1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Bài thu hoạch môn kinh tế chính trị

30 12 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 30
Dung lượng 193,5 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

đề tài: “Công nghiệp hóa, hiện đại hóa gắn với phát triển kinh tế tri thức ở Thành phố Hà Nội” Trong xu thế hội nhập và phát triển của thế giới hiện nay bắt buộc các quốc gia phải không ngừng đầu tư phát triển kinh tế để đưa đất nước đi lên. Việt Nam chúng ta cũng vậy, xuất phát điểm của nền kinh tế chúng ta thấp với một nền nông nghiệp nghèo nàn lạc hậu, nếu vẫn cứ duy trì một trình độ phát triển thấp như vậy thì sẽ không đủ sức cạnh tranh với nền kinh tế của thế giới, yêu cầu bức thiết bây giờ cần phải có quá trình công nghiệp hóa hiện đại hóa đất nước. Mặt khác, để thực hiện quá trình này thì yếu tố con người cần phải được đặt lên hàng đầu và vấn đề nâng cao tri thức của nguồn lực con người ;là vô cùng cần thiết. Vì vậy, công nghiệp hóa hiện đại hóa găn với nền kinh tế tri thức là một quá trình tất yếu của Việt Nam. Đây là một sự nghiệp đòi hỏi phải có sự lãnh đạo đúng đắn của Đảng và Nhà nước và sự đồng lòng quyết tâm của tất cả nhân dân.

Trang 1

A MỞ ĐẦU

Trong xu thế hội nhập và phát triển của thế giới hiện nay bắt buộc các quốcgia phải không ngừng đầu tư phát triển kinh tế để đưa đất nước đi lên Việt Namchúng ta cũng vậy, xuất phát điểm của nền kinh tế chúng ta thấp với một nền nôngnghiệp nghèo nàn lạc hậu, nếu vẫn cứ duy trì một trình độ phát triển thấp như vậythì sẽ không đủ sức cạnh tranh với nền kinh tế của thế giới, yêu cầu bức thiết bâygiờ cần phải có quá trình công nghiệp hóa hiện đại hóa đất nước Mặt khác, để thựchiện quá trình này thì yếu tố con người cần phải được đặt lên hàng đầu và vấn đềnâng cao tri thức của nguồn lực con người ;là vô cùng cần thiết Vì vậy, côngnghiệp hóa hiện đại hóa găn với nền kinh tế tri thức là một quá trình tất yếu củaViệt Nam Đây là một sự nghiệp đòi hỏi phải có sự lãnh đạo đúng đắn của Đảng vàNhà nước và sự đồng lòng quyết tâm của tất cả nhân dân Với vấn đề tôi xin lựa

chọn đề tài: “Công nghiệp hóa, hiện đại hóa gắn với phát triển kinh tế tri thức ở Thành phố Hà Nội” để có thể hiểu được vai trò của các nhân tố này trong sự

nghiệp của đất nước

Trang 2

B NỘI DUNG

1 Cơ sở lý luận về công nghiệp hóa, hiện đại hóa gắn với phát triển kinh

tế tri thức

1.1 Khái niệm công nghiệp hóa, hiện đại hóa

Theo nghĩa chung, khái quát nhất, công nghiệp hoá là quá trình biến một nước

có nền kinh tế lạc hậu thành một nước công nghiệp

Kế thừa có chọn lọc và phát triển những tri thức của văn minh nhân loại vềcông nghiệp hoá vào điều kiện lịch sử cụ thể của nước ta hiện nay, Đảng ta nêu ra

quan niệm về công nghiệp hóa, hiện đại hóa như sau: Công nghiệp hóa, hiện đại hóa là quá trình chuyển đổi căn bản, toàn diện các hoạt động sản xuất kinh doanh, dịch vụ và quản lý kinh tế - xã hội, từ sử dụng sức lao động thủ công là chính sang

sử dụng một cách phổ biến sức lao động với công nghệ, phương tiện, phương pháp tiên tiến hiện đại, dựa trên sự phát triển của công nghiệp và tiến bộ khoa học công nghệ, tạo ra năng suất lao động xã hội cao.

Tính tất yếu của công nghiệp hóa, hiện đại hóa

Mỗi phương thức sản xuất xã hội nhất định có một cơ sở vật chất - kỹ thuậttương ứng Cơ sở vật chất - kỹ thuật của một xã hội là toàn bộ hệ thống các yếu tốvật chất của lực lượng sản xuất xã hội, phù hợp với trình độ kỹ thuật (công nghệ)tương ứng mà lực lượng lao động xã hội sử dụng để sản xuất ra của cải vật chất đápứng nhu cầu xã hội

Chỗ dựa để xem xét sự biến đổi của cơ sở vật chất - kỹ thuật của một xã hội là

sự biến đổi và phát triển của lực lượng sản xuất; sự phát triển khoa học - kỹ thuật;tính chất và trình độ của các quan hệ xã hội; đặc biệt là quan hệ sản xuất thống trị Nói cơ sở vật chất - kỹ thuật của một phương thức sản xuất nào đó là nói cơ sởvật chất - kỹ thuật đó đã đạt đến một trình độ nhất định làm đặc trưng cho phươngthức sản xuất đó

