Những quan điểm và đánh giá đã được họ đưa ra trong rất nhiều các tác phẩm nghiên cứu của mình, gây nên không ít tranh cãi về độ xác thực, sự đa diện trong việc nhìn nhận nhà nước Xô Viế
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI & NHÂN VĂN
CỦA HỌC GIẢ PHƯƠNG TÂY
Giảng viên hướng dẫn: TS Phan Văn Cả Sinh viên thực hiện: Lê Phạm Hoàng Long
Mã số sinh viên: 1856040051 Ngành: Lịch sử thế giới
Thành phố Hồ Chí Minh, 2021
Trang 2DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT
TBCN XHCN CNTB CNXH CMT10 CNCS
Tư bản chủ nghĩa
Xã hội chủ nghĩa Chủ nghĩa tư bản Chủ nghĩa xã hội Cách mạng tháng Mười Chủ nghĩa cộng sản
Trang 3MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 4
1 Lí do chọn đề tài 4
2 Tình hình nghiên cứu 5
2.1 Tình hình nghiên cứu ở Việt Nam 6
2.2 Tình hình nghiên cứu ở nước ngoài 6
3 Đối tượng, phạm vi nghiên cứu 8
4 Mục tiêu, nhiệm vụ nghiên cứu 8
5 Phương pháp nghiên cứu 9
6 Nguồn tư liệu 10
7 Kết cấu đề tài 10
CHƯƠNG 1 SỰ KHỦNG HOẢNG VÀ SỤP ĐỔ CỦA LIÊN BANG XÔ VIẾT 11
1.1 Sự hình thành và phát triển của Liên bang Xô Viết 11
1.2 Sự khủng hoảng và sụp đổ của Liên bang Xô Viết – Hậu quả và tác động 16
1.2.1 Sự khủng hoảng và sụp đổ của Liên bang Xô Viết 16
1.2.2 Hậu quả và tác động 21
TIỂU KẾT CHƯƠNG 1 24
CHƯƠNG 2 MỘT SỐ QUAN ĐIỂM CỦA HỌC GIẢ PHƯƠNG TÂY VỀ SỰ SỤP ĐỔ CỦA LIÊN BANG XÔ VIẾT 26
2.1 Các quan điểm về đảng cầm quyền 26
2.2 Các quan điểm về nền tảng kinh tế - xã hội 35
2.3 Các quan điểm về sự can thiệp của truyền thông, báo chí, ngôn luận 42
2.4 Các quan điểm về dân tộc 46
TIỂU KẾT CHƯƠNG 2 52
CHƯƠNG 3 KẾT LUẬN, ĐÁNH GIÁ 54
3.1 Đặc điểm 54
3.2 Ảnh hưởng, tác động 59
TIỂU KẾT CHƯƠNG 3 63
KẾT LUẬN 65
TÀI LIỆU THAM KHẢO 67
PHỤ LỤC 71
Trang 4MỞ ĐẦU
1 Lí do chọn đề tài
Trong tiến trình lịch sử của nhân loại vào thế kỉ XX, Liên bang Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Xô Viết (gọi tắt là Liên bang Xô Viết hoặc Liên Xô) đã tồn tại như là một trong những quốc gia có vị thế to lớn và hùng mạnh nhất trong toàn bộ hệ thống XHCN thế giới Liên bang Xô Viết được thành lập vào năm 1922, là quốc gia đầu tiên trên thế giới
đi theo con đường XHCN Trong suốt thời gian tồn tại của mình, Liên Xô đã trở thành một tấm gương sáng, điển hình cho ước mơ về một xã hội công bằng, không còn những
sự áp bức, bóc lột, dựng xây một xã hội tràn đầy tình yêu thương, nhân văn, thịnh vượng
và sung túc Tuy nhiên, vào một ngày mùa đông cuối năm 1991, Liên Xô đã chính thức tan rã và biến mất khỏi bản đồ thế giới, khiến cho hầu hết các quốc gia lúc bấy giờ đều
vô cùng sửng sốt và không khỏi bất ngờ, thậm chí là bàng hoàng trước sự kiện này Nhà nước Xô Viết sụp đổ không chỉ là thảm họa địa chính trị lớn nhất trong thế kỷ XX mà rất có thể là cả trong lịch sử chính trị thế giới, để lại những hậu quả có tính toàn cầu về
tư tưởng, văn hóa, chính trị, kinh tế - xã hội, an ninh, v.v Đó là thảm họa địa chính trị đối với nước Nga với vô vàn những khó khăn về mọi mặt đời sống kinh tế - xã hội Mô hình CNXH hiện thực tại Liên Xô sụp đổ cũng là tổn thất to lớn đối với phong trào đấu tranh cho những mục tiêu cao cả và tốt đẹp của nhân loại cũng như đối với phong trào cách mạng XHCN thế giới
Liên quan đến sự kiện trên, một vấn đề quan trọng đã được đặt ra luôn thu hút được nhiều sự quan tâm của các học giả nghiên cứu trên thế giới Việc xoay quanh nguyên nhân tại sao nhà nước Xô Viết với vị thế siêu cường (cùng với Hoa Kì), sở hữu một nền tảng kinh tế - xã hội đồ sộ, lực lượng quân đội hùng hậu, lực lượng lao động và trí thức đông đảo và một đảng cộng sản với gần hai mươi triệu đảng viên giành được nhiều thành tựu rực rỡ trong xây dựng CNXH, v.v được xem như một lực lượng vô song bất khả chiến bại, lại có thể sụp đổ một cách nhanh chóng và bất ngờ đến như thế Kể từ thời khắc đó cho đến tận ngày nay, thế giới đã và vẫn đang có rất nhiều những đánh giá, nhận xét cũng như tổng kết, nhìn nhận dưới một góc độ ngày càng đầy đủ hơn về nguyên nhân khủng hoảng và sụp đổ của Liên Xô
Trong đó, sự đóng góp của nhiều học giả phương Tây, cả cánh tả và cánh hữu, từ tân bảo thủ đến tân tự do là rất lớn, mang đến nhiều góc nhìn đa diện và khách quan trong việc phân tích và đánh giá sự kiện trên Các học giả đã dựa trên những tài liệu thu thập được từ khắp nơi trên thế giới nhằm cố gắng tái hiện một phần bối cảnh lịch sử và chỉ ra những điều đã khiến cho đất nước Liên Xô đi đến bờ vực khủng hoảng và sụp đổ Những quan điểm và đánh giá đã được họ đưa ra trong rất nhiều các tác phẩm nghiên cứu của mình, gây nên không ít tranh cãi về độ xác thực, sự đa diện trong việc nhìn nhận nhà nước Xô Viết cũng như nhấn mạnh đến yếu tố nào được xem là mang tính quyết định dẫn đến sự kiện Liên Xô rơi vào khủng hoảng và sụp đổ
Trang 5Về mặt thực tiễn, sự khủng hoảng, sụp đổ của Liên Xô và việc phân tích cũng như
nhận xét sự kiện này dưới nhãn quan của các học giả phương Tây đã mang đến nhiều đánh giá khách quan và đa chiều cho các quốc gia, trước hết là các quốc gia đang tiếp tục đi theo con đường xây dựng CNXH (Trung Quốc, Việt Nam, v.v.) trong việc đánh giá và rút ra kinh nghiệm nhằm hoàn thiện hơn nữa hệ thống chính trị của đất nước, sau
đó là với các nước TBCN trong việc phân tích, nghiên cứu và hoạch định chính sách đối ngoại Là một quốc gia đang tiếp tục đi theo con đường xây dựng CNXH, Việt Nam
đã phải chịu nhiều tác động tiêu cực từ sự kiện Liên Xô khủng hoảng và sụp đổ Tuy nhiên, Việt Nam đã có những sự điều chỉnh và thay đổi mang tính quyết định nhằm khắc phục những khó khăn chung trong hệ thống các nước XHCN và đạt được nhiều thành tựu trong công cuộc xây dựng và phát triển kinh tế - xã hội Mặc dù vậy, việc nghiên cứu và đánh giá đa chiều về những nguyên nhân dẫn đến sự khủng hoảng và sụp
đổ của Liên Xô vẫn mang ý nghĩa vô cùng quan trọng Do đó, chính những nghiên cứu bước đầu này sẽ cung cấp cho Việt Nam những bài học kinh nghiệm và đánh giá một cách khách quan nhằm xây dựng, hoàn thiện hệ thống đảng cộng sản và nhà nước pháp quyền XHCN của Việt Nam trong tương lai
Về mặt khoa học, việc nghiên cứu và làm sáng tỏ đề tài sẽ giúp cung cấp một góc
