1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

tiểu luận cao học ton giao thực trạng nhận thức về vị trí và vai trò của phụ nữ trong phật giáo của người dân nông thôn hưng yên hiện nay

33 784 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 33
Dung lượng 2,37 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

I. TÍNH CẤP THIẾT CỦA ĐỀ TÀI Xã hội ngày càng phát triển nhu cầu về tâm linh của con người càng lớn chính vì vậy đó là điều kiện để các tôn giáo phát triển trong đó có Phật giáo. Phật giáo được Thích Ca Mâu Ni (Shakyamuni) truyền giảng ở miền bắc Ấn Độ vào thế kỷ 6 TCN. Được truyền bá trong khoảng thời gian 49 năm khi Phật còn tại thế ra nhiều nơi đến nhiều chủng tộc nên lịch sử phát triển của đạo Phật khá đa dạng về các bộ phái cũng như các nghi thức hay phương pháp tu học. Ngay từ buổi đầu, Bổn Sư Thích Ca, người sáng lập đạo Phật, đã tổ chức được một giáo hội với các giới luật chặt chẽ. Nhờ vào sự uyển chuyển của giáo pháp, đạo Phật có thể thích nghi với nhiều hoàn cảnh xã hội, nhiều dạng người, nhiều tập tục ở các thời kỳ khác nhau, và do đó ngày nay Phật giáo vẫn tiếp tục tồn tại và ngày càng phát triển rộng rãi trên toàn thế giới ngay cả trong các nước có nền khoa học tiên tiến như Hoa Kỳ và Tây Âu. Phật giáo truyền vào Việt Nam rất sớm. Một số sách sử ghi rằng nơi đầu tiên là Luy Lâu (Bắc Ninh) vào cuối thế kỷ thứ hai. Phật giáo vào Việt Nam bằng hai con đường: đường thủy thông qua việc buôn bán với thương gia Ấn Độ và đường bộ qua sự giao lưu văn hóa với Trung Quốc. Đạo Phật đến với Việt Nam thông qua con đường hòa bình, mặt khác giáo lý của Phật giáo chuyển tải tư tưởng bình đẳng, bác ái, cứu khổ, cứu nạn.... gần gũi tín ngưỡng, văn hóa Việt Nam nên được các cư dân Việt Nam dễ dàng chấp nhận. Trải qua gần 2000 năm tồn tại, Phật giáo lúc thịnh lúc suy và trải qua nhiều bước thăng trầm. Có thời kỳ Phật giáo được coi là quốc đạo. Tư tưởng, văn hóa, đạo đức Phật giáo đã bám rễ và ảnh hưởng sâu sắc đến con người và xã hội Việt Nam. Được đánh giá là một trong những tôn giáo tiến bộ Phật giáo lấy sự bình đẳng làm điều cốt lõi để phát triển. Phật dạy rằng “chúng sanh bình đẳng” người theo đạo lấy đó làm điều cốt lõi để phát triển và truyền đạo. Sự bình đẳng của Phật giáo đưa ra được thể hiện trong kinh Phật và hành động của người theo đạo như thế nào? Vấn đề này được rất nhiều nhà nghiên cứu và bản thân những nhà sư theo đạo cũng đề cập đến nhưng đến nay việc nghiên cứu cũng còn nhiều hạn chế và chưa thực sự đầy đủ. Để góp phần bổ sung vào hệ thống quan niệm và làm rõ những vấn đề đặt ra xung quanh mối quan hệ giữa bình đẳng giới và vai trò của phụ nữ trong đạo Phật tôi lựa chọn đề tài: “Thực trạng nhận thức về vị trí và vai trò của phụ nữ trong Phật giáo của người dân nông thôn Hưng Yên hiện nay” (Qua khảo sát tại địa bàn xã Tân Dân, huyện Khoái Châu, tỉnh Hưng Yên)