Trang 3

Đặc trưng của cơ sở vật chất - kỹ thuật của các phương thức sản xuất trướcchủ nghĩa tư bản là dựa vào công cụ thủ công, nhỏ bé, lạc hậu Đặc trưng của cơ sởvật chất - kỹ thuật của chủ nghĩa tư bản là nền đại công nghiệp cơ khí hoá Chủnghĩa xã hội - giai đoạn thấp của phương thức sản xuất mới cao hơn chủ nghĩa tưbản - đòi hỏi một cơ sở vật chất - kỹ thuật cao hơn trên cả hai mặt: trình độ kỹ thuật

và cơ cấu sản xuất, gắn với thành tựu của cách mạng khoa học và công nghệ hiệnđại

Do vậy, có thể hiểu, cơ sở vật chất - kỹ thuật của chủ nghĩa xã hội là nền côngnghiệp lớn hiện đại, có cơ cấu kinh tế hợp lý, có trình độ xã hội hóa cao dựa trêntrình độ khoa học và công nghệ hiện đại được hình thành một cách có kế hoạch vàthống trị trong toàn bộ nền kinh tế quốc dân

Khái niệm nền Kinh tế tri thức

Từ thập niên 80 thế kỷ XX đến nay, do tác động mạnh mẽ của cuộc cáchmạng khoa học và công nghệ hiện đại, đặc biệt là công nghệ thông tin, công nghệsinh học, công nghệ vật liệu nền kinh tế thế giới đang biến đổi sâu sắc, nhanhchóng về cơ cấu, chức năng và phương thức hoạt động Đây là một bước ngoặt lịch

sử có ý nghĩa đặc biệt: lực lượng sản xuất xã hội đang chuyển từ kinh tế tài nguyênsang kinh tế tri thức, nền văn minh loài người chuyển từ văn minh công nghiệpsang văn minh trí tuệ

Vậy nền kinh tế tri thức là gì? Có nhiều định nghĩa khác nhau, nhưng dễ chấpnhận nhất hiện nay là định nghĩa của Tổ chức hợp tác và phát triển kinh tế (OECD)đưa ra năm 1995: Nền kinh tế tri thức là nền kinh tế trong đó sự sản sinh ra, phổcập và sử dụng tri thức giữ vai trò quyết định nhất đối với sự phát triển kinh tế, tạo

ra của cải, nâng cao chất lượng cuộc sống

Với định nghĩa trên, có thể hiểu kinh tế tri thức là trình độ phát triển cao củalực lượng sản xuất xã hội, theo đó trong quá trình lao động của từng người lao động

và toàn bộ lao động xã hội, trong từng sản phẩm và trong tổng sản phẩm quốc dânthì hàm lượng lao động cơ bắp, hao phí lao động cơ bắp giảm đi vô cùng nhiều

Trang 4

trong khi hàm lượng tri thức, hao phí lao động trí óc tăng lên vô cùng lớn Trongnền kinh tế tri thức, những ngành kinh tế có tác động to lớn tới sự phát triển lànhững ngành dựa vào tri thức, dựa vào những thành tựu mới của khoa học, côngnghệ Đó có thể là những ngành kinh tế mới dựa trên công nghệ cao (như côngnghệ thông tin, công nghệ sinh học ); nhưng cũng có thể là những ngành kinh tếtruyền thống (như nông nghiệp, công nghiệp, dịch vụ) được ứng dụng khoa học,công nghệ cao.

1.2 Quan điểm của Đảng và Nhà nước ta về công nghiệp hóa, hiện đại hóa gắn với phát triển kinh tế tri thức

Từ Đại hội Đảng lần thứ III, Đảng ta luôn coi công nghiệp hóa (CNH) lànhiệm vụ trung tâm của cả thời kỳ quá độ tiến lên chủ nghĩa xã hội (CNXH) Đảng

ta xác định thực chất của CNH xã hội chủ nghĩa là ''Quyết tâm thực hiện cách mạng

kỹ thuật, thực hiện phân công mới về lao động xã hội là quá trình tích lũy xã hộichủ nghĩa để không ngừng thực hiện tái sản xuất mở rộng'' Quan điểm này tiếp tụcđược các kỳ Đại hội Đảng tiếp theo củng cố và mở rộng