nhìn tổng quan, khái quát hóa và hệ thống hóa các quan điểm học thuật để luận giải về những khía cạnh giống nhau và khác nhau của nguyên nhân dẫn đến sự khủng hoảng, sụp đổ của Liên Xô được các học giả phương Tây đưa ra Tuy nhiên, bản thân sự kiện này và những vấn đề xung quanh nguyên nhân của nó, đặc biệt là các quan điểm đến từ học giả phương Tây, vẫn còn nhiều điều chưa được làm rõ và hiểu đúng, do nhiều nguyên nhân - cả chủ quan lẫn khách quan của thời đại Chẳng hạn, việc tư duy và suy nghĩ dựa trên quan điểm ý thức hệ, việc đánh giá chỉ dựa trên một hoặc một vài khía cạnh của nó mà không đánh giá một cách toàn diện và sâu sắc, v.v đã tạo nên nhiều sự tranh luận, phản bác và đóng góp về sự kiện này kể từ khi khoảnh khắc nó diễn ra vào năm 1991 cho đến nay Điều đó cho thấy tính chất phức tạp của hiện thực lịch sử mà việc đánh giá của các học giả phương Tây liên quan đến quá trình khủng hoảng và sụp
đổ của Liên bang Xô Viết đã tạo ra và nếu không có các nghiên cứu một cách hệ thống, các đánh giá dựa trên những quan niệm biện chứng và khoa học thì không thể giải quyết triệt để được Do đó, việc nghiên cứu về sự khủng hoảng và sụp đổ của Liên bang Xô Viết qua một số quan điểm của học giả phương Tây là vô cùng cần thiết
Từ những lý do trên cùng với những tình cảm và đam mê của bản thân đối với việc nghiên cứu lịch sử Liên Xô nói chung và sự kiện trên nói riêng, tôi quyết định lựa chọn
“SỰ KHỦNG HOẢNG VÀ SỤP ĐỔ CỦA LIÊN BANG XÔ VIẾT QUA MỘT SỐ QUAN ĐIỂM CỦA HỌC GIẢ PHƯƠNG TÂY” làm đề tài Niên luận 1, hệ Cử nhân
tài năng, chuyên ngành Lịch sử thế giới
2 Tình hình nghiên cứu
Sự khủng hoảng và sụp đổ của Liên bang Xô Viết là một biến cố quan trọng của lịch
sử nhân loại trong thế kỷ XX, do đó, nhìn nhận nó qua góc độ của thế giới phương Tây
Trang 6là một đề tài ít nhiều nhận được sự quan tâm của các học giả trong và ngoài nước Thông qua những nguồn tư liệu mà tôi tiếp cận được, có thể khái quát tình hình nghiên cứu của
đề tài như sau:
2.1 Tình hình nghiên cứu ở Việt Nam
Tại Việt Nam, do nhiều nguyên nhân, cả khách quan và chủ quan, mà những nghiên cứu về sự khủng hoảng, sụp đổ của Liên bang Xô Viết nói chung và sự kiện trên qua một số quan điểm của học giả phương Tây nói riêng ít được đề cập một cách trực tiếp Giới học giả Việt Nam tiếp cận các đối tượng trên một cách gián tiếp, từ một đối tượng
khác có liên quan Chẳng hạn như: Công trình Sự sụp đổ của chủ nghĩa xã hội ở Liên
Xô - một số quan điểm lý luận chủ yếu của Lê Thị Chiên (2015, luận án Thạc sĩ Triết
học), Những vấn đề nghiên cứu của đề tài "Đánh giá chủ nghĩa xã hội hiện thực hơn
bảy thập kỷ qua, nguồn gốc, nguyên nhân khủng hoảng và sụp đổ của Liên Xô và các nước Đông Âu" của Trần Nhâm (1995, báo cáo tổng quan), v.v Rõ ràng là, các công
trình này đều ít nhiều đề cập đến sự khủng hoảng, sụp đổ của Liên bang Xô Viết, nhưng việc phân tích sự kiện trên qua một số quan điểm của học giả phương Tây hầu như không thuộc đối tượng và nội dung nghiên cứu của các công trình này Chúng tôi có thể khẳng định rằng, chưa có bất kỳ công trình khoa học nào nghiên cứu một cách bài bản, toàn diện và hệ thống về sự khủng hoảng và sụp đổ của Liên bang Xô Viết qua một số quan điểm của học giả phương Tây ở Việt Nam
2.2 Tình hình nghiên cứu ở nước ngoài
Chủ đề khủng hoảng và sụp đổ của Liên bang Xô Viết qua một số quan điểm của học giả phương Tây từ khi xuất hiện cho đến nay, luôn nhận được sự quan tâm của nhiều học giả trên thế giới Trong đó, đáng chú ý nhất là các công trình của các tác giả như:
Zbigniew Brzeziński với công trình THE GRAND FAILURE: The Birth and Death
of Communism in the Twentieth Century (New York: Charles Scribner’s Sons, 1989)
được xem là một trong những nghiên cứu toàn diện đầu tiên về sự khủng hoảng và sụp
đổ của Liên Xô, trước cả khi sự kiện này sụp đổ hai năm Tác giả đã dự báo về đến sự kiện trên một cách toàn diện ở nhiều khía cạnh như chính trị, kinh tế, v.v Mặc dù phân tích một cách đa dạng trên nhiều lĩnh vực, nhưng tác giả vẫn đi sâu vào phân tích cụ thể, chi tiết các sự kiện và đưa ra những nhận xét sắc sảo và chính xác Ông đã vẽ ra một bức tranh lịch sử của đất nước Xô Viết trong suốt bảy mươi năm tồn tại với những khuyết điểm âm ỉ kéo dài, chính nó sẽ là thứ đánh gục chính thể ấy trong tương lai
Martin McCauley với tác phẩm Gorbachev (London: Pearson Education Limited,
1998) đã cung cấp một góc nhìn tổng quan xung quanh cuộc đời và sự nghiệp của Gorbachev cũng như là tình hình ở Liên Xô từ những năm 1920 cho đến khi sụp đổ Tác giả đã chỉ ra rõ những động thái của chính quyền Xô Viết trong suốt quá trình tồn tại của mình đã đưa Liên Xô trở thành một siêu cường và dần đi đến bờ vực khủng hoảng và tan rã Đặc biệt, ông xem vai trò của Gorbachev và ban lãnh đạo xung quanh
Trang 7ông là một trong những nhân tố quan trọng nhất dẫn đến sự tan rã của Liên bang Xô Viết
Victor Sebestyen với Revolution 1989: The Fall of the Soviet Empire (London:
George Weidenfeld & Nicolson Ltd., 2009) là một công trình nghiên cứu hấp dẫn và tường tận, kết hợp giữa những trải nghiệm thực tế tại Liên Xô và lập luận khoa học để phục dựng lại một cách chân thực và sống động về biến cố khủng hoảng và sụp đổ của Liên Xô Tác giả mặc dù đi sâu vào phân tích diễn biến tại các nước XHCN Đông Âu, song ông vẫn xuyên suốt phân tích song song bối cảnh tại Liên Xô trong thời điểm đó Ông đã chỉ ra những điểm mang tính cốt lõi, đóng góp vào những lí giải cho sự kiện khủng hoảng và tan rã của chế độ Xô Viết
Bên cạnh đó, chúng tôi còn có các bài báo khoa học của Jean-Baptiste Tai-Sheng
Jacquet với nhan đề What Explains the Collapse of the USSR (E-International Relations,
2013) bàn về những nguyên nhân lý giải cho sự sụp đổ của Liên Xô trên một số khía
cạnh chính trị và kinh tế; bài báo khoa học của Leon Aron với đề tài Everything You
Think You Know About the Collapse of the Soviet Union Is Wrong (Foreign Policy,
July/August 2011) đã cho thấy được những góc nhìn mới lạ đối với nguyên nhân dẫn đến khủng hoảng và sụp đổ của nhà nước Xô Viết, vốn được lý giải thông qua những nguyên nhân quen thuộc mà nhiều người thường nghe
Khác với những tác phẩm vừa kể ở trên, một số tác giả đã phân tích sự khủng hoảng
và sụp đổ của nhà nước Xô Viết trên các khía cạnh nhất định:
Trong lĩnh vực chính trị, nhiều công trình đã tập trung nghiên cứu vào hệ thống chính trị Xô Viết, vấn đề đảng cầm quyền, các nhà lãnh đạo của Đảng Cộng sản Liên
Xô, v.v., nhằm tìm kiếm những mấu chốt đã dẫn đến sự biến vào năm 1991 Theo đó,
Serhii Plokhy với The Last Empire: The Final Days of the Soviet Union (New York: Basic Books Publishers, 2014); công trình The End of the Cold War and the Causes of
