm sinh của bản chất con người và do đó thực sự mang tính toàn cầu” Bên cạnh đó, Tuyên bố Viên và Chương trình hành động năm 1993 cũng khẳng định rằng: tất cả các quyền con người đều mang tính phổ biến và cộng đồng quốc tế phải bảo đảm các quyền con người theo phạm vi toàn cầu một cách công bằng, bình đẳng và coi trọng như nhau

Tính phổ biến của quyền con người thể hiện rất đa dạng theo nhiều cách hiểu

khác nhau Có thể thấy ở ba khía cạnh như sau: một là, quyền con người là giá trị chung cho toàn nhân loại, là nhu cầu và mục tiêu chung của toàn nhân loại; hai

là, quyền con người có thể áp dụng đối với tất cả giai đoạn phát triển của lịch sử

(đặc biệt là các quyền tuyệt đối); ba là, sự đa dạng, phong phú của quyền con

người là cách thể hiện rõ rệt nhất Mặt khác, tính phổ biến của quyền con người còn được khẳng định trong các văn kiện pháp lý quốc tế về quyền con người và

do vậy, quyền con người không còn là lĩnh vực riêng biệt thuộc thẩm quyền hay là công việc nội bộ của một quốc gia nữa

1.5.2 Quyền con người mang tính đặc thù

Trong triết học, con người vừa mang bản chất tự nhiên vừa mang bản chất xã hội Con người tồn tại và phát triển trong một xã hội vô cùng đa dạng, phong phú với những quan hệ xã hội khác nhau, những hoàn cảnh lịch sử cũng như các điều kiện khác nhau Và chính bản chất xã hội đã tạo nên sự khác biệt giữa cá nhân này với cá nhân khác, nhóm người này và nhóm người khác hay giữa các giai cấp, tầng lớp khác nhau Từ đó, sự khác nhau về phương thức tư duy, nhu cầu cũng như về các chuẩn mực Do vậy, quyền con người cũng mang tính đặc thù Nói về tính đặc thù của quyền con người và văn hóa, một số nhà nghiên cứu cho rằng yếu tố văn hóa đóng vai trò quyết định trong việc tạo nên tính đặc thù

Trang 22

đó Có thể thấy rằng, nói đến tính đặc thù của quyền con người là nói đến những đặc thù quốc gia, dân tộc, đặc thù khu vực hay những truyền thống văn hóa, đặc thù trong tín ngưỡng, tôn giáo… Các quốc gia phương Tây cho rằng quyền con người chính là sự tự do cá nhân, đặc biệt nhấn mạnh vai trò cá nhân và những lợi ích của cá nhân, đôi khi còn đặt lợi ích của dân tộc sau tự do cá nhân Còn các quốc gia xã hội chủ nghĩa đặc biệt nhấn mạnh quyền và lợi ích của quốc gia dân tộc, xem quyền và lợi ích đó là tiền đề của sự phát triển, tiến bộ và văn minh Tuyên bố Viên và Chương trình hành động năm 1993 đã nói rõ rằng: “…Các quốc gia không phân biệt hệ thống chính trị, kinh tế, văn hóa trong khi thực hiện nghĩa vụ đề cao và bảo vệ tất cả các quyền con người và các tự do cơ bản, phải luôn ghi nhờ tính đặc thù dân tộc, khu vực và bối cảnh khác nhau”

1.5.3 Tính không thể bị tước đoạt một cách vô cớ, tùy tiện của quyền con người

Kể từ khi quyền con người được xã hội, nhà nước và pháp luật chính thức thừa nhận (thời kỳ cách mạng tư sản) thì quyền con người được biết đến như những đặc quyền của con người không thể bị tước đoạt bởi bất kỳ ai Quyền con người khi đã được pháp luật quy định, ghi nhận thì những quyền này trở thành độc lập với bất kỳ quyền uy nào, kể cả các cơ quan nhà nước hay những viên chức nhà nước cao cấp

Tính không thể tước đoạt được hiểu là quyền con người không thể bị tước đoạt một cách vô cớ, tùy tiện Sở dĩ quyền con người không thể bị tước đoạt một cách vô cớ, tùy tiện là vì đó là những giá trị, nhân phẩm vốn có của con người, gắn liền với nhân thân của mỗi người Hầu hết các văn kiện pháp lý quốc tế về nhân quyền cũng như trong các công trình nghiên cứu đều khẳng định rằng quyền con người là những quyền thiêng liêng, cao quý của con người và là mục tiêu phát triển chung của toàn nhân loại Theo đó, không một quốc gia nào, không

Trang 23

một tổ chức hay cá nhân nào có thể tước đoạt hay xâm phạm Tuyên ngôn thế giới về nhân quyền năm 1948 thừa nhận rằng “các quyền con người là những phẩm giá vốn có và các quyền bình đẳng và bất khả chuyển nhượng của mọi thành viên trong gia đình nhân loại” 15

Tuy nhiên, tính không thể bị tước đoạt này không phải là tuyệt đối mà chỉ mang tính chất tương đối Sở dĩ nói như vậy là vì trong một số trường hợp nhất định, quyền con người của người có hành vi vi phạm pháp luật có thể bị tước đoạt để bảo vệ quyền con người của người khác Ở Việt Nam, pháp luật hình sự buộc một người phải chịu trách nhiệm hình sự khi thực hiện những hành vi vi phạm pháp luật hình sự gây ảnh hưởng xấu đến tính mạng, sức khỏe, danh dự, nhân phẩm của người khác Cơ sở của việc tước đoạt quyền của người có hành vi vi phạm là để bảo vệ quyền con người của người khác, bảo vệ những lợi ích to lớn hơn như lợi ích của quốc gia, dân tộc hay của những nhóm người nhất định Và khi thực hiện việc tước đoạt này, thường chỉ thực hiện tước đoạt một số quyền nhất định hoặc trong một khoảng thời gian nhất định chứ không tước đoạt toàn bộ quyền con người của một cá nhân