Tại Đại hội lần thứ IX, lần đầu tiên, Đảng ta đã ghi vào văn kiện luận điểm

quan trọng về phát triển KTTT ''Đi nhanh vào công nghệ hiện đại ở những ngành

và lĩnh vực then chốt để tạo bước nhảy vọt về công nghệ và kinh tế, tạo tốc độ tăng trưởng vượt trội ở những sản phẩm và dịch vụ chủ lực Công nghiệp hóa gắn với hiện đại hóa ngay từ đầu và trong suốt các giai đoạn phát triển Nâng cao hàm lượng tri thức trong các nhân tố phát triển kinh tế- xã hội, từng bước phát triển KTTT ở nước ta'' Tới Đại hội X, việc phát triển KTTT được thể hiện rõ với tư cách

là một yếu tố cấu thành đường lối CNH-HĐH đất nước: ''Tranh thủ cơ hội thuận lợi do bối cảnh quốc tế tạo ra và tiềm năng, lợi thế của nước ta để rút ngắn quá trình CNH-HĐH đất nước theo định hướng XHCN gắn với phát triển KTTT, coi KTTT là yếu tố quan trọng của nền kinh tế và CNH-HĐH Phát triển mạnh các ngành và sản phẩm kinh tế có giá trị gia tăng cao dựa nhiều vào tri thức; kết hợp việc sử dụng vốn tri thức của con người Việt Nam với tri thức mới nhất của nhân

Trang 5

loại” Và Đại hội XI, với định hướng chiến lược cơ cấu lại nền kinh tế, chuyển đổi

mô hình tăng trưởng từ chủ yếu phát triển theo chiều rộng, sang phát triển hợp lýgiữa chiều rộng và chiều sâu, chú trọng nâng cao chất lượng, hiệu quả, tính bền

vững, Đảng ta tiếp tục khẳng định: ''phát triển mạnh khoa học, công nghệ làm động lực đẩy nhanh quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá, phát triển KTTT, góp phần tăng nhanh năng suất, chất lượng, hiệu quả, sức cạnh tranh của nền kinh tế, sự phát triển nhanh, bền vững của đất nước”.

Đại hội XII nhấn mạnh cần “Xác định hệ tiêu chí nước công nghiệp theo hướng hiện đại Chú trọng những tiêu chí phản ánh trình độ phát triển của nền kinh tế (GDP bình quân đầu người, tỷ trọng giá trị gia tăng công nghiệp chế tạo, tỷ trọng nông nghiệp, tỷ lệ đô thị hóa, điện bình quân đầu người, ); những tiêu chí phản ánh trình độ phát triển về mặt xã hội (chỉ số phát triển con người, tuổi thọ bình quân, chỉ số bất bình đẳng trong phân phối thu nhập, số bác sĩ trên 1 vạn dân,

tỷ lệ lao động qua đào tạo, ); và những tiêu chí phản ánh trình độ phát triển về môi trường (tỷ lệ dân số sử dụng nước sạch, độ che phủ rừng, tỷ lệ giảm mức phát thải khí nhà kính ).”

Để nâng cao chất lượng CNH, HĐH, hướng tới mục tiêu “phấn đấu sớm đưa nước ta cơ bản trở thành nước công nghiệp theo hướng hiện đại”, Đại hội XII đề

ra những phương hướng sau:

Công nghiệp hóa, hiện đại hóa trong giai đoạn tới là tiếp tục đẩy mạnh thựchiện mô hình CNH, HĐH trong điều kiện phát triển kinh tế thị trường định hướng

xã hội chủ nghĩa và hội nhập quốc tế gắn với phát triển kinh tế tri thức, lấy khoahọc, công nghệ, tri thức và nguồn nhân lực chất lượng cao làm động lực chủ yếu;huy động và phân bổ có hiệu quả mọi nguồn lực phát triển

Xây dựng cơ cấu kinh tế và cơ cấu lao động hợp lý, phát huy lợi thế so sánh,

có năng suất lao động và năng lực cạnh tranh cao, tham gia sâu, rộng vào mạng sảnxuất và chuỗi giá trị toàn cầu; có văn minh công nghiệp chiếm ưu thế trong sản

Trang 6

xuất và đời sống xã hội; phát triển nhanh và bền vững phù hợp với điều kiện củatừng giai đoạn.

Công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước tiến hành qua ba bước: tạo tiền đề,điều kiện để CNH, HĐH; đẩy mạnh CNH, HĐH; nâng cao chất lượng CNH, HĐH.Tiếp tục thực hiện tốt chủ trương và có chính sách phù hợp để xây dựng, pháttriển các ngành công nghiệp theo hướng hiện đại, tăng hàm lượng khoa học - côngnghệ và tỷ trọng giá trị nội địa trong sản phẩm, tập trung vào những ngành có tínhnền tảng, có lợi thế so sánh và có ý nghĩa chiến lược đối với sự phát triển nhanh,bền vững, nâng cao tính độc lập, tự chủ của nền kinh tế; có khả năng tham gia sâu,

có hiệu quả vào mạng sản xuất và phân phối toàn cầu

Phát triển có chọn lọc một số ngành công nghiệp chế tạo, chế biến, côngnghiệp công nghệ cao, công nghiệp sạch, công nghiệp năng lượng, cơ khí, điện tử,hóa chất, công nghiệp xây dựng, xây lắp, công nghiệp quốc phòng, an ninh Chútrọng phát triển các ngành có lợi thế cạnh tranh; công nghiệp hỗ trợ; công nghiệpphục vụ nông nghiệp, nông thôn; năng lượng sạch, năng lượng tái tạo và sản xuấtvật liệu mới; từng bước phát triển công nghệ sinh học, công nghiệp môi trường vàcông nghiệp văn hóa