Soviet Collapse (London: Palgrave Macmillan, 2004) của Nick Bisley; nhóm tác giả
Roger Keeran & Thomas Kenny với Socialism Betrayed: Behind the Collapse of the
Soviet Union (New York: iUniverse, Inc, 2010); tác phẩm Russian Politics from Lenin
to Putin (London: Palgrave Macmillan, 2010) của Stephen Fortescue và J.A.S
Grenville cùng công trình A History of the World From the 20th to the 21st century
(London: Taylor & Francis e-Library, 2005)
Ngoài ra, chúng ta còn có nhóm tác giả Manuel Castells, Emma Kiselyova trong
công trình The collapse of Soviet communism: a view from the information society
(California: the University of California, 1995) đã phân tích và đưa ra quan điểm từ góc
độ khoa học – kĩ thuật; theo đó, sự tụt hậu trong trình độ phát triển công nghệ và yếu kém trong việc quản lí hành chính đã góp một phần rất lớn đến sự khủng hoảng và tan
rã của nhà nước Xô Viết Tác giả Lawrence Scott Sheets trong tác phẩm Eight pieces
of empire: a 20-year journey through the Soviet collapse (New York: Crown Publishers,
2011) thông qua chuyến công tác thực tế tại Liên Xô và các quốc gia hậu Xô Viết sau
Trang 8năm 1991 để tìm hiểu và nghiên cứu nguyên nhân sụp đổ ở góc độ xã hội học Kế đến,
tác phẩm Crisis in Russian Studies? Nationalism (Imperialism), Racism and War
(Bristol: E-International Relations Publishing, 2020) của Taras Kuzio chỉ ra những quan điểm dưới góc độ phân tích chủ nghĩa dân tộc Trên khía cạnh kinh tế, tác giả Robert
W Strayer với công trình Why Did the Soviet Union Collapse?: Understanding
Historical Change (New York: M E Sharpe, Inc., 1998) cũng đã góp vào một số quan
điểm của mình từ việc đi sâu vào phân tích ở lĩnh vực này
Như vậy, có thể thấy, tất cả các công trình được nêu ở bên trên ít nhiều có đều đã đề cập đến những vấn đề có liên quan đến đề tài nghiên cứu Những công trình này đã có các đóng góp quan trọng trong việc hiểu về quan điểm về sự khủng hoảng và sụp đổ của Liên Xô mà được một số học giả phương Tây đưa ra Tuy nhiên, bản thân các công trình ấy cũng không khỏi tránh được những hạn chế nhất định, cụ thể như sau:
Thứ nhất, đối với các công trình ở trong nước, thực trạng chung là thiếu vắng các đánh giá, nhìn nhận sự kiện trên qua lăng kính của thế giới phương Tây Do đó, các công trình trong nước chỉ mới phác họa và nhận thức về biến cố năm 1991 ở Liên Xô một cách chủ quan, đôi khi, là duy ý chí
Thứ hai, đối với các công trình ở nước ngoài, do hạn chế về tư liệu được tiếp cận (khách quan) và không đứng trên góc độ marxist (chủ quan) trong những đánh giá của mình, các học giả nước ngoài đã không thể nhìn thấy hết được đặc điểm, bản chất của
sự kiện khủng hoảng và sụp đổ của nhà nước Xô Viết Thậm chí, nhiều người, vì lập trường giai cấp, đã có những quan điểm quá đà, thiếu khách quan
Trên cơ sở kế thừa thành công và phát hiện hạn chế của các công trình nghiên cứu
đi trước, chúng tôi đã bước đầu định hình cách tiếp cận, ý tưởng, xác lập nội dung và phương pháp nghiên cứu một cách hiệu quả
3 Đối tượng, phạm vi nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của đề tài tập trung vào một số quan điểm của học giả phương Tây về sự khủng hoảng và sụp đổ của Liên bang Xô Viết Với cách tiếp cận của khoa học lịch sử, đề tài xác định phạm vi nghiên cứu cụ thể như sau:
Về không gian nghiên cứu: Đề tài tập trung tìm hiểu, nghiên cứu và đánh giá một số
quan điểm của học giả phương Tây (chủ yếu ở khu vực châu Âu và Bắc Mỹ)
Về thời gian nghiên cứu: Đề tài tập trung nghiên cứu và khảo sát từ đầu những năm
90 của thế kỷ XX cho tới nay
4 Mục tiêu, nhiệm vụ nghiên cứu
Về mục tiêu nghiên cứu: Đề tài tập trung làm rõ và hệ thống hóa các quan điểm của
học giả phương Tây về sự kiện khủng hoảng và sụp đổ của Liên Xô từ đó đúc kết ra những đặc điểm, ảnh hưởng và tác động của các quan điểm đó đối với việc nghiên cứu
Trang 9và đánh giá lịch sử thời kì hậu Xô Viết Để làm được những điều vừa nêu, chúng tôi đưa ra mục tiêu nghiên cứu bao gồm:
- Sự hình thành, phát triển, khủng hoảng và sụp đổ của Liên bang Xô Viết, từ đó rút ra kết quả và tác động của quá trình trên đối với thế giới nói chung và các quốc gia thời kì hậu Xô Viết nói riêng
- Một số quan điểm của học giả phương Tây về sự khủng hoảng và sụp đổ của Liên bang Xô Viết, trong đó tập trung vào một số chủ đề chính như: Các quan điểm
về đảng cầm quyền; các quan điểm về nền tảng kinh tế - xã hội; các quan điểm về
sự can thiệp của truyền thông, báo chí, ngôn luận và những quan điểm về dân tộc
- Một số nhận xét, đánh giá xoay quanh các quan điểm của học giả phương Tây
về sự khủng hoảng và sụp đổ của Liên bang Xô Viết Đồng thời, chúng tôi mong muốn có thể chỉ ra được những đặc điểm, bản chất và tác động của chúng đối với công tác nghiên cứu và hoạch định chính sách tại các nước phương Tây
Về nhiệm vụ nghiên cứu: Nhằm đạt được mục tiêu nói trên, chúng tôi tập trung thực
hiện các nhiệm vụ nghiên cứu cụ thể sau:
- Chỉ ra được sự hình thành, phát triển, khủng hoảng và sụp đổ của Liên bang
Xô Viết, từ đó rút ra kết quả và tác động của quá trình trên
- Chỉ ra một số quan điểm của học giả phương Tây về sự khủng hoảng và sụp đổ của Liên bang Xô Viết
- Đưa ra những nhận xét và đánh giá khách quan, khoa học trên cơ sở những nghiên cứu về những quan điểm trên của các học giả phương Tây về sự khủng hoảng
và sụp đổ của Liên bang Xô Viết, chỉ ra được những đặc điểm, bản chất và tác động của những quan điểm trên đối với công tác nghiên cứu và hoạch định chính sách tại các nước phương Tây
5 Phương pháp nghiên cứu
Về phương pháp luận: Phương pháp luận của đề tài này được hình thành trên cơ sở
những hệ thống quan điểm và phương pháp luận của chủ nghĩa Marx – Lenin, chú trọng vào những luận điểm về khủng hoảng và giải quyết khủng hoảng trong CNXH, những luận điểm về nhà nước vô sản và nền chuyên chính vô sản, về vai trò của cá nhân trong lịch sử, v.v Những quan điểm này được coi là kim chỉ nam trong quá trình nghiên cứu
đề tài Ngoài ra, để bổ trợ cho quá trình nghiên cứu, chúng tôi còn áp dụng và đứng trên nền tảng của lý luận quan hệ quốc tế, lý thuyết về xây dựng đảng, lí thuyết về dân tộc,
về sự can thiệp của các thế lực nước ngoài, v.v
Về phương pháp nghiên cứu: Đây là một đề tài lịch sử nên phương pháp lịch sử,
phương pháp logic và sự kết hợp giữa chúng được xác định như dòng mạch chủ yếu Bên cạnh đó, đề tài còn vận dụng một số phương pháp khác như phân tích, tổng hợp, so