1.5.4 Quyền con người có tính không thể phân chia

Quyền con người là một thể thống nhất không thể phân chia được cũng là một

trong những đặc điểm cơ bản của quyền con người Tính không thể phân chia này còn được hiểu là các quyền phải được coi trọng như nhau và phải được đối xử như nhau, không được xem trọng quyền, nhóm quyền này hơn quyền hay nhóm quyền khác Các quyền này cùng tồn tại, tác động qua lại, hỗ trợ lẫn nhau và tạo thành một thể thống nhất

Sự tồn tại của các quyền này trong tổng thể quyền con người không phải là một phép cộng cơ học mà giữa chúng luôn mối quan hệ biện chứng với nhau Có

15 Lời nói đầu Tuyên ngôn Thế giới về nhân quyền năm 1948

Trang 24

thể thấy rằng các quyền về dân sự – chính trị ra đời sớm hơn các quyền về kinh tế, xã hội và văn hóa nhưng không có nghĩa rằng các quyền về dân sự – chính trị có quan trọng hơn Hai nhóm quyền này đều thể hiện nhu cầu của con người cả về vật chất lẫn tinh thần Nếu thiếu một trong hai loại nhu cầu này, con người

“không thể sống như một con người” Sự gắn kết này càng có ý nghĩa đặc biệt quan trọng hơn trong thời đại mà con người và quyền của họ là trung tâm của mọi quan hệ xã hội Tuy vậy, ở từng quốc gia khác nhau với những điều kiện phát triển kinh tế, xã hội, văn hóa khác nhau, trong từng giai đoạn, tình hình khác nhau, từng nhà nước sẽ có sự chú trọng, phát triển, hoàn thiện nhóm quyền nào hơn Đây cũng là một thực tế và cũng là một điều dễ hiểu vì cơ sở hạ tầng luôn quyết định kiến trúc thượng tầng Có thể dễ dàng lý giải điều này từ trong lịch sử hình thành và phát triển quyền con người Như đã nói ở trên, thế hệ quyền con người thứ nhất gắn với cuộc cách mạng dân chủ tư sản và khẳng định mạnh mẽ các nhóm quyền về dân sự – chính trị vì đa phần những người tham gia cuộc cách mạng đó đều là tầng lớp tư sản Bên cạnh những tư liệu sản xuất mà họ có được, họ còn mong muốn những quyền lợi về dân sự và chính trị để thực hiện quyền làm chủ của mình trước sự cai trị hà khắt và quân chủ chuyên chế của chế độ phong kiến Tương tự, thế hệ quyền con người thứ hai gắn với cuộc cách mạng vô sản mà tiêu biểu là Cách mạng tháng Mười Nga lại khẳng định mạnh mẽ các quyền về kinh tế, xã hội và văn hóa vì tại thời điểm đó, dưới sự ảnh hưởng của chủ nghĩa Mác – Lênin, sự phát triển kinh tế, các quyền về kinh tế mới là nền tảng của sự phát triển, tiến bộ của xã hội

Một khía cạnh khác của tính không thể phân chia được là sự xuất hiện của các công ước quốc tế về quyền của những nhóm người nhất định như Công ước quyền trẻ em 1989, Công ước về xóa bỏ mọi hình thức phân biệt đối với phụ nữ 1979… Đây là những đối tượng dễ bị tổn thương, dễ bị thiệt thòi vì những giới

Trang 25

hạn về sức khỏe, độ tuổi hoặc những đặc trưng sinh học Do vậy, các nhà lập pháp thấy rằng việc bảo vệ họ là cần thiết Những quy định như vậy cũng như sự

ra đời của những công ước đó tuyệt nhiên không phải là sự phân biệt đối xử giữa những nhóm quyền của những nhóm chủ thể khác nhau trong xã hội mà chỉ nhằm tạo sự công bằng giữa mọi chủ thể trong xã hội để họ có thể được đối xử công bằng, bình dẳng cũng như được hưởng những quyền lợi như nhau

Như vậy, nếu các quốc gia, các nhà lập pháp nhận ra rằng trong từng giai đoạn khác nhau, sự chú trọng các nhóm quyền khác nhau cũng sẽ mang lại những giá trị lợi ích vô cùng to lớn cho sự phát triển đất nước Đây cũng là một trong những yếu tố quyết định hiệu quả của các chính sách cũng như chủ trương của

nhà nước

1.5.5 Tính liên hệ, phụ thuộc lẫn nhau giữa các quyền con người

Ngoài tính không thể chia cắt được, giữa các quyền con người còn có sự liên hệ, tác động qua lại và phụ thuộc lẫn nhau Nói cách khác, các quyền này không tồn tại một cách biệt lập nhau Cùng với đặc tính không thể phân chia được, trong thể thống nhất đó, các quyền con người luôn luôn tương tác nhau mà thậm chí là còn có mối quan hệ phụ thuộc nhau Cũng có thể nói rằng chúng cùng tồn tại trong một thể thống nhất và quyền này là điều kiện để đảm bảo thực hiện quyền khác và ngược lại Điều này dễ dàng thấy rõ trong thực tế Ở các quốc gia có nền kinh tế phát triển, việc đảm bảo các quyền về kinh tế được thực hiện một cách hiệu quả là điều kiện tốt nhất cho sự phát triển, hoàn thiện các quyền về xã hội, văn hóa và ngược lại Khi điều kiện kinh tế, văn hóa, xã hội đã ở một tầm cao mới thì đây lại là một nên tảng vững chắc cho việc thực hiện và đảm bảo các quyền về dân sự – chính trị Khi người dân đã có được cuộc sống sung túc, đầy đủ, ấm no hạnh phúc, trình độ nhận thức được nâng cao, họ mới có thể toàn tâm toàn ý thực hiện nghĩa vụ của một công dân cũng như trong việc cùng nhau tham

Trang 26

gia thực hiện quyền làm chủ của mình Ngược lại, nhà nước với một đội ngũ cán bộ công chức có tài có đức, một hệ thống pháp luật tương đối hoàn thiện không chỉ là điều kiện tốt nhất cho sự phát triển kinh tế, xã hội, văn hóa mà còn tạo nên một sức hút mạnh mẽ với các nhà đầu tư cũng như những thị trường tiêu thụ lớn trên Thế giới Như vậy, với tư cách là giá trị chung của nhân loại, quyền con người đã trở thành chiếc cầu nối các quốc gia xích lại gần nhau hơn

