Hiến pháp năm 1992 sửa đổi, bổ sung theo Nghị quyết số 51/2001/QH10 ngày 25-12-2001 của Quốc hội khóa X và Luật tổ chức Quốc hội đó chỉ rõ Quốc hội là cơ quan đại biểu cao nhất của nhân
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC LUẬT TP HỒ CHÍ MINH
*********************
NGUYỄN THỊ THỦY
ĐỊA VỊ PHÁP LÝ CỦA ĐẠI BIỂU QUỐC HỘI Ở
NƯỚC TA HIỆN NAY
LUẬN VĂN THẠC SỸ LUẬT HỌC
Chuyên ngành Hành Chính Mã số 60.38.20 Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS Nguyễn Đăng Dung
TP HỒ CHÍ MINH, NĂM 2009
Trang 2LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là luận văn nghiên cứu của chính tôi dưới sự hướng dẫn của PGS.TS Nguyễn Đăng Dung Các ý kiến, quan điểm, số liệu, nội dung tham khảo đã công bố được trích dẫn trong luận văn và tài liệu tham khảo Những kết luận của luận văn chưa từng được công bố trong bất kỳ công trình nghiên khoa học cứu nào
Trang 3DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT
Trang 4MỤC LỤC
Trang MỞ ĐẦU……… 1
CHƯƠNG 1 MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÍ LUẬN VỀ ĐỊA VỊ PHÁP LÍ CỦA ĐẠI BIỂU QUỐC HỘI………
1.1 Quan điểm về địa vị pháp lý của Đại biểu Quốc hội……… 5
1.1.1.Quan điểm về tính độc lập của người đại biểu……… 5
1.1.2 Quan điểm về tính phụ thuộc, tính chịu trách nhiệm trước cử tri của người đại biểu nhân dân……… 7
1.1.3 Quan điểm của Đảng, tư tưởng Hồ Chí Minh về vị trí, vai trò của người đại biểu nhân dân……… 9
1.2 Nội dung địa vị pháp lý của đại biểu Quốc hội……… 11
1.2.1 Vị trí, vai trò của đại biểu Quốc hội……… 11
1.2.2 Nhiệm vụ, quyền hạn, trách nhiệm của đại biểu Quốc hội……… 13
1.2.3 Mối quan hệ giữa đại biểu Quốc hội với các cơ quan nhà nước, tổ chức Chính trị-xã hội và nhân dân……… 22
CHƯƠNG 2 SỰ PHÁT TRIỂN ĐỊA VỊ PHÁP LÝ CỦA ĐẠI BIỂU QUỐC HỘI NƯỚC TA………
2.1 Giai đoạn từ 1946 đến 1959 33
2.2 Giai đoạn từ 1959 đến 1980 36
2.3 Giai đoạn từ 1980 đến 1992 38
Trang 52.4 Giai đoạn từ 1992 đến 2001 39
2.5 Giai đoạn hiện nay 44
2.5.1 Thực trạng về việc thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn của Đại biểu Quốc hội……… 46
2.5.2 Nguyên nhân của những hạn chế……… 59
CHƯƠNG 3 MỘT SỐ GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN ĐỊA VỊ PHÁP LÝ CỦA ĐẠI BIỂU QUỐC HỘI Ở NƯỚC TA HIỆN NAY………
3.1 Yêu cầu hoàn thiện địa vị pháp lý của đại biểu Quốc hội ở nước ta hiện nay……… 62
3.1.1 Yêu cầu xây dựng nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của nhân dân, do nhân dân và vì nhân dân……… 62
3.1.2 Yêu cầu hội nhập kinh tế thế giới nhằm thực hiện thắng lợi nhiệm vụ công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước……… 64
3.2 Một số giải pháp hoàn thiện địa vị pháp lý của Đại biểu Quốc hội……… 65
3.2.1 Hoàn thiện chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và trách nhiệm của đại biểu Quốc hội……… ……… 65
3.2.2 Hoàn thiện mối quan hệ giữa đại biểu Quốc hội với các cơ quan nhà nước, tổ chức chính trị-xã hội và với nhân dân……… 76
KẾT LUẬN……… 81
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO………
PHỤ LỤC………
Trang 6MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Trong giai đoạn hiện nay Đảng và Nhà nước đang thực hiện đường lối xây dựng Nhà nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam thành nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của nhân dân, do nhân dân và vì nhân dân; tất cả quyền lực nhà nước thuộc về nhân dân, nhân dân sử dụng quyền lực nhà nước thông qua Quốc hội và Hội đồng nhân dân là những cơ quan đại điện cho ý chí
và nguyện vọng của nhân dân Hiến pháp năm 1992 (sửa đổi, bổ sung theo Nghị quyết số 51/2001/QH10 ngày 25-12-2001 của Quốc hội khóa X) và Luật
tổ chức Quốc hội đó chỉ rõ Quốc hội là cơ quan đại biểu cao nhất của nhân dân, cơ quan quyền lực nhà nước cao nhất; cơ quan duy nhất có quyền lập hiến
và lập pháp; cơ quan có quyền quyết định những chính sách cơ bản về đối nội
và đối ngoại, nhiệm vụ kinh tế - xã hội, quốc phòng, an ninh của đất nước, những nguyên tắc chủ yếu về tổ chức và hoạt động của bộ máy nhà nước, về quan hệ xã hội và hoạt động của công dân, thực hiện giám sát tối cao đối với toàn bộ hoạt động của nhà nước Như vậy, Quốc hội là nơi thể hiện cao nhất quyền lực của nhân dân, có vị trí đặc biệt quan trọng trong bộ máy nhà nước nói riêng và trong hệ thống chính trị nói chung ở Việt Nam
Chất lượng hoạt động của các cơ quan dân cử nói chung, Quốc hội nói riêng được đảm bảo bằng hoạt động của các cơ quan của Quốc hội, hoạt động của đại biểu Quốc hội Trong đó hoạt động của đại biểu Quốc hội đóng vai trò rất quan trọng, bởi lẽ các cơ quan của Quốc hội cũng được cấu thành bởi các đại biểu Quốc hội
Thực tế những năm qua cho thấy, Đảng và nhà nước rất quan tâm đến việc kiện toàn tổ chức, đổi mới và nâng cao chất lượng, hiệu quả hoạt động của Quốc hội nói chung, các cơ quan của Quốc hội, đại biểu Quốc hội nói riêng Tuy nhiên, hiện nay đứng trước yêu cầu của công cuộc đổi mới, công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước đòi hỏi cần nâng cao hơn nữa vai trò của người đại biểu dân cử Điều này liên quan đến việc hoàn thiện địa vị pháp lý
của đại biểu Quốc hội Vì vậy việc tác giả chọn đề tài “Địa vị pháp lý của đại
Trang 7bi ểu Quốc hội ở nước ta hiện nay” làm luận văn thạc sỹ Luật học vừa có ý
nghĩa cả về mặt lý luận và thực tiễn
2 Tình hình nghiên cứu đề tài
Xuất phát từ vị trí quan trọng của đại biểu Quốc hội, trong nhiều năm qua có khá nhiều công trình khoa học dành sự quan tâm nghiên cứu về vị trí, vai trò của đại biểu của Quốc hội với mục đích nghiên cứu, góc độ và phạm vi tiếp cận khác nhau, trong đó ít nhiều đề cập một số vấn đề liên quan đến địa vị pháp lý của đại biểu Quốc hội Có thể kể đến công trình nghiên cứu rất lớn như “Quốc hội Việt nam trong Nhà nước pháp quyền” của PGS.TS Nguyễn Đăng Dung, “Đổi mới, hoàn thiện bộ máy nhà nước trong giai đoạn hiện nay” của PGS.TS Bùi Xuân Đức; “Chế độ bầu cử của một số nước trên thế giới” của Tiến sỹ Vũ Hồng Anh Đặc biệt là các đề tài khoa học liên quan đến hoạt động của Đại biểu Quốc hội được Văn phòng Quốc hội tổ chức nghiên cứu và nghiệm thu Các báo cáo và bài viết được công bố tại các hội thảo do các cơ quan Quốc hội tổ chức Ví dụ như “Quyền chất vấn của đại biểu Quốc hội tại
kỳ họp: Thực trạng và kiến nghị giải pháp nâng cao chất lượng, hiệu quả” của Tiến sĩ Phan Trung Lý; hoặc một số nội dung về hoạt động của đại biểu Quốc hội trong đề tài khoa học cấp Nhà nước do Văn phòng Quốc hội chủ trì: “Luận
cứ khoa học để xây dựng và hoàn thiện mô hình tổ chức và hoạt động của Quốc hội” Bên cạnh đó còn có một số bài viết như “Năng lực thực hiện nhiệm
vụ Đại biểu Quốc hội” của tác giả Phạm Văn Hùng; “Một số giải pháp hoàn thiện pháp luật về ĐBQH” ở Việt Nam của Nguyễn Thế Quyền…
Các công trình khoa học nêu trên không nghiên cứu địa vị pháp lý của đại biểu Quốc hội một cách có hệ thống mà chỉ đề cập đến một số vấn đề liên quan như đổi mới phương pháp lựa chọn đại biểu Quốc hội, nâng cao chất lượng và hiệu quả hoạt động của đại biểu Quốc hội Vì vậy, cho đến nay chưa
có công trình nào nghiên cứu một cách có hệ thống về vấn đề Địa vị pháp lý
nói trên đã có những đóng góp quý báu trong việc đổi mới, nâng cao chất lượng, hiệu quả hoạt động của đại biểu Quốc hội; đồng thời cũng là tài liệu
tham khảo có giá trị giúp tác giả hoàn thành tốt luận văn của mình
Trang 83 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của luận văn
Địa vị pháp lý của đại biểu Quốc hội ở nước ta hiện nay có đối tượng
và phạm vi nghiên cứu rất rộng, khó có thể thực hiện đầy đủ trong điều kiện nghiên cứu đối với một luận văn cao học Vì vậy, luận văn chỉ tập trung nghiên cứu cơ sở lý luận, phân tích thực trạng về vị trí, vai trò, nhiệm vụ, quyền hạn và trách nhiệm của đại biểu Quốc hội, mối quan hệ giữa ĐBQH với các cơ quan hữu quan để qua đó đưa ra phương hướng, giải pháp nhằm nâng cao chất lượng, hiệu quả hoạt động của Đại biểu Quốc hội trong thời gian tới
4 Mục đích và nhiệm vụ của luận văn
Trên cơ sở nghiên cứu lý luận và thực trạng về địa vị pháp lý của đại biểu Quốc hội, luận văn sẽ kiến nghị, luận chứng những giải pháp nhằm hoàn thiện địa vị pháp lý của đại biểu Quốc hội nhằm góp phần nghiên cứu đổi mới, nâng cao chất lượng, hiệu quả hoạt động của đại biểu Quốc hội trong thời gian tới Để đạt được mục đích này, luận văn có nhiệm vụ sau:
- Khái quát và phân tích cơ sở lý luận về địa vị pháp lý của ĐBQH
- Phân tích các mối quan hệ của ĐBQH với các cơ qua hữu quan
- Phân tích thực trạng quy định của pháp luật về địa vị pháp lý của đại biểu Quốc hội
- Nêu ra yêu cầu và kiến giải một số giải pháp nhằm hoàn thiện địa vị pháp lý của ĐBQH
5 Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu
Để hoàn thành mục đích và những nhiệm vụ được đặt ra, luận văn được nghiên cứu dựa trên cơ sở lý luận của chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng
Hồ Chí Minh về nhà nước và pháp luật, về khoa học chính trị; các quan điểm, chủ trương, đường lối của Đảng Cộng sản Việt Nam về xây dựng và hoàn thiện nhà nước và hệ thống pháp luật Việt Nam trong giai đoạn hiện nay và một số phương pháp cụ thể khác như: phương pháp phân tích, tổng hợp; phương pháp khái quát hóa; phương pháp quy nạp và diễn dịch; phương pháp của lý thuyết hệ thống; phương pháp phân tích quy phạm cụ thể, phương pháp của luật so sánh và tham khảo kinh nghiệm nước ngoài
Trang 96 Đóng góp mới về khoa học của luận văn
Luận văn là công trình nghiên cứu có hệ thống về lý luận và thực tiễn