Trang 10sánh, đối chiếu, v.v., khi nghiên cứu chuyên sâu từng nội dung nhằm nhìn nhận và đánh giá vấn đề một cách xác thực và khách quan Cụ thể:
- Phương pháp lịch sử được sử dụng để làm rõ tiến trình khủng hoảng và sụp đổ
của Liên bang Xô Viết diễn ra từ đầu những năm 70 – 80 của thế kỉ XX, cũng như việc đánh giá, nhận xét của các học giả phương Tây về vấn đề này theo từng giai đoạn khác nhau
- Phương pháp logic được sử dụng để chỉ ra đặc điểm, bản chất, nguyên nhân,
ảnh hưởng và tác động của sự khủng hoảng và sụp đổ của Liên bang Xô Viết; trên
cơ sở đó, các học giả phương Tây đã đưa ra những quan điểm của mình nhằm lí giải những đặc điểm, bản chất, nguyên nhân dẫn đến các sự kiện trên
- Phương pháp so sánh, đối chiếu: được sử dụng để chỉ ra những tương đồng và
khác biệt của các quan điểm của những học giả phương Tây về sự khủng hoảng và sụp đổ của Liên bang Xô Viết, cũng như các luận giải về nguyên nhân của những điểm khác biệt đó
- Phương pháp phân tích, tổng hợp: được sử dụng để thu thập và đánh giá các
nguồn tài liệu, các công trình nghiên cứu trong và ngoài nước về các chủ đề liên quan đến đề tài
6 Nguồn tư liệu
Để thực hiện đề tài trên, chúng tôi đã tiếp cận với các loại tư liệu chủ yếu sau:
- Các đầu sách chuyên khảo của các nhà nghiên cứu Việt Nam và nước ngoài có liên quan trực tiếp hoặc gián tiếp đến nội dung nghiên cứu của đề tài
- Các bài viết, các công trình nghiên cứu được công bố trên các tạp chí, tập san, bài báo của các tác giả trong và ngoài nước
- Tài liệu từ các Website uy tín và chính thống trên Internet
7 Kết cấu đề tài
Ngoài phần mở đầu, phần kết luận, danh mục tài liệu tham khảo và phụ lục, kết cấu của đề tài trên bao gồm ba chương:
Chương 1 Sự khủng hoảng và sụp đổ của Liên bang Xô Viết
Chương 2 Một số quan điểm của học giả phương Tây về sự khủng hoảng và sụp
đổ của Liên bang Xô Viết
Chương 3 Nhận xét, đánh giá
Trang 11CHƯƠNG 1 SỰ KHỦNG HOẢNG VÀ SỤP ĐỔ CỦA LIÊN
BANG XÔ VIẾT 1.1 Sự hình thành và phát triển của Liên bang Xô Viết
Liên bang Xô Viết được hình thành từ phong trào công nhân và phong trào cách mạng vô sản Nga Trong thập niên 70 của thế kỉ XIX, nhiều tác phẩm và tài liệu của Marx và Quốc tế I được truyền bá trong một bộ phận công nhân tiên tiến; nhiều tổ chức công nhân đã hình thành và các phong trào đấu tranh nổ ra giữa công nhân với giới chủ cũng từ đó mà trở nên hơn Năm 1883, G Plekhanov cùng một số cộng sự đã thành lập
nhóm marxist đầu tiên tại Geneve (Thụy Sĩ) – nhóm Giải phóng lao động Nhóm đã
truyền bá chủ nghĩa Marx vào nước Nga thông qua việc dịch thuật nhiều tác phẩm kinh điển của Marx, Engels và của chính Plekhanov; nhờ đó, các nhóm nghiên cứu chủ nghĩa Marx cũng lần lượt ra đời ở nhiều nơi Năm 1893, V.I Lenin trở thành người tổ chức
và lãnh đạo phong trào marxist Nga, mở ra một giai đoạn mới trong sự phát triển của phong trào công nhân và phong trào cách mạng Nga
Từ khi Lenin trở thành người lãnh đạo, phong trào marxist Nga đã có những bước phát triển nhanh chóng Năm 1903, Đảng Công nhân xã hội dân chủ Nga được thành lập với hai lực lượng chính gồm Bolshevik (phái đa số, do Lenin lãnh đạo) và Melshevik (phái thiểu số, do Martov lãnh đạo), đánh dấu bước ngoặt lớn trong phong trào công nhân và phong trào cách mạng Nga1 Từ đây, giai cấp vô sản Nga đã có một chính đảng lãnh đạo và đủ khả năng để đấu tranh giành quyền lãnh đạo phong trào cách mạng Trong mười năm sau đó, nhiều sự kiện diễn ra ở nước Nga và trên thế giới (Cách mạng Nga 1905 – 1907, Chiến tranh thế giới thứ nhất, v.v.) đã tác động ít nhiều đến phong trào công nhân và phong trào cách mạng Nga Được sự chỉ đạo của Lenin và Đảng Công nhân xã hội dân chủ Nga (Bolshevik), phong trào có những bước phát triển vượt bậc; những người Bolshevik cũng rút ra và tích lũy được nhiều bài học kinh nghiệm
Trong đó, cuộc cách mạng xã hội chủ nghĩa tháng Mười đã tạo ra bước tiền đề quan trọng cho việc thành lập nhà nước Liên Xô Tháng 02/1917 (theo lịch cũ ở Nga, tức tháng 03/1917 theo lịch mới), cuộc Cách mạng tháng Hai nổ ra, chế độ chuyên chế Nga hoàng bị lật đổ, hai chính quyền song song do giai cấp tư sản và giai cấp vô sản được thành lập; tuy nhiên, chính quyền đã được trao vào tay giai cấp tư sản Tám tháng sau, ngày 25/10 (lịch cũ ở Nga, tức ngày 07/11/1917), cuộc khởi nghĩa của các lực lượng Bolshevik tiến công vào Cung điện Mùa Đông đã diễn ra thành công, chính phủ lâm thời của giai cấp tư sản bị lật đổ; trong đêm, chính phủ Xô Viết đầu tiên được thành lập Sau Cách mạng tháng Mười, chính quyền Xô Viết bước vào cuộc nội chiến và can thiệp của nước ngoài kéo dài hơn sáu năm với vô vàn những thiệt hại về người và của nhằm bảo vệ những thành quả cách mạng của giai cấp công nhân và nhân dân lao động Nga;
1 Tháng 05/1907, sau Hội nghị toàn Nga lần thứ 6 Đảng Công nhân xã hội dân chủ Nga, hai phái Bolshevik và phái Menshevik chính thức tách ra hai hướng đi khác nhau Phái Bolshevik lập ra một đảng riêng lấy tên là Đảng
Xã hội Dân chủ Công nhân Nga (Bolshevik)
Trang 12năm 1921, cuộc chiến về cơ bản đã kết thúc với thắng lợi thuộc về chính quyền Xô Viết
Do nhu cầu thống nhất về kinh tế và chính trị giữa các nước cộng hòa XHCN2 nhằm phát huy tối đa sức mạnh của chính quyền Xô Viết, ngày 30/12/1922, Đại hội lần thứ
nhất các Xô Viết toàn Liên bang được tiến hành và nhất trí thông qua bản Tuyên ngôn
và bản Hiệp ước Liên bang thành lập Liên bang Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Xô Viết
Trong quá trình phát triển, Liên bang Xô Viết đã đạt được nhiều thành tựu trong công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội Thực hiện đường lối của Chính sách kinh tế mới
(New Economic Policy – NEP) do Lenin đề ra, Liên Xô chỉ trong vòng ba năm đầu tiên
đã hoàn thành thắng lợi những nhiệm vụ chủ yếu của thời kì khôi phục nền kinh tế quốc dân, sản xuất đã đạt bằng mức năm 1913 So với trước chiến tranh (năm 1913), Liên
Xô vào năm 1925 sở hữu sản lượng nông nghiệp đạt 87%; sản lượng công nghiệp đạt 73%; số lượng công nhân tham gia trong các nhà máy đạt 90,8%3 Tuy nhiên, Liên Xô vẫn còn là một nước nông nghiệp lạc hậu, sản xuất hàng hóa nhỏ của nông dân còn chiếm ưu thế, sản xuất công nghiệp còn yếu, trình độ khoa học kĩ thuật trong toàn bộ nền kinh tế còn thấp; đặc biệt, tình trạng bao vây và cô lập của các nước TBCN phương Tây cũng đang đe dọa đến sự tồn vong của nhà nước Xô Viết lúc bấy giờ