1.5.6 Quyền con người được xây dựng trên cơ sở tôn trọng nhân phẩm và những giá trị của mỗi cá nhân

Sỡ dĩ nói quyền con người được xây dựng trên cơ sở tôn trọng nhân phẩm và giá trị của mỗi cá nhân là vì tất cả các quyền con người đều xuất phát từ chính nhân phẩm và giá trị của con người và nhằm mục đích bảo vệ con người Nhân phẩm vốn được xem là nền tảng, là “gốc” của quyền con người (“Quyền con người bắt nguồn từ những nhân phẩm vốn có”) Đặc điểm này cũng đã được quy định trong hầu hết các văn kiện pháp lý quốc tế như Hiến chương Liên Hợp Quốc

1945, Tuyên ngôn nhân quyền quốc tế 1948 Các quyền về chính trị như quyền bầu cử, quyền ứng cử, tự do lập hội,… là sự bảo đảm, tôn trọng của nhà nước đối với công dân trong việc tham gia quản lý xã hội cũng như vai trò làm chủ của mình Hay trong các quyền tự do tín ngưỡng, tự do ngôn luận, tự do báo chí… đều thể hiện sự tôn trọng nhân phẩm và giá trị của con người trong sự tự do ý chí của họ Bản thân việc xây dựng quyền con người trên cơ sở tôn trọng nhân phẩm và giá trị của con người cũng sẽ làm triệt tiêu các chế độ độc tài, quân phiệt – chế độ đã ngăn cản sự phát triển kinh tế, nhận thức của con người và chà đạp thậm tệ

lên nhân phẩm con người

1.5.7 Quyền con người xác định nghĩa vụ của các chủ thể khác

Quyền con người còn xác định nghĩa vụ cho các chủ thể khác trong xã hội nghĩa là chủ thể vi phạm hoặc làm ảnh hưởng đến quyền con người có thể là bất

Trang 27

kỳ cá nhân, tổ chức hoặc thậm chí là các cơ quan nhà nước Ngày nay, trong giai đoạn mà nhà nước và pháp luật ngày càng có vị thế cao trong việc quản lý và kiểm soát xã hội thì nghĩa vụ của các nhà nước vẫn luôn là nghĩa vụ cơ bản, thiết yếu và ngày càng được nâng cao hơn Cùng với sự phát triển đa dạng, phong phú của xã hội, quyền con người cũng đã đặt ra nghĩa vụ cho các chủ thể mới như các công ty xuyên quốc gia, các tổ chức liên chính phủ… Việc xác định nghĩa vụ cho các chủ thể khác góp phần rất lớn trong xu hướng nghiên cứu mới – tiếp cận quyền con người dưới những góc độ khác nhau trong mọi mặt của đời sống Mặt khác, trên thực tế, việc xác định này cũng đặt nghĩa vụ bảo vệ quyền con người

vào mọi chủ thể để việc đảm bảo được thực hiện triệt để và nhanh chóng hơn

1.5.8 Quyền con người không chỉ được bảo vệ bằng pháp luật của quốc gia mà còn được bảo vệ bằng pháp luật quốc tế

Cùng với xu hướng toàn cầu hóa, hội nhập và phát triển, quyền con người không còn là một vấn đề của riêng một quốc gia nào cả mà đã vượt qua biên giới quốc gia và trở thành vấn đề chung của toàn nhân loại, mang tầm cỡ quốc tế Do vậy, ngày nay, quyền con người không chỉ được bảo vệ bởi pháp luật quốc gia mà còn được bảo vệ bởi pháp luật quốc tế Theo đó, sự vi phạm quyền con người là vi phạm pháp luật quốc gia và cả pháp luật quốc tế nữa Điều đó cho thấy nhân quyền ngày càng được quan tâm, bảo vệ chặt chẽ và nghiêm ngặt hơn Việc nghiên cứu những đặc điểm của quyền con người là một trong những nội dung rất quan trọng của hàng trăm, hành ngàn công trình nghiên cứu Nó không chỉ mang lại những giá trị lý luận vô cùng to lớn mà còn có những giá trị thực tiễn thật cần thiết, đặc biệt là trong việc hoạch định chính sách phát triển ở các quốc gia nói riêng và hoạch định mục tiêu phát triển chung trên toàn Thế giới nói chung

Trang 28

1.6 PHÂN LOẠI QUYỀN CON NGƯỜI

Nếu như các thế hệ quyền con người mang lại cho người nghiên cứu những tư duy tổng quát về nhân quyền thì việc phân loại nhân quyền lại giúp cho người nghiên cứu có cái nhìn cụ thể hơn trong từng nhóm quyền Dù vậy, như đã nói ở trên, quyền con người là một thể thống nhất không thể phân chia hay tách tời được nhưng tùy từng mục đích nghiên cứu khác nhau mà người ta có thể phân nhóm các quyền con người dựa trên những tiêu chí nhất định Việc phân nhóm này tạo nên những nhóm quyền khác nhau có cùng chung những đặc tính nhất định Điều đó giúp cho người nghiên cứu lẫn người đọc có thể nghiên cứu cụ thể, dễ dàng và chuyên sâu từng nhóm quyền cụ thể Các cách phân nhóm phổ biến như sau:

1.6.1 Dựa vào bản chất quyền

Dựa vào hai Công ước quốc tế về các quyền dân sự và chính trị và Công ước quốc tế về các quyền kinh tế, xã hội và văn hóa có thể thấy rằng Liên hợp quốc