về địa vị pháp lý của đại biểu Quốc hội; làm rõ và phân tích nội hàm của địa vị pháp lý của đại biểu Quốc hội; phân tích thực trạng để chỉ ra những nguyên nhân cơ bản của thành công cũng như những hạn chế về địa vị pháp lý của đại biểu Quốc hội ở nước ta hiện nay Từ đó, kiến nghị một số giải pháp nhằm hoàn thiện địa vị pháp lý của đại biểu Quốc hội
7 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận văn
Với kết quả đạt được, luận văn sẽ giúp phần làm sáng tỏ và hoàn thiện
cơ sở lý luận, cơ sở pháp lý của việc hoàn thiện địa vị pháp lý của ĐBQH Đồng thời, luận văn có thể dùng làm tài liệu tham khảo cho việc nghiên cứu và giảng dạy vấn đề liên quan đến Quốc hội, hoạt động của đại biểu Quốc hội
8 Kết cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, luận văn gồm 3 chương
Chương 1: Một số vấn đề lý luận về địa vị pháp lý của Đại biểu QH Chương 2: Sự phát triển địa vị pháp lý của Đại biểu Quốc hội nước ta Chương 3: Một số giải pháp hoàn thiện địa vị pháp lý của Đại biểu Quốc hội ở nước ta hiện nay
Trang 10CHƯƠNG 1 MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ
ĐỊA VỊ PHÁP LÝ CỦA ĐẠI BIỂU QUỐC HỘI
1.1 Quan điểm về địa vị pháp lý của Đại biểu Quốc hội
1.1.1.Quan điểm về tính độc lập của người đại biểu
Việc xác định tính chất đại diện của cơ quan đại biểu nhân dân được các triết gia nói đến rất nhiều và rất sớm, nhưng vì nhiều lý do mà đến nửa đầu thế kỷ thứ XVIII, khi tư tưởng về chế độ Đại nghị được hình thành cơ quan đại biểu nhân dân, cơ quan có chức năng lập pháp như bây giờ Việc xây dựng hình ảnh của người đại biểu đại diện cho quyền lực của nhân dân là một trong những nội dung cơ bản của chế độ đại nghị, là tư tưởng đại diện nhân dân Với
tư cách là văn bản pháp lý cao nhất quy định việc tổ chức quyền lực nhà nước, Hiến pháp ra đời sau khi giai cấp tư sản giành chính quyền trong cuộc đấu tranh chống lại nhà nước phong kiến chuyên chế, độc tài Vì thế mà cơ quan đại diện nhân dân cũng chỉ được ra đời trên cơ sở của Hiến pháp Sự ra đời của Hiến pháp nhằm mục đích hạn chế quyền lực tuyệt đối của giai cấp phong kiến chuyên quyền và muốn xây dựng một chế độ chính trị mới theo đó ba quyền lập pháp, hành pháp, tư pháp phân định nhau, kiểm soát, đối trọng nhau Chế độ Nghị viện được coi là cuộc cách mạng dân chủ tư sản, là nền lập hiến Đồng thời cũng là thắng lợi vẻ vang của giai cấp tư sản trước chế độ phong kiến lạc hậu, chuyên quyền Sống trong một xã hội có nhà nước, nhân dân chính là chủ thể mang chủ quyền tối thượng, họ uỷ quyền cho Nghị viện thay
mặt mình thực hiện quyền lập pháp Trong tác phẩm Tinh thần pháp luật của
Montesquieu, khi nói đến hoạt động lập pháp, ông viết: "Trong một nước tự
do, mọi người đều được xem như có tâm hồn tự do, thì phải được tự quản; Như vậy tập đoàn dân chúng phải có quyền lập pháp Nhưng trong một nước lớn thì không thể mỗi công dân đều làm việc lập pháp Trong một nước nhỏ, việc này cũng rất khó khăn; cho nên dân chúng thực hiện quyền lập pháp bằng cách giao cho các đại biểu của mình làm mọi việc mà cá nhân công dân không
Trang 11thể tự mình làm lấy được"1 Với cách nói trên, có thể hiểu sự ủy quyền này được thực hiện thông qua việc bầu cử để hình thành lên cơ quan Nghị viện Đây là cơ quan đại diện cao nhất cho các tầng lớp dân cư trong xã hội tư sản Nhà hiến pháp học người Pháp L Diughi khẳng định, mặc dù từng thành viên của Nghị viện do cử tri bầu ra nhưng mối quan hệ tổng thể ở đây là mối quan
hệ giữa toàn bộ các thành viên của Nghị viện với toàn thể nhân dân, vì thế Nghị viện là cơ quan đại diện được nhân dân uỷ quyền Khi nói về vấn đề này, học giả người Pháp M Prelot đã nhấn mạnh: "Khi cử tri lựa chọn cá nhân này hay cá nhân kia để bầu làm đại biểu, thì ý chí của cử tri đã bị hạn chế, bởi vậy cử tri không thể gây ảnh hưởng tới vị thế của người trúng cử Vị thế này được xác định bởi Hiến pháp và luật Vì thuật ngữ "uỷ quyền" trong Tuyên ngôn 1789 nên hiểu khác nghĩa so với thuật ngữ "uỷ quyền" được sử dụng trong luật Dân sự Tương tự vậy, thuật ngữ "đại diện" nên được hiểu đối nghĩa
so với nghĩa ngôn ngữ học của nó Những đại biểu được bầu trong cuộc bầu cử trực tiếp, tự do, hoàn toàn độc lập không phụ thuộc vào cử tri"2
Như vậy, khi đã là thành viên của Nghị viện, đại biểu phải tham gia vào việc thực hiện những nhiệm vụ và quyền hạn của nghị viện Mà Nghị viện là cơ quan đại diện cho ý chí và nguyện vọng của toàn thể nhân dân Cho nên đại biểu – thành viên của nghị viện cũng phải là người đại điện cho ý chí của toàn thể nhân dân Trên thực tế, việc tổ chức và hoạt động của Nghị viện thường cho đây là sự ủy quyền, sự uỷ quyền này được gọi
là "uỷ quyền tự do" (free mandate).Với nguyên tắc này, Nghị viện nói chung
và các thành viên của Nghị viện nói riêng là người đại diện cho toàn thể nhân dân, bởi vậy không một ai có thể trao cho đại biểu uỷ nhiệm thư, các đại biểu hoạt động trong khuôn khổ Hiến pháp, luật và theo nhận thức của mình để quyết định các vấn đề phù hợp với nguyện vọng của nhân dân Ví dụ, Khoản
1, Điều 104 Hiến pháp nước Cộng hoà Ba Lan năm 1997 quy định: “Đại biểu là người đại diện của dân tộc, đại biểu không bị ràng buộc bởi ý kiến cử tri” Điều 67 Hiến pháp nước Cộng hoà Italia 1947 quy định:
“Mỗi thành viên của Nghị viện là người đại diện của dân tộc; khi thực
1 Montesquieu - Tinh thần pháp luật- NXB Giáo dục Hà Nội 1996, Trg.103-104
2 Vũ Hồng Anh Chế độ bầu cử ở một số nước trên thế giới Nxb Chính trị quốc gia, H.1997
Trang 12hiện nhiệm vụ, đại biểu không phải chịu trách nhiệm chính trị trước cử tri”.Giải thích cho nguyên tắc này, học giả người Pháp M.Prelot đưa ra bốn nội dung như sau: Sự ủy quyền là chung cho toàn thể (mặc dù đại biểu
do cử tri ở đơn vị bầu cử bầu ra, nhưng đại biểu đại diện cho toàn thể nhân dân); sự uỷ quyền là không bắt buộc (đại biểu thực hiện sự uỷ quyền một cách
tự do, không buộc phải tính đến ý kiến của cử tri nơi bầu ra mình); sự uỷ quyền không bị triệu hoàn (các đại biểu không bị cử tri bãi nhiệm vì bất cứ lý
do gì); sự uỷ quyền được thực hiện mà không cần sự đồng ý của người uỷ quyền (các đại biểu biết rằng cần phải làm gì để cho ý chí của đại biểu với ý
Tuy nhiên, đứng trên quan điểm khác với các quan điểm trên để nghiên cứu, J.J Rousseau cho rằng chủ quyền tối cao của toàn dân là không thể dùng người đại diện thay, đồng thời nó cũng không thể bị xoá bỏ; nó nằm ngay trong ý chí của toàn dân, là ý chí chung không ai nói thay được Các đại diện nhân dân không phải và không thể là người thay mặt nhân dân được; họ chỉ có thể là những uỷ viên chấp hành4 Đây được gọi là phương pháp “ủy quyền mệnh lệnh” Nhân dân bầu ra các đại biểu, uỷ quyền cho các đại biểu thực hiện quyền lập pháp, đồng thời yêu cầu các đại biểu thực hiện quyền lập pháp phù
biểu uỷ nhiệm thư, đồng thời có quyền bãi nhiệm đại biểu nếu đại biểu không thực hiện đúng nội dung của uỷ nhiệm thư Nguyên tắc uỷ quyền mệnh lệnh được áp dụng phổ biến ở các nước xã hội chủ nghĩa
1.1.2 Quan điểm về tính phụ thuộc, tính chịu trách nhiệm trước cử tri
Khi C.Mác nghiên cứu phong trào công xã Pari, ông cho rằng "Công xã không phải là một cơ quan đại nghị, mà là một cơ quan hành động, vừa lập pháp, vừa hành pháp"5 Sau này, khi phân tích chúng, VI.Lênin chỉ ra rằng:
"Công xã thay chế độ đại nghị vì các nghị sĩ phải tự mình công tác, tự mình thực hiện những pháp luật của mình, tự mình kiểm tra lấy tác dụng của những
3 M Prelot - SĐD - Tr 438 - 440
4 Vũ Hồng Anh Chế độ bầu cử ở một số nước trên thế giới Nxb Chính trị quốc gia, H.1997
5 C Mác, Ph Ăngghen, Toàn tập, NXB Chính trị quốc gia, Hà nội 1994, Tr 17, Tr 455
Trang 13pháp luật ấy, tự chịu trách nhiệm trực tiếp trước cử tri của mình Những cơ quan đại diện vẫn còn, nhưng chế độ đại nghị với tính cách là một hệ thống đặc biệt, một sự phân chia giữa công tác lập pháp và công tác hành pháp thì
lý của Nghị viện nói chung, các thành viên của nghị viện nói riêng ở nhà nước
xã hội chủ nghĩa
Các nước xã hội chủ nghĩa thường áp dụng nguyên tắc thứ 2 là nguyên tắc mệnh lệnh Nguyên tắc này được xây dựng trên cơ sở quan điểm của J.J.Rousseau: “Chủ quyền tối cao của toàn dân là không thể dùng người đại diện thay, đồng thời nó không thể bị xoá bỏ, nó nằm trong ý chí chung của toàn dân, là ý chí chung không ai nói thay được… Các đại diện nhân dân không phải và không thể là người thay mặt nhân dân được, họ chỉ có thể là những uỷ viên chấp hành” Theo quan điểm này, thì nhân dân là người bầu ra đại biểu, uỷ quyền cho đại biểu thực hiện quyền lập pháp và có quyền yêu cầu đại biểu thực hiện quyền lập pháp phù hợp với ý chí của nhân dân Thông qua bầu cử, cử tri trao cho đại biểu uỷ nhiệm thư, đồng thời có quyền bãi nhiệm đại biểu nếu đại biểu không thực hiện đúng nội dung của uỷ nhiệm thư VI.Lê nin còn chỉ
ra rằng, bằng hình thức đó chế độ dân chủ đại diện mới thực sự dân chủ và cơ quan đại diện mới thực sự đại diện cho ý chí của nhân dân
Có thể khẳng định rằng, mặc dù được thể hiện dưới hình thức này hay hình thức khác, nhìn chung nguyên tắc mệnh lệnh được áp dụng phổ biến trong tổ chức
và hoạt động của Nghị viện của các nước xã hội chủ nghĩa Hiến pháp 1977 của Liên Xô cũ đã áp dụng nguyên tắc này một cách đầy đủ nhất Trong hoạt động của mình, các đại biểu phải xuất phát từ lợi ích của quốc gia, đáp ứng những yêu cầu của cử tri ở đơn vị bầu cử, phấn đấu đưa vào cuộc sống uỷ nhiệm thư của cử tri (Điều 103) Trường hợp đại biểu không xứng đáng với sự tín nhiệm của cử tri, cử tri có quyền bãi nhiệm đại biểu (Điều 107)
Hiến pháp Cộng hòa nhân dân Trung Hoa 1993 quy định việc bầu cử được tiến hành theo chế độ đại cử tri Cử tri cấp xã trực tiếp bầu đại biểu nhân dân xã