Chính vì lẽ đó, Đảng và nhà nước Xô Viết càng mang trong mình quyết tâm phấn đấu để trở thành một quốc gia công nghiệp tự cường Tháng 12/1925, tại Đại hội lần thứ XIV, Đảng Bolshevik đã đề ra đường lối, nhiệm vụ và phương châm công nghiệp hóa XHCN ở Liên Xô, trong đó việc phát triển công nghiệp nặng (nhất là ngành chế tạo máy móc) được xem như là “trung tâm thần kinh của toàn bộ nền công nghiệp”4 Nhà nước Xô Viết sau đó xây dựng được nhiều xí nghiệp lớn với trang thiết bị kỹ thuật hiện đại, nhiều ngành công nghiệp mới ra đời, v.v Sau hai lần kế hoạch năm năm (1927 – 1937), Liên Xô trở thành một cường quốc công nghiệp hùng mạnh, với tổng sản lượng công nghiệp đã vượt qua các nước Đức, Anh, Pháp, đứng vị trí thứ hai trên thế giới Nhà nước Xô Viết chỉ cần khoảng 20 năm để hoàn thành về cơ bản quá trình công nghiệp hóa, Đây là tốc độ công nghiệp hóa phi thường và nhanh nhất trong lịch sử thế giới từng ghi nhận Các lĩnh vực khác như giáo dục, văn hóa – nghệ thuật, khoa học kĩ thuật, v.v cũng đã được nhà nước Xô Viết quan tâm và đầu tư một cách bài bản Thế
và lực của Liên Xô theo đó cũng tăng lên nhanh chóng trên trường quốc tế Nhờ vào những nền tảng và thành tựu nói trên, Liên Xô mới có thể đứng vững trong cuộc Chiến tranh vệ quốc (1941 - 1945) trước các lực lượng phát xít Đức xâm lược
Chiến tranh thế giới thứ hai kết thúc, Liên bang Xô Viết bắt tay vào công cuộc khôi phục và phát triển đất nước Liên Xô là quốc gia thắng trận nhưng cũng chịu nhiều tổn thất nặng nề sau cuộc chiến với hơn 27 triệu người dân hi sinh, 1.710 thành phố, hơn
2 Tới năm 1922, trên lãnh thổ nước Nga trước đây đã tồn tại 6 nước cộng hòa XHCN: Nga, Ukraine, Belarus,
Azerbaijan, Armenia và Gruzia Xem thêm tại: Nguyễn Quốc Hùng, Nguyễn Thị Thư (2017) Nước Nga từ nguyên
thủy đến hiện đại Hà Nội: Nxb Chính trị Quốc gia Sự thật, tr 410
3 Various authors (1977) History of the USSR, part 2 Moscow: Progress Publishers, p 160
4 I Stalin (1966) Toàn tập, tập 7 Hà Nội: Nxb Sự thật, tr 388
Trang 1370.000 làng mạc bị phát hủy với số tiền thiệt hại ước tính khoảng 2.600 tỉ rub5, hệ quả này được đánh giá là đã kéo lùi sự phát triển của kinh tế ít nhất là mười năm6 Sau đó, Liên Xô tiến hành bắt tay vào công cuộc khôi phục kinh tế và hoàn thành trong vòng bốn năm ba tháng Khoảng 6.200 cơ sở công nghiệp được khôi phục hoặc xây mới, đặc biệt trong lĩnh vực công nghiệp nặng; về cơ bản nền nông nghiệp đã được khôi phục về mức trước chiến tranh; ngành giao thông vận tải được phục hồi và mở rộng; quan hệ ngoại thương được mở rộng sang các nước XHCN Đông Âu và Trung Quốc Trên trường quốc tế, Liên Xô trở thành một trong hai siêu cường duy nhất trên thế giới lúc bấy giờ (bên cạnh Hoa Kì), quan hệ quốc tế với các quốc gia khác không ngừng được
mở rộng
Đặc biệt, trong hai thập niên tiếp theo, Liên Xô đạt được vô vàn những thành tựu
trên nhiều lĩnh vực trong công cuộc xây dựng và bảo vệ chế độ xã hội chủ nghĩa, vươn đến giai đoạn đỉnh cao trong sự phát triển của mình
Về kinh tế, nhà nước Xô Viết có những bước phát triển vượt bậc trong nhiều lĩnh vực Trong lĩnh vực nông nghiệp, nhiều khu vực đất đai được khai hoang, Chính
phủ cũng ban bố chính sách kích thích nhằm gia tăng năng suất lao động đối với nông dân, củng cố hệ thống nông trang tập thể, mở rộng ngành chăn nuôi gia súc Chính phủ cũng tăng giá thu mua đối với những mặt hàng vượt kế hoạch, đồng thời tăng cường cơ
sở vật chất và kĩ thuật cho nông nghiệp (đầu tư vốn cho việc cơ giới hóa sản xuất, áp dụng tiến bộ khoa học – kĩ thuật), tăng cường hợp tác trong các hợp tác xã nông nghiệp, v.v Trong lĩnh vực công nghiệp, Chính phủ Xô Viết cũng đẩy nhanh tiến bộ kĩ thuật, thực hiện cơ khí hóa và tự động hóa, điện khí hóa (nhất là trong ngành đường sắt) Nhiều biện pháp nhằm tiến hành cải cách trong công nghiệp đã được đưa ra (tăng tính khoa học của việc lập kế hoạch, mở rộng quyền quản lí của xí nghiệp, tăng cường kích thích kinh tế) Chính phủ cũng dự định giảm tối đa các chỉ tiêu kế hoạch mà Bộ giao cho các
xí nghiệp, cho phép lập quỹ khuyến khích lao động ở các xí nghiệp, v.v
Kết quả là, về mặt nông nghiệp, Liên Xô thu được nhiều thành tựu có giá trị cao Số lượng máy móc, thiết bị và phân bón cung cấp cho sản xuất nông nghiệp không ngừng gia tăng Chính phủ trang bị cho các nông trang và nông trường thêm 1.100.000 xe tải, 1.700.000 máy kéo, 449.000 máy liên hợp cùng nhiều máy móc, thiết bị khác, cung cấp gần 700 triệu tấn phân bón cho nông nghiệp7 Nhiều công trình cải tạo đất đai và thủy lợi có hiệu quả đã đi vào hoạt động (kênh Saratov, kên Stavropol lớn, v.v.) Về công nghiệp, Chính phủ Xô Viết cũng đạt được những thành công nhất định Ngành công nghiệp dầu khí đặc biệt phát triển khi sản lượng dầu và khí đốt khai thác ở vùng Siberia trong mười năm (1970 - 1980) tăng gấp 10 và 16 lần8 Liên Xô cũng đuổi kịp các nước
tư bản phát triển nhất ở phương Tây về tổng sản lượng công nghiệp trong các lĩnh vực
5 Various authors (1977) History of the USSR, part 3 Moscow: Progress Publishers, p 68
6 Nguyễn Quốc Hùng, Nguyễn Thị Thư (2017) Nước Nga từ nguyên thủy đến hiện đại Sđd, tr 488
7 Nguyễn Quốc Hùng, Nguyễn Thị Thư (2017) Nước Nga từ nguyên thủy đến hiện đại Sđd, tr 574
8 Nguyễn Quốc Hùng, Nguyễn Thị Thư (2017) Nước Nga từ nguyên thủy đến hiện đại Sđd, tr 573
Trang 14như than, năng lượng điện, xi măng, sản xuất quặng, cao su, v.v Đặc biệt, ngành chế tạo máy móc luôn giữ vai trò chủ đạo và đứng hàng đầu thế giới Về phương diện quốc phòng, Liên Xô vào những năm 1970 đã đạt thế cân bằng chiến lược trong lĩnh vực vũ khí với phương Tây Theo một số liệu thống kê, so với đầu những năm 1950, tổng sản lượng công nghiệp của Liên Xô đến khoảng giữa thập niên 70 của thế kỉ XX ước chừng tăng 4,3 lần, thu nhập quốc dân cũng tăng 3,8 lần, sản phẩm nông nghiệp tăng 1,8 lần, hàng tiêu dùng tăng 3 lần9
Liên Xô cũng đạt được nhiều thành tựu quan trọng trong công cuộc lãnh đạo
và quản lí đất nước Đảng Cộng sản Liên Xô không ngừng tăng cường vai trò lãnh đạo
đất nước Các kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội, chính sách đối ngoại, v.v đều được thảo luận và thông qua trước hết tại Đại hội Đảng Đảng cũng chú trọng công tác phát triển đảng trong hàng ngũ trí thức, công nhân, đặc biệt là đề cao vai trò của phụ nữ Xô Viết các cấp được kiện toàn và hoạt động đa dạng Nhiều sắc lệnh, đạo luật mới được thông qua trong giai đoạn này Các Xô Viết đóng vai trò tích cực trong đời sống chính trị của Liên Xô