Tiếp tục phát triển hợp lý một số ngành công nghiệp sử dụng nhiều lao động.Phân bố công nghiệp hợp lý hơn trên toàn lãnh thổ; nâng cao hiệu quả các khu kinh

tế, khu công nghiệp, khu chế xuất; sớm đưa một số khu công nghiệp công nghệ caovào hoạt động

Đại hội XII xác định: “Trong 5 năm tới tiếp tục đẩy mạnh CNH, HĐH đất nước, chú trọng CNH, HĐH nông nghiệp, nông thôn, phát triển nhanh, bền vững; phấn đấu sớm đưa nước ta cơ bản trở thành nước công nghiệp theo hướng hiện đại” Quán triệt quan điểm của Đại hội XII về CNH, HĐH đất nước, toàn Đảng,

toàn quân, toàn dân cần đẩy mạnh thực hiện một số giải pháp sau:

Một là,thể chế hóa, hiện thực hóa chủ trương “khoa học - công nghệ là nền tảng, động lực của CNH, HĐH; đẩy mạnh CNH, HĐH gắn với phát triển kinh tế

Trang 7

tri thức và chủ động tích cực hội nhập quốc tế” Những quan điểm trên đã được

Đảng ta nhấn mạnh qua nhiều kỳ Đại hội, song do nội hàm chưa được thể chế hóa,pháp quy hóa, nên hiệu lực thực tế còn thấp Tình trạng tùy tiện tiếp nhận chuyểngiao công nghệ và nhập khẩu công nghệ lạc hậu còn phổ biến trong nhiều ngành,nhiều lĩnh vực

Hai là,khai thác và sử dụng có hiệu quả các nguồn lực, gắn với đẩy mạnh

hợp tác quốc tế nhằm tạo nguồn vốn cho quá trình CNH, HĐH đất nước Mộttrong những lợi thế lớn nhất của nước ta là nền nông nghiệp nhiệt đới và nguồn

lao động có trí tuệ, giàu sức sáng tạo, đang trong thời kỳ “cơ cấu dân số vàng”.

Ngoài ra, các thành tựu khoa học - công nghệ, kinh tế tri thức và các mối quan hệhợp tác quốc tế, cùng những hiệp định thương mại với các đối tác, trong đó nhiềunước có nguồn công nghệ hàng đầu thế giới, chính là những ngoại lực quan trọng

mà Việt Nam có thể khai thác

2 Công nghiệp hóa, hiện đại hóa gắn với phát triển kinh tế tri thức ở Thành phố Hà Nội

2.1 Vai trò của cấp bộ Đảng và chính quyền trong quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa gắn với phát triển kinh tế tri thức ở Thành phố Hà Nội

Trên cơ sở định hướng của Đảng và Nhà nước trong chiến lược phục vụ sựnghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa gắn với phát triển kinh tế tri thức, Đảng bộ

và chính quyền Hà Nội đã đề ra những chủ trương, đường lối định hướng chothành phố Hà Nội thực hiện hiệu quả công cuộc công nghiệp hóa hiện đại hóa đấtnước

Thứ nhất, Đảng bộ và chính quyền Hà Nội đề ra chủ trường, đường lối phát

triển công nghiệp Đưa công nghiệp phát triển đi đầu, hỗ trợ các ngành khác trongnền kinh tế phát triển

Điều này được thể hiện trong Quyết định số 2261/QĐ-UBND ngày 25/5/2012 của Ủy ban nhân dân Thành phố Hà Nội về phê duyệt quy hoạch phát triển công nghiệp thành phố Hà Nội đến năm 2020, tầm nhìn đến năm 2030 Ủy

Trang 8

ban nhân dân thành phố đã xác định rõ quan điểm của mình trong chiến lược pháttriển công nghiệp trong giai đoạn tới đó là: Phát triển công nghiệp thành phố HàNội cần chủ động hội nhập kinh tế quốc tế và dựa trên lợi thế so sánh về nguồn lực,kết hợp chặt chẽ sản xuất với thị trường, gắn với hai hành lang và một vành đaikinh tế.

