chủ đề “Kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam” Kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa được xác định là mô hình kinh tế tổng quát trong thời kỳ quá độ đi lên chủ nghĩa xã hội. Đây có thể coi là một mô hình kinh tế thị trường mới trong lịch sử phát triển kinh tế thế giới, vừa có tính chất chung của kinh tế thị trường, lại vừa có tính chất đặc thù, phù hợp với điều kiện và đặc điểm cụ thể của Việt Nam. Đảng Cộng sản Việt Nam trên cơ sở nhận thức tính quy luật phát triển của thời đại, đúc rút từ kinh nghiệm phát triển các mô hình kinh tế thị trường thế giới và từ thực tiễn xây dựng chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam đã đưa ra chủ trương phát triển nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa để thực hiện mục tiêu từng bước quá độ lên chủ nghĩa xã hội. Từ Đại hội Đảng lần thứ VI đến Đại hội Đảng lần thứ XIII, thể chế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ngày càng được hoàn thiện và được chứng minh tính đúng đắn trên thực tế khi đã giúp đất nước ta thoát khỏi thời kỳ khó khăn về kinh tế, đạt tốc độ tăng trưởng khá cao. Từ nước nghèo, thu nhập thấp, Việt Nam đã gia nhập nhóm nước có thu nhập trung bình, hội nhập ngày càng sâu rộng hơn với kinh tế thế giới. Có thế khẳng định, kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa là sự đột phá trong tư duy và thực tiễn lãnh đạo sự nghiệp đổi mới; là kết quả một quá trình tìm tòi, thể nghiệm lâu dài, từ chưa đầy đủ đến ngày càng đầy đủ, từ chưa sâu sắc đến ngày càng sâu sắc hơn của Đảng Cộng sản Việt Nam
Trang 1Kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa được xác định là mô hìnhkinh tế tổng quát trong thời kỳ quá độ đi lên chủ nghĩa xã hội Đây có thể coi làmột mô hình kinh tế thị trường mới trong lịch sử phát triển kinh tế thế giới, vừa
có tính chất chung của kinh tế thị trường, lại vừa có tính chất đặc thù, phù hợpvới điều kiện và đặc điểm cụ thể của Việt Nam Đảng Cộng sản Việt Nam trên
cơ sở nhận thức tính quy luật phát triển của thời đại, đúc rút từ kinh nghiệm pháttriển các mô hình kinh tế thị trường thế giới và từ thực tiễn xây dựng chủ nghĩa
xã hội ở Việt Nam đã đưa ra chủ trương phát triển nền kinh tế thị trường địnhhướng xã hội chủ nghĩa để thực hiện mục tiêu từng bước quá độ lên chủ nghĩa
xã hội
Từ Đại hội Đảng lần thứ VI đến Đại hội Đảng lần thứ XIII, thể chế kinh tếthị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ngày càng được hoàn thiện và đượcchứng minh tính đúng đắn trên thực tế khi đã giúp đất nước ta thoát khỏi thời kỳkhó khăn về kinh tế, đạt tốc độ tăng trưởng khá cao Từ nước nghèo, thu nhậpthấp, Việt Nam đã gia nhập nhóm nước có thu nhập trung bình, hội nhập ngàycàng sâu rộng hơn với kinh tế thế giới Có thế khẳng định, kinh tế thị trườngđịnh hướng xã hội chủ nghĩa là sự đột phá trong tư duy và thựctiễn lãnh đạo sự nghiệp đổi mới; là kết quả một quá trình tìmtòi, thể nghiệm lâu dài, từ chưa đầy đủ đến ngày càng đầy đủ,
từ chưa sâu sắc đến ngày càng sâu sắc hơn của Đảng Cộng sảnViệt Nam
Tuy nhiên, thực tế phát triển kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa
ở Việt Nam vẫn còn chứa đựng nhiều bất cập, hạn chế và nhiều vấn đề đặt ra