6 V I- Lenin - Toàn tập, Tiếng Nga, NXB Tiến bộ, M 1976, Tr 33, Tr 59
Trang 14(Đại hội đại biểu nhân dân xã), đại biểu nhân dân xã bầu đại biểu nhân dân huyện, đại biểu nhân dân huyện bầu đại biểu nhân dân tỉnh; đại biểu nhân dân tỉnh, khu tự trị, thành phố trực thuộc trung ương và các đơn vị quân đội bầu đại biểu Quốc hội Việc không đề cao đến uỷ nhiệm thư của cử tri, cho phép cử tri bãi nhiệm đại biểu trong trường hợp đại biểu không đáp ứng được sự tín nhiệm của cử tri lại được Hiến pháp CuBa 1976 quy định Tại Điều 83 Hiến pháp CuBa, các đại biểu Quốc hội chịu sự giám sát của cử tri và có thể bị cử tri bãi nhiệm; thủ tục
và cách thức bãi nhiệm do luật định Đối với Hiến pháp Cộng hoà dân chủ nhân dân Triều Tiên thì lại chỉ đề cập đến trách nhiệm của đại biểu trước cử tri
mà lại không quy định quyền cử tri bãi nhiệm đại biểu
1.1.3 Quan điểm của Đảng, tư tưởng Hồ Chí Minh về vị trí, vai trò của
Học thuyết Mác - Lê nin và tư tưởng Hồ Chí Minh về nhà nước được coi như là cơ sở quan trọng cho tổ chức bộ máy nhà nước ta nói chung và địa
vị pháp lý của người đại biểu dân cử nói riêng Tư tưởng quý báu đó của Bác được cụ thể hoá trong các chủ trương, chính sách và đường lối của Đảng ta Khi còn bôn ba ở năm châu, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã khẳng định nhân dân phải có cơ quan đại diện và Hiến pháp của mình Vì thế Bác đã tiếp thu một cách sáng tạo học thuyết Mác-Lênin cả những điều tiến bộ và những điều chưa thực sự tiến bộ để có thể vận dụng một cách sáng tạo cho nền dân chủ nước nhà Ngay sau cuộc cách mạng tháng 8/1945 thành công, mặc dù nước nhà đang phải đối mặt với một thực tế vô cùng khó khăn đó là thù trong giặc ngoài, nhưng Chủ tịch Hồ Chí Minh và Chính phủ lâm thời của nước Việt nam dân chủ công hoà vẫn tổ chức cuộc tổng tuyển cử bầu Quốc dân đại hội và soạn thảo bản Hiến pháp đầu tiên của nước Việt Nam độc lập Các hiến pháp của chúng ta sau này đều thể hiện tính thống nhất tư tưởng của Hồ Chủ tịch được tiếp tục thể hiện trong các bản Hiến pháp, trong các cương lĩnh, nghị quyết của Đảng và trong thực tế cuộc sống
Trung thành với tư tưởng Hồ Chí Minh, Đảng ta luôn đề ra những chủ trương, đường lối nằm mở rộng và phát huy dân chủ Điều này đã được thể hiện rõ trong quá trình đổi mới của đất nước Đại hội X của Đảng đã đề ra chủ
Trang 15trương xây dựng xã hội dân chủ và nhà nước pháp quyền Nghị quyết Đại hội xác định những đặc trưng của xã hội dân chủ là toàn bộ quyền lực thuộc về nhân dân, Quốc hội là cơ quan đại biểu cao nhất của nhân dân, cán bộ, công chức là công bộc của dân, ra sức phục vụ nhân dân, đồng thời có những cơ chế
để nhân dân tham gia vào ngay từ khâu đầu tiên của quy trình ra và thực hiện các quyết định của Đảng và nhà nước
Nguyên tắc tổ chức quyền lực nhà nước của mỗi một quốc gia đều không hoàn toàn giống nhau Đối với các Nhà nước theo nguyên tắc phân quyền, Quốc hội chỉ là một nhánh quyền lực như các nhánh quyền lực khác Khác với các nước tư sản, quyền lực Nhà nước ta được xác định rõ trong các văn bản pháp luật của nhà nước là không phân chia: “Nhà nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam là nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, nhà nước của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân Tất cả quyền lực nhà nước thuộc về nhân dân
mà nền tảng là liên minh giai cấp công nhân với giai cấp nông dân và tầng lớp trí thức Quyền lực nhà nước là thống nhất, có sự phân công phối hợp giữa các
cơ quan nhà nước trong việc thực hiện quyền lập pháp, hành pháp và tư pháp” (Điều 2, Hiến pháp 1992 sửa đổi)
Tùy vào từng thời kỳ cách mạng khác nhau, Đảng ta có những cách thức thực hiện nhiệm vụ cách mạng không giống nhau Tuy nhiên, việc củng cố, phát huy vai trò của Quốc hội- cơ quan quyền lực cao nhất và việc tạo điều kiện để các đại biểu dân cử thay mặt nhân dân thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn của mình luôn là tư tưởng xuyên suốt trong các giai đoạn phát triển của Đảng
ta Với tư cách là người đại biểu dân cử, Đại biểu Quốc hội nước ta là người đại diện cho ý chí, nguyện vọng của nhân dân, không chỉ đại diện cho nhân dân ở nơi bầu ra mình mà còn đại diện cho nhân dân cả nước Đại biểu Quốc hội là người có đủ tài, đủ đức, đủ tâm, đủ tầm để thay mặt nhân dân thực hiện quyền lực nhà nước ở cơ quan quyền lực nhà nước cao nhất
Trang 161.2 Nội dung địa vị pháp lý của đại biểu Quốc hội
1.2.1 V ị trí, vai trò của đại biểu Quốc hội
Khi nói về vai trò của Đại biểu Quốc hội, cũng có nhiều ý kiến khác nhau
về vấn đề này Theo quy định tại Hiến pháp 1992 (sửa đổi 2001) và Luật tổ chức Quốc hội ở nước ta hiện nay chỉ quy định mang tính chung nhất về Đại biểu Quốc hội Tại Điều 43, Luật Tổ chức Quốc hội và Điều 1 Quy chế hoạt động của Đại biểu Quốc hội và Đoàn đại biểu Quốc hội hiện hành quy định:
“Đại biểu Quốc hội là người đại diện cho ý chí và nguyện vọng của nhân dân, không chỉ đại diện cho nhân dân ở đơn vị bầu cử ra mình mà còn đại diện cho nhân dân cả nước; là người thay mặt nhân dân thực hiện quyền lực nhà nước trong Quốc hội”
Với quy định trên, chúng ta thấy rằng Đại biểu Quốc hội có vị trí, vai trò
vô cùng quan trọng trong đời sống chính trị, kinh tế - xã hội của đất nước, là cầu nối quan trọng giữa chính quyền nhà nước với nhân dân, giữ mối quan hệ mật thiết giữa nhà nước với nhân dân và ngược lại Đại biểu Quốc hội là người đại diện cho nhân dân xem xét, giám sát và quyết định các vấn đề quan trọng của đất nước, là người phản ánh ý chí, nguyện vọng của nhân dân, biến ý chí, nguyện vọng của nhân dân thành pháp luật của Nhà nước Đồng thời họ còn là người phổ biến, động viên nhân dân thực hiện các quy định pháp luật của nhà nước Vị trí, vai trò của đại biểu Quốc hội được thể hiện cụ thể qua các nội dung sau đây:
1.2.1.1 Đại diện cho ý chí, nguyện vọng của nhân dân
Ở đây, khi nói đến tính “đại diện” của Đại biểu Quốc hội thì cũng có nhiều ý kiến chưa thống nhất với nhau Ý kiến thứ nhất cho rằng “đại diện” được hiểu là thay mặt cho nhân dân để thực hiện ý chí và nguyện vọng của nhân dân tại Quốc hội Ý kiến thứ hai cho rằng ngoài cách nghĩ như ý kiến thứ nhất thì phải hiểu rộng hơn và toàn diện hơn với vai trò là người đại biểu của nhân dân Đại biểu còn được hiểu là “người tiêu biểu”, và vì thế mà Đại biểu Quốc hội phải là người tiêu biểu cho ý chí và nguyện vọng của nhân dân Mỗi Đại biểu Quốc hội phải là hiện thân tiêu biểu cho ý chí, nguyện vọng của nhân dân Chúng tôi cho rằng cần ủng hộ ý kiến thứ hai vì thiết nghĩ chỉ khi Đại
Trang 17biểu Quốc hội hiện thân cho ý chí, nguyện vọng của nhân dân thì họ mới thực
sự đại diện, họ mới thay mặt cho nhân dân tại Quốc hội Đồng nghĩa với việc
đó, Đại biểu Quốc hội cần:
- Gắn liền với cử tri, liên hệ chặt chẽ và lắng nghe ý kiến của cử tri;
- Thu thập và phản ánh đầy đủ ý kiến, nguyện vọng của cử tri với các cơ quan nhà nước;
- Biến ý chí, nguyện vọng của nhân dân thành các quy định của Nhà nước trong Hiến pháp, luật và nghị quyết của Quốc hội;
- Đề nghị với các cơ quan nhà nước có thẩm quyền nghiên cứu và giải quyết kiến nghị của cử tri
Thực tế cho thấy, Quốc hội và các cơ quan của Quốc hội được cấu thành bởi các Đại biểu Quốc hội, vì thế mỗi một Đại biểu Quốc hội được coi là một mắt xích, một yếu tố rất quan trọng, quyết định sự lớn mạnh hay không của Quốc hội Như chúng ta đã biết, đối với mọi hoạt động của Quốc hội dù do
cơ quan nào tiến hành, hoặc hoạt động dưới hình thức nào đi chăng nữa thì thực tế hoạt động đó vẫn do chính các Đại biểu Quốc hội trực tiếp tiến hành
Vì thế, hiệu quả hoạt động của Quốc hội và các cơ quan của Quốc hội ảnh
hưởng rất nhiều từ hoạt động của mỗi Đại biểu Quốc hội
1.2.1.2 G ương mẫu chấp hành pháp luật, chính sách của Nhà nước
Là người đại diện cho ý chí và nguyện vọng cuả nhân dân, trước hết Đại biểu Quốc hội phải gương mẫu chấp hành pháp luật, chính sách của Nhà nước Đây là một trong những tiêu chuẩn mà đại biểu Quốc hội cần có và phải thực hiện một cách triệt để Vai trò gương mẫu của đại biểu được thể hiện ở mọi lúc, mọi nơi, không cần giới hạn về không gian và thời gian
Trong cuộc sống hàng ngày của mình, Đại biểu Quốc hội phải quán triệt
và thực hiện đúng các quy định của pháp luật Điều đó có nghĩa là Đại biểu Quốc hội phải gương mẫu chấp hành không chỉ ở nơi Đại biểu làm việc mà cần phải gương mẫu ngay trong gia đình mình và nơi cư trú Ngoài việc tự mình chấp hành tốt các quy định của pháp luật, Đại biểu còn có trách nhiệm
Trang 18bảo đảm để chồng, vợ, con, gia đình mình và những người thân, những người sống xung quanh mình cũng gương mẫu chấp hành pháp luật
1.2.1.3 Tuyên truy ền, phổ biến và vận động nhân dân dân thực hiện
pháp lu ật và tham gia vào việc quản lý nhà nước
Để thực hiện tốt hơn nữa vai trò của người đại biểu, việc tuyên truyền, vận động bao gồm: Phổ biến những quy định mới của pháp luật; giải thích những ý kiến thắc mắc, băn khoăn của nhân dân; làm cho nhân dân thông suốt
về tư tưởng, tin tưởng vào đường lối, chính sách của Đảng, pháp luật của nhà nước và tích cực thực hiện các quy định của pháp luật, tham gia vào việc quản
lý nhà nước
Bên cạnh đó, thông qua hoạt động hàng ngày trong quá trình thực hiện nhiệm vụ của mình, đại biểu cũng biết được những vướng mắc, những hạn chế trong việc áp dụng pháp luật vào thực tiễn cuộc sống, nhanh chóng phản ánh với các cơ quan có trách nhiệm để có biện pháp kịp thời khắc phục, giải quyết
1.2.2 Nhi ệm vụ, quyền hạn, trách nhiệm của đại biểu Quốc hội