đã dựa vào bản chất của quyền để phân chia các quyền con người thành hai

nhóm quyền là nhóm quyền dân sự và chính trị và nhóm quyền kinh tế, xã hội và

văn hóa Nhóm các quyền dân sự và chính trị được hiểu là nhóm các quyền cơ

bản của con người và là nhóm quyền ra đời sớm hơn vì đó là những quyền có tính

chất gắn bó mật thiết với nhân thân con người Trong đó, các quyền dân sự là

các quyền của cá nhân con người được bảo vệ khỏi mọi sự can thiệp vô cớ vào đời tư, tự do, quyền được tôn trọng danh dự, nhân phẩm như: quyền sống, quyền tự do đi lại, quyền xét xử công bằng… Các quyền này là các quyền nhân thân, gắn liền với mỗi cá nhân, không thể dịch chuyển cho người khác được và cũng

không thể bị tước đoạt một cách vô cớ Các quyền chính trị được hiểu là các

quyền của cá nhân được tham gia vào các công việc của nhà nước và xã hội như quyền bầu cử, quyền ứng cử, quyền tự do ngôn luận, tự do báo chí, hội họp biểu

Trang 29

tình… Bên cạnh nhóm quyền dân sự và chính trị, nhóm các quyền kinh tế, xã hội,

văn hóa phản ánh nhu cầu ngày càng tăng của con người nhằm cải thiện tình

trạng cũng như điều kiện sống Các quyền thường thấy như: quyền có nhà ở, quyền làm việc, quyền được chăm sóc sức khỏe, quyền giáo dục…

1.6.2 Dựa vào đối tượng hưởng thụ

Dựa vào đối tượng hưởng thụ, quyền con người được phân chia thành ba nhóm

quyền như sau: quyền của cá nhân, quyền của nhóm, quyền của quốc gia, dân tộc

16 Trong đó, quyền của cá nhân là những quyền riêng biệt gắn với mỗi cá nhân

hay nói cách khác, các cá nhân là chủ thể hưởng thụ các quyền này Họ được hưởng thụ các quyền này một cách độc lập, không phụ thuộc vào bất kỳ cá nhân nào khác Các quyền này thường có mối hệ chặt chẽ với quyền công dân, thể

hiện tính đặc thù của nhân quyền Quyền của nhóm là quyền nhằm bảo vệ cho

những nhóm người có cùng chung cảnh ngộ, lợi ích Nhóm quyền này thường tạo điều kiện cho họ có được sự đối xử như những con người bình thường khác vì hầu hết họ là những người dễ bị tổn thương hoặc bị thiệt thòi trong xã hội Cụ thể như quyền của phụ nữ, quyền trẻ em, quyền của người tàn tật, người già, người tị

nạn… Quyền của quốc gia, dân tộc có thể kể đến như quyền tự quyết, quyền tự

do lựa chọn chế độ chính trị, tự do phát triển kinh tế, văn hóa, xã hội Nhóm các quyền cá nhân, quyền của nhóm có sự thống nhất và quan hệ biện chứng với nhau Mỗi nhóm quyền này không thể đứng biệt lập nhau mà phải luôn có sự tương tác, hỗ trợ lẫn nhau nhằm điều hòa lợi ích của toàn bộ chủ thể hưởng thụ và vì lợi ích chung của toàn quốc gia, dân tộc

1.6.3 Dựa vào tính chất tiên quyết trong việc thực hiện các quyền

16 Giáo trình Luật quốc tế, Trường Đại học Luật Hà Nội, NXB Công An Nhân Dân, Hà Nội

2007, trang 135

Trang 30

Dựa vào tính chất tiên quyết trong việc thực hiện các quyền, có thể phân

quyền con người thành hai nhóm quyền như sau: nhóm các quyền tuyệt đối và

nhóm các quyền tương đối Nhóm các quyền tuyệt đối là các quyền đòi hỏi phải

được thực hiện ngay lập tức mà không có bất kỳ sự trì hoãn nào Các quyền này thường là các quyền dân sự gắn với nhân thân con người và là “ranh giới” phân định có hay không có quyền con người Mặt khác, có thể thấy rằng chính tính chất nhân thân đó đã làm cho việc thực hiện các quyền này không phụ thuộc quá

nặng nề vào trình độ phát triển kinh tế, xã hội Nhóm các quyền tương đối là các

quyền có thể thực hiện dần dần vì nó phụ thuộc vào trình độ phát triển kinh tế, văn hóa, xã hội của từng quốc gia và thể hiện rõ rệt tính đặc thù của nhân quyền Việc thực hiện các quyền này được đặt trong tổng hòa mối tương quan với các yếu tố, lợi ích khác và có một “lộ trình” nhất định Các quyền về kinh tế, xã hội và văn hóa là minh chứng cụ thể cho nhóm quyền này

Như vậy tùy từng mục đích nghiên cứu khác nhau mà người nghiên cứu có thể phân nhóm quyền con người dựa trên những tiêu chí khác nhau Tuy nhiên việc phân nhóm này chỉ có tính chất tương đối vì bản thân quyền con người là một thể thống nhất và giữa các quyền này luôn có mối quan hệ biện chứng với

nhau

1.7 QUYỀN CON NGƯỜI VÀ QUYỀN CÔNG DÂN

Quyền con người ban đầu là lĩnh vực thuộc thẩm quyền riêng biệt của từng quốc gia nhưng kể từ sau khi nó được công nhận là giá trị chung của toàn nhân loại bằng các văn kiện pháp lý quốc tế về nhân quyền thì quyền con người đã quay trở lại điều chỉnh, chi phối hệ thống pháp luật các quốc gia trên Thế giới, đặc biệt là trong việc tôn trọng, thừa nhận và thực hiện nhân quyền ở cấp độ quốc gia Ngày nay, quyền công dân là một trong những tiêu chí để đánh giá tình

Trang 31

hình nhân quyền ở cấp độ quốc gia dựa trên những chuẩn mực chung của Thế giới

Quyền con người và quyền công dân là hai khái niệm cùng loại với nhau17 Chúng có mối quan hệ chặt chẽ với nhau, và có sự thống nhất tương đối với nhau Sự thống nhất đó giữa quyền con người và quyền công dân là một minh chứng cụ thể của tính thống nhất ở con người Nói cách khác, con người là một thể thống nhất nên quyền và lợi ích chính đáng của họ phải thống nhất với nhau Do có sự thống nhất đó mà quyền công dân không thể nằm ngoài quyền con người được Điều này có ý nghĩa vô cùng to lớn trong việc hoạch định chính sách phát triển quốc gia cũng như sự phát triển của quyền con người Mặt khác, xét về nguồn gốc của hai khái niệm thì rõ ràng rằng giữa chúng luôn có chung một mục đích là