Trang 1

MỤC LỤC

I TÍNH CẤP THIẾT CỦA ĐỀ TÀI 2

II TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU 3

1 Trên thế giới 3

2 Tại Việt Nam 4

III MỤC ĐÍCH VÀ NHIỆM VỤ NGHIÊN CỨU CỦA ĐỀ TÀI 5

1 Mục đích nghiên cứu 5

2 Nhiệm vụ nghiên cứu 5

IV ĐỐI TƯỢNG NGHIÊN CỨU, KHÁCH THỂ NGHIÊN CỨU 6

V GIẢ THUYẾT NGHIÊN CỨU 7

VI THAO TÁC BIẾN SỐ VÀ KHUNG LÝ THUYẾT 7

1 Thao tác biến số, chỉ báo, thang đo 7

2 Khung lý thuyết 9

VII PHƯƠNG PHÁP LUẬN VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 10

1 Phương pháp luận 10

2 Phương pháp nghiên cứu 10

VIII Ý NGHĨA LÝ LUẬN VÀ Ý NGHĨA THỰC TIỄN 11

1 Ý nghĩa lý luận 11

2 Ý nghĩa thực tiễn 11

NỘI DUNG 12

I CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA ĐỀ TÀI 12

1 Thao tác hóa khái niệm 12

2 Lý thuyết áp dụng: 13

II THỰC TRẠNG NHẬN THỨC VỀ VỊ TRÍ VÀ VAI TRÒ CỦA PHỤ NỮ TRONG PHẬT GIÁO CỦA NGƯỜI DÂN NÔNG THÔN HƯNG YÊN HIỆN NAY 15

1 Những quy định của Phật giáo đối với nữ giới 15

2 Thực trạng nhận thức về vị trí và vai trò của người phụ nữ trong đạo phật của người dân nông thôn Hưng Yên 20

KẾT LUẬN VÀ KHUYẾN NGHỊ 27

PHỤ LỤC 1: 29

MỘT SỐ HÌNH ẢNH VỀ ĐỊA BÀN THÔN THỌ BÌNH – XÃ TÂN DÂN – HUYỆN KHOÁI CHÂU – TỈNH HƯNG YÊN 29

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 33

Trang 2

I TÍNH CẤP THIẾT CỦA ĐỀ TÀI

Xã hội ngày càng phát triển nhu cầu về tâm linh của con người càng lớn chính

vì vậy đó là điều kiện để các tôn giáo phát triển trong đó có Phật giáo Phậtgiáo được Thích Ca Mâu Ni (Shakyamuni) truyền giảng ở miền bắc Ấn Độ vào thế

kỷ 6 TCN Được truyền bá trong khoảng thời gian 49 năm khi Phật còn tại thế ranhiều nơi đến nhiều chủng tộc nên lịch sử phát triển của đạo Phật khá đa dạng vềcác bộ phái cũng như các nghi thức hay phương pháp tu học Ngay từ buổi đầu,Bổn Sư Thích Ca, người sáng lập đạo Phật, đã tổ chức được một giáo hội với cácgiới luật chặt chẽ Nhờ vào sự uyển chuyển của giáo pháp, đạo Phật có thể thíchnghi với nhiều hoàn cảnh xã hội, nhiều dạng người, nhiều tập tục ở các thời kỳkhác nhau, và do đó ngày nay Phật giáo vẫn tiếp tục tồn tại và ngày càng phát triểnrộng rãi trên toàn thế giới ngay cả trong các nước có nền khoa học tiên tiếnnhư Hoa Kỳ và Tây Âu Phật giáo truyền vào Việt Nam rất sớm Một số sách sửghi rằng nơi đầu tiên là Luy Lâu (Bắc Ninh) vào cuối thế kỷ thứ hai Phật giáo vàoViệt Nam bằng hai con đường: đường thủy thông qua việc buôn bán với thươnggia Ấn Độ và đường bộ qua sự giao lưu văn hóa với Trung Quốc Đạo Phật đến vớiViệt Nam thông qua con đường hòa bình, mặt khác giáo lý của Phật giáo chuyểntải tư tưởng bình đẳng, bác ái, cứu khổ, cứu nạn gần gũi tín ngưỡng, văn hóaViệt Nam nên được các cư dân Việt Nam dễ dàng chấp nhận Trải qua gần 2000năm tồn tại, Phật giáo lúc thịnh lúc suy và trải qua nhiều bước thăng trầm Có thời

kỳ Phật giáo được coi là quốc đạo Tư tưởng, văn hóa, đạo đức Phật giáo đã bám rễ

và ảnh hưởng sâu sắc đến con người và xã hội Việt Nam Được đánh giá là mộttrong những tôn giáo tiến bộ Phật giáo lấy sự bình đẳng làm điều cốt lõi để pháttriển Phật dạy rằng “chúng sanh bình đẳng” người theo đạo lấy đó làm điều cốt lõi

để phát triển và truyền đạo Sự bình đẳng của Phật giáo đưa ra được thể hiện trongkinh Phật và hành động của người theo đạo như thế nào? Vấn đề này được rấtnhiều nhà nghiên cứu và bản thân những nhà sư theo đạo cũng đề cập đến nhưngđến nay việc nghiên cứu cũng còn nhiều hạn chế và chưa thực sự đầy đủ Để góp

Trang 3

phần bổ sung vào hệ thống quan niệm và làm rõ những vấn đề đặt ra xung quanhmối quan hệ giữa bình đẳng giới và vai trò của phụ nữ trong đạo Phật tôi lựa chọn

đề tài: “Thực trạng nhận thức về vị trí và vai trò của phụ nữ trong Phật giáo của người dân nông thôn Hưng Yên hiện nay” (Qua khảo sát tại địa bàn xã Tân Dân, huyện Khoái Châu, tỉnh Hưng Yên)

II TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU

1 Trên thế giới

Trên thế giới có rất nhiều nhà xã hội học đã nghiên cứu về phật giáo, việcnghiên cứu này còn phát triển ra một nhánh của xã hội học đó là ngành khoa họcnghiên cứu xã hội học phật giáo Việc nghiên cứu cũng có rất nhiều tác phẩm nổibật điển hình là nghiên cứu của giáo sư: Dhammavihari có tên “Women and thereligious order of the Buddha” Trong nghiên cứu cũng chỉ ra trong giai đoạn hìnhthành đạo phật và sự chấp thuận phụ nữ được gia nhập đạo phật Như chúng ta đãbiết Phật giáo được hình thành tại Ấn Độ một nơi có sự phân chia giai cấp rất lớn,tại đó người phụ nữ không được coi trọng như nam giới Việc đạo phật chấp nhậncho phụ nữ gia nhập đạo Phật đã khiến cho người phụ nữ được đặt ngang hàng vớinam giới Việc làm như vậy được cho là không thể chấp nhận được trong xã hộithời đó Chính vì vậy nghiên cứu đã chỉ ra những quy định từ xuất phát trong kinhphật về việc cho phụ nữ được gia nhập đạo Phật Những quy định này được tổnghợp lại thành 8 điều mà nhà Phật đã quy định đối với một người phụ nữ muốn gianhập Theo nghiên cứu những quy định này so với quy định hà khắc của thời bấygiờ là rất tiến bộ nhưng người phụ nữ khi đó vẫn được đánh giá thấp hơn nam giới

và vẫn phải chịu một số quy định khi đối mặt với nam giới Bên cạnh đó còn cónhững nghiên cứu của các nhà khoa học khác như nghiên cứu của nữ học giảHorner đã đưa ra một kết luận rất thâm thúy về địa vị của người phụ nữ trong tưtưởng Phật giáo trong cuốn sách “Women under primitive Buddhism” như sau:

“Từ những chứng cứ tồn tại trong văn học Phật giáo, chúng ta có thể nói rằng vị trí

Trang 4

xã hội khinh rẻ hay bị xem là nỗi thất vọng của gia đình Họ đáng nhận được nhiềukính trọng hơn và xác lập được địa vị cá nhân mình trong xã hội Họ có được tự do

và độc lập hơn để tự quyết định cuộc sống cá nhân mình”

2 Tại Việt Nam

Tại Việt Nam việc nghiên cứu về vấn đề vai trò của phụ nữ và vai trò của họtrong Phật giáo cũng được những nhà khoa học rất quan tâm Điển hình có thể kểđến những nghiên cứu của đại đức Khải Tuệ; bài viết “Phụ nữ và quan điểm Phậtgiáo” kể về vị trí và vai trò của người phụ nữ qua các giai đoạn phát triển trongphật giáo từ kinh tạng Pali, trong hệ thống kinh điển và tư tưởng Đại thừa Bài viếtcũng đề cập đến vai trò của phụ nữ trong việc ủng hộ và truyền tụng Phật pháp.Trong bài viết cũng đề cập đến vị trí đặc biệt của người phụ nữ, đề cao vai trò củangười phụ nữ trong cuộc sống

Trong cuốn xã hội học phật giáo của tác giả Nandasena Ratnapala được dịch

ra tiếng Việt bởi nhà sư Thích Huệ Pháp cũng đề cập đến vấn đề vị trí và vai tròcủa người phụ nữ trong Phật giáo Trong cuốn sách cũng nhấn mạnh việc Phật giáoluôn coi trọng vị trí của người phụ nữ, Theo tư tưởng Phật giáo, người phụ nữkhông được xem như là một phần của người chồng, cũng hoàn toàn không phải làtài sản hay thuộc sở hữu của người chồng Phật giáo giải phóng phụ nữ thoát khỏitình trạng vật sở hữu để tồn tại một cách độc lập trong xã hội “Phật giáo cho rằng,những người phụ nữ như: Người độc thân, có chồng, góa phụ thì không có giới hạn

về quyền và bổn phận của họ đối với việc sinh con hay nuôi con, và họ là một phầnkhông thể tách rời của xã hội” Những hệ tư tưởng tiến bộ khác của Phật giáo cũngđược cuốn sách đề cập đến

Kết quả điều tra của dự án bình đẳng giới (VKHXHVN, 2006) cũng khẳngđịnh, hiện nay hình ảnh phụ nữ xuất hiện trên truyền hình với vai trò khá đa dạng,đan xen cả khuôn mẫu truyền thống và hiện đại Phần đông người được hỏi, xácnhận họ nhìn thấy trên truyền hình những hình ảnh phụ nữ tham gia các công việcnội trợ (90,8 % ý kiến), chăm sóc gia đình (91,9%), tham gia họp hành (92,6%) và