Vấn đề về nhiệm vụ, quyền hạn của đại biểu Quốc hội được quy định trong Hiến pháp 1992 (sửa đổi bổ sung 2001), được cụ thể hoá trong Luật tổ chức Quốc hội (sửa đổi); Tại Nghị quyết của Quốc hội số 08/2002/QH11 ban hành quy chế hoạt động của Đại biểu Quốc hội và Đoàn Đại biểu Quốc hội; Nội quy kỳ họp Quốc hội (sửa đổi) và các văn bản pháp luật khác có liên quan Theo đó, nhiệm vụ và quyền hạn của Đại biểu Quốc hội bao gồm:
1.2.2.1 Tham gia quy ết định những vấn đề thuộc nhiệm vụ quyền hạn
Là một yếu tố quan trọng, người đại diện cho nhân dân trong cơ quan quyền lực nhà nước cao nhất, đại biểu Quốc hội có trách nhiệm tham gia quyết định những vấn đề thuộc chức năng cũng như nhiệm vụ, quyền hạn của Quốc hội Bao gồm: Lập hiến, lập pháp, quyết định những chính sách cơ bản về đối nội, đối ngoại, nhiệm vụ kinh tế - xã hội, quốc phòng, an ninh của đất nước, những nguyên tắc chủ yếu về tổ chức và hoạt động của bộ máy nhà nước, về
Trang 19quan hệ xã hội và hoạt động của công dân; tham gia thực hiện quyền giám sát
tối cao với toàn bộ hoạt động của nhà nước Đại biểu Quốc hội có trách
nhiệm tham gia và thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn trong các cơ quan của Quốc hội mà mình là thành viên như UBTVQH, Hội đồng dân tộc và các Ủy ban của
Quốc hội
1.2.2.2 Ch ịu trách nhiệm trước cử tri, phải liên hệ chặt chẽ với cử tri,
ti ếp xúc cử tri và tiếp dân
Đại biểu Quốc hội là người được cử tri trực tiếp bầu ra, vì thế họ phải chịu trách nhiệm trước cử tri, chịu sự giám sát của cử tri, thường xuyên tiếp xúc với cử tri, tìm hiều tâm tư, nguyện vọng của cử tri; phải liên hệ chặt chẽ với cử tri, thu thập và phản ánh trung thực ý kiến, mong muốn của cử tri với Quốc hội và các cơ quan nhà nước hữu quan.Trong quy chế hoạt động của đại biểu Quốc hội và Đoàn đại biểu Quốc hội quy định đại biểu Quốc hội có trách nhiệm tiếp xúc cử tri theo chương trình tiếp xúc cử tri của Đoàn đại biểu Quốc hội Mỗi năm một lần, kết hợp với việc tiếp xúc cử tri trong thời gian cuối năm, đại biểu Quốc hội báo cáo với cử tri về việc thực hiện nhiệm vụ đại biểu của mình Cử tri có quyền yêu cầu đại biểu Quốc hội báo cáo công tác và có thể nhận xét đối với việc thực hiện nhiệm vụ của đại biểu Quốc hội Ngoài ra, đại biểu Quốc hội có thể tiếp xúc cử tri nơi cư trú, nơi làm việc Đại biểu Quốc hội liên hệ với Uỷ ban Mặt trận Tổ quốc địa phương nơi cư trú hoặc Ban chấp hành Công đoàn nơi làm việc để tổ chức cho đại biểu tiếp xúc cử tri
Đại biểu Quốc hội có trách nhiệm tiếp công dân Tiếp công dân là trách nhiệm của Đại biểu Quốc hội, khi nhận được kiến nghị, khiếu nại, tố cáo của công dân, Đại biểu Quốc hội có trách nhiệm nghiên cứu và chuyển các kiến nghị, khiếu nại, tố cáo của công dân đến người có thẩm quyền giải quyết, theo dõi, đôn đốc việc giải quyết các kiến nghị, khiếu nại tố cáo đó Đại biểu Quốc hội có quyền yêu cầu người có thẩm quyền thông báo cho mình kết quả giải
quyết khiếu nại, tố cáo đó
1.2.2.3 Tham d ự các kỳ họp, phiên họp Quốc hội
Quốc hội làm việc không thường xuyên nên kỳ họp là hình thức hoạt động chủ yếu của Quốc hội Vì thế, việc tham gia đầy đủ các kỳ họp, phiên
Trang 20họp Quốc hội liên quan trực tiếp đến chất lượng và hiệu quả hoạt động của Quốc hội nói chung và Đại biểu Quốc hội nói riêng
Theo quy định của pháp luật, Đại biểu Quốc hội có nhiệm vụ tham gia đầy đủ các kỳ họp Quốc hội, chấp hành nội quy kỳ họp của Quốc hội Tại các
kỳ họp Quốc hội, Đại biểu Quốc hội có trách nhiệm tham gia phiên họp toàn thể, các cuộc họp của Tổ đại biểu Quốc hội, của Đoàn đại biểu Quốc hội; đại biểu Quốc hội là thành viên của Hội đồng dân tộc, Uỷ ban của Quốc hội có trách nhiệm tham gia các phiên họp, thảo luận, biểu quyết các vấn đề và tham gia các hoạt động khác thuộc nhiệm vụ, quyền hạn của Hội đồng dân tộc, Uỷ ban của Quốc hội mà mình là thành viên.Trong trường hợp không thể tham gia
kỳ họp Quốc hội, các phiên họp, các cuộc họp, thì đại biểu Quốc hội báo cáo theo quy định của Nội quy kỳ họp Quốc hội
Quốc hội quy định cụ thể về việc khi nhận được thông báo, dự kiến chương trình kỳ họp và các tài liệu của kỳ họp Quốc hội, đại biểu Quốc hội có nhiệm
vụ phải nghiên cứu, tham gia các hoạt động của Đoàn đại biểu Quốc hội chuẩn
bị cho kỳ họp Quốc hội
trình k ỳ họp và các vấn đề thuộc nhiệm vụ của Quốc hội: Đại biểu Quốc hội
tham gia thảo luận, quyết định chương trình kỳ họp tại phiên họp trù bị, có trách nhiệm quyết định các vấn đề thuộc nhiệm vụ quyền hạn của Quốc hội tại các phiên họp toàn thể Việc tham gia thảo luận của đại biểu Quốc hội có thể được tiến hành ở phiên họp tổ, đoàn đại biểu Quốc hội hoặc trong phiên họp toàn thể, Đại biểu tham gia quyết định chương trình kỳ họp, các vấn đề thuộc nhiệm vụ quyền hạn của Quốc hội tại phiên họp toàn thể theo hình thức biểu quyết
tín nhi ệm đối với người giữ chức vụ do Quốc hội bầu hoặc phê chuẩn: Để thực
hiện quyền giám sát tối cao của Quốc hội đối với hoạt động của nhà nước, Đại biểu Quốc hội được thực hiện quyền chất vấn Theo quy định tại Điều 49, Luật
Trang 21tổ chức Quốc hội, Đại biểu Quốc hội có quyền chất vấn Chủ tịch nước, Chủ tịch Quốc hội, Thủ tướng Chính phủ và các thành viên khác của Chính phủ, Chánh án toà án nhân dân tối cao, Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao Người bị chất vấn có trách nhiệm trả lời những vấn đề mà đại biểu chất vấn Trong trường hợp đại biểu Quốc hội không đồng ý với nội dung trả lời chất vấn thì có quyền đề nghị Chủ tịch Quốc hội đưa ra thảo luận tại phiên họp toàn thể hoặc phiên họp của Uỷ ban thường vụ Quốc hội
Đại biểu Quốc hội có quyền kiến nghị với Uỷ ban thường vụ Quốc hội
xem xét trình Quốc hội việc bỏ phiếu tín nhiệm đối với người giữ chức vụ do Quốc hội bầu hoặc phê chuẩn Uỷ ban thường vụ Quốc hội xem xét trình Quốc hội bỏ phiếu tín nhiệm đối với những người giữ các chức vụ này khi có kiến nghị của ít nhất hai mươi phần trăm tổng số đại biểu Quốc hội
- Đại biểu Quốc hội có quyền trình dự án luật, kiến nghị về luật ra trước
Điều 87 Hiến pháp 1992, và Điều 48 Luật tổ chức Quốc hội, Đại biểu Quốc hội có quyền trình dự án luật, kiến nghị về luật ra trước Quốc hội, dự án pháp lệnh ra trước Uỷ ban thường vụ Quốc hội theo trình tự và thủ tục do pháp luật quy định
Đại biểu Quốc hội gửi đề nghị xây dựng luật, pháp lệnh và kiến nghị về luật, pháp lệnh đến Uỷ ban thường vụ Quốc hội và Chính phủ, trong đó phải nêu rõ sự cần thiết ban hành văn bản, xác định đối tượng và phạm vi điều chỉnh của văn bản, các điều kiện cần thiết cho việc soạn thảo văn bản; Chính phủ lập dự kiến chương trình xây dựng luật, pháp lệnh về những vấn đề thuộc phạm vi chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của mình trình Uỷ ban thường vụ Quốc hội và phát biểu ý kiến về đề nghị xây dựng luật, pháp lệnh của đại biểu Quốc hội, kiến nghị về luật, pháp lệnh của đại biểu Quốc hội
Sau đó, tập hợp các đề nghị xây dựng luật, pháp lệnh, kiến nghị về luật, pháp lệnh của Đại biểu Quốc hội (do Ban công tác lập pháp chuẩn bị) và có ý kiến thẩm tra của Uỷ ban pháp luật, ý kiến đóng góp của Hội đồng dân tộc và các Uỷ ban khác của Quốc hội Uỷ ban Thường vụ Quốc hội xem xét thảo luận
và quyết định dự kiến chương trình xây dựng luật, pháp lệnh trình Quốc hội,
Trang 22Quốc hội thảo luận, thông qua Nghị quyết về chương trình xây dựng luật, pháp lệnh của Đại biểu Quốc hội
Trong trường hợp các dự án luật, dự án pháp lệnh do đại biểu Quốc hội trình được đưa vào chương trình xây dựng Luật, pháp lệnh, đại biểu Quốc hội
có quyền chỉ đạo Ban soạn thảo và thường xuyên cho ý kiến về việc soạn thảo
dự án; Đại biểu Quốc hội có quyền yêu cầu cơ quan, tổ chức, cá nhân hữu quan cung cấp tài liệu, thông tin liên quan đến dự án; xem xét, quyết định việc trình dự án luật ra Quốc hội, trình dự án pháp lệnh ra Uỷ ban thường vụ Quốc
cơ quan, tổ chức, đơn vị phải thông báo cho đại biểu Quốc hội biết việc giải quyết Quá thời hạn nói trên mà cá nhân, cơ quan, tổ chức, đơn vị không trả lời hoặc giải quyết không thoả đáng thì đại biểu Quốc hội có quyền kiến nghị với người đứng đầu cơ quan, tổ chức, đơn vị cấp trên của cá nhân, cơ quan, tổ chức, đơn vị đó, đồng thời báo cáo Uỷ ban thường vụ Quốc hội xem xét, quyết định Trong quá trình đại biểu Quốc hội thực hiện nhiệm vụ của mình, người nào mà cản trở thì tuỳ theo tính chất, mức độ vi phạm mà bị xử lý hành chính hoặc bị truy cứu trách nhiệm hình sự
Trang 231.2.2.5 ĐBQH có quyền tham dự kỳ họp Hội đồng nhân dân
Theo quy định tại Điều 55 Luật tổ chức Quốc hội và Điều 17 Quy chế hoạt động đoàn Đại biểu Quốc hội và Đại biểu Quốc hội thì Đại biểu Quốc hội
có quyền tham dự và được mời tham dự kỳ họp Hội đồng nhân dân nơi mình được bầu để nắm tình hình và tìm hiểu ý kiến, nguyện vọng của nhân dân; tham gia ý kiến vào các vấn đề mà đại biểu quan tâm; kiến nghị những biện pháp nhằm bảo đảm thi hành nghiêm chỉnh pháp luật và quyết định của cơ quan nhà nước cấp trên; giới thiệu và phổ biến pháp luật của nhà nước và những nghị quyết của Quốc hội
Cũng theo quy định tại Điều 17 của quy chế, trước mỗi kỳ họp Hội đồng nhân dân, Thường trực Hội đồng nhân dân thông báo cho đại biểu Quốc hội biết thời gian, nội dung, chương trình và cung cấp tài liêu về kỳ họp cho đại biểu Quốc hội Pháp luật cũng quy định trong trường hợp không tham dự kỳ họp Hội đồng nhân dân được, thì đại biểu Quốc hội báo cho Thường trực hội đồng nhân dân biết
Ngoài việc quy định đại biểu Quốc hội được mời và có quyền tham dự kỳ họp Hội đồng nhân dân nơi đại biểu được bầu, đại biểu Quốc hội còn có quyền tham dự kỳ họp Hội đồng nhân dân nơi đại biểu Quốc hội cư trú hoặc nơi làm việc khi Hội đồng nhân dân bàn những vẫn đề mà đại biểu Quốc hội quan tâm