- Phát triển các ngành công nghiệp chất lượng cao, công nghệ cao gắn vớichiến lược phát triển kinh tế tri thức, phát triển bền vững

- Phát triển công nghiệp phải gắn với việc di dời các cơ sở sản xuất không phùhợp với quy hoạch và gây ô nhiễm môi trường tại các khu dân cư

- Tập trung phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao để phục vụ cho nhu cầuphát triển các ngành công nghiệp theo hướng hiện đại và trong một số ngành, lĩnhvực kinh tế tri thức, góp phần thiết thực xây dựng Thủ đô Hà Nội về cơ bản có nềncông nghiệp theo hướng hiện đại trước năm 2020

- Phát triển công nghiệp gắn với đảm bảo an ninh quốc phòng và bảo vệ môitrường

Theo quyết định này thì Hà Nội đã xác định mục tiêu cho công cuộc phát

triển công nghiệp đó là:

+ Về mục tiêu chung: Xây dựng Hà Nội trở thành Trung tâm công nghệ cao

của cả nước, phát triển công nghiệp gắn với khoa học công nghệ, các trung tâmnghiên cứu, thiết kế, chế tạo, thử nghiệm sản phẩm mới và văn phòng của các tậpđoàn sản xuất lớn Tạo các sản phẩm chất lượng, giá trị cao, có khả năng cạnh tranh

và đáp ứng tiêu chuẩn tiên tiến của các nước

+ Về mục tiêu cụ thể: Chỉ số sản xuất công nghiệp giai đoạn 2011-2015 tăng

trưởng bình quân 12,13 %/năm, giai đoạn 2016 - 2020 đạt 11,32%/năm và giaiđoạn 2021 - 2030 đạt 10,20%/năm

Trang 9

- Tỷ trọng GDP công nghiệp - xây dựng chiếm tỷ trọng 41-42% (trong đócông nghiệp chiếm 31-32%) năm 2015 và giữ ổn định 41-42% vào năm 2020 trongtổng giá trị GDP của Thành phố.

Để đạt được những mục tiêu trên, Thành phố Hà Nội cũng đã hoạch định

những định hướng cơ bản để phát triển công nghiệp Theo đó:

* Đối với ngành công nghiệp điện tử và công nghệ thông tin: Xây dựng ngành

công nghiệp điện tử - công nghệ thông tin trở thành ngành công nghiệp chủ lực đểtạo cơ sở cho các ngành khác phát triển Phấn đấu để thành phố Hà Nội trở thànhtrung tâm của cả nước, của Vùng đồng bằng sông Hồng về thiết kế sản phẩm, sảnxuất phần mềm,sản xuất linh kiện, thiết bị và các dịch vụ điện tử - tin học trên cơ

sở phát huy tiềm năng của mọi thành phần kinh tế trên địa bàn Tiếp tục phát triểnphương thức lắp ráp các thiết bị điện tử, tin học, tiếp nhận công nghệ và đáp ứngnhu cầu sản phẩm điện tử trong nước và tham gia xuất khẩu, đồng thời tăng cườngliên kết với các tập đoàn điện tử, tin học lớn trên thế giới để tiếp thu công nghệ hiệnđại, tăng năng lực sản xuất linh kiện trong nước Nâng cao tỷ lệ nội địa hóa cácthiết bị điện tử - tin học Tập trung nâng cao chất lượng, mở rộng thị phần các thiết

bị điện, điện tử, dây dẫn và vật liệu cho ngành điện, khuyến khích sản xuất các sảnphẩm mang thương hiệu Hà Nội, các sản phẩm phần mềm tin học phục vụ cho cácngành công nghiệp và tham gia thị trường xuất khẩu

Mục tiêu giai đoạn 2011 - 2015 chỉ số sản xuất công nghiệp tăng trưởng bìnhquân đạt 12,63%/năm, giai đoạn 2016 - 2020 đạt 13,45%/năm, giai đoạn 2021 -

2030 đạt 12,18%/năm Đến năm 2015 cơ cấu ngành điện tử - công nghệ thông tinchiếm tỷ trọng 10,86% của toàn ngành công nghiệp, năm 2020 chiếm tỷ trọng11,85%, năm 2030 chiếm tỷ trọng 15,53%

* Đối với ngành cơ khí: Ưu tiên phát triển sản xuất các loại động cơ nhỏ, các

sản phẩm điện cơ, cơ khí chính xác, dụng cụ học tập, dụng cụ thí nghiệm, các chitiết máy hiện đại, các sản phẩm tiêu dùng cao cấp, máy móc, thiết bị văn phòng

Trang 10

Tập trung đầu tư phát triển công nghiệp chế tạo khuôn mẫu cung cấp cho nhu cầusản xuất của Thủ đô, các địa phương trong nước và xuất khẩu.

- Phát triển cơ khí chế tạo thiết bị đồng bộ, các thiết bị điện, cơ điện tử, tựđộng hóa phục vụ phát triển các ngành công nghiệp, sản xuất nông nghiệp, dịch vụ

và tiêu dùng đáp ứng phần lớn yêu cầu của thị trường trong nước, từng bước vươn

ra thị trường thế giới và khu vực

- Chú trọng phát triển khâu nghiên cứu, thiết kế sản phẩm mới theo hướng gắnkết, hợp tác chặt chẽ với các viện, trường với doanh nghiệp, gắn các chương trìnhnghiên cứu quốc gia với phát triển các sản phẩm trọng điểm Từng bước hình thành

hệ thống công nghiệp hỗ trợ để nâng cao năng lực cạnh tranh của ngành

- Mục tiêu giai đoạn 2011 - 2015 chỉ số sản xuất công nghiệp tăng trưởng bìnhquân đạt 12,50%/năm, giai đoạn 2016 - 2020 đạt 13,63%/năm, giai đoạn 2021 -