“tự do, bình đẳng và bác ái” Quyền con người mang đến cho nhân loại tư tưởng tự do, bình đẳng và bác ái và cũng dựa trên tư tưởng này, chế định quyền công dân đã được sản sinh ra Nếu như quyền con người thế hệ thứ nhất mang lại cho nhân loại tư tưởng tự do, bình đẳng và bác ái thì nó cũng đã cống hiến cho nhân loại một giá trị vô cùng to lớn là chế định quyền công dân18 Mối quan hệ khăng khít giữa chúng biểu hiện rất rõ khi quyền công dân là công cụ để đảm bảo thực hiện quyền con người và ngược lại, quyền con người là một công cụ vô cùng hiệu quả trong việc đòi và bảo đảm thực hiện quyền công dân Đặc biệt là trong các cuộc đấu tranh giành độc lập, tự do và chủ quyền của những quốc gia bị xâm lược vào thời kỳ “vàng son” của chủ nghĩa phát xít và chủ nghĩa đế quốc, quyền

Trang 32

con người luôn là công cụ hiệu quả nhất và vững chắc nhất để họ đòi lại quyền lợi chính đáng của mình

Tuy nhiên, quyền con người và quyền công dân là hai khái niệm không đồng nhất với nhau Biểu hiện cụ thể nhất là việc chúng không loại trừ nhau và cũng không thay thế cho nhau được Quyền công dân không thể bao trùm hết và cũng không che lấp được quyền con người Những khác biệt nhất định có thể kể đến như:

Xét ở khía cạnh lịch sử, quyền con người ra đời sớm hơn quyền công dân Nếu

xét về bản chất thì quyền con người đã được biết đến từ khi có xã hội loài người, có các cuộc đấu tranh giai cấp và đấu tranh xã hội Còn quyền công dân thì xuất hiện cùng với sự xuất hiện chủ nghĩa lập hiến, cùng với quốc tịch và đã được nhà nước tư sản cũng như pháp luật tư sản thừa nhận lần đầu tiên trên Thế giới

Về bản chất của khái niệm thì quyền con người là những quyền tự nhiên của

con người mà mọi nhà nước và pháp luật đều phải thừa nhận Còn quyền công dân lại là một sản phẩm của pháp luật, do pháp luật quy định Và do vậy có thể nói nó là nét đặc trưng riêng biệt của từng quốc gia chứ không mang tính phổ biến toàn cầu như quyền con người Quyền công dân thể hiện rõ nét nguyên tắc quyền dân tộc tự quyết của quốc gia trong các quan hệ quốc tế, đặc biệt là về

vấn đề mang tính chủ quyền này

Về chủ thể của khái niệm, quyền công dân là quyền của một tập hợp các cá

nhân mang quốc tịch của một quốc gia cụ thể còn quyền con người có chủ thể là những con người hoặc những nhóm người nói chung không kể quốc tịch, văn hóa, dân tộc, chủng tộc,… Như vậy có thể thấy số lượng, loại chủ thể và tầm bao quát của quyền con người nhiều, rộng và đa dạng hơn của quyền công dân Điều đó chứng tỏ rằng quyền con người vừa xác định trách nhiệm của nhà nước trong việc bảo vệ quyền con người của công dân mình nhưng cũng phải vừa tôn trọng, bảo

Trang 33

đảm quyền con người của những chủ thể khác không phải là công dân Mặt khác, việc xác định trách nhiệm của nhà nước đối với công dân của mình như vậy cũng là một cách thức hạn chế sự lạm quyền từ nhà nước trong mọi hoạt động mà đặc biệt là trong lĩnh vực kinh tế và chính trị Nói về vấn đề này, Jacques Mourgon đã từng cho rằng Tuyên ngôn dân quyền và nhân quyền năm 1789 của Pháp có một tầm vóc vô cùng vĩ đại là vì nó khẳng định rằng “không hay biết, lãng quên hay khinh bỉ các quyền con người là những nguyên nhân duy nhất của bất hạnh chung” 19 Nói cách khác là nó nhằm vào và hướng tới con người nói chung chứ không phải bất kỳ công dân nào hay thậm chí là bất cứ công dân của quốc gia nào

Nếu xét về nghĩa vụ của nhà nước thì quyền công dân là thuật ngữ pháp lý chỉ

mối quan hệ giữa giữa các cá nhân với nhà nước mà người đó mang quốc tịch còn quyền con người không chỉ là sự bảo đảm của nhà nước với công dân mà còn là một bản “cam kết” của nhà nước với cộng đồng quốc tế về nghĩa vụ của mình đối với vấn đề nhân quyền của toàn cầu

Về pháp luật điều chỉnh, quyền công dân chỉ chịu sự điều chỉnh của pháp luật

quốc gia còn quyền con người chịu sự điều chỉnh của hệ thống pháp luật quốc gia và cả pháp luật quốc tế nữa Như vậy, quyền con người có sự bảo vệ nghiêm ngặt, chặt chẽ hơn quyền công dân bởi cơ chế điều chỉnh của pháp luật

Mặt khác, nếu xét về tính có thể bị tước đoạt thì quyền con người không bị

tước đoạt bởi bất kỳ chủ thể nào thậm chí là từ các nhà nước nhưng quyền công dân thì có thể bị nhà nước tước đoạt khi có hành vi vi phạm pháp luật về quốc tịch của quốc gia mà người đó mang quốc tịch Sự khác biệt này xuất phát từ sự khác biệt về bản chất khái niệm giữa chúng đã nêu ở trên Quyền con người

19 Jacques Mourgon: Quyền con người, Trung tâm nghiên cứu quyền con người, Hà Nội, 1995, trang 48

Trang 34

thuộc sỡ hữu của tất cả mọi người còn quyền công dân là lĩnh vực thuộc thẩm quyền riêng biệt của từng quốc gia và do vậy công dân có thể bị nhà nước tước quốc tịch đồng thời với việc tước đi quyền công dân của họ