Do vậy, học viên chọn chủ đề “Kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ
nghĩa ở Việt Nam” làm tiểu luận kết thúc môn học để nâng cao nhận thức của
bản thân về nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, đồng thời gợi ýmột số giải pháp phát triển nền kinh tế thị trường của nước ta theo định hướngcủa Đảng và Nhà nước
Trang 2NỘI DUNG
1 Kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam
1.1 Quan điểm của Đảng Cộng sản Việt Nam về nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam
Có thể hiểu, kinh tế thị trường là kiểu tổ chức nền kinh tế dựa trên cácnguyên tắc và tuân thủ những quy luật của kinh tế thị trường Kinh tế thị trường
là mô hình kinh tế mở trong đó coi trọng và tuân thủ các quy luật vận động, điềutiết của thị trường, tôn trọng tự do cạnh tranh, tự do hợp tác, mở rộng giao lưuthương mại, tạo cơ hội cho mọi chủ thể kinh tế tham gia thị trường, tìm kiếm lợinhuận
Ở Việt Nam, mặc dù đã có quan điểm manh nha về kinh tế thị trường từĐại hội VI khi xác định xây dựng nền kinh tế hàng hoá nhiều thành phần, tuynhiên phải đến Đại hội IX, thuật ngữ “phát triển kinh tế thị trường định hướng
xã hội chủ nghĩa” mới chính thức được sử dụng trong Văn kiện của Đảng
Khái niệm “nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa” đượckhẳng định tại Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IX của Đảng (2001) Đây làkết quả của quá trình 15 năm đổi mới tư duy và thực tiễn ở nước ta, được đúckết lại trên cơ sở đánh giá và rút ra bài học lớn qua các kỳ Đại hội Đảng, đặcbiệt là Đại hội VII, VIII Theo tinh thần đó, Đại hội IX của Đảng xác định: “pháttriển nền kinh tế hàng hóa nhiều thành phần vận động theo cơ chế thị trường, có
sự quản lý của Nhà nước theo định hướng xã hội chủ nghĩa; đó chính là nền kinh
tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa”
Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI của Đảng làm rõ nội hàm, mục tiêucủa nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa: “Nền kinh tế thị trườngđịnh hướng xã hội chủ nghĩa ở nước ta là nền kinh tế hàng hóa nhiều thành phầnvận động theo cơ chế thị trường có sự quản lý của Nhà nước dưới sự lãnh đạocủa Đảng cộng sản Đây là một hình thái kinh tế thị trường vừa tuân theo những
Trang 3quy luật của kinh tế thị trường vừa dựa trên cơ sở và được dẫn dắt, chi phối bởicác nguyên tắc và bản chất của chủ nghĩa hội”.
Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XII có bước phát triển mới về kinh tếthị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam như sau: “Nền kinh tế thịtrường định hướng xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam là nền kinh tế vận hành đầy đủ,đồng bộ theo các quy luật của kinh tế thị trường, đồng thời bảo đảm định hướng
xã hội chủ nghĩa phù hợp với từng giai đoạn phát triển của đất nước Đó là nềnkinh tế thị trường hiện đại và hội nhập quốc tế; có sự quản lý của Nhà nướcpháp quyền xã hội chủ nghĩa, do Đảng Cộng sản Việt Nam lãnh đạo, nhằm mụctiêu “dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh”
Tiếp tục làm rõ hơn, Đại hội XIII của Đảng nêu cụ thể: “Kinh tế thịtrường định hướng xã hội chủ nghĩa là mô hình kinh tế tổng quát của nước tatrong thời kỳ quá độ đi lên chủ nghĩa xã hội Đó là nền kinh tế thị trường hiệnđại, hội nhập quốc tế, vận hành đầy đủ, đồng bộ theo các quy luật thị trường, có