Kết quả là, nền chính trị của Liên Xô được xây dựng ngày càng chặt chẽ và điều hành hoạt động của đất nước có hiệu quả Số lượng thành viên thuộc Đảng Cộng sản Liên Xô đa dạng về thành phần xuất thân, thể hiện sự ủng hộ của đại đa số các tầng lớp nhân dân Các Xô Viết đóng vai trò quan trọng trong việc điều hành đất nước và thể hiện tinh thần đoàn kết trong xã hội Nhiều thành tựu cũng xuất hiện, trong đó nổi bật nhất là sự ra đời của bản Hiến pháp mới của đất nước Xô Viết (năm 1977) với việc bổ sung những quan điểm mới của thời đại, điều chỉnh cho phù hợp những quan điểm ở giai đoạn trước vốn còn nhiều sai sót; quy định rõ vai trò, chức năng, nhiệm vụ của Đảng và Nhà nước, chính sách ngoại giao, v.v
Trên phương diện văn hóa – xã hội, nhà nước Xô Viết cũng đã đạt được rất nhiều những thành tựu Liên Xô đặt giáo dục lên vị trí quan trọng hàng đầu trong
chính sách đầu tư và phát triển của quốc gia Chính phủ Xô Viết ban hành nhiều quy định về hỗ trợ và khuyến khích học tập đối với các công dân Những biện pháp tích cực nhằm nâng cao chất lượng giảng dạy, hoàn thiện hệ thống chương trình giáo dục, thành lập thêm nhiều trường học, viện nghiên cứu, v.v., cũng đã được triển khai rộng khắp nhằm đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ trí thức phục vụ cho quốc gia Trong lĩnh vực khoa học – kĩ thuật, Chính phủ tạo nhiều điều kiện hỗ trợ và phục vụ các viện nghiên cứu, các cơ sở khoa học ở khắp nơi trên đất nước Về lĩnh vực văn học – nghệ thuật, Liên
Xô luôn chú ý nâng cao nội dung tư tưởng – nghệ thuật trong các tác phẩm văn học cũng như kịch, ca nhạc, điện ảnh, v.v Chính phủ cũng tổ chức nhiều hoạt động đánh giá, trao giải thưởng cho những tác phẩm nghệ thuật xuất sắc, được công chúng đánh giá cao
9 N.K Baibakov (2001) Từ Stalin đến Yeltsin Hà Nội: Nxb Chính trị Quốc gia, tr 25
Trang 15Kết quả là, về giáo dục, đội ngũ lao động trí óc của Liên Xô được đánh giá là đông đảo (với hơn 40 triệu người vào năm 198010), toàn liên bang có hơn 2.000 trường đào tạo giáo viên; số lượng học sinh – sinh viên gia tăng; trình độ văn hóa – giáo dục của công dân Liên Xô đứng ở vị trí hàng đầu thế giới Về khoa học – kĩ thuật, nhiều ngành khoa học – kĩ thuật, chính phủ Xô Viết sở hữu vào năm 1980 đội ngũ cán bộ nghiên cứu lên tới 1,4 triệu người với hơn 5.000 cơ quan nghiên cứu11; điều này đã dẫn đến việc Liên Xô cho ra đời mỗi năm rất nhiều những thành tựu trong các lĩnh vực quan trọng, nhất là khoa học hạt nhân và khoa học vũ trụ Ngoài ra, về văn hóa – nghệ thuật,
số lượng sách văn học xuất bản ngày càng nhiều với 7.000 đầu sách hằng năm và hơn
430 triệu bản được xuất bản12; nhiều tác phẩm thơ ca và âm nhạc đạt chất lượng rất cao, mang đậm sâu tính nhân văn chủ nghĩa; ngành điện ảnh, sân khấu cũng cho ra đời nhiều sản phẩm nghệ thuật đặc sắc, đáp ứng nhu cầu đời sống tinh thần của nhân dân và đưa nền văn hóa Xô Viết đến nhiều quốc gia trên thế giới
Bên cạnh đó, trên trường quốc tế, Liên Xô có được vị trí và uy tín được nâng cao chưa từng thấy từ sau Chiến tranh thế giới thứ hai Liên Xô trở thành một trong
hai siêu cường duy nhất trên thế giới lúc bấy giờ (bên cạnh Hoa Kì), quan hệ quốc tế giữa Liên Xô với các quốc gia khác không ngừng được mở rộng Đồng thời, Liên Xô cũng trở thành thành trì của cách mạng thế giới Từ sau năm 1945, hệ thống XHCN thế giới, đứng đầu là Liên Xô, đã được hình thành và sát cánh bên cạnh các phong trào cách mạng trên toàn cầu, ủng hộ vật chất và tinh thần, củng cố niềm tin nhằm đối phó và ngăn cản sự chống phá của các thế lực TBCN đối lập Chính phủ Xô Viết luôn chủ động trong quan hệ với các nước XHCN khác, hợp tác phát triển toàn diện trong khuôn khổ các hiệp ước quốc tế Không chỉ vậy, Liên Xô còn đoàn kết và giúp đỡ các dân tộc bị
áp bức trong việc đấu tranh đòi các nước đế quốc trao trả độc lập cho các nước và các dân tộc thuộc địa, ủng hộ các dân tộc đứng lên giành độc lập, chống chủ nghĩa phân biệt chủng tộc Với các nước tư bản phương Tây, Liên Xô tiến hành nhiều chính sách nhằm thể hiện sự hòa dịu, hợp tác nhằm làm giảm sự căng thẳng, đối đầu của đôi bên, giữ gìn hòa bình và an ninh thế giới
Kết quả là, cho đến những năm 1970, hệ thống XHCN thế giới, đứng đầu là Liên
Xô đã mở rộng đến rất nhiều quốc gia trên thế giới nằm trên các châu lục khác nhau Nhiều phong trào đấu tranh giải phóng dân tộc, phong trào đấu tranh của giai cấp công nhân trong lòng các quốc gia tư bản diễn ra một cách mạnh mẽ Trong suốt thời gian tồn tại của mình, Liên Xô đã trở thành một tấm gương sáng điển hình cho rất nhiều quốc gia và con người mang trong mình ước mơ về một xã hội công bằng, không còn những
sự áp bức, bóc lột, dựng xây một xã hội tràn đầy tình yêu thương, nhân văn, thịnh vượng
và sung túc Với những điều kiện như trên, Liên Xô lúc bấy giờ được xem như là một
10 Trích Liên Xô: Những con số và sự kiện Hà Nội: Nxb Sự thật, tr 41, 1985 Dẫn theo: Ngô Minh Oanh (Chủ
biên, 2017) Một trăm năm cách mạng tháng Mười Nga và chủ nghĩa xã hội: Từ hiện thực đến quy luật lịch sử
TP.HCM: Nxb Đại học Quốc gia TP.HCM, tr 94
11 Nguyễn Quốc Hùng, Nguyễn Thị Thư (2017) Nước Nga từ nguyên thủy đến hiện đại Sđd, tr 595
12 Nguyễn Quốc Hùng, Nguyễn Thị Thư (2017) Nước Nga từ nguyên thủy đến hiện đại Sđd, tr 597
Trang 16lực lượng bất khả chiến bại trên phạm vi toàn cầu, không điều gì có thể làm lung lay và tác động tiêu cực đến sức mạnh của Liên Xô nói riêng và hệ thống XHCN toàn cầu nói chung
1.2 Sự khủng hoảng và sụp đổ của Liên bang Xô Viết – Hậu quả và tác động 1.2.1 Sự khủng hoảng và sụp đổ của Liên bang Xô Viết
Tuy nhiên, đến giữa thập niên 70 của thế kỉ XX trở đi, Liên bang Xô Viết bắt đầu xuất hiện những dấu hiệu của sự khủng hoảng trong đời sống kinh tế - xã hội
Cơ chế quản lí tập trung quan liêu theo phong cách mệnh lệnh hành chính ngày càng gia tăng, cản trở sự phát triển và tính tự chủ của các cơ sở sản xuất Nhà nước
đã sai hướng trong việc tiến hành những điều chỉnh cơ chế quản lí công – nông nghiệp, không có đủ tính mềm dẻo và thích ứng với đòi hỏi của sự phát triển đi lên của khoa học kĩ thuật và tiến bộ xã hội Điều này vô hình chung đã dẫn đến việc làm chậm lại quá trình tự hoàn thiện của xã hội Nền sản xuất không tạo được kích thích cho các đơn
vị sản xuất dẫn đến kỉ luật lao động bị suy giảm, năng suất lao động tăng chậm (xem phụ lục 1)13