Trong xã hội ngày nay, bỏ qua mọi sự khác biệt đó, quyền con người và quyền công dân ngày càng xích lại gần nhau và cùng nhau trở thành hai công cụ bảo vệ vô cùng hiệu quả cho con người nói chung và công dân nói riêng Đặc biệt là khi quyền con người trở thành đối tượng điều chỉnh của pháp luật, được thừa nhận và bảo vệ trong hệ thống pháp luật quốc gia mà cụ thể là qua một hệ thống quyền và nghĩa vụ công dân thì quyền con người mới thực sự phát huy giá trị thực tiễn của nó và trở thành hiện thực Thực ra việc nghiên cứu mối quan hệ cũng như đưa ra sự so sánh giữa quyền con người và quyền công dân không phải chỉ là sự nghiên cứu máy móc và mang tính lý luận Sự so sánh giữa chúng mang lại giá trị thực tiễn to lớn như đã nói ở trên và qua đó, một lần nữa khẳng định lại sự phê phán nhân quyền tư sản của Lênin rằng những quyền của con người và của công dân chỉ thực sự là quyền khi nó được thực hiện thông qua việc giải phóng toàn diện con người về cá nhân và về xã hội chứ không phải là việc các quyền này được thể hiện trong các văn bản pháp lý20

20 PTS Chu Hồng Thanh, Quyền con người và luật quốc tế về quyền ocn người, NXB Chính trị quốc gia, trang 34

Trang 35

CHƯƠNG 2: PHÁP LUẬT QUỐC TẾ VỀ QUYỀN CON NGƯỜI VÀ CƠ CHẾ ĐẢM BẢO QUYỀN CON NGƯỜI

2.1 KHÁI QUÁT CHUNG CỦA PHÁP LUẬT QUỐC TẾ VỀ QUYỀN CON NGƯỜI

Sau thảm họa tàn khốc của cuộc chiến tranh Thế giới lần thứ hai với hơn 60 triệu người chết, những ý tưởng về việc bảo vệ con người mới thực sự có bước phát triển nhảy vọt Năm 1945, với sự ra đời của tổ chức Liên hợp quốc – một tổ chức quốc tế có trách nhiệm bảo vệ và phát triển các quyền con người (“The United Nations is engaged in a wide range of activities aimed at fulfilling one of its principal purposes the promotion and protection of human rights” 21), quyền con người mới thực sự trở thành mục tiêu chung của toàn nhân loại Trước đó, những ý tưởng về bảo vệ toàn cầu đối với quyền con người đã bắt đầu từ lâu trong các phong trào triết học, xã hội cũng như chính trị và cao hơn nữa sự xuất hiện của tổ chức Hội chữ thập đỏ quốc tế và Tổ chức lao động quốc tế Dù vậy, những chuẩn mực đó không đủ sức để kéo loài người cũng như chủ nghĩa tư bản, chủ nghĩa đế quốc ra khỏi những tham vọng kinh tế và những mưu tính chính trị Cùng với sự ra đời của tổ chức Liên hợp quốc, ngày 26 tháng 6 năm 1945, Hiến chương Liên hợp quốc cũng đã được thông qua Hiến chương mang đến cho nhân loại những giá trị nhân văn vô cùng to lớn mà quan trọng hơn hết là việc Hiến chương xác định quyền con người là mục tiêu, là động lực và là nguyên tắc trong sự phát triển của cộng đồng quốc tế Những quy định liên quan trực tiếp

21 Raoul Wallenger Institute of Human Rights and Humanitarian Law, United Nations – Human rights fact sheets, No 1 – 27, Lund 2001, trang 363 Đây cũng là một trong bốn mục đích chính được khẳng định tại Khoản 3 Điều 1 Hiến chương Liên hợp quốc

Trang 36

đến vấn đề quyền con người trong Hiến chương cụ thể là Lời nói đầu, Điều 1, Điều 55, Điều 62 và Điều 68 Cụ thể như sau: “tin tưởng vào các quyền cơ bản của con người, ở phẩm giá và giá trị của con người, ở quyền bình đẳng giữa nam, nữ và ở quyền bình đẳng giữa các nước lớn và nhỏ”22; xác định sự tôn trọng quyền con người là nền tảng cho việc đạt được mục đích của liên hợp quốc cũng như khuyến khích sự phát triển và sự tôn trọng quyền con người và những quyền tự do cơ bản cho tất cả mọi người, không phân biệt chủng tộc, nam, nữ, ngôn ngữ hoặc tôn giáo 23; khuyến khích sự tôn trọng một cách phổ biến có hiệu lực nhân quyền và những quyền tự do cơ bản cho tất cả mọi người…24; Hội đồng kinh tế và xã hội có quyền tiến hành điều tra và làm báo cáo hay “đưa ra những kiến nghị nhằm khuyến khích sự tôn trọng các quyền và tự do cơ bản của con người”25; ủy quyền cho Hội đồng kinh tế và xã hội thành lập các ủy ban chuyên môn về vấn đề nhân quyền 26 Hiến chương Liên hợp quốc đã đặt những viên gạch đầu tiên cho sự ra đời và phát triển của một ngành luật quốc tế mới – Luật quốc tế về nhân quyền Đây là một ngành luật mang lại những giá trị nhân văn to lớn và góp phần vô cùng quan trọng trong việc bảo vệ quyền và tự do cơ bản của con người

22 Các văn bản công pháp quốc tế và văn bản pháp luật Việt Nam có liên quan (tái bản lần thứ hai, có sữa chữa bổ sung), NXB Chính trị quốc gia, Hà Nội 2006, trang 8

23 Khoản 3 Điều 1 Hiến chương Liên hợp quốc

24 Điều 55 Hiến chương Liên hợp quốc

25 Nguyễn Xuân Linh: Một số vấn đề của Luật quốc tế, NXB Thành phố Hồ Chí Minh 1995, trang 191

26 Điều 68 Hiến chương Liên hợp quốc: “Hội đồng kinh tế và xã hội lập ra những ủy ban phụ trách các vấn đề kinh tế và xã hội và sự phát triển nhân quyền cũng như tất cả các ủy ban khác cần thiết cho việc thi hành những chức năng của Hội đồng.”