1.2.2.6 Quy ền miễn trừ của Đại biểu Quốc hội.
Đại biểu Quốc hội có vị trí, vai trò rất quan trọng trọng, là người đại diện cho nhân dân, thay mặt nhân dân thực hiện quyền lực trong cơ quan Quốc hội Do vậy, pháp luật cũng quy định cho họ có những quyền hạn, cụ thể như quyền bất khả xâm phạm về thân thể, chỗ ở và nơi làm việc Quyền lợi này của Đại biểu được quy định từ Hiến pháp 1946 và tiếp tục được khẳng định trong các Hiến pháp sau này Với tính đặc thù trong hoạt động của Quốc hội nước ta
là không thường xuyên mà thông qua các kỳ họp, vì thế trong thời gian Quốc hội họp, nếu không có sự đồng ý của Quốc hội, và trong thời gian Quốc hội không họp nếu không có sự đồng ý của Uỷ ban thường vụ Quốc hội thì không
ai có quyền bắt giam, truy tố đại biểu Quốc hội, đồng thời không được khám xét nơi ở và nơi làm việc của đại biểu Quốc hội Chỉ có Viện trưởng Viện
Trang 24kiểm sát nhân dân tối cao mới có thẩm quyền đề nghị bắt giam, truy tố, khám xét nơi ở và nơi làm việc của đại biểu Quốc hội
Trong trường hợp phạm tội quả tang mà đại biểu Quốc hội bị tạm giữ thì cơ quan tạm giữ phải lập tức báo cáo để Quốc hội hoặc Uỷ ban thường vụ Quốc hội xem xét quyết định Mặt khác, cơ quan, đơn vị nơi đại biểu làm việc không được cách chức, buộc thôi việc Đại biểu quốc hội nếu không được Uỷ ban thường vụ Quốc hội đồng ý
1.2.2.7 Quy ền được tạo điều kiện trong khi làm nhiệm vụ đại biểu
Để thực hiện nhiệm vụ một cách tốt nhất, trong quá trình làm việc đại biểu Quốc hội có quyền liên hệ với các tổ chức, cơ quan, đơn vị để được cung cấp thông tin về những vấn đề mà đại biểu Quốc hội quan tâm, đề nghị xem xét giải quyết những vấn đề có liên quan đến việc thi hành chính sách, pháp luật của nhà nước, quyền làm chủ của nhân dân hoặc những vấn đề khác liên quan đến đời sống, kinh tế - xã hội của nhân dân địa phương Vì vậy, người đứng đầu cơ quan, tổ chức, đơn vị trong thẩm quyền của mình có trách nhiệm đáp ứng yêu cầu trên của đại biểu Quốc hội Uỷ ban Mặt trận Tổ quốc và các
tổ chức thành viên của Mặt trận giúp đỡ đại biểu Quốc hội cùng cấp làm nhiệm vụ đại biểu, tạo điều kiện cho đại biểu tiếp xúc với cư tri, thu thập ý kiến, nguyện vọng và kiến nghị của nhân dân với Quốc hội
1.2.2.8 Đại biểu Quốc hội có quyền được hưởng các chế độ theo quy định
Ngoài việc được hưởng các quyền lợi theo quy định của pháp luật thì các Đại biểu Quốc hội đang đương nhiệm còn được hưởng các chế độ sau:
- Các tài liệu của kỳ họp Quốc hội;
- Công báo của nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam;
- Báo Nhân dân, báo địa phương, báo Người đại biểu nhân dân, tạp chí Nghiên cứu lập pháp và các tài liệu, văn bản khác liên quan đến hoạt động của Quốc hội;
- Dịch vụ thông tin, nghiên cứu, thư viện và Internet khi có yêu cầu
Trang 25Các tài liệu trên, ĐBQH được cấp theo mức khoán: Bảy trăm ngàn đồng (700.000đ)/1 người/ 1 tháng
Đối với những Đại biểu Quốc hội là thành viên Hội đồng dân tộc hoặc
Uỷ ban của Quốc hội cũng được cung cấp thông tin về hoạt động của Hội đồng dân tộc hoặc của Uỷ ban mà mình là thành viên
Thường trực Hội đồng nhân dân, Uỷ ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương nơi đại biểu Quốc hội được bầu hoặc nơi đại biểu Quốc hội chuyển đến sinh hoạt (nếu có) cung cấp các nghị quyết của Hội đồng nhân dân, các văn bản quy phạm pháp luật của Uỷ ban nhân dân và các báo cáo về tình hình kinh tế - xã hội ở địa phương cho đại biểu Quốc hội
- Đại biểu Quốc hội được tạo điều kiện học tập, nâng cao trình độ; được hưởng các chế độ khám chữa bệnh theo quy định của nhà nước Đối với đại biểu Quốc hội không thuộc diện cán bộ trung, cao cấp, được khám và điều trị theo tiêu chuẩn đối với cán bộ trung cấp Đại biểu Quốc hội không có chế độ lương và phụ cấp được cấp bảo hiểm y tế, khi qua đời được hưởng chế độ mai táng như cán bộ, công chức nhà nước
- Mỗi tháng đại biểu Quốc hội được cấp một khoản sinh hoạt phí bằng 1.0 của mức lương tối thiểu Đại biểu Quốc hội tham gia kỳ họp Quốc hội hoặc tham gia làm nhiệm vụ của Đoàn đại biểu Quốc hội, nhiệm vụ của Hội đồng dân tộc, các Uỷ ban của Quốc hội, được bảo đảm các điều kiện ăn ở và đi lại theo quy định của Uỷ ban thường vụ Quốc hội Đại biểu Quốc hội còn được thanh toán tiền công tác phí khi làm nhiệm vụ theo sự phân công của Đoàn đại biểu Quốc hội, tham gia các hoạt động của Hội đồng dân tộc, các Uỷ ban của Quốc hội Cụ thể theo quy định tại Nghị quyết số 1157/NQ- UBTVQH11 của UBTVQH quy định thì ngoài quy định “ĐBQH được cấp hoạt động phí hàng tháng bằng 1,0 của mức lương tối thiểu” theo quy chế hoạt động của ĐBQH và Đoàn ĐBQH, chế độ bồi dưỡng cho ĐBQH theo các quy định, các ĐBQH còn được chi hỗ trợ sau:
+ ĐBQH dự họp QH được hỗ trợ tiền điện thoại theo mức khoán 450.000 đ/ kỳ họp Riêng ĐBQH tại Hà nội: 300.000 đ/ đại biểu/ kỳ họp
Trang 26+ Chi mỗi ĐBQH tự nghiên cứu hoặc thuê chuyên gia để tham gia ý kiến vào các dự án luật Đối với các dự án luật thông qua tại kỳ họp của QH, mức chi: 400.000 đ/1 dự án luật, 300.000đ/ 1 dự án luật sửa đổi, bổ sung
+ Một nhiệm kỳ QH, mỗi ĐBQH được cấp tiền may 02 bộ trang phục (lễ phục) với mức chi 2.500.000đ/ bộ
+ ĐBQH chuyên trách ở Trung ương không giữ chức vụ được bố trí xe chung phục vụ (02 đại biểu/1 xe), trường hợp không có xe hoặc không đi xe chung thì được hỗ trợ với mức khoán 2.500.000đ/ tháng
+ ĐBQH được điều động về trung ương làm nhiệm vụ chuyên trách, không có nơi ở riêng phải thuê nhà thì được hỗ trợ tiền thuê nhà với mức 2.500.000đ/ tháng
+ Mức tiền ăn đối với ĐBQH: 70.000đ/ đại biểu/ ngày Nếu không ăn được thanh toán tiền, những ngày ĐBQH thực tế dự họp được bồi dưỡng 50.000đ/ ngày/đại biểu Nếu họp vào ngày thứ bảy, chủ nhật, ngày lễ được phụ cấp 150.000đ/ngày/ đại biểu
- Đối với những Đại biểu Quốc hội hoạt động không chuyên trách được dành ít nhất một phần ba thời gian làm việc trong năm để làm nhiệm vụ đại biểu Thời gian này được tính vào thời gian làm việc và được bảo đảm lương, phụ cấp và các chế độ khác do cơ quan, tổ chức, đơn vị nơi đại biểu làm việc đài thọ Người đứng đầu cơ quan, tổ chức, đơn vị nơi đại biểu làm việc có trách nhiệm sắp xếp công việc, tạo điều kiện cần thiết cho đại biểu Quốc hội làm nhiệm vụ
1.2.2.9 Vi ệc xin thôi làm nhiệm vụ đại biểu, bãi nhiệm đại biểu Quốc hội
Theo quy định tại Điều 57, Luật Tổ chức Quốc hội và Quy chế hoạt động Đoàn Đại biểu Quốc hội và Đại biểu Quốc hội thì Đại biểu Quốc hội có thể xin thôi làm nhiệm vụ đại biểu vì lý do sức khoẻ hoặc vì lý do khác Việc chấp nhận đại biểu Quốc hội xin thôi làm nhiệm vụ đại biểu do Quốc hội xét
và quyết định; trong thời gian giữa hai kỳ họp Quốc hội thì do Uỷ ban thường
vụ Quốc hội quyết định và báo cáo Uỷ ban thường vụ Quốc hội trong kỳ họp gần nhất
Trang 27Trong trường hợp Đại biểu Quốc hội nào không còn xứng đáng với sự tín nhiệm của nhân dân thì tuỳ mức độ phạm sai lầm mà bị Quốc hội hoặc cử tri bãi nhiệm Trong trường hợp Quốc hội bãi nhiệm đại biểu Quốc hội thì việc bãi nhiệm phải được hai phần ba tổng số đại biểu Quốc hội biểu quyết tán thành Nếu do cử tri bãi nhiệm đại biểu Quốc hội thì việc bãi nhiệm được tiến hành theo thể thức do Uỷ ban thường vụ Quốc hội quy định
1.2.3 M ối quan hệ giữa đại biểu Quốc hội với các cơ quan nhà nước,
1.2.3.1 M ối quan hệ của Đại biểu Quốc hội với Quốc hội và các cơ
quan c ủa Quốc hội
Mối quan hệ của đại biểu Quốc hội với Uỷ ban thường vụ Quốc hội thể hiện thông qua các công việc sau đây:
- Pháp luật quy định Đại biểu Quốc hội có quyền trình dự án luật, kiến nghị về luật ra Quốc hội, dự án pháp lệnh ra trước Uỷ ban thường vụ Quốc hội Căn cứ vào dự kiến của Chính phủ, Uỷ ban thường vụ Quốc hội lập dự án Chương trình xây dựng luật, pháp lệnh trình Quốc hội quyết định Trong trường hợp dự án luật, pháp lệnh của đại biểu Quốc hội trình được đưa vào chương trình xây dựng luật, pháp lệnh của nhiệm kỳ Quốc hội, Uỷ ban thường
vụ Quốc hội có trách nhiệm thành lập Ban soạn thảo theo đề nghị của đại biểu Quốc hội
- Khi Uỷ ban thường vụ Quốc hội gửi đến thông báo về dự kiến chương trình làm việc và các tài liệu của kỳ họp Quốc hội, đại biểu Quốc hội có trách nhiệm nghiên cứu và đóng góp ý kiến gửi về Uỷ ban thường vụ Quốc hội, đảm bảo nội dung và thời gian theo quy định của Uỷ ban thường vụ Quốc hội
- Tại Điều 10, quy chế hoạt động Đoàn Đại biểu Quốc hội và Đại biểu Quốc hội thì Đại biểu Quốc hội có quyền chất vấn Chủ tịch nước, Chủ tịch Quốc hội, Thủ tướng Chính phủ và các thành viên khác của Chính phủ, Chánh
án Toà án nhân dân tối cao, Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao Khi Quốc hội không họp, đại biểu Quốc hội gửi ý kiến chất vấn của mình đến Uỷ
Trang 28ban thường vụ Quốc hội để Uỷ ban thường vụ Quốc hội chuyển đến cơ quan hoặc người bị chất vấn và quyết định thời hạn trả lời chất vấn Uỷ ban thường
vụ Quốc hội có thể xem xét các trả lời chất vấn đối với các chất vấn trong kỳ họp Quốc hội nhưng do cần điều tra, chưa thể trả lời trong kỳ họp Quốc hội
đó Trong trường hợp chưa thoả mãn với nội dung trả lời chất vấn, đại biểu Quốc hội có thể đề nghị Uỷ ban thường vụ Quốc hội quyết định việc trả lời chất vấn trước Uỷ ban thường vụ Quốc hội hoặc đưa ra thảo luận tại kỳ họp Quốc hội Nếu cần, Quốc hội hoặc Uỷ ban thường vụ Quốc hội ra nghị quyết
về việc trả lời chất vấn và trách nhiệm của người bị chất vấn
- Đại biểu Quốc hội có quyền kiến nghị với Uỷ ban thường vụ Quốc hội xem xét trình Quốc hội bỏ phiếu tín nhiệm đối với những người giữ các chức
vụ do Quốc hội bầu hoặc phê chuẩn Uỷ ban thường vụ Quốc hội xem xét trình Quốc hội bỏ phiếu tín nhiệm khi có kiến nghị của ít nhất hai mươi phần trăm (20%) tổng số đại biểu Quốc hội
Bên cạnh đó, mối quan hệ này cũng được thể hiện rõ thông qua các công việc của Ủy ban thường vụ Quốc hội với các ĐBQH Bao gồm:
- Ủy ban thường vụ Quốc hội xem xét và quyết định các vấn đề liên quan đến quyền bất khả xâm phạm của đại biểu đối với đề nghị của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao về việc bắt giam, truy tố, khám xét nơi ở, nơi làm việc của đại biểu; về việc tạm giữ đại biểu trong trường hợp đại biểu phạm tội quả tang; về việc tạm đình chỉ đại biểu trong trường hợp đại biểu bị truy cứu trách nhiệm hình sự; hay việc bị cơ quan, đơn vị nơi đại biểu làm việc cách chức, buộc thôi việc trái với quy định của pháp luật Chỉ khi nào Ủy ban thường vụ Quốc hội đồng ý thì các cơ quan có thẩm quyền mới được thực hiện những công việc nêu trên
- Khi thực hiện nhiệm vụ của đại biểu Quốc hội, Đại biểu Quốc hội báo cáo với Ủy ban thường vụ Quốc hội, Ủy ban thường vụ Quốc hội có trách nhiệm xem xét và quyết định các vấn đề sau:
+ Khi thực hiện nhiệm vụ, đại biểu Quốc hội liên hệ với cơ quan, tổ chức, đơn vị trong phạm vi, quyền hạn của họ phải tạo điều kiện, cung cấp các thông tin cần thiết phục vụ cho hoạt động của Đại biểu Quốc hội nhưng họ đã
Trang 29không được đáp ứng Người đứng đầu cơ quan cấp trên của cơ quan, tổ chức, đơn vị cũng không giải quyết, hoặc có giải quyết nhưng giải quyết không thoả đáng những yêu cầu của đại biểu Quốc hội sau khi được đại biểu yêu cầu
+ Khi nhận được đơn khiếu nại, tố cáo của công dân, Đại biểu Quốc hội
đã chuyển đến và yêu cầu người có thẩm quyền giải quyết, nhưng việc giải quyết không thoả đáng Sau đó yêu cầu người đứng đầu của cơ quan cấp trên trực tiếp của cơ quan đó giải quyết vẫn không giải quyết hoặc giải quyết cũng không thoả đáng
+ Đại biểu Quốc hội phát hiện hành vi vi phạm pháp luật, gây thiệt hại đến lợi ích của Nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp của các tổ chức, đơn vị hoặc của công dân, đã yêu cầu cá nhân, cơ quan, tổ chức và đơn vị hữu quan thi hành những biện pháp cần thiết để chấm dứt hành vi vi phạm pháp luật nhưng không giải quyết đúng thời hạn yêu cầu
- Uỷ ban thường vụ Quốc hội xem xét báo cáo về tình hình hoạt động của đại biểu Quốc hội và Đoàn đại biểu Quốc hội Nếu cần Uỷ ban thường vụ Quốc hội có quyền cử Đoàn công tác về địa phương xem xét các vấn đề mà đại biểu Quốc hội và Đoàn đại biểu Quốc hội kiến nghị
Hội đồng dân tộc và các Uỷ ban của Quốc hội được coi là bộ máy giúp việc của Quốc hội, có nhiệm vụ thẩm tra dự án luật, kiến nghị về luật, dự án pháp lệnh và các dự án khác, ngoài ra có thẩm quyền thẩm tra những báo cáo được Quốc hội hoặc Uỷ ban thường vụ Quốc hội giao, trình Quốc hội, Uỷ ban thường vụ Quốc hội về chương trình xây dựng luật, pháp lệnh và thực hiện quyền giám sát, đồng thời kiến nghị những vấn đề trong phạm vi nhiệm vụ quyền hạn của mình
Khi Đại biểu Quốc hội là thành viên của Hội đồng dân tộc hoặc Uỷ ban của Quốc hội có trách nhiệm tham gia các phiên họp, thảo luận, biểu quyết các vấn đề thuộc nhiệm vụ, quyền hạn của Hội đồng dân tộc và Uỷ ban của Quốc hội mà mình là thành viên Hội đồng dân tộc và các Uỷ ban của Quốc hội có
Trang 30trách nhiệm thanh toán tiền công tác phí cho các đại biểu tham gia các hoạt động của cơ quan mình Đối với đại biểu Quốc hội hoạt động chuyên trách ở địa phương có trách nhiệm tham gia các đoàn công tác, đoàn giám sát của Hội đồng dân tộc hoặc Uỷ ban của Quốc hội
Văn phòng Quốc hội được hiểu là bộ máy giúp việc của Quốc hội, Uỷ ban thường vụ Quốc hội trong việc nghiên cứu, tổng hợp và tổ chức phục vụ các hoạt động của Quốc hội và Uỷ ban thường vụ Quốc hội Vì vậy mà giữa Đại biểu Quốc hội với Văn phòng Quốc hội cũng có mối quan hệ rất chặt chẽ, thể hiện qua các công việc sau:
Văn phòng Quốc hội có trách nhiệm tổ chức phục vụ các hoạt động của đại biểu Quốc hội, giữ mối quan hệ chặt chẽ với đại biểu Quốc hội Các đại biểu Quốc hội quan hệ thường xuyên với Văn phòng Đoàn đại biểu Quốc hội
và Văn phòng Quốc hội, yêu cầu văn phòng Quốc hội phục vụ và bảo đảm các điều kiện để thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn của mình Các đại biểu Quốc hội
có quyền và trách nhiệm tham gia góp ý xây dựng với Văn phòng Quốc hội và Văn phòng Đoàn đại biểu Quốc hội về công tác phục vụ hoạt động của đại biểu Quốc hội
Theo sự chỉ đạo của Uỷ ban thường vụ Quốc hội, Văn phòng Quốc hội gửi đến các đại biểu Quốc hội các bản báo cáo, các dự án luật, các văn bản có liên quan đến nội dung kỳ họp Quốc hội và các nghị quyết, luật, pháp lệnh đã được Quốc hội, Uỷ ban thường vụ Quốc hội thông qua Khi nhận được các dự
án luật, dự kiến xây dựng chương trình pháp luật và nội dung của kỳ họp Quốc hội, các đại biểu Quốc hội có trách nhiệm tham gia đóng góp ý kiến và gửi về Văn phòng Quốc hội
Văn phòng Quốc hội giúp Uỷ ban thường vụ Quốc hội theo quy định của Ủy ban thường vụ Quốc hội về việc đảm bảo các điều kiện hoạt động của đại biểu Quốc hội theo quy định tại chương V cuả quy chế hoạt động Đoàn Đại biểu Quốc hội và Đại biếu Quốc hội như: Cung cấp tài liệu, thông tin cần thiết, bố trí phương tiện, điều kiện vật chất, phân bổ kinh phí hoạt động của đại biểu Quốc hội
Trang 311.2.3.2 M ối quan hệ của ĐBQH với các cơ quan khác ở Trung ương.