sự quản lý của Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa do Đảng Cộng sản ViệtNam lãnh đạo; bảo đảm định hướng xã hội chủ nghĩa vì mục tiêu “dân giàu,nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh” phù hợp với từng giai đoạn pháttriển của đất nước”
1.2 Sự tồn tại nền kinh tế thị trường tại Việt Nam là một thực tế khách quan
Việt Nam đang tồn tại đủ các điều kiện cần thiết là cơ sở tồn tại của nềnkinh tế hàng hóa Phân công lao động đang phát triển cả về chiều rộng lẫn chiềusâu Nhiều ngành nghề mới đã ra đời, đặc biệt là những ngành công nghiệp cóhàm lượng kỹ thuật kết tinh trong sản phẩm cao như điện tử, tin học Bên cạnh
đó các ngành nghề cổ truyền cũng đang phát triển mạnh mẽ Các sản phẩm củangành đang từng bước khẳng định thương hiệu trên thị trường trong nước vàquốc tế Đây chính là những thế mạnh của Việt Nam trong quá trình hội nhậpkinh tế thế giới Sự phát triển này đã kéo theo sự phát triển nhanh chóng của lực
Trang 4lượng sản xuất Lao động Việt Nam đã được cải thiện đáng kể về chất cũng như
về lượng Đồng thời tình trạng lao động cũng được phân bố lại cho phù hợp hơngiữa các ngành, các vùng Lao động Việt Nam cũng đã vươn ra thị trường thếgiới và thực tế đã chứng minh được những ưu thế của mình Thực sự phân cônglao động Việt Nam đã trở thành một bộ phận của phân công lao động thế giới
Kể từ sau Đại hội Đảng toàn quốc lần VI, Việt Nam đã chính thức thừanhận sự tồn tại của các thành phần kinh tế ngoài quốc doanh Nhờ đó các thànhphần kinh tế này đã có những điều kiện cần thiết để phát triển Từ đó xuất hiện
sự khác biệt giữa các hình thức sở hữu về tư liệu sản xuất và sản phẩm lao động.Đây chính là điều kiện đủ để nền kinh tế hàng hoá có cơ sở ra đời Khác biệt về
sở hữu tư liệu sản xuất và sản phẩm lao động đã tạo ra động lực to lớn để thúcđẩy kinh tế phát triển mặc dù mặt trái của nó chính là vấn đề phân hoá giàunghèo
Sau một thời gian dài duy trì cơ chế kinh tế kế hoạch hoá tập trung đãđến lúc chúng ta cần một sự chuyển đổi để phát triển kinh tế Cơ chế thị trườngvới những ưu thế không thể chối cãi là một sự lựa chọn hợp lý và tất yếu Cơchế quản lý cũ cồng kềnh, kém năng lực đã không còn phù hợp với tình hìnhtrong nước và quốc tế Những căn bệnh đặc trưng của cơ chế cũ như bảo thủ,trì trệ, kém năng lực, hình thành nên một bộ máy quản lý thiếu chuyên mônnghiệp vụ nhưng lại có thái độ quan liêu cửa quyền cần phải được thay đổi.Thực tế cho thấy trải qua gần hai mươi năm đổi mới vậy nhưng chúng ta vẫnphải thực hiện các cuộc chỉnh đốn Đảng, cải cách bộ máy hành chính chứng tỏnhững quan niệm cũ sai lầm đã ăn sâu bám rễ như thế nào Việc xoá bỏ hoàntoàn không hề dễ ràng, không thể hoàn thành trong một sớm một chiều nhưng
đó là việc cần thiết để thúc đẩy kinh tế phát triển Cùng với cơ chế cũ là sự bấtcập khi Nhà nước can thiệp quá sâu vào sản xuất kinh doanh, điều hành khôngtuân theo các quy luật kinh tế mà theo cảm tính dẫn đến sự thất bại trong thựchiện các mục tiêu kinh tế xã hội đã đặt ra Chuyển sang cơ chế mới sẽ tạo điều
Trang 5kiện cho sự các thành phần kinh tế xã hội phát triển theo đúng những quy luậtkinh tế khác quan.