2030 đạt 10,60%/năm Đến năm 2015 cơ cấu chiếm tỷ trọng 44,55% của toànngành công nghiệp, năm 2020 chiếm tỷ trọng 49,22%, năm 2030 chiếm tỷ trọng52,00%

* Đối với ngành hóa chất, hóa dược và mỹ phẩm: Ưu tiên phát triển ngành

hóa dược và hóa mỹ phẩm thành ngành công nghiệp mũi nhọn, đi ngay vào côngnghệ hiện đại, xây dựng một số phòng thí nghiệm hiện đại phục vụ nghiên cứu cơbản cho công nghiệp hóa dược

- Đẩy mạnh công tác nghiên cứu, tiến tới sản xuất một số loại hóa chất tinhkhiết quy mô phòng thí nghiệm phục vụ cho bào chế thuốc, nghiên cứu và giảngdạy

- Khuyến khích xây dựng các tổ hợp chế biến rác thải kết hợp sản xuất phânhữu cơ tại các khu xử lý rác thải tập trung của thành phố

- Mục tiêu giai đoạn 2011 - 2015 chỉ số sản xuất công nghiệp tăng trưởng bìnhquân đạt 11,25%/năm, giai đoạn 2016 - 2020 đạt 10,0%/năm, giai đoạn 2021 -

2030 đạt 7,24%/năm Đến năm 2015 cơ cấu chiếm tỷ trọng 8,31% của toàn ngànhcông nghiệp, năm 2020 chiếm tỷ trọng 7,19%, năm 2030 chiếm tỷ trọng 4,74%

Trang 11

* Đối với Chế biến nông sản, thực phẩm và đồ uống:

- Tiếp tục mở rộng quy mô sản xuất những sản phẩm có thương hiệu, có uy tínphục vụ nhu cầu ngày càng tăng cao của nhân dân Thủ đô và các tỉnh, thành trong

cả nước Chú trọng phát triển các sản phẩm truyền thống nổi tiếng của Thủ đô phục

vụ cho khách du lịch Kết hợp với các tỉnh trong vùng Bắc bộ để phát triển cácvùng nguyên liệu và bố trí nhà máy chế biến phù hợp với quy hoạch vùng, tránhlãng phí, nâng cao hiệu quả vốn đầu tư

- Mục tiêu giai đoạn 2011 - 2015 chỉ số sản xuất công nghiệp tăng trưởng bìnhquân đạt 12,08%/năm, giai đoạn 2016 - 2020 đạt 12,18%/năm, giai đoạn 2021 -

2030 đạt 11,13%/năm Đến năm 2015 cơ cấu ngành chiếm 17,54% của toàn ngànhcông nghiệp, năm 2020 chiếm tỷ trọng 17,6%, năm 2030 chiếm tỷ trọng 19,99%

* Đối với ngành dệt may, da giày:

- Phát triển các trung tâm cung cấp dịch vụ, trung tâm nghiên cứu thiết kế mẫuthời trang cao cấp Phát triển chủ yếu theo chiều sâu, cần tập trung vào sản xuất sảnphẩm cao cấp theo công nghệ mới, hiện đại không gây ô nhiễm môi trường

- Hướng vào 3 nhóm sản phẩm chính là giày thể thao, giày dép da và túi cặp.Tập trung đầu tư máy móc trang thiết bị chuyên dùng, công nghệ hiện đại, coi trọngthiết kế mẫu mã để tạo ra các sản phẩm có chất lượng cao, cạnh tranh được cả trongnước và thế giới, tiến tới thay thế hàng nhập khẩu

- Đẩy mạnh hợp tác liên kết với các tỉnh, thành lân cận để phát huy thế mạnh

về lao động, đất đai, giao thông của các địa phương

- Mục tiêu giai đoạn 2011 - 2015 chỉ số sản xuất công nghiệp tăng trưởng bìnhquân đạt 6,88%/năm, giai đoạn 2016 -2 020 tăng trưởng đạt 7,68%/năm, giai đoạn

2021 - 2030 tăng trưởng đạt 4,75%/năm Đến năm 2015 cơ cấu ngành chiếm tỷtrọng 5,90% của toàn ngành công nghiệp, năm 2020 chiếm tỷ trọng 4,34%, năm

2030 chiếm tỷ trọng 1,99%

* Đối với ngành vật liệu xây dựng, trang trí nội thất:

Trang 12

- Đầu tư ứng dụng kỹ thuật mới, tiên tiến vào sản xuất các loại vật liệu mới,vật liệu cao cấp, vật liệu tổng hợp phục vụ xây dựng và trang trí nội thất như: vậtliệu không nung, vật liệu nhẹ, tấm kết cấu 3D, sản phẩm ốp lát, gốm sứ xây dựng,các loại vật liệu mới ứng dụng công nghệ nano như kính chống va đập, kính chống

mờ … tiến tới giảm dần việc sản xuất các loại vật liệu gây ô nhiễm môi trường trênđịa bàn Thành phố