Trang 5

vai trò lãnh đạo (92,5%) và hình ảnh nam tương ứng là 75,5 %; 77,1 %, 94,2 % và94,5% Về tần suất hiện diện hình ảnh, biểu tuợng phụ nữ và nam giới vẫn mangtính khuôn mẫu, chịu ảnh hưởng định kiến giới khá rõ rệt trên truyền hình Đa số

nữ cho rằng, xuất hiện nhiều hình ảnh phụ nữ trên truyền hình (83,7%) với tư cách

là người làm công việc chăm sóc gia đình và 77,1% người làm nội trợ Ngược lại,chỉ có 20,8% nhận thấy hình ảnh nữ giới tham dự họp và 16,7% hình ảnh nữ lãnhđạo trên truyền hình Đa số nữ giới được hỏi cho rằng, nam giới xuất hiện nhiềutrên truyền hình với vai trò lãnh đạo và đi dự họp (87,7% và 86,4%) Rất ít phụ nữthấy hình ảnh nam giới làm công việc nội trợ và chăm sóc gia đình xuất hiện trêntruyền hình (8,2% và 6,7%) Nhận định của nam giới về hình ảnh/biểu tượng vaitrò giới trên truyền hình cũng tương đồng Tần xuất xuất hiện nhiều hình ảnh mangnặng tính khuôn mẫu, định kiến giới trên truyền hình gợi mở vấn đề cần quan tâmtheo dõi và đánh giá về hiệu quả tác động hình ảnh/ biểu tượng đến quan niệm, suynghĩ, nhận thức của công chúng về vấn đề bình đẳng giới

III MỤC ĐÍCH VÀ NHIỆM VỤ NGHIÊN CỨU CỦA ĐỀ TÀI

1 Mục đích nghiên cứu

- Trên cơ sở điều tra khảo sát người dân tại địa bàn Huyện Khoái Châu, tỉnhHưng Yên sẽ cho chúng ta cái nhìn tổng quát về quan niệm cũng như nhữnghiểu biết của người dân về vị trí và vai trò của người phụ nữ trong phật giáo

- Tìm hiểu những yếu tố tác động đến hành vi ứng xử liên quan đến vấn đềbình đẳng giới của người dân theo đạo phật

- Xác định thực trạng từ đó đưa ra một số giải pháp và khuyến nghị nhằm cảithiện tình hình

2 Nhiệm vụ nghiên cứu

Để thực hiện được những mục tiêu đã đề ra đề tài cần phải đạt được nhữngyêu cầu sau:

- Làm rõ khái niệm liên quan: Nhận thức, Bình đẳng giới, Phụ nữ, Phật giáo,

Trang 6

- Vận dụng lý thuyết phù hợp áp dụng vào nội dung nghiên cứu của đề tài.

- Tìm hiểu thực trạng người dân theo đạo Phật của người dân nông thônHưng Yên

- Đánh giá phân tích, thu thập hoàn thiện thông tin từ những tài liệu có sẵn

và qua quá trình khảo sát thực nghiệm

IV ĐỐI TƯỢNG NGHIÊN CỨU, KHÁCH THỂ NGHIÊN CỨU.

1 Đối tượng nghiên cứu:

Thực trạng nhận thức về vị trí và vai trò của phụ nữ trong Phật giáo củangười dân nông thôn Hưng Yên hiện nay

2 Khách thể nghiên cứu: người dân nông thôn sinh sống tại địa bàn tỉnh Hưng

Yên (Qua khảo sát tại địa bàn xã Tân Dân, huyện Khoái Châu, tỉnh Hưng Yên)

3 Phạm vi nghiên cứu:

Thời gian nghiên cứu: từ tháng 3 năm 2012 đến tháng 6 năm 2012

Không gian nghiên cứu: tại xã Tân Dân, huyện Khoái Châu, tỉnh Hưng Yên

4 Chọn mẫu nghiên cứu

Chọn phỏng vấn sâu với 8 người dân nông thôn tại xã Tân Dân bằng phươngpháp chọn mẫu ngẫu nhiên đơn giản

Chọn mẫu ngẫu nhiên đơn giản lấy 30 người dân tại địa bàn thôn Thọ Bình

xã Tân Dân, Khoái Châu, Hưng Yên

5 Phương pháp nghiên cứu

Trong nghiên cứu này để tìm hiểu thực trạng nhận thức về vị trí, vai trò củangười phụ nữ trong đạo Phật của người dân nông thôn Hưng Yên đã sử dụng cácphương pháp nghiên cứu sau:

5.1 Phương pháp phân tích tài liệu: phương pháp này sẽ được tiến hành

với tất cả các ngành khoa học, các hướng tiếp cận trong quá trình tham gia thựchiện nghiên cứu Chú trọng về quy trình thao tác, phân tích tài liệu theo các tiêu chíkhoa học và loại hình tài liệu, đặc biệt chú trọng phương pháp phân tích nội dung

Trang 7

(Content analysis) nhằm tìm kiếm và phân tích tất cả các kết quả nghiên cứu có sẵn