Trang 37

trên phạm vi toàn cầu cũng như góp phần tích cực vào công cuộc đấu tranh vì hòa bình, ổn định, hợp tác và phát triển của nhân loại27

Ngày nay, Luật quốc tế về nhân quyền được biết đến như một “tổng thể các nguyên tắc và quy phạm pháp luật, điều chỉnh quan hệ giữa các chủ thể luật quốc tế trong việc bảo vệ và phát triển các quyền cơ bản của con người ở từng quốc gia cũng như trên phạm vi toàn cầu”28 Theo đó, ngành luật này điều chỉnh các mối quan hệ giữa các quốc gia trong việc bảo vệ các quyền và tự do của con người thông qua việc đưa ra các chuẩn mực về các quyền cụ thể của con người Qua đó, các quốc gia ghi nhận, tôn trọng và thực hiện bằng hệ thống pháp luật của quốc gia đó cũng như bằng các cơ chế bảo vệ khác tùy thuộc vào điều kiện phát triển kinh tế, xã hội, văn hóa hay tôn giáo…

Dù có những cách thức thực hiện khác nhau nhưng cộng đồng quốc tế nói chung và nhiều quốc gia trên Thế giới nói riêng đã đạt được một thành tựu vô cùng to lớn Đó là hai mươi tư văn kiện cơ bản về quyền con người đã ra đời 29 Đây không chỉ là một đóng góp to lớn cho Luật quốc tế mà còn mang lại công cụ bảo vệ hiệu quả của con người khỏi sự xâm phạm từ các nhà nước cũng như việc đòi hỏi quyền lợi chính đáng của mình Hai mươi mốt Công ước có thể kể đến như sau:

1 Tuyên ngôn Thế giới về nhân quyền năm 1948

2 Công ước về ngăn ngừa và trừng trị tội diệt chủng năm 1948

27 PTS Chu Hồng Thanh, Quyền con người và Luật quốc tế về quyền con người, NXB Chính trị quốc gia 1997, trang 62

28 Giáo trình Luật quốc tế, Đại học Luật Hà Nội, NXB Công an nhân dân năm 2007, trang 130

29 Theo Giáo trình Luật quốc tế, Đại học Luật Hà Nội, NXB Công an nhân dân năm 2007 và một số tài liệu khác thì đã có 24 công ước quốc tế về quyền con người nhưng sau quá trình tìm kiếm trên các tài liệu và mạng internet, tác giả chỉ tìm và tập hợp được 21 công ước quốc tế về nhân quyền

Trang 38

3 Công ước về trao quyền độc lập cho các nước thuộc địa và nhân dân các nước thuộc địa năm 1950

4 Công ước liên quan đến tình trạng của người tị nạn năm 1950

5 Công ước về quyền chính trị của phụ nữ năm 1952

6 Công ước quốc tế về loại trừ các hình thức phân biệt chủng tộc năm 1965

7 Công ước quốc tế về các quyền dân sự và chính trị năm 1966

8 Công ước quốc tế về các quyền kinh tế, xã hội và văn hóa năm 1966

9 Tuyên bố về các nguyên tắc hợp tác quốc tế về văn hóa năm 1966

10 Tuyên bố Têhêran năm 1968 (Tuyên bố của Hội nghị nhân quyền Thế giới tại Têhêran ngày 13/05/1968)

11 Công ước không áp dụng những hạn chế luật định đối với tội phạm chiến tranh và tội phạm chống nhân loại năm 1968

12 Công ước quốc tế về ngăn chặn và trừng trị tội ác Apacthai năm 1973

13 Công ước quốc tế về xóa bỏ mọi hình thức phân biệt đối xử với phụ nữ năm 1979

14 Tuyên bố về quyền các dân tộc được sống trong hòa bình năm 1984

15 Công ước về chống các hình thức tra tấn, nhục hình, đối xử vô nhân đạo hay hạ nhục con người năm 1984

16 Công ước quốc tế về quyền trẻ em năm 1989

17 Công ước về bảo vệ quyền của tất cả các công nhân nhập cư và các thành viên gia đình họ năm 1990

18 Tuyên bố Viên và Chương trình hành động năm 1993

19 Tuyên ngôn về sử dụng những tiến bộ khoa học và kỹ thuật vào mục đích hòa bình và vì lợi ích của nhân loại năm 1995

20 Công ước quốc tế về quyền của người khuyết tật năm 2006

21 Công ước về các quyền và nhân phẩm con người

Trang 39

“Hiện nay Việt Nam được xem là một thành viên tích cực của Liên Hợp quốc và đã nổ lực phấn đấu vì quyền con người” 30 Đến nay, Việt Nam đã tham gia chín Công ước quốc tế cơ bản về quyền con người Cụ thể là:

1 Công ước về ngăn ngừa và trừng trị tội Apacthai năm 1973 (Việt Nam gia nhập ngày 09/06/1981)

2 Công ước về ngăn ngừa và trừng trị tội diệt chủng năm 1984 (Việt Nam gia nhập ngày 09/06/1981)

3 Công ước quốc tế về loại trừ mọi hình thức phân biệt chủng tộc năm 1965 (Việt Nam gia nhập ngày 09/06/1981)

4 Công ước quốc tế về các quyền dân sự và chính trị năm 1966 (Việt Nam gia nhập ngày 24/09/1982)

5 Công ước quốc tế về các quyền kinh tế, xã hội và văn hóa năm 1966 ((Việt Nam gia nhập ngày 24/09/1982)

6 Công ước về xóa bỏ tất cả các hình thức phân biệt đối xử với phụ nữ năm

1979 (Việt Nam phê chuẩn ngày 09/06/1981)

7 Công ước về không áp dụng các hạn chế luật định đối với tội ác chiến tranh và tội ác chống nhân loại năm 1968 (Việt Nam gia nhập ngày 04/06/1983)