2 Mục tiêu và đặc trưng của nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam
2.1 Mục tiêu xây dựng và phát triển nền kinh tế thị trường định hướng
xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam
Mục tiêu tổng quát:
Đảng đã xác định mục tiêu xây dựng và phát triển nền kinh tế thị trườngđịnh hướng xã hội chủ nghĩa ở nước ta là “giải phóng mạnh mẽ và không ngừngphát triển sức sản xuất, nâng cao đời sống nhân dân; đẩy mạnh xóa đói giảmnghèo, khuyến khích mọi người vươn lên làm giàu chính đáng, giúp đỡ ngườikhác thoát nghèo và từng bước khá giả hơn”
Phát triển nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa là nhằmphát triển lực lượng sản xuất, xây dựng cơ sở vật chất cho chủ nghĩa xã hội nângcao năng suất lao động xã hội, từng bước xác lập và hoàn thiện quan hệ sản xuấtmới xã hội chủ nghĩa, thực hiện mục tiêu “dân giàu, nước mạnh, dân chủ, côngbằng, văn minh”, “có nền kinh tế phát triển cao dựa trên lực lượng sản xuất hiệnđại và quan hệ sản xuất tiến bộ phù hợp”
Nghị quyết Trung ương 5 khóa XII khẳng định: “tiếp tục hoàn thiện thểchế kinh tế thị trường định hưỡng xã hội chủ nghĩa tạo tiền đề vững chắc choviệc xây dựng thành công và vận hành đồng bộ, thông suốt nền kinh tế thịtrường định hướng xã hội chủ nghĩa; góp phần huy động và phân bổ, sử dụng cóhiệu quả nhất mọi nguồn lực để thúc đẩy kinh tế - xã hội phát triển nhanh và bềnvững vì mục tiêu “dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh”
Mục tiêu cụ thể:
Mục tiêu cụ thể đến năm 2030: Phấn đấu hoàn thiện một bước đồng bộhơn hệ thống thể chế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa theo cácchuẩn mực phổ biến của nền kinh tế thị trường hiện đại và hội nhập quốc tế Cơbản bảo đảm tính đồng bộ giữa thể chế kinh tế và thể chế chính trị, giữa Nhànước và thị trường; sự hài hòa giữa tăng trưởng kinh tế với phát triển văn hóa,
Trang 6phát triển con người, thực hiện tiến bộ, công bằng xã hội, bảo đảm an sinh xãhội, bảo vệ môi trường, phát triển xã hội bền vững Chủ động, tích cực hội nhậpkinh tế quốc tế gắn với xây dựng nền kinh tế độc lập, tự chủ; bảo đảm tính minhbạch, tính dự báo được trong xây dựng thể chế kinh tế, tạo điều kiện ổn định,thuận lợi cho phát triển kinh tế - xã hội.
Đại hội XIII của Đảng khẳng định: “Phấn đấu đến năm 2030, là nước đangphát triển có công nghiệp hiện đại, thu nhập trung bình cao; có thể chế quản lýhiện đại, cạnh tranh, hiệu lực, hiệu quả; kinh tế phát triển năng động, nhanh vàbền vững, độc lập, tự chủ trên cơ sở khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo gắnvới nâng cao hiệu quả trong hoạt động đối ngoại và hội nhập quốc tế”
2.2 Đặc trưng của nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa
ở Việt Nam
Xét về thực chất, kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa là sựphát triển của nền kinh tế hàng hoá nhiều thành phần vận hành theo cơ chế thịtrường có sự quản lý vĩ mô của nhà nước Nó vừa mang những đặc điểm chungcủa kinh tế thị trường vừa mang những đặc thù riêng của chủ nghĩa xã hội
Những đặc điểm chung thể hiện ở chỗ: kinh tế thị trường ở nước ta vẫnchịu sự chi phối của những quy luật kinh tế vốn có của kinh tế hàng hoá như quyluật giá trị, quy luật cạnh tranh, quy luật cung cầu, quy luật lưu thông tiền tệ.Các phạm trù của kinh tế hàng hoá - kinh tế thị trường vốn có của nó vẫn cònphát huy tác dụng như giá trị, giá cả, lợi nhuận
Ngoài các đặc điểm chung thì kinh tế thị trường định hướng xã hội chủnghĩa ở Việt Nam còn có các đặc trưng riêng, cụ thể:
- Đặc trưng về sở hữu và thành phần kinh tế
Nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở nước ta là nền kinh
tế có nhiều hình thức sở hữu khác nhau
Với sự tồn tại đa dạng hóa các hình thức sở hữu trong nền kinh tế thịtrường định hướng xã hội chủ nghĩa thì tất yếu nền kinh tể đó có nhiều thànhphần kinh tế Các chủ thể thuộc các thành phần kinh tế được tự chủ sản xuấtkinh doanh và chịu sự điều tiết của các quy luật thị trường, luật pháp của Nhànước Giữa các chủ thể vừa có sự hợp tác, vừa có cạnh tranh và được bình đẳng
Trang 7trước pháp luật.