- Mục tiêu giai đoạn 2011 - 2015 chỉ số sản xuất công nghiệp tăng trưởng bìnhquân đạt 10,65%/năm, giai đoạn 2016 - 2020 tăng trưởng đạt 10,01%/năm, giaiđoạn 2021-2030 tăng trưởng đạt 7,25%/năm Đến năm 2015 cơ cấu ngành chiếm tỷtrọng 6,58% của toàn ngành công nghiệp, năm 2020 chiếm tỷ trọng 5,70%, năm

- Chú trọng kết hợp truyền thống với ứng dụng khoa học - kỹ thuật tiên tiếnvào các công đoạn sản xuất, đảm bảo cân bằng sinh thái và bảo vệ môi trường, duytrì chất lượng sống khu vực dân cư tại địa phương có làng nghề

* Thành phố Hà Nội cũng định hướng phát triển không gian công nghiệp, theo

đó: Phát triển công nghiệp sạch, ít gây ô nhiễm, các khu công nghệ cao, các khucông nghiệp tập trung (tổng diện tích khoảng 8.000 ha), di dời các cơ sở sản xuấtcông nghiệp gây ô nhiễm môi trường hoặc không phù hợp với quy hoạch vào cáckhu công nghiệp, cụm công nghiệp tập trung

Phía Bắc bao gồm Sóc Sơn, Mê Linh, Đông Anh, Gia Lâm, Long Biên, TừLiêm khoảng 3.200 ha: ưu tiên phát triển công nghiệp điện tử - công nghệ thôngtin, cơ khí, sản xuất ôtô, công nghiệp vật liệu mới, hóa dược - mỹ phẩm, dệt may

Trang 13

Phía Nam bao gồm Thường Tín, Phú Xuyên khoảng 1.500 ha: ưu tiên pháttriển các ngành công nghiệp sinh học phục vụ nông nghiệp (nông nghiệp công nghệcao), chế biến nông sản công nghệ hiện đại với nguyên liệu đầu vào từ vùng pháttriển nông nghiệp thuộc các tỉnh phía nam Hà Nội, phát triển công nghiệp hỗ trợ(dệt may, da giày, cơ khí chế tạo, điện tử tin học, sản xuất và lắp ráp ôtô …)

Phía Tây bao gồm Hòa Lạc, Xuân Mai, Miếu Môn khoảng 1.800 ha: ưu tiênphát triển các ngành công nghiệp chủ lực, công nghiệp sinh học phục vụ nôngnghiệp, hóa dược - mỹ phẩm, công nghệ điện tử, cơ khí chính xác, công nghệ vậtliệu mới, công nghệ nanô, công nghệ năng lượng mới, vật liệu xây dựng, nội thấtcao cấp …

Các thị trấn khoảng 1.400 - 1.500 ha: ưu tiên phát triển công nghiệp sinh thái,chế biến nông sản thực phẩm chất lượng cao

Quy hoạch các cụm công nghiệp, cụm công nghiệp làng nghề để giữ gìn vàphát triển các nghề thủ công truyền thống, làng nghề thủ công mới và giải quyếtvấn đề ô nhiễm môi trường của các làng nghề

Để đạt được những mục tiêu và định hướng đặt ra trên, Thành phố Hà Nội

cũng đưa ra những giải pháp để nhanh chóng thực hiện được:

* Giải pháp về công nghệ:

- Hỗ trợ doanh nghiệp về nghiên cứu khoa học cơ bản, chuyển giao côngnghệ, hợp tác quốc tế về khoa học công nghệ, các chính sách về phát triển côngnghệ

- Lựa chọn áp dụng công nghệ phù hợp với từng giai đoạn phát triển Đẩymạnh ứng dụng khoa học kỹ thuật tiên tiến, công nghệ mới để nâng cao hiệu quảhoạt động sản xuất kinh doanh

- Mở rộng hợp tác quốc tế về khoa học công nghệ, đa dạng hóa các loại hìnhhợp tác để tranh thủ tối đa sự chuyển giao công nghệ hiện đại từ đối tác nước ngoàicho phát triển công nghiệp

Trang 14

- Khuyến khích phát triển các dịch vụ công nghệ, xây dựng thị trường côngnghệ, thường xuyên định kỳ mở hội chợ công nghệ, lập ngân hàng dữ liệu thông tincông nghệ mới Nghiên cứu thành lập Trung tâm nghiên cứu, chuyển giao côngnghệ.