8 Công ước về quyền trẻ em năm 1989 (Việt Nam phê chuẩn ngày 20/02/1990)

9 Công ước quốc tế về quyền của người khuyyết tật năm 2006 (Việt Nam phê chuẩn vào ngày 22/10/2007)

Mặt khác, đối với hệ thống pháp luật quốc gia, các quyền dân sự, chính trị, kinh tế, xã hội và văn hóa được đánh giá là đã tương thích với luật quốc tế về quyền con người Đảng và nhà nước ta cũng đã bày tỏ rõ quan điểm của mình về

30 Quyền con người – Tiếp cận liên ngành và đa ngành khoa học xã hội, NXB Khoa học xã hội, Hà Nội năm 2009, trang 159

Trang 40

vấn đề nhân quyền như sau: Việt Nam thực hiện nghiêm chỉnh các điều ước quốc tế về quyền con người mà mình đã tham gia và cũng không chấp nhận sự áp đặt quan điểm nhân quyền của nước khác cho mình cũng như việc dùng nhân quyền làm phương tiện để can thiệp vào công việc nội bộ hay gây sức ép chính trị trong các quan hệ quốc tế 31

2.2 GIỚI THIỆU VỀ BỘ LUẬT QUỐC TẾ VỀ QUYỀN CON NGƯỜI 32

Bất cứ một hệ thống pháp luật hay một ngành luật nào cũng đều có những nguyên tắc cốt lõi và dựa trên đó, các văn bản pháp luật khác có thể tiếp tục phát triển, bổ sung hay cụ thể hóa Luật quốc tế về nhân quyền cũng không phải là một ngoại lệ Bộ luật nhân quyền quốc tế là những cốt lõi như vậy Bộ luật quốc tế về quyền con người được biết đến bao gồm ba văn kiện pháp lý quốc tế

quan trọng cơ bản nhất về nhân quyền là Tuyên ngôn Thế giới về nhân quyền

năm 1948, Công ước quốc tế về các quyền dân sự và chính trị năm 1966, Công ước quốc tế về các quyền kinh tế, xã hội và văn hóa năm 1966 Đó không chỉ đơn

giản là thành quả của cộng đồng quốc tế trong quan hệ toàn cầu mà nó còn là một minh chứng hùng hồn và thuyết phục nhất cho sự thỏa hiệp chính trị cũng như sự hợp tác, thiện chí của các quốc gia trên Thế giới trong việc cùng nhau phát triển vì hòa bình, tự do và hạnh phúc của toàn thể nhân loại Đó là một lời hứa hay nói đúng hơn là một bản cam kết của từng quốc gia với cộng đồng quốc tế và với công dân của quốc gia mình trong việc thừa nhận, tôn trọng và đảm bảo

31 Website Đảng Cộng sản Việt Nam – Ngày 26/02/2002

32 Đây là tên gọi được sử dụng trong một số công trình nghiên cứu như: Quyền con người và luật quốc tế về quyền con người của PTS Chu Hồng Thanh (trang 62), Công trình nghiên cứu hợp tác giữa Viện nghiên cứu Quyền con người và Viên Nhân quyền Đan Mạch, Quyền con người tiếp cận đa ngành và liên ngành khoa học xã hội của Viện Khoa học xã hội Việt Nam (trang 30)

Ngày đăng: 15/01/2022, 22:19

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
7. Http://translate.googleusercontent.com/translate_c?hl=vi&langpair=en|vi&u=http://wcd.coe.int Link
1. Công ước quốc tế về các quyền dân sự và chính trị năm 1966 Khác
2. Công ước quốc tế về các quyền kinh tế, xã hội và văn hóa năm 1966 Khác
4. Công ước quốc tế về xóa bỏ mọi hình thức phân biệt đối xử với phụ nữ năm 1979 Khác
6. Nghị định thư thứ nhất bổ sung Công ước quốc tế về các quyền dân sự và chính trò naêm 1966 Khác
7. Nghị định thư thứ hai bổ sung Công ước quốc tế về các quyền dân sự và chính trị năm 1966 về xóa bỏ án tử hình, 1989 Khác
8. Tuyên ngôn dân quyền và nhân quyền của Pháp năm 1789 Khác
9. Tuyên ngôn Thế giới về quyền con người năm 1948.  Sách, báo và tạp chí tham khảo Khác
1. Báo cáo quốc gia kiểm điểm định kỳ tình hình thực hiện quyền con người ở Vieọt Nam naờm 2009 Khác
2. Các văn bản công pháp quốc tế và văn bản pháp luật Việt Nam có liên quan (tái bản lần thứ hai, có sữa chữa bổ sung), NXB Chính trị quốc gia, Hà Nội 2006 Khác
3. Các văn kiện pháp lý quốc tế về quyền con người, NXB TP. Hồ Chí Minh, 1997 Khác
4. C.Mac và Ph.Angghen: Toàn tập, NXB Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1955 Khác
5. C.Mac – Angghen về quyền con người. NXB Chính trị quốc gia, Hà Nội Khác
6. Hoàng Công: Mấy nhận thức về vấn đề nhân quyền, Tạp chí Cộng sản, 8- 1993 Khác
7. Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ V, VI, VII, VIII, IX, NXB Sự thật, Hà Nội và NXB Chính trị quốc gia, Hà Nội Khác
8. Đảng Cộng sản Việt Nam, Văn kiện đại hội đaị biểu toàn quốc lần thứ X, NXB Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2006, trang 125 Khác
9. PGS.TS Trần Ngọc Đường: Quyền con người và quyền công dân trong nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam, NXB Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1979 Khác
10. Giáo trình Luật quốc tế, Trường Đại học Luật Hà Nội, NXB Công an nhân dân, Hà Nội 2007 Khác
11. Giáo trình Luật quốc tế, TS Luật Nguyễn Hồng Thu chủ biên, Huế 1997 Khác
12. Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh, Trung tâm nghiên cứu quyền con người: Các văn kiện quốc tế về quyền con người, NXB Thành phố Hồ Chí Minh, 1996 Khác

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w