để mô tả, khái quát hóa bức tranh toàn cảnh về chủ đề nghiên cứu từ các góc độkhác nhau Tập trung phân tích chủ trương, chính sách của Đảng, Nhà nước, nhữngtài liệu có sẵn và tài liệu thu thập được từ địa bàn khảo sát

5.2 Phương pháp điều tra xã hội học, bao gồm:

Phỏng vấn sâu và thảo luận nhóm: tập trung nhằm thu thập những thông tin,

ý kiến nhận định, đánh giá của lãnh đạo cộng đồng, người dân trong cộng đồng vềcác nội dung nghiên cứu

Phỏng vấn bảng hỏi Anket: nhằm thu thập thông tin trên diện rộng tìm hiểu

ý kiến nhận định, đánh giá của người dân về vấn đề nghiên cứu

V GIẢ THUYẾT NGHIÊN CỨU

- Phần lớn người dân đều nhận thức được vị trí và vai trò của phụ nữ và namgiới trong phật giáo là như nhau

- Nữ giới theo đạo phật nhiều hơn nam giới

- Một số người dân còn hiểu sai về quan niệm của đạo Phật về phụ nữ và vaitrò của họ

VI THAO TÁC BIẾN SỐ VÀ KHUNG LÝ THUYẾT

1 Thao tác biến số, chỉ báo, thang đo

Trang 8

- Nghị định số 81/CP ngày 8-11-1993 nghị định chính phủ quy định về việc

tổ chức thực hiện các hoạt động phù hợp với pháp luật hiện hành

- Quan điểm của Đảng và nhà nước về các vấn đề tự do tôn giáo và tínngưỡng và ảnh hưởng của nó tới người dân và nhận thức của họ

- Biến phụ thuộc:

Thực trạng nhận thức về vị trí và vai trò của phụ nữ trong Phật giáo củangười dân nông thôn Hưng Yên hiện nay (Thái độ, hành vi của người dân)

b Thang đo

Nghiên cứu tiến hành sử dụng những thang đo sau:

- Thang định danh: Phân loại đối tượng (giới tính, xuất thân, nơi ở, nghề nghiệp…)

- Thang đo khoảng: đo thứ tự phân chia khoảng cách các thang bậc và có ý nghĩa

về mặt đo lường (thái độ ứng xử của người dân giữa nam và nữ, đánh giá mức độbình đẳng giới)

- Thang đo bậc: phân loại đối tượng từ cao đến thấp (mức thu nhập cá nhân củamỗi người)

Trang 9

Yếu tố môi trường Kinh tế - văn hóa – xã hội

Yếu tố nhân khẩu

Thái độ ứng xử giữa nam và nữ

Hành động trong đời sống

Quan điểm của Đảng và chính phủ

2 Khung lý thuyết

Trang 10

VII PHƯƠNG PHÁP LUẬN VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

1 Phương pháp luận

Vận dụng quan điểm chủ nghĩa Mác-Lênin: chủ nghĩa duy vật biện chứng vàchủ nghĩa duy vật lịch sử; đồng thời vận dụng tư tưởng Hồ Chí Minh trong lĩnhvực tôn giáo; các chủ trương, chính sách của Đảng trong lĩnh vực truyền thông đạichúng, những quy định về tôn giáo và tín ngưỡng của Đảng

2 Phương pháp nghiên cứu

Phương pháp nghiên cứu định lượng

Phương pháp chọn mẫu: chọn mẫu ngẫu nhiên đơn giản

Chọn 30 mẫu trong khu vực thôn Thọ Bình, xã Tân Dân, huyện Khoái Châu, tỉnhHưng Yên

Phương pháp nghiên cứu định tính

- Phân tích tài liệu: Sưu tầm, phân tích, tổng hợp, hệ thống hóa và khái quát hóanhững lý thuyết cũng như các công trình đã được đăng tải trên sách báo, tạp chí vànhững công trình nghiên cứu thực tiễn của các tác giả có liên quan đến vấn đề tôngiáo và những nghiên cứu về người dân Hưng yên

- Quan sát không tham dự: Điều tra viên đứng ngoài cuộc và điều hành quan sát,không tham gia trực tiếp cùng nhóm đối tượng cần quan sát Nó cho phép ta có thể

mở rộng phạm vi quan sát So với quan sát có thâm nhập (quan sát tham dự) thìquan sát không thâm nhập khách quan hơn Hình thức này được áp dụng với nhữngnhóm hoặc khi phạm vi hoạt động của đối tượng rộng Nó cho phép ta bao quátđược một đối tượng ở bề rộng nhưng không sâu được bằng hình thức quan sát cóthâm nhập

- Phỏng vấn sâu: Phương pháp phỏng vấn sâu được thực hiện dựa trên việc thiết kếmột bảng phỏng vấn sâu để thu thập thông tin với một số đối tượng dựa trên mụcđích của cuộc nghiên cứu.( Phỏng vấn sâu 8 người) Để tiếp cận với khách thểnghiên cứu sinh viên đã về tận địa bàn thôn Thọ Bình, xã Tân Dân, huyện Khoái