Ngoài ra, số lượng chỉ tiêu cho kế hoạch phân bổ tại các xí nghiệp ngày một gia tăng; các cơ sở sản xuất chỉ biết tập trung thực hiện các chỉ tiêu, không có điều kiện phát huy những sáng tạo, tự hạch toán trong các vấn đề kinh tế Những điều trên đã dẫn đến hiện tượng nhà nước “quen lãnh đạo nền kinh tế bằng những biện pháp hành chính đến nỗi coi ‘kế hoạch’ như là những tập sách có ghi những nhiệm vụ cụ thể cho mọi người”14 Nền công nghiệp nặng được ưu tiên phát triển quá mức dẫn đến tình trạng mất cân đối trong cơ cấu kinh tế; đồng thời nó cũng không chuyển sang sản xuất những sản phẩm mới, hiệu quả và tiến bộ hơn
Những chi phí quá lớn cho những hoạt động quân sự và đối ngoại cũng ảnh hưởng không nhỏ đến tình hình trong nước.Liên Xô đóng một vai trò tích cực trong việc hỗ trợ, ủng hộ về nhiều mặt cho các quốc gia hoặc các lực lượng, đảng phái cộng sản nhằm tạo ra một vành đai ý thức hệ với Liên Xô làm vùng đệm với các quốc gia TBCN (do Hoa Kì đứng đầu) trong cuộc chiến tranh Lạnh Trong đó, việc tăng quân số
và tăng cường chạy đua vũ trang nhằm giành thế cân bằng với Hoa Kì làm cho toàn bộ
cơ cấu của nền kinh tế quốc dân ngày càng đổ trọng tâm vào lĩnh vực quân sự (có nguồn
số liệu cho rằng đến đầu năm 1987, ngành quân sự tiêu tốn đến 40% ngân sách quốc gia15) Do đó, các ngành công nghiệp nhẹ và nông nghiệp luôn rơi ở thế yếu, không đáp ứng những nhu cầu thiết yếu của nhân dân về lương thực, thực phẩm và hàng tiêu dùng; hàng hóa trong thị trường nội địa bị thừa các sản phẩm khó tiêu thụ đồng thời lại khan
13 Ủy ban Khoa học xã hội Việt Nam (1988) Thông tin chuyên đề: Cải tổ ở Liên Xô Hà Nội: Viện Kinh tế Thế
giới, tr 74
14 Ủy ban Khoa học xã hội Việt Nam (1988) Thông tin chuyên đề: Cải tổ ở Liên Xô Sđd, tr 24
15 Martin McCauley (2009) Gorbachev Hà Nội: Nxb Công an nhân dân, tr 125
Trang 17hiếm hàng hóa dễ tiêu thụ làm phát sinh tệ nạn đầu cơ, tích trữ và các loại kinh tế ngầm bất hợp pháp
Nền kinh tế vẫn đi theo mô hình công nghiệp hóa cổ điển, cách thức quản lý theo chiều rộng, thiên về khai thác tài nguyên thiên nhiên mà không chú trọng đúng
mức vai trò của khoa học – công nghệ, của chất xám trong tăng trưởng và phát triển16 Nguồn thu nhập dầu khí khổng lồ đã mang lại thu nhập đáng kể cho đất nước, mang lại những ảo tưởng về việc mua mọi thứ từ việc bán dầu; tuy nhiên, hiện tượng giá dầu giảm mạnh từ đầu những năm 1980 (xem phụ lục 2) đã kéo theo sự suy giảm nguồn thu nhập ngoại tệ của quốc gia đã khiến nhà nước càng khó xoay sở những vấn đề kinh tế bên trong đất nước Mặc dù các nhà lãnh đạo đất nước hiểu rõ sự cần thiết của khoa học – kĩ thuật đối với phát triển kinh tế, nhưng cơ chế quản lí quan liêu mệnh lệnh đã cản trở việc áp dụng những tiến bộ khoa học – kĩ thuật vào sản xuất; việc đầu tư vào lĩnh vực giáo dục cũng giảm sút so với các giai đoạn trước (xem phụ lục 3)
Nền chính trị và xã hội trong giai đoạn này cũng bộc lộ nhiều nhược điểm nghiêm trọng Tâm lí xã hội của nhân dân dần trở nên thờ ơ đối với các chính sách của
đảng và chính phủ Xô Viết Công tác giám sát, kỉ luật cán bộ của đảng và nhà nước –
bộ máy theo chỉ định bị buông lỏng khiến tệ tham nhũng gia tăng và làm suy thoái đạo đức xã hội Kèm theo đó, nền kinh tế kế hoạch quan liêu bao cấp lúc bấy giờ ở Liên Xô
đã triệt tiêu động lực sản xuất và sự sáng tạo của nhân dân Liên Xô, như lời của viện sĩ A.G Aganbiegian chua chát bày tỏ rằng: “Anh hiểu cho, vấn đề ở đây là: người ta hiểu việc thiếu thốn thường xuyên và phân phối hàng hóa là CNXH Và đó lại là toàn bộ hệ
tư tưởng!”17
Nhà nước trong vấn đề quản lí, điều hành xã hội thì mất dân chủ, độc đoán, chuyên quyền, trấn áp những người khác chính kiến làm cho nhân dân thêm bất mãn, không ủng hộ Hiệu quả công tác tư tưởng và tuyên truyền của Đảng Cộng sản Liên Xô xa rời thực tế nghiêm trọng, trống rỗng vô vị, đơn giản hóa và toàn những lời sáo rỗng18; nó
đã không những không giúp tăng cường sự yêu quý và ủng hộ của quần chúng nhân dân đối với chế độ mà ngược lại còn dẫn đến tâm lí thất vọng, thậm chí là đối nghịch mạnh
mẽ trong lòng xã hội Xô Viết
Ngoài ra, Liên Xô cũng vướng phải nhiều rối loạn trong vấn đề lí luận, quan niệm về chủ nghĩa xã hội và chủ nghĩa cộng sản. Trong suốt quá trình tổn tại của mình, nhà nước Xô Viết luôn luôn vướng phải sự nhìn nhận và đánh giá vội vàng, mang tính đốt cháy giai đoạn về xây dựng CNXH (cũng như CNCS) thông qua một số dẫn chứng như: “Xã hội Liên Xô chúng ta đã làm được việc thực hiện chủ nghĩa xã hội về
cơ bản” (năm 1936); “Liên Xô đã bước vào giai đoạn từ chủ nghĩa xã hội từng bước
16 Tô Huy Rứa, Hoàng Chí Bảo, Trần Khắc Việt, Lê Ngọc Tòng (Chủ biên, 2008) Quá trình đổi mới tư duy lý
luận của Đảng từ năm 1986 đến nay Hà Nội: Nxb Chính trị Quốc gia, tr 28
17 Ủy ban Khoa học xã hội Việt Nam (1988) Thông tin chuyên đề: Cải tổ ở Liên Xô Sđd, tr 41
18 Lý Thận Minh, Trần Chi Hoa (Chủ biên, Phó Chủ biên, 2017) Tính trước nguy cơ – Suy ngẫm sau 20 năm
Đảng Cộng sản Liên Xô mất đảng Hà Nội, Nxb Chính trị Quốc gia Sự thật, tr 304
Trang 18quá độ sang chủ nghĩa cộng sản” (năm 1939); “20 năm xây dựng thành công chủ nghĩa cộng sản” (năm 1961); “chủ nghĩa xã hội phát triển” (năm 1971) Vào những năm 80 của thế kỉ XX, trong giới lí luận của Đảng và Nhà nước Xô Viết bắt đầu thịnh hành các khái niệm “chủ nghĩa xã hội phát triển”, “chủ nghĩa xã hội chín muồi” mà sau đó thực tiễn xã hội đã cho thấy tính vô căn cứ của nó19
Đặc biệt, riêng đối với đội ngũ cán bộ, đảng viên Đảng Cộng sản Liên Xô, tầng lớp trên cũng bắt đầu xuất hiện nhiều tệ nạn nghiêm trọng Phía bên trên, sự già
hóa của Bộ Chính trị dẫn đến tình trạng chuyên quyền, đảng trị, bảo thủ và xa rời quần chúng trong việc kiểm soát và quản lí các công việc của nhà nước Nổi bật nhất, đó là
sự xuất hiện của tầng lớp đặc quyền trong đảng; để bảo vệ những lợi ích hiện có, tầng lớp đặc quyền chống lại bất cứ sự cải cách nào ảnh hưởng đến đặc quyền của mình dẫn đến việc không thể chủ động ngăn chặn tình trạng tham nhũng đang lan tràn trong toàn đảng, toàn xã hội Ở bên dưới, đội ngũ cán bộ, đảng viên tệ nạn tham quyền, hưởng thụ, mua danh bán tước, a dua, nịnh hót, tham ô và hối lộ
Nhiều người gia nhập đảng không để cống hiến vì sự nghiệp xây dựng CNXH, vì lí tưởng cộng sản chủ nghĩa, mà để kiếm chức tước, vun vén lợi ích cá nhân, từ đó dẫn đến tác phong ngày càng tồi tệ Tầng lớp đặc quyền xuất hiện ở kể cả trung ương lẫn địa phương đã làm tổn hại nghiêm trọng thanh danh của CNXH, tạo ra một hố ngăn cách lớn trong xã hội, làm hư hỏng xã hội Khoảng cách giữa người dân bình thường và tầng lớp đặc quyền ngày càng lớn; trong xã hội Xô Viết, người dân bình thường tự gọi mình là “chúng ta”, còn gọi những người đặc quyền là “bọn họ”20