Đảng ta đã xác định: “Nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩaViệt Nam có nhiều hình thức sở hữu, nhiều thành phần kinh tế, trong đó: kinh tếnhà nước giữ vai trò chủ đạo; kinh tế tập thể, kinh tế hợp tác không ngừng đượccủng cố, phát triển; kinh tế tư nhân là một động lực quan trọng; kinh tế có vốnđầu tư nước ngoài được khuyến khích phát triển phù hợp với chiến lược, quyhoạch và kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội”
- Đặc trưng về cơ chế vận hành
Nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa vận hành theo cơ chếthị trường có sự quản lý của Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa: “giữa Nhànước, thị trường và xã hội có quan hệ chặt chẽ”
Cơ chế vận hành của nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ởViệt Nam được Đảng xác định: “Nhà nước xây dựng và hoàn thiện thể chế, bảo
vệ quyền tài sản, quyền kinh doanh, giữ ổn định kinh tể vĩ mô, các cân đối lớncủa nền kinh tế Thị trường đóng vai trò quyết định trong xác định giá cả hànghóa, dịch vụ; tạo động lực huy động, phân bổ hiệu quả các nguồn lực; điều tiếtsản xuất và lưu thông; điều tiết hoạt động của doanh nghiệp, thanh lọc nhữngdoanh nghiệp yếu kém Các tổ chức xã hội có vai trò tạo sự liên kết, phối hợphoạt động, giải quyết những vấn đề phát sinh giữa các thành viên; đại điện vàbảo vệ lợi ích của các thành viên trong quan hệ với các chủ thể, đối tác khác;cung cấp dịch vụ hỗ trợ các thành viên; phản ánh nguyện vọng, lợi ích của cáctầng lớp nhân dân với Nhà nước…”
- Đặc trưng về phân phối
Phân phối trong nền kinh té thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa baogồm phân phối các nguồn lực quốc gia cho sự phát triển kinh tế - xã hội và phânphối thu nhập Các nguồn lực cho sự phát triển, đặc biệt là các nguồn lực màNhà nước là đại diện chủ sở hữu như: tài nguyên, khoáng sản, đất đai, ngân sáchnhà nước được tiến hành phân phối theo lộ trình thực hiện chiến lược, kể hoạchphát triển kinh tế - xã hội đất nước trong từng giai đoạn và đảm bảo lợi ích quốcgia trong dài hạn Việc chi tiêu ngân sách, tăng chi đầu tư phát triển, xóa đói,
Trang 8giảm nghèo, giáo dục, nghiên cứu khoa học và y tế thu hút nguồn lực của xãhội đầu tư vào một số hoạt động kinh tế, xã hội.
Nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa thực hiện nhiều hìnhthức phân phối: “Quan hệ phân phối bảo đảm công bằng và tạo động lực chophát triển; các nguồn lực được phân bổ theo chiến lược, quy hoạch, kế hoạchphát triển kinh tế - xã hội; thực hiện chế độ phân phối chủ yếu theo kết quả laođộng, hiệu quả kinh tế, đồng thời theo mức đóng góp vốn cùng các nguồn lựckhác và phân phối thông qua hệ thống an sinh xã hội, phúc lợi xã hội”
Phân phối thu nhập trong nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủnghĩa ở Việt Nam được xác định: Đảm bảo từng bước cải thiện và nâng cao đờisống của nhân dân Căn cứ để tiến hành phân phối là kết quả lao động và hiệu quảkinh tế; đồng thời kết hợp với các hình thức phân phối khác để huy động đượcnguồn lực xã hội như: phân phối theo vốn, theo tài năng, tài sản đóng góp trongquá trình hoạt động sản xuất kinh doanh Bên cạnh thực hiện cơ chế phân phối thunhập đó, cần thực hiện các chính sách an sinh xã hội, phúc lợi xã hội để thực hiệnxóa đói, giảm nghèo, nhất là các đối tượng chính sách, vùng sâu, vùng xa Đại hộiXIII của Đảng nhấn mạnh: “Cải cách chính sách tiền lương theo hướng gắn với
sự thay đổi của giá cả sức lao động trên thị trường, tương xứng vói tốc độ tăngtrưởng kinh tế và tốc độ tăng năng suất lao động, bảo đảm nguyên tắc phân phốitheo lao động, tạo động lực nâng cao năng suất và hiệu quả”
3 Điều kiện, một số thành tựu, hạn chế và giải pháp phát triển kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam
3.1 Điều kiện phát triển kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam
- Điều kiện về kinh tế
Trong các điều kiện về kinh tế, để xây dựng và phát triển kinh tế thịtrường định hướng xã hội chủ nghĩa thì điều kiện quan trọng nhất là sự tập trungcác nguồn lực (vốn, khoa học - công nghệ, lao động, đất đai ) để phát triển nền
Trang 9sản xuất hàng hóa tập trung quy mô lớn với một trình độ khoa học - công nghệcao, tổ chức sản xuất hợp lý, có đội ngũ những người lao động có tính chuyênnghiệp, chuyên môn cao để tạo ra năng suất lao động cao, chất lượng hàng hóatốt đáp ứng nhu cầu thị trường với chi phí sản xuất thấp Đây là điều kiện quantrọng ảnh hưởng đến năng lực cạnh tranh của nền kinh tể và sự tồn tại, phát triểncủa nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa.
Cùng với sự phát triển nền sản xuất hàng hóa lớn thì điều kiện về thịtrường cho sự phát triển kinh tế thị trường cũng đóng vai trò quan trọng NhưC.Mác đã khái quát, sản xuất hàng hóa là sản xuất để trao đổi, tức là có thịtrường C.Mác viết: “Thị trường, nghĩa là lĩnh vực trao đổi” Thị trường của nềnkinh tế thị trường vừa là căn cứ, vừa là điều kiện cho các hoạt động sản xuấtkinh doanh; nó bao gồm các thị trường các yếu tố đầu vào, đầu ra; các dịch vụcủa nền kinh tế; các thị trường trong và ngoài nước Do đó, việc mở rộng, pháttriển thị trường và các yếu tố thị trưởng là điều kiện cơ bản để nền kinh tế thịtrường định hướng xã hội chủ nghĩa phát triển
Bên cạnh những điều kiện về sản xuất và thị trường, kết cấu hạ tầng kinh
tế kỹ thuật như: giao thông vận tải, thông tin liên lạc, điện, nước là nhữngđiều kiện vật chất thúc đẩy nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ ngh ĩaphát triển
- Điều kiện về chính trị, xã hội
Nền chính trị, xã hội ổn định là điều kiện quan trọng cho kinh tế pháttriển Lực lượng có vai trò quyết định đến sự ổn định của nền chính trị, xã hội ởViệt Nam là sự lãnh đạo của Đảng, sự quản lý của Nhà nước xã hội chủ nghĩa,
sự ủng hộ tham gia của các tổ chức chính trị - xã hội và toàn thể cộng đồngdoanh nghiệp, nhân dân Trong quá trình đổi mới, Đảng ta luôn coi trọng đổimới hệ thống chính trị mà trọng tâm là hoàn thiện, nâng cao hiệu lực, hiệu quảquản lý của Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, tạo điều kiện cho các chủthể trong nền kinh tế thị trường phát triển ổn định, bền vững theo định hướng xãhội chủ nghĩa
Trang 10Khối đại đoàn kết dân tộc là động lực, nguồn lực to lớn trong công cuộcxây dựng và bảo vệ Tổ quốc nói chung và phát triển kinh tế nói riêng Tăngcường khối đại đoàn kết dân tộc trên cơ sở nền tảng liên minh của giai cấp côngnhân với giai cấp nông dân và đội ngũ trí thức do Đảng lãnh đạo là điều kiệnquan trọng nhằm phát huy mạnh mẽ mọi nguồn lực, mọi tiềm năng sáng tạo đểphát triển nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa.