- Khuyến khích hoạt động chuyển nhượng quyền thương mại đi kèm chuyểngiao công nghệ Thành lập vườn ươm doanh nghiệp công nghiệp

- Khuyến khích sử dụng công nghệ, thiết bị công nghệ trong sản xuất côngnghiệp có hiệu suất năng lượng cao, sử dụng các dạng năng lượng thay thế có hiệuquả

* Giải pháp về đầu tư:

a) Về vốn:

- Dự kiến tổng vốn đầu tư phát triển các ngành công nghiệp Hà Nội thời kỳ

2011 - 2020 khoảng 238.000 tỷ đồng Nguồn vốn tích lũy GDP để phát triển côngnghiệp trong thời kỳ đáp ứng được khoảng 8-9% nhu cầu về vốn Còn lại huy động

từ các nguồn khác

- Vốn của Nhà nước tập trung đầu tư chủ yếu vào xây dựng kết cấu hạ tầng kỹthuật, giao thông, điện nước, các lĩnh vực hỗ trợ phát triển công nghiệp Vốn huyđộng của các doanh nghiệp tập trung cho đầu tư mở rộng sản xuất, đổi mới côngnghệ

- Bố trí kinh phí ngân sách hàng năm hỗ trợ, khuyến khích phát triển côngnghiệp hiện đại, nhất là hỗ trợ các dự án chuyển giao công nghệ tiên tiến, sử dụng

có hiệu quả các nguồn vốn vay lãi suất thấp, vốn vay theo cơ chế ưu đãi để tăngmạnh vốn đầu tư phát triển công nghiệp

- Rà soát lại các mục tiêu đầu tư, xác định rõ các trọng tâm, trọng điểm để tậptrung đầu tư và chỉ đạo điều chỉnh cơ cấu đầu tư phục vụ chuyển dịch cơ cấu kinh

tế theo đúng định hướng

* Giải pháp về nguồn nhân lực:

Trang 15

- Tiếp tục đầu tư đồng bộ, nâng cấp một số trường dạy nghề hiện có với cáctrang thiết bị hiện đại, khắc phục tình trạng chênh lệch quá lớn về trình độ thiết bịtrong các trường dạy nghề với thực tiễn sản xuất, đảm bảo tính cân đối giữa dạy lýthuyết và thực hành, đảm bảo cho người lao động sau đào tạo có thể sớm phát huyđược kiến thức đào tạo trong thực tiễn.

- Tập trung vào đào tạo đội ngũ công nhân kỹ thuật Phát triển đào tạo cácngành nghề: công nghiệp cơ khí chế tạo, điện tử - tin học, các ngành nghề đòi hỏi

kỹ thuật cao … Có kế hoạch đào tạo cho đội ngũ quản lý và các chủ doanh nghiệpcác kiến thức về quản lý kinh tế, về sản xuất kinh doanh, hội nhập

- Đa dạng hóa và mở rộng các hình thức hợp tác trong đào tạo nguồn nhân lựctheo hướng gắn kết giữa cơ sở đào tạo với doanh nghiệp, từng bước thực hiện đàotạo theo yêu cầu và địa chỉ, nhằm đảm bảo cho lao động đào tạo ra được sử dụngđúng với chương trình đã đào tạo

- Mở rộng các hình thức hợp tác quốc tế về đào tạo công nhân kỹ thuật trongkhối ASEAN và các nước khác Tranh thủ các nguồn tài trợ của nước ngoài về vốn,chuyên gia kỹ thuật để đào tạo thợ bậc cao

*Thực hiện lộ trình hội nhập kinh tế quốc tế:

Tăng cường công tác phổ biến, tuyên truyền trong toàn ngành để nâng caonhận thức về hội nhập kinh tế quốc tế Xây dựng nội dung, tổ chức kênh cung cấpthông tin thường xuyên về hội nhập KTQT đến các doanh nghiệp Khuyến khíchcác doanh nghiệp áp dụng hệ thống quản lý theo tiêu chuẩn quốc tế, đăng ký nhãnhiệu hàng hóa, xây dựng và quảng bá thương hiệu

* Giải pháp bảo vệ môi trường:

- Đánh giá hiện trạng môi trường đối với toàn bộ các khu công nghiệp hiện có

để có phương án xử lý chung trên địa bàn cũng như từng khu vực

- Kiểm kê các nguồn gây ô nhiễm chính trong quá trình sản xuất công nghiệp

ở tất cả các doanh nghiệp thuộc mọi thành phần kinh tế, định kỳ quan trắc, phântích thành phần các chất thải độc hại

Ngày đăng: 07/03/2022, 16:39

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
2) Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XII, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2016 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XII
Nhà XB: Nxb Chính trị quốc gia
1) Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh, Giáo trình Cao cấp Lý luận chính trị môn Kinh tế chính trị Mác-Lênin, Nxb Lý luận chính trị, Hà Nội, 2019 Khác
3) Nghị quyết Hội ban chấp hành Trung ương lần thứ 5 Khóa XII của Đảng về hoàn thiệ thể chế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa Khác
4) Công nghiệp hóa, hiện đại hóa rút ngắn – Lê Cao Đoàn – NXB Chính trị quốc gia – Hà Nội 2009 Khác
5) Nền kinh tế tri thức – thời cơ và thách thức đối với sự phát triển của Việt Nam – Đặng Hữu – NXB Chính trị quốc gia – Hà Nội 2007 Khác

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w