Trước tình cảnh khủng hoảng ngày một nghiêm trọng của đất nước vừa kể trên, Liên bang Xô Viết cần có một sự điều chỉnh toàn diện về mọi mặt nhằm đưa đất nước thoát
ra khỏi cuộc khủng hoảng
Đảng Cộng sản Liên Xô đứng trước những yêu cầu khách quan, không thể trì hoãn của lịch sử: Tìm kiếm mô hình và con đường, cách thức và phương pháp đổi mới nhằm trả lời cho câu hỏi liên quan đến vận mệnh của quốc gia dân tộc: “Tồn tại hay không tồn tại?”21 Tháng 03/1985, Mikhail Gorbachev được bầu làm Tổng Bí thư Đảng Cộng sản Liên Xô Ông tiến hành những chính sách nhằm thay đổi toàn diện tình hình kinh
tế - chính trị - xã hội của đất nước Xô Viết Trong đó, phải nói thêm rằng, công cuộc cải tổ đã đóng một vai trò quyết định trong việc đưa đất nước Liên Xô đi đến sự trầm trọng hóa những khủng hoảng trong lòng xã hội Xô Viết và dẫn đến kết cục là Liên Xô
19 Tô Huy Rứa, Hoàng Chí Bảo, Trần Khắc Việt, Lê Ngọc Tòng (Chủ biên, 2008) Quá trình đổi mới tư duy lý
luận của Đảng từ năm 1986 đến nay Sđd, tr 21
20 Nhà biên kịch Viktor Rozov đã miêu tả về tình trạng đó như sau: “… Giới cầm quyền thượng lưu của đảng và nhà nước đã tạo ra cho mình một thứ chủ nghĩa xã hội hiện thực: tất cả những tòa biệt thự, những căn hộ, những bệnh viện lộng lẫy, những bữa chè chén linh đình, và trong cái thế giới vi mô tách riêng ra đó của chủ nghĩa xã hội, họ đã làm việc, đã sống một cách phè phỡn và đã sai khiến chúng ta, đã áp đặt những khuôn sáo tư duy theo kiểu ý thức hệ, đã lùa giới trí thức sáng tạo vào cái cũi của chủ nghĩa hiện thực xã hội chủ nghĩa…” Xem thêm
tại: Lê Sơn (2013) Một nền văn hóa biết xấu hổ Hà Nội: Nxb Văn học, tr 09
21 Tô Huy Rứa, Hoàng Chí Bảo, Trần Khắc Việt, Lê Ngọc Tòng (Chủ biên, 2008) Quá trình đổi mới tư duy lý
luận của Đảng từ năm 1986 đến nay Sđd, tr 22
Trang 19sụp đổ vào cuối năm 1991 Tiến trình cải tổ có thể được thành ba giai đoạn chính, bao gồm: phát triển đúng hướng, sâu rộng nhưng chệch hướng, thất bại và sụp đổ Cụ thể:
Vào giai đoạn đầu tiên (tháng 04/1985 – tháng 06/1988), quá trình cải tổ ở Liên bang Xô Viết được đánh giá là phát triển đúng hướng Tháng 04/1985, tại Hội nghị
toàn thể Đảng Cộng sản Liên Xô, Gorbachev khởi xướng chính sách “tăng tốc”
(uskoreniye) nhằm thúc đẩy sự phát triển toàn diện về chính trị, xã hội và kinh tế, được
thực hiện dựa trên việc áp dụng tiến bộ khoa học kĩ thuật, cải tiến ngành công nghiệp nặng, nâng cao kỉ luật lao động và trách nhiệm của bộ máy quản lí Song, chính sách
này đã gặp thất bại và được thay bằng chính sách "cải tổ” (perestroika) đầy tham vọng
hơn vào tháng 06/1987 Nền kinh tế vẫn tăng trưởng đều đặn ở mức 2,3 – 4%/năm22; tuy nhiên, tình trạng lạm phát tiềm ẩn, thiếu cung tràn lan và ngày một trầm trọng hơn
do thị trường chợ đen ngày càng mở rộng đã bắt đầu phá hoại nền kinh tế Liên Xô
Về chính trị - xã hội, khẩu hiệu "công khai hóa” (glasnost) được Liên Xô đưa ra
nhằm tăng cường sự công khai và minh bạch trong các tổ chức và hoạt động của Đảng
và nhà nước Xô Viết “Công khai hóa” cho phép công dân Liên Xô được thảo luận công khai các vấn đề về hệ thống chính trị của quốc gia và những giải pháp khắc phục chúng, khuyến khích sự giám sát và chỉ trích của nhân dân đối với ban lãnh đạo các cấp; việc kiểm duyệt thông tin trước khi xuất bản sách báo hoặc phát sóng truyền hình ngày càng giảm và thông tin đưa đến cho nhân dân tự do và cởi mở nhiều hơn
Liên Xô lúc này cũng đưa ra chính sách đối ngoại mới dựa trên cơ sở tư tưởng “tư duy chính trị mới”23 "Tư duy mới" là điều cần thiết để Liên Xô chấm dứt cuộc cạnh tranh tốn kém trong Chiến tranh Lạnh để tiếp tục cải cách kinh tế nội bộ Theo đó, Liên
Xô sẽ ngừng hỗ trợ cho các phong trào hoặc là các quốc gia cộng sản trên khắp thế giới, tiến hành tăng cường quan hệ ngoại giao với Hoa Kì và từng bước khôi phục mối quan
hệ với các nước TBCN (Hàn Quốc, Nhật Bản, v.v…)
Trong giai đoạn tiếp theo (tháng 07/1988 – tháng 06/1990), quá trình cải tổ ở Liên bang Xô Viết bắt đầu diễn ra sâu rộng nhưng có dấu hiệu chệch hướng
Gorbachev sớm nhận ra rằng công việc vực dậy nền kinh tế Liên Xô sẽ là gần như bất khả thi nếu như ông không thực hiện cải cách hệ thống chính trị và xã hội trước tiên24 Nền kinh tế vốn chưa có chuyển biến đáng kể ngày càng trở nên sa sút, tình hình xã hội
22 Nguyễn Quốc Hùng, Nguyễn Thị Thư (2017) Nước Nga từ nguyên thủy đến hiện đại Sđd, tr 620
23 Các yếu tố chính của nó là tư tưởng hóa chính trị quốc tế, từ bỏ khái niệm đấu tranh giai cấp, ưu tiên lợi ích chung của con người hơn lợi ích của bất kỳ giai cấp nào, tăng cường sự phụ thuộc lẫn nhau của thế giới, an ninh lẫn nhau dựa trên các công cụ chính trị thay vì quân sự, tạo nên một sự chuyển dịch đáng kể các nguyên tắc trước đây của chính trị đối ngoại của Liên Xô Năm 1987, Gorbachev xuất bản cuốn sách “Perestroika và tư duy chính trị mới” và vào tháng 12/1988, ông đã trình bày học thuyết về tư duy mới trong bài phát biểu của mình trước Liên Hợp Quốc
24 Tại Hội nghị Trung ương tháng 6, năm 1987, Gorbachev đã phát biểu rằng: “… Người ta viết rằng mọi người ủng hộ cải tổ nhưng không thấy quanh mình có biến đổi gì…” Xem thêm tại: Ủy ban Khoa học xã hội Việt Nam
(1988) Thông tin chuyên đề: Cải tổ ở Liên Xô Sđd, tr 91
Trang 20trở nên hỗn loạn Theo ước tính của Cơ quan tình báo trung ương Hoa Kì (CIA), vào năm 1989, quy mô của nền kinh tế Liên Xô chỉ còn bằng một nửa so với Hoa Kì25
Về chính trị - xã hội, tháng 06/1988, Liên Xô tuyên bố thực hiện một nền dân chủ không hạn chế, đưa ra mục tiêu xây dựng mô hình “chủ nghĩa xã hội dân chủ nhân đạo” Các thế lực chống cộng ở phương Tây đẩy mạnh việc phủ định lịch sử cách mạng Liên
Xô, phóng đại, thổi phồng những vấn đề xã hội, kích động tâm lí bất mãn, hướng sự bất mãn này vào đảng cộng sản và chế độ XHCN, tuyên truyền cho cái gọi là cuộc sống tươi đẹp ở phương Tây và tính ưu việt của CNTB26 Đảng Cộng sản Liên Xô bất lực, để cho phe chống cộng, chống CNXH tiến công điên cuồng hơn Những đảng đối lập đã giành chính quyền tại một loạt địa phương dưới cái gọi là bầu cử tự do, ngang nhiên hô hào chống chế độ Moskva cũng triển khai chính sách không can thiệp vào công việc nội bộ của các quốc gia đồng minh trong khối