Trang 11

Châu, tỉnh Hưng Yên Bước đầu tiếp cận có nhiều khó khăn và chưa được sự tintưởng của người trả lời, sau đó nhờ sự quen biết của người thân và sinh viên đãnhờ giới thiệu đến được những khách thể nghiên cứu Trong nghiên cứu có sửPhương pháp thu thập thông tin: Sử dụng bảng hỏi Anket

Phương pháp xử lý thông tin: phần mềm spss 17.0, phần mềm NVIVO 8.0

VIII Ý NGHĨA LÝ LUẬN VÀ Ý NGHĨA THỰC TIỄN

1 Ý nghĩa lý luận

Đề tài góp phần bổ sung, làm phong phú hơn những nghiên cứu về truyềnthông đại chúng về người dân nông thôn tại tỉnh Hưng Yên Đồng thời cung cấpnhững số liệu cần thiết về thực trạng mức độ tiếp cận các chương trình truyền hìnhcủa người dân nông thôn Hưng Yên hiện nay

2 Ý nghĩa thực tiễn

Từ kết quả của cuộc khảo sát thực trạng mức độ tiếp cận các chương trìnhtruyền hình, đề tài sẽ đưa ra những giải pháp và khuyến nghị góp phần nâng caochất lượng các chương trình truyền hình cho người dân Góp phần vào khả năngxây dựng những chương trình truyền hình mang chất lượng cao có hiệu quả lớntrong việc tuyên truyền giáo dục cho người dân thôn Thọ Bình nói riêng và toànthể người dân nông thôn tỉnh Hưng Yên nói chung

Trang 12

NỘI DUNG

I CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA ĐỀ TÀI

1 Thao tác hóa khái niệm

- Nông dân (Từ điển tiếng Việt): Nông dân là người dân làm nghề trồng trọt, càycấy nói đến nông dân là nói đến một nhóm xã hội, một giai tầng xã hội, một giaicấp xã hội

- Nông thôn (Theo từ điển tiếng Việt): là làng mạc sống vằng sản xuất nông nghiệpkhác hẳng thành thị, Nói đúng hơn nông thôn là vùng địa lý cư trú gắn với thiênnhiên khác hẳn thành thị với dân cư chủ yếu là nông dân, ngành nghề chủ yếu lànông nghiệp và có lối sống riêng, văn hóa riêng

- Làng là khái niệm chỉ đơn vị tụ cư cổ truyền ở nông thôn người Việt, tươngđương với sóc, bản, buôn; một kết cấu cư trú, kinh tế, xã hội, văn hóa, đa dạng,một trong ba khâu quan trọng cấu trúc xã hội truyền thống, nối liền nhà với nước.(từ điển Bách khoa toàn thư Việt Nam)

- Tôn giáo là niềm tin vào các lực lượng siêu nhiên, vô hình, mang tính thiêngliêng, được chấp nhận một cách trực giác và tác động qua lại một cách hư ảo, nhằm

lý giải những vấn đề trên trần thế cũng như ở thế giới bên kia Niềm tin đó đượcbiểu hiện rất đa dạng, tuỳ thuộc vào những thời kỳ lịch sử, hoàn cảnh địa lý - vănhóa khác nhau, phụ thuộc vào nội dung từng tôn giáo, được vận hành bằng nhữngnghi lễ, những hành vi tôn giáo khác nhau của từng cộng đồng xã hội tôn giáo khácnhau

- Phật giáo là một tôn giáo dựa trên lời dạy của Siddhartha Gautama, người sốngcách đây khoảng 26 thế kỷ ở phía Đông Bắc nước Ấn Độ và thuộc Nepal ngày nay.Ngài được người ta gọi là “Đức Phật” (Buddha) hàm nghĩa là một người tỉnh thứcsau khi trải qua kinh nghiệm tu tập, nhận chân được bản chất của cuộc đời, sự sống

và cái chết Trong tiếng Anh, đức Phật còn được gọi là một người giác ngộ, mặc dùtrong ngôn ngữ Sanskrit là “Bodhi” có ý nghĩa là “tỉnh thức”

Trang 13

- Phụ nữ hay đàn bà là từ chỉ giống cái của loài người Phụ nữ thường được dùng

để chỉ một người trưởng thành, còn con gái thường được dùng chỉ đến trẻgái nhỏhay mới lớn Bên cạnh đó từ phụ nữ, đôi khi dùng để chỉ đến một conngười giống cái, bất kể tuổi tác, như là trong nhóm từ "quyền phụ nữ"

Nữ giới là một khái niệm chung để chỉ một người, một nhóm người hay toàn bộnhững người trong xã hội mà một cách tự nhiên, mang những đặc điểm giới tínhđược xã hội thừa nhận về khả năng mang thai và sinh nở khi cơ thể họ hoàn thiện

và chức năng giới tính hoạt động bình thường

Nữ giới, phân biệt với nam giới, là một trong hai giới tính truyền thống, cơ bản vàđặc trưng của loài người