Đối với các cơ quan Nhà nước khác ở Trung ương, Đại biểu Quốc hội cũng có mối quan hệ rất chặt chẽ, các mối quan hệ trên bao gồm:
Chính phủ và cơ quan thuộc Chính phủ là cơ quan chấp hành của Quốc hội,
vì thế giữa đại biểu Quốc hội và các cơ quan này có mối quan hệ chặt chẽ với nhau Bao gồm:
- ĐBQH được nắm bắt tình hình mà Chính phủ và các cơ quan thuộc Chính phủ giải quyết đơn khiếu nại, tố cáo của công dân theo thẩm quyền
- Khi thực hiện quyền giám sát thông qua hoạt động chất vấn, Đại biểu Quốc hội gửi ý kiến tới người, cơ quan có trách nhiệm và yêu cầu họ trả lời chất vấn Người bị chất vấn có trách nhiệm trả lời chất vấn của ĐBQH
- Đại biểu Quốc hội có quyền yêu cầu cung cấp những thông tin và tài liệu liên quan đến việc thực hiện nghị quyết của Quốc hội giữa 2 kỳ họp Quốc hội, để nghiên cứu chuẩn bị ý kiến đóng góp tại kỳ họp Quốc hội
nhân dân t ối cao
Đại biểu Quốc hội với Toà án nhân dân tối cao và Viện kiểm sát nhân dân tối cao thể hiện mối quan hệ như sau:
- Đại biểu Quốc hội nắm tình hình công tác xét xử và thi hành án, tình hình thi hành pháp luật; chất vấn Chánh án Tòa án nhân dân tối cao và Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao; yêu cầu trả lời chất vấn theo thẩm quyền những vấn
đề mà cử tri và đại biểu Quốc hội quan tâm
- Nắm tình hình giải quyết đơn kiến nghị, khiếu nại của công dân theo thẩm quyền
- Xem xét và cho ý kiến về hoạt động của Toà án nhân dân và Viện kiểm sát nhân dân tối cao
Trang 32Th ứ ba: Trong mối quan hệ với Uỷ ban TW Mặt trận Tổ quốc Việt Nam
- Đại biểu Quốc hội cần biết được tình hình hoạt động của Mặt trận trong công tác tham gia xây dựng chính quyền; thu thập những kiến nghị của Mặt trận đối với đại biểu Quốc hội và Quốc hội
- Uỷ ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam tiến hành quy trình giới thiệu những người ứng cử đại biểu Quốc hội ở trung ương theo quy định của pháp luật
- Uỷ ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam phối hợp với Uỷ ban thường vụ Quốc hội ban hành quy định hướng dẫn về việc đại biểu Quốc hội tiếp xúc cử tri
Ngoài ra, Đại biểu Quốc hội còn có mối quan hệ với các đoàn thể nhân dân để biết được tình hình hoạt động của họ trong việc vận động nhân dân thực hiện các chủ trương, chính sách của Đảng và pháp luật của nhà nước thuộc lĩnh vực hoạt động của cơ quan, tổ chức đó, đồng thời nắm bắt tâm tư nguyện vọng của cử tri kiến nghị với nhà nước
1.2.3.3 M ối quan hệ của Đại biểu Quốc hội với Đoàn Đại biểu Quốc hội
Điều 60 và Điều 61 Luật tổ chức Quốc hội quy định: Các đại biểu Quốc hội được bầu trong một tỉnh hoặc thành phố trực thuộc trung ương hợp thành Đoàn đại biểu Quốc hội, Đoàn đại biểu Quốc hội có Trưởng đoàn và Phó trưởng đoàn, việc thành lập Đoàn đại biểu Quốc hội là để tổ chức hoạt động của đoàn, giữ mối liên hệ với Chủ tịch Quốc hội, Uỷ ban thường vụ Quốc hội,
cơ quan chính quyền địa phương, Uỷ ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các
cơ quan tổ chức khác ở địa phương và các vấn đề có liên quan đến hoạt động của đại biểu Quốc hội Vì thế, mối quan hệ giữa Đại biểu Quốc hội với Đoàn được cụ thể như sau :
Theo quy định tại Điều 47 Luật tổ chức Quốc hội và Điều 15 nội quy kỳ họp Quốc hội thì Đại biểu Quốc hội có nhiệm vụ tham gia các phiên họp toàn thể của Quốc hội, các cuộc họp của Tổ đại biểu Quốc hội, của Đoàn đại biểu Quốc hội; chấp hành nghiêm chỉnh nội quy kỳ họp Quốc hội Nếu vì lý do đặc
Trang 33biệt không thể đến dự kỳ họp Quốc hội được, thì đại biểu Quốc hội phải báo cáo với Trưởng đoàn đại biểu Quốc hội, Trưởng đoàn đại biểu Quốc hội gửi danh sách đại biểu trong Đoàn vắng mặt tại các phiên họp đến Đoàn thư ký kỳ họp để báo cáo Chủ tịch Quốc hội Thư ký đoàn đại biểu Quốc hội giúp Trưởng đoàn đại biểu Quốc hội, ghi biên bản tổng hợp ý kiến đóng góp của các đại biểu Quốc hội, gửi Đoàn thư ký kỳ họp Quốc hội
Đại biểu Quốc hội được cung cấp tài liệu có liên quan đến nội dung kỳ họp Quốc hội, tổ chức các buổi họp để đại biểu Quốc hội thảo luận, tham gia đóng góp ý kiến vào chương trình kỳ họp, nghiên cứu tài liệu chuẩn bị cho kỳ họp Quốc hội Tổ chức để đại biểu Quốc hội thảo luận về dự án luật, dự án pháp lệnh và các dự án khác Thư ký đoàn đại biểu Quốc hội giúp Trưởng đoàn đại biểu Quốc hội, quan hệ với các cơ quan và các bộ phận phục vụ kỳ họp Quốc hội để nhận và gửi đến các đại biểu Quốc hội
- Đoàn đại biểu Quốc hội phối hợp với các cơ quan, tổ chức hữu quan tổ chức cho đại biểu Quốc hội tiếp xúc cử tri
- Đại biểu Quốc hội có trách nhiệm tiếp dân theo lịch phân công của Đoàn đại biểu Quốc hội và tiếp xúc với cử tri trước kỳ họp Quốc hội và sau kỳ họp Quốc hội, trường hợp đặc biệt không thể tham gia tiếp dân, tiếp xúc với cử tri, thì đại biểu Quốc hội phải báo cáo với Trưởng đoàn đại biểu Quốc hội
- Khi nhận được các dự án luật và các văn bản do Uỷ ban thường vụ Quốc hội gửi đến các đại biểu Quốc hội để lấy ý kiến, trưởng đoàn đại biểu Quốc hội tổ chức họp Đoàn để các đại biểu nghiên cứu thảo luận Thư ký đoàn đại biểu Quốc hội giúp Trưởng đoàn đại biểu Quốc hội ghi biên bản tổng hợp
ý kiến đóng góp của các đại biểu Quốc hội
- Đoàn đại biểu Quốc hội có kế hoạch tổ chức định kỳ để các đại biểu Quốc hội đi kiểm tra giám sát việc thi hành pháp luật ở địa phương, khảo sát tình hình thực tế ở địa phương, góp ý kiến với địa phương về thực hiện các nhiệm vụ kinh tế - xã hội, quốc phòng - an ninh để chuẩn bị ý kiến thảo luận
và tham gia quyết định các vấn đề tại kỳ họp Quốc hội
Trang 34- Đoàn đại biểu Quốc hội phối hợp với Ban thường trực Uỷ ban Mặt trận Tổ quốc tổ chức tiếp xúc cử tri, tổng hợp ý kiến nhận xét của cử tri đối với đại biểu Quốc hội để báo cáo Uỷ ban thường vụ Quốc hội
- Đoàn đại biểu Quốc hội tham gia ý kiến về việc giới thiệu đại biểu Quốc hội trong Đoàn ứng cử đại biểu Quốc hội khoá mới, phân công đại biểu Quốc hội trong đoàn tham gia đoàn giám sát về bầu cử đại biểu Quốc hội khoá mới, bầu cử bổ sung đại biểu Quốc hội ở địa phương
- Tổ chức, chỉ đạo công tác văn phòng phục vụ các đại biểu Quốc hội trong Đoàn, tạo điều kiện bảo đảm để các đại biểu thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn đại biểu
1.2.3.4 M ối quan hệ của ĐBQH với các cơ quan, tổ chức ở địa phương
Mối quan hệ của Đại biểu Quốc hội với các cơ quan ở địa phương cũng
là nội dung rất quan trọng tác động nhất định đến hiệu quả hoạt động của Đại biểu Quốc hội, mối quan hệ này được thể hiện cụ thể như sau:
Tại Điều 9 Hiến pháp năm 1992 (sửa đổi ) xác định rằng: Mặt trận Tổ quốc là cơ sở chính trị của chính quyền nhân dân, mặt trận phát huy truyền thống toàn dân, tăng cường sự nhất trí về chính trị và tinh thần trong nhân dân, tham gia xây dựng và củng cố chính quyền nhân dân, động viên nhân dân đề cao ý thức làm chủ, nghiêm chỉnh thi hành Hiến pháp và pháp luật, giám sát hoạt động của các cơ quan nhà nước và cán bộ viên chức nhà nước
Đứng trên cơ sở đó, Mặt trận Tổ quốc đã phối hợp chặt chẽ với chính quyền địa phương, tạo điều kiện để các đại biểu Quốc hội hoàn thành tốt nhiệm vụ của mình, mặt trận đã tổ chức nhiều hội nghị rất quy mô cho các đại biểu Quốc hội tiếp xúc với cử tri trước kỳ họp Quốc hội và sau kỳ họp Quốc hội Kết hợp với chính quyền địa phương việc tiếp xúc cử tri của Đại biểu, cũng như việc tập hợp những kiến nghị của cử tri và chuyển đến các đại biểu Quốc hội và Đoàn đại biểu Quốc hội Mặt khác, Đoàn đại biểu Quốc hội cũng
đã thông qua Mặt trận Tổ quốc để báo cáo với cử tri về việc thực hiện nhiệm vụ của các đại biểu Quốc hội và của Đoàn
Trang 35Th ứ hai: Mối quan hệ của ĐBQH với Hội đồng nhân dân các cấp
Điều 119, Hiến pháp năm 1992 quy định: “Hội đồng nhân dân là cơ quan quyền lực nhà nước ở địa phương, đại diện cho ý chí nguyện vọng và quyền làm chủ của nhân dân, do nhân dân địa phương bầu ra, chịu trách nhiệm trước nhân dân địa phương và cơ quan nhà nước cấp trên”
Thường trực Hội đồng nhân dân các cấp có trách nhiệm thông báo ngày họp, nội dung, chương trình và cung cấp các tài liệu kỳ họp cho đại biểu Quốc hội Hội đồng nhân dân các cấp nơi bầu ra đại biểu Quốc hội có trách nhiệm mời đại biểu Quốc hội tham dự kỳ họp để nắm bắt được tình hình thực tiễn và tìm hiểu ý kiến, nguyện vọng của nhân dân, những vấn đề liên quan đến đời sống của nhân dân địa phương và những vấn đề khác mà đại biểu Quốc hội quan tâm, kiến nghị giải pháp nhằm bảo đảm thi hành nghiêm chỉnh pháp luật
và quyết định của cơ quan nhà nước cấp trên, giới thiệu, phổ biến pháp luật của nhà nước và những nghị quyết của Quốc hội Hội đồng nhân dân phải cung cấp các tài liệu thông tin cần thiết theo yêu cầu của đại biểu Quốc hội để phục vụ hoạt động đại biểu; phối hợp với Mặt trận Tổ quốc cùng cấp tổ chức
để các đại biểu Quốc hội tiếp xúc với cử tri ở đơn vị bầu cử, nắm rõ được mong muốn, tâm tư nguyện vọng của cử tri và lấy ý kiến đóng góp vào các dự
án luật, pháp lệnh, tham gia tiếp dân hàng tuần và đôn đốc các cơ quan có thẩm quyền xem xét, giải quyết đơn khiếu nại, tố cáo của công dân theo quy định của pháp luật
Như vậy, Đại biểu Quốc hội được mời dự kỳ họp Hội đồng nhân dân định kỳ, được Hội đồng nhân dân cung cấp tài liệu, thông tin về việc thực hiện nhiệm vụ kinh tế - xã hội, an ninh - quốc phòng của địa phương, nghe ý kiến thảo luận của các đại biểu Hội đồng nhân dân và góp ý kiến với chính quyền địa phương về những vấn đề mà đại biểu Quốc hội quan tâm Đại biểu Quốc hội có thể tham dự kỳ họp Hội đồng nhân dân nơi làm việc, nơi cư trú
1.2.3.5 M ối quan hệ của Đại biểu Quốc hội với nhân dân
Điều 43, Luật Tổ chức Quốc hội 2001 xác định rõ: Đại biểu Quốc hội là người đại diện cho ý trí, nguyện vọng của nhân dân, không chỉ đại diện cho nhân dân ở đơn vị bầu cử ra mình, mà còn đại diện cho nhân dân cả nước, là