- Điều kiện về hòa bình, hợp tác khu vực và quốc tế
Trong bối cảnh thế giới ngày nay, hội nhập khu vực và quốc tế là xuhướng tất yếu mà các quốc gia đang tích cực thực hiện Qua trình hội nhập đó đãđem lại những cơ hội để tranh thủ các điều kiện từ bên ngoài như: nguồn lực vềtài chính, những thành tựu khoa học - công nghệ của nhân loại, kinh nghiệm tổchức quản lý nền sản xuất lớn và thị trường để mở rộng giao thương giữa cácquốc gia và đó là điều kiện cho sự phát triển kinh tế thị trường hiện đại Đồngthời, nếu điều kiện khu vực và quốc tế tốt sẽ tạo môi trường hòa bình thuận lợicho việc thiết lập các quan hệ đối tác chiến lược để đẩy mạnh hoạt động kinh tếđối ngoại trong phát triển kinh tể thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa Trênthực tế những năm đổi mới, Việt Nam đã nhận thức và tranh thủ khai thác điềukiện này để phát triển kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ngày cànggắn với kinh tế khu vực và thế giới
3.2 Một số thành tựu và hạn chế trong phát triển kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam
Có thể nói, trải qua 35 năm đổi mới, mô hình kinh tế thịtrường định hướng xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam ngày càng hoànthiện, trở thành đóng góp lý luận cơ bản và sâu sắc của ĐảngCộng sản Việt Nam Tại Đại hội XIII, Đảng ta nhận định: “Nhậnthức về nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ngàycàng đầy đủ hơn Hệ thống pháp luật, cơ chế, chính sách tiếptục được hoàn thiện phù hợp với yêu cầu xây dựng nền kinh tếthị trường hiện đại và hội nhập quốc tế Các yếu tố thị trường và
Trang 11các loại thị trường từng bước phát triển đồng bộ, gắn với thịtrường khu vực và thế giới” “Thể chế kinh tế thị trường địnhhướng xã hội chủ nghĩa đang dần được hoàn thiện theo hướnghiện đại, đồng bộ và hội nhập” Đường lối đổi mới kinh tế phùhợp với yêu cầu khách quan đã giải phóng mạnh mẽ sức sảnxuất xã hội, thúc đẩy nền kinh tế của nước ta tăng trưởng vượtbậc, đời sống của nhân dân được cải thiện rõ rệt Nhờ vậy, sau
35 năm đổi mới, chúng ta đã giành được những thành tựu to
lớn, có ý nghĩa lịch sử, đất nước thoát khỏi khủng hoảng kinh tế
- xã hội, trở thành nước có thu nhập trung bình; hội nhập mạnh
mẽ vào kinh tế khu vực và thế giới, tạo thế và lực mới cho nềnkinh tế Đất nước ta chưa bao giờ có được co đồ, tiềm lực và vịthế và uy tín quốc tế như ngày nay