- Theo quan điểm triết học Mác-Lênin, nhận thức được định nghĩa là quá trìnhphản ánh biện chứng hiện thực khách quan vào trong bộ óc của con người, có tínhtích cực, năng động, sáng tạo, trên cơ sở thực tiễn

Theo "Từ điển Bách khoa Việt Nam", nhận thức là quá trình biện chứng của sựphản ánh thế giới khách quan trong ý thức con người, nhờ đó con người tư duy vàkhông ngừng tiến đến gần khách thể

2 Lý thuyết áp dụng:

- Thuyết lựa chọn hợp lý: (hay còn gọi là thuyết lựa chọn duy lý) trong xã hội

học có nguồn gốc từ triết học, kinh tế học và nhân học vào thế kỷ VIII, XIX Một

số nhà triết học đã cho rằng bản chất con người là vị kỷ, luôn tìm đến sự hài lòng,

sự thoả mãn và lảng tránh nỗi khổ đau Một số nhà kinh tế học cổ điển thì từngnhấn mạnh vai trò động lực cơ bản của động cơ kinh tế, lợi nhuận khi con ngườiphải đưa ra quyết định lựa chọn hành động Đặc trưng thứ nhất có tính chất xuấtphát điểm của sự lựa chọn duy lý chính là các cá nhân lựa chọn hành động Thuyếtnày gắn với tên tuổi của rất nhiều nhà xã hội học tiêu biểu như: George Homans,Peter Blau, James Coleman

- Lý thuyết Xã hội hóa:

Trang 14

Xã hội hóa là một khái niệm, một phạm trù cơ bản của xã hội học Có rấtnhiều cách hiểu khác nhau về xã hội hóa Tuy nhiên tác giả chỉ đưa ra ba cách hiểugần nhất với đề tài nghiên cứu về nhận thức và thái độ của người dân

Từ điển xã hội học định nghĩa: “ Xã hội hóa là quá trình thích ứng và cọ xátvới các giá trị, chuẩn mực và hình mẫu hành vi xã hội mà trong quá trình đó mộtthành viên xã hội tiếp nhận và duy trì khả năng hoạt động xã hội”

Điểm cốt yếu của thuyết này là sự bắt chước và học hỏi Xã hội hóa diễn ra đầutiên trong môi trường gia đình rồi đến nhà trường, bạn bè, nơi làm việc và các môitrường khác Trong mỗi môi trường xã hội hóa khác nhau cá nhân có thể thực hiệnthuận lợi các tương tác xã hội của mình nhằm mục đích thu nhận và tái tạo kinhnghiệm xã hội

Áp dụng vào trong nghiên cứu có thể thấy người dân khi theo đạo Phật,được học theo những điều mà Phật dạy, từ đó truyền bá cho những người xungquanh Thông qua việc tìm hiểu và học những bài kinh mà Phật dạy những ngườitheo đạo cũng dần thay đổi hành vi và truyền bá những hành động đó ra nhữngngười xung quanh, khiến những người xung quanh học tập và làm theo

Trang 15

II THỰC TRẠNG NHẬN THỨC VỀ VỊ TRÍ VÀ VAI TRÒ CỦA PHỤ NỮ TRONG PHẬT GIÁO CỦA NGƯỜI DÂN NÔNG THÔN HƯNG YÊN HIỆN NAY (Qua khảo sát tại địa bàn xã Tân Dân, huyện Khoái Châu, tỉnh Hưng Yên)

1 Những quy định của Phật giáo đối với nữ giới.

Theo tư tưởng Phật giáo, người phụ nữ không được xem như là một phầncủa người chồng, cũng hoàn toàn không phải là tài sản hay thuộc sở hữu của ngườichồng Phật giáo giải phóng phụ nữ thoát khỏi tình trạng vật sở hữu để tồn tại mộtcách độc lập trong xã hội “Phật giáo cho rằng, những người phụ nữ như: Ngườiđộc thân, có chồng, góa phụ thì không có giới hạn về quyền và bổn phận của họđối với việc sinh con hay nuôi con, và họ là một phần không thể tách rời của xãhội”

Chức năng làm mẹ là bản chất đặc trưng của tất cả giống cái, là thiên chứccủa người phụ nữ Một cô gái trẻ sẽ trở thành người mẹ tương lai, rồi có ngườiđang làm mẹ và những người đã làm mẹ Thậm chí, ngay cả người không thể cócon thì họ vẫn có đó thiên chức làm mẹ Do vậy, đối với những phụ nữ độc thânvẫn được xã hội kính trọng như bao phụ nữ khác

Đức Phật dạy rằng, phụ nữ cũng có khả năng chứng quả giải thoát như namgiới Một lần nọ, Ngài đã trả lời về câu hỏi có liên quan đến phụ nữ của vị thị giảĀnanda: “Này Ānanda, chư Phật ra đời không chỉ đem lại lợi ích cho nam giới màcòn đem lại lợi ích cho nữ giới Khi Ta thuyết kinh Tiro Kudha, đã có nhiều phụ

nữ chứng ngộ đạo quả Hay khi nói kinh Adhidhamma ở Tantía, có nhiều phụ nữthuộc giai cấp cùng đinh chứng quả, chứ không phải những phụ nữ thuộc giai cấpcao hơn như thương gia hay Sát-đế-lợi Cánh cửa giải thoát rộng mở cho nam lẫn

nữ giới mà không có bất cứ sự phân biệt nào”

Khi chồng của mình xuất gia trở thành một vị tỷ kheo trong Tăng đoàn củaPhật, người vợ đó đã từng cảm thán như sau: “Đức Phật hiện ra nơi đời không chỉ

Trang 16

chứng đắc thánh quả khi thực hành theo lời Phật dạy Giải thoát tối hậu không làđặc quyền cho bất kỳ giới tính nào “Như cỗ xe chở người, bất luận nam hay nữ.Cũng thế, chiếc xe chánh pháp chờ đón họ thẳng tới niết bàn”.

Lúc bấy giờ, mặc dù Ấn độ là một xã hội trọng nam khinh nữ, nhưng trongcác kinh điển của Phật giáo, không đề cập đến sự phân biệt giới tính trẻ con Các tu

sĩ Phật giáo không thừa nhận việc con trai nối dõi tông đường khi cha chết như các

tu sĩ Bà-la-môn Người phụ nữ đến tuổi phải lấy chồng và sinh con Người phụ nữđộc thân bị khinh thường trong xã hội Ấn Độ thời ấy Kinh Mi Tiên Vấn Đáp, một

bộ kinh thuộc giai đoạn sau, đã phản ảnh như sau: “Tâu Bệ hạ, trên thế gian này cómười hạng người đáng bị khinh miệt, chỉ trích, chê trách; trong đó phụ nữ khôngchồng là một trong mười hạng người này v.v ” Nhưng nội dung giáo điển củaPhật giáo thì phản đối quan điểm này Với sự ảnh hưởng của Phật giáo, phụ nữ độcthân có thể không bị thành kiến, sống chan hòa, vui vẻ, bình đẳng với mọi thànhviên gia đình; chăm sóc cha mẹ, trông nom em trai và em gái của mình Sự thànhlập Ni đoàn đã làm tăng thêm giá trị của nữ giới đặc biệt là các phụ nữ độc thân.Khả năng được chấp nhận gia nhập Ni đoàn mở ra cho những phụ nữ này một chântrời mới Phụ nữ dường như phải lấy chồng ở độ tuổi từ mười sáu đến hai mươi.Thời đó, việc tảo hôn, Phật giáo không bao giờ chấp nhận, rất phổ biến trong xãhội Tính độc lập của người phụ nữ được nâng cao trong thời đức Phật, thậm chívai trò mang tính truyền thống của người cha là kén rể cho con gái, bất luận conmình có thích hay không, đã bị suy giảm đáng kể

Phật giáo khuyến khích việc tặng của hồi môn cho con gái khi đám cưới.Của hồi môn này là tài sản riêng của cô dâu và không bao giờ được xem như là cáigiá mà gia đình cô dâu phải trả cho bên gia đình nhà chồng, cũng như không baogiờ giao hết cho gia đình nhà chồng Của hồi môn là của để dành, sẽ giúp người vợmột khi cần dùng đến Trong kinh có ghi lại việc những người phụ nữ đã trao lạicủa hồi môn này cho chồng mình trước khi xuất gia Thực tế cũng cho thấy, mặc

dù đã lấy chồng, nhưng của hồi môn hay tài sản riêng tư của người phụ nữ luôn làmột phần thiết yếu của họ

Ngày đăng: 26/08/2016, 15:14

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Dhirasekera, Jothiya, “Women and the Religious Order of the Bud-dha” Sambhāsā. 1991 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Women and the Religious Order of the Bud-dha
7. thư viện điện tử: http://vi.wikipedia.org 8. Trang web: http://www.phattuvietnam.net Link
2. Horner, I.B., Women under Primitive Buddhism, London, 1930 Khác
3. Bài giảng Bát kỉnh pháp - Thiền Sư Nhất Hạnh,2010 Khác
4. Bài giảng Nữ Phật tử xuất cách tại Ấn Độ cổ đại - Rupali Mokashi - Dịch Việt Sư cô Viên Ngạn, 2011 Khác
6. Xã hội học phật giáo, Nandasena Ratnapala,người dịch: Thích Huệ Pháp, 2008 Khác
9. Từ điển bách khoa toàn thư Việt Nam, Nguyễn Kim Vỹ Khác
10. Giáo trình xã hội học về giới- Ths.Nguyễn Thị Tuyết Minh,2010 Khác

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w