Trang 36người thay mặt nhân dân thực hiện quyền lực nhà nước trong Quốc hội, là người đại biểu trong cơ quan duy nhất được biến ý chí của nhân dân thành ý chí của Nhà nước Vì vậy, giữa Đại biểu và nhân dân luôn có mối quan hệ bền chặt và sâu sắc, mối quan hệ đó được cụ thể như sau:
Được cử tri tín nhiệm bầu ra, Đại biểu Quốc hội phải chịu trách nhiệm trước cử tri, đồng thời Đại biểu Quốc hội còn chịu trách nhiệm trước Quốc hội
về việc thực hiện nhiệm vụ của mình Đại biểu Quốc hội chịu sự giám sát của
cử tri, thường xuyên tiếp xúc với cử tri để nắm bắt tâm tư, nguyện vọng của cử tri, thu thập và phản ánh trung thực ý kiến, kiến nghị của cử tri với Quốc hội
và các cơ quan nhà nước hữu quan
Mỗi năm một lần, kết hợp với việc tiếp xúc với cử tri trước kỳ họp cuối năm của Quốc hội, đại biểu Quốc hội báo cáo với cử tri về việc thực hiện nhiệm vụ đại biểu của mình, cử tri có thể trực tiếp hoặc thông qua Mặt trận Tổ quốc yêu cầu đại biểu báo cáo việc thực nhiện nhiệm vụ đại biểu và có thể nhận xét đối với việc thực hiện nhiệm vụ của đại biểu Quốc hội
Là người đại diện, người tiêu biểu của nhân dân, trước hết Đại biểu Quốc hội phải gương mẫu trong việc chấp hành Hiến pháp, pháp luật, có cuộc sống lành mạnh, tôn trọng các quy tắc sinh hoạt công cộng, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của nhân dân, góp phần phát huy quyền làm chủ của nhân dân Đại biểu Quốc hội có trách nhiệm tiếp dân, khi nhận được đơn thư kiến nghị, khiếu nại, tố cáo của công dân, đại biểu Quốc hội có trách nhiện nghiên cứu, xem xét và chuyển đến cơ quan có thẩm quyền giải quyết, đồng thời đôn đốc, theo dõi việc giải quyết và trả lời để nhân dân biết kết quả Ngoài ra, Đại biểu Quốc hội có nhiệm vụ tuyên truyền phổ biến pháp luật, động viên nhân dân chấp hành pháp luật và tham gia quản lý nhà nước
Có thể khẳng định rằng, Quốc hội giữ một vị trí đặc biệt trong hệ thống chính trị, do đó các mối quan hệ giữa đại biểu Quốc hội với các cơ quan, tổ chức, đơn vị và với nhân dân có vai trò quyết định đối với hiệu quả và chất
Trang 37lượng hoạt động của Đại biểu Quốc hội Cũng vì điều đó mà mối quan hệ này ngày càng được củng cố, hoàn thiện và phát huy vai trò của nó
Tóm lại, nhà nước Việt Nam là nhà nước của dân, do dân và vì dân Trong hệ thống tổ chức bộ máy nhà nước, Quốc hội được xác định là cơ quan đại diện cao nhất của nhân dân, là cơ quan quyền lực cao nhất của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam Quốc hội là cơ quan duy nhất có quyền lập hiến, lập pháp, quyết định những chính sách cơ bản của đất nước, thực hiện quyền giám sát tối cao đối với toàn bộ hoạt động của Nhà nước Đại biểu QH được coi là yếu tố trọng tâm cấu thành lên QH, vì thế việc quy định về vai trò, quyền hạn, nhiệm vụ của ĐBQH có ý nghĩa rất quan trọng Bởi lẽ chất lượng hoạt động của ĐBQH sẽ ảnh hưởng rất lớn đến chất lượng hoạt động của QH Mọi chức năng, nhiệm vụ của QH đều do ĐBQH tiến hành Do đó, địa vị pháp
lý của ĐBQH được quy định cụ thể trong các văn bản pháp luật của nhà nước Ngoài ra, với vị trí quan trọng như vậy của ĐBQH, trong quá trình thực hiện nhiệm vụ đại biểu của mình, ĐBQH còn có những mối quan hệ rất chặt chẽ với các cơ quan hữu quan khác ĐBQH phải giữ mối quan hệ với các cơ quan hữu quan và các cơ quan hữu quan này trong phạm vi quyền hạn của mình phải tạo điều kiện để ĐBQH hoàn thành trọng trách mà nhân dân giao cho
Trang 38CHƯƠNG 2
SỰ PHÁT TRIỂN ĐỊA VỊ PHÁP LÝ CỦA
ĐẠI BIỂU QUỐC HỘI NƯỚC TA
2.1 Giai đoạn từ 1946 đến 1959
Sau một ngày bản Tuyên ngôn độc lập được đọc, một trong các nhiệm
vụ đầu tiên mà Chủ tịch Hồ Chí Minh đề nghị cần tiến hành ngay là việc bầu
ra Quốc hội, cơ quan quyền lực tối cao của nhân dân Quốc hội nước Việt nam dân chủ cộng hòa ra đời là thành quả đáng tự hào của dân tộc Việt nam sau nhiều năm chiến đấu để bảo vệ nền độc lập, tự do cho đất nước Tại kỳ họp thứ hai, Quốc hội khóa I đã thông qua bản Hiến pháp đầu tiên năm 1946 của nước
ta “Hơn 10 ngày nay, các đại biểu đã khó nhọc làm việc, Quốc hội đã thu được một kết quả làm vẻ vang cho đất nước là thảo luận xong bản Hiến pháp Sau khi nhà nước mới được tự do 14 tháng, đã hoàn thành được bản Hiến pháp đầu tiên cho nước nhà Bản tích đó còn là một vết tích lịch sử Hiến pháp đầu tiên trong cõi
của Đại biểu Quốc hội Trải qua các thời kỳ lịch sử, qua bốn bản Hiến pháp, địa
vị pháp lý của Đại biểu Quốc hội ngày được bổ sung, hoàn thiện trong các bản Hiến pháp sau này và trong các văn bản pháp luật khác có liên quan Ví dụ như các luật nói về tổ chức, hoạt động của Quốc hội; nội quy, nội quy kỳ họp, quy chế của đại biểu Quốc hội Các văn bản này đều góp phần khẳng định được địa
vị pháp lý của Đại biểu Quốc hội nước ta
Ở các nhà nước tư sản, địa vị pháp lý của các Nghị viện và nghị sĩ về cơ bản cũng được khắc họa trước hết trong Hiến pháp và các văn bản luật khác như Quy chế Nghị viện Quy chế Nghị viện có hiệu lực dưới Hiến pháp nhưng cao hơn các đạo luật bình thường khác Đối với quy chế "Nghị sĩ Quốc hội" tư sản Nó có điểm mạnh và có những điểm hạn chế nhất định Điểm mạnh của
nó là đã tạo cho nghị sĩ các nước tư sản một địa vị pháp lý ổn định, bền vững hơn nhiều so với các đối tượng khác trong xã hội Đây là một yếu tố rất quan trọng, tạo điều kiện thuận lợi để các nghị sĩ yên tâm thực hiện sứ mệnh chính
7 Lời phát biểu của Chủ tịch Hồ Chí Minh tại phiên họp bế mạc kỳ họp thứ hai, Quốc hội Khóa I ngày 9/11/1946, Hồ Chí Minh toàn tập, Nxb Chính trị quốc gia, Hà nội, 1995,t4,t440
Trang 39trị của mình Và cũng chính từ điều này đã tạo nên một tầng lớp chính trị gia hưởng những đặc quyền, đặc lợi Họ có đủ quyền thế và uy lực, được tạo điều kiện vật chất lẫn tinh thần cần thiết để làm nghị sĩ Họ có rất nhiều quyền hạn nhưng không phải chịu trách nhiệm trước cử tri, có quyền hứa làm nhiều việc
"trừ việc biến đàn ông thành đàn bà" như người ta vẫn nhận xét khi nói về nghị viện tư sản Điều này tạo ra sự rất khác biệt so với Đại biểu Quốc hội nước ta Hầu hết đại biểu Quốc hội hay nghị sĩ trong thời gian đương nhiệm đều được pháp luật bảo vệ và tạo điều kiện để làm việc Tất cả các nước trên thế giới đều quy định đại biểu Quốc hội có quyền bất khả xâm phạm về chỗ ở, nơi làm việc và thân thể Các cơ quan bảo vệ pháp luật muốn bắt giam, giữ hoặc khám xét nhà ở, nơi làm việc của đại biểu Quốc hội đều phải có sự đồng ý của Chủ tịch Quốc hội hoặc của cơ quan Thường trực của Quốc hội như Uỷ ban thường vụ Quốc hội, trừ trường hợp họ phạm tội quả tang mà bị các cơ quan bảo vệ pháp luật bắt giam, giữ thì trong thời gian nhất định phải báo cho Chủ tịch Quốc hội hoặc cơ quan Thường trực của Quốc hội biết xem xét, quyết định Đây là điểm chung nhất mà pháp luật của rất nhiều nước trên thế giới quy định, đồng thời nó cũng là quyền cao nhất trong các quyền mà pháp luật quy định cho đại biểu Quốc hội Ngoài ra, các đại biểu Quốc hội đương nhiệm còn được cung cấp tài liệu, chỗ ở, nơi làm việc, tiền phụ cấp, các trang thiết bị văn phòng phục vụ cho hoạt động của đại biểu Quốc hội Được ưu tiên đi lại trên các phương tiện giao thông công cộng Đối với mức lương của nghị sĩ ở các nước đều có mức lương cao hơn các công chức khác Nghị sĩ lại còn được nhận thêm một khoản phụ cấp trách nhiệm nghị sĩ
Khi nghiên cứu Hiến pháp năm 1946, chúng ta thấy rằng Nghị viện nhân dân của Việt Nam có nhiều đặc điểm giống Nghị viện tư sản Điều đó rất phù hợp với điều kiện, hoàn cảnh lịch sử của nước ta lúc bấy giờ nhằm tranh thủ những điều kiện tốt nhất để đánh đổ thực dân nửa phong kiến, và thực hiện thắng lợi cuộc cách mạng dân tộc dân chủ Các đại biểu trong nghị viện Nghị viện không chỉ có đại biểu đại diện cho giai công nhân, nông dân, trí thức, mà còn có cả đại diện của các thành phần khác, tầng lớp khác đang tồn tại trong
xã hội lúc bấy giờ
Trang 40Địa vị pháp lý của đại biểu Quốc hội ở nước ta được xác định theo một hướng kết hợp khéo léo và đúng đắn Đại biểu Quốc hội trước hết phải là người đại biểu của nhân dân Ngay từ Hiến pháp 1946, Hiến pháp đầu tiên của nhà nước ta đã quy định: "Nghị viên không phải chỉ thay mặt cho địa phương mình mà còn thay mặt cho toàn thể nhân dân" (Điều 25) Quốc hội khoá I được bầu ngày 6/1/1946 có 403 đại biểu gồm 333 đại biểu do nhân dân bầu, 70 đại biểu do Quốc hội công nhận, trong đó: có 34 đại biểu là người dân tộc (8,5%); 10 đại biểu nữ (2,5%); 350 đại biểu là công nhân, nông dân, chiến sĩ
cách mạng (86,8%); 229 đại biểu thuộc các Đảng phái (56,8%); 174 đại biểu
không thực sự nhiều, nhưng đã cơ bản quy định những vấn đề về vị trí, vai trò, nhiệm vụ và quyền hạn chính của đại biểu Nghị viện Bao gồm: quyền tham gia cùng Nghị viện giải quyết mọi vấn đề chung cho toàn quốc, đặt ra pháp luật, biểu quyết ngân sách, chuẩn y các hiệp ước mà Chính phủ ký với nước ngoài (Điều23); quyền bất khả xâm phạm của đại biểu Hiến pháp có những quy định rất cụ thể nhưng mang ý nghĩa lớn như "Nếu chưa được nghị viện nhân dân đồng ý trong lúc Nghị viện không họp mà chưa được Ban thường vụ đồng ý thì Chính phủ không được bắt giam và xét xử những nghị viên Nghị viên không bị truy tố vì lời nói hay biểu quyết trong nghị viện Trong trường hợp phạm pháp quả tang, Chính phủ có thể bắt giam nghị viên ngay nhưng chậm nhất 24 giờ phải thông tri cho ban thường vụ", "khi một nghị viên mất quyền ứng cử thì đồng thời mất cả tư cách nghị viên" (Điều thứ 40) hoặc
"Nghị viện phải xét vấn đề bãi miễn một nghị viên khi nhận được đề nghị của một phần tư tổng số cử tri của tỉnh hay thành phố đã bầu ra nghị viên đó Nếu hai phần ba tổng số nghị viên ưng thuận đề nghị bãi miễn thì nghị viên đó phải
từ chức (Điều thứ 41) Hiến pháp cũng quy định các Nghị viên được hưởng một khoản phụ cấp hoạt động phí do pháp luật quy định
Tại sắc lệnh số 204 ngày 8/11/1946 có quy định: Ấn định các quyền lợi của đại biểu Quốc hội đi dự họp Quốc hội bằng xe hoả, xe hơi, tàu thuỷ trên
8 http://www.na.gov.vn/vietnam/tulieuqh_k1.html