Việt Nam từ một trong những nước nghèo nhất trên thếgiới trở thành quốc gia thu nhập trung bình thấp Nếu như tronggiai đoạn đầu đổi mới (1986 - 1990), mức tăng trưởng GDP bìnhquân hằng năm chỉ đạt 4,4%, thì giai đoạn 1991 - 1995, tăngtrưởng GDP bình quân đã đạt 8,2%/năm Các giai đoạn sau đóđều có mức tăng trưởng khá cao, riêng giai đoạn 2016 - 2019đạt mức bình quân 6,8 Liên tiếp trong 4 năm, từ năm 2016 -
2019, Việt Nam đứng trong top 10 nước tăng trưởng cao nhấtthế giới, là một trong 16 nền kinh tế mới nổi thành công nhất.Đặc biệt, trong năm 2020, trong khi phần lớn các nước có mứctăng trưởng âm hoặc đi vào trạng thái suy thoái do tác độngcủa đại dịch COVID-19, kinh tế Việt Nam vẫn tăng trưởng2,91%, góp phần làm cho GDP trong 5 năm (2016 - 2020) tăngtrung bình 5,9%/năm, thuộc nhóm nước có tốc độ tăng trưởngcao nhất khu vực và thế giới Quy mô nền kinh tế được nânglên, nếu như năm 1989 mới đạt 6,3 tỷ USD thì đến năm 2020 đã
Trang 12đạt khoảng 343 tỷ USD Đời sống nhân dân được cải thiện rõ rệt
cả về vật chất và tinh thần, năm 2020, GDP bình quân đầu người năm
2020 ước đạt khoảng 2.750 USD/người, gấp khoảng 1,3 lần so với năm 2015.Các cân đối lớn của nền kinh tế về tích luỹ - tiêu dùng, tiết kiệm
- đầu tư, năng lượng, lương thực, lao động - việc làm… tiếp tụcđược bảo đảm, góp phần củng cố vững chắc nền tảng kinh tế vĩ
mô Chương trình mục tiêu quốc gia giảm nghèo bền vững giai đoạn 2016
-2020 được triển khai mạnh mẽ, chuyển từ cách tiếp cận đơn chiều sang đa chiều,tập trung vào nhóm, hộ nghèo nhất Tỉ lệ hộ nghèo theo chuẩn nghèo đa chiềucủa cả nước đã giảm từ 9,88% cuối năm 2015 xuống còn 3,75% cuối năm 2019
và giảm còn dưới 3% vào cuối năm 2020, bình quân giai đoạn 2016 - 2020 giảmtrên 1,4%/năm Chỉ số đổi mới sáng tạo toàn cầu của Việt Namnăm 2020 được xếp thứ 42/131 nước, đứng đầu nhóm 29 quốcgia có cùng mức thu nhập Xếp hạng về phát triển bền vững củaViệt Nam đã tăng từ thứ 88 năm 2016 lên thứ 49 năm 2020, caohơn nhiều so với các nước có cùng trình độ phát triển kinh tế
Tuy vậy, trong quá trình phát triển kinh tế thị trường địnhhướng xã hội chủ nghĩa, vẫn còn nhiều hạn chế, yếu kém Cụthể là:
Thứ nhất, quá trình đổi mới nhận thức về kinh tế thị trường
định hướng xã hội chủ nghĩa diễn ra chậm, nhất là nhận thức vềbản chất và nguyên tắc vận hành của kinh tế thị trường địnhhướng xã hội chủ nghĩa, nên đã tạo ra sự thiếu đồng bộ, thiếunhất quán và những bất cập trong quá trình hoàn thiện thể chếkinh tế thị trường; do vậy, chưa huy động được tối đa tiềm lực
để phát triển kinh tế Mối quan hệ giữa Nhà nước, thị trường và
xã hội chưa được xử lý phù hợp, rõ ràng, minh bạch
Thứ hai, tăng trưởng kinh tế còn chậm, chưa bền vững, vẫn
ở dưới mức tiềm năng, lực lượng sản xuất chưa được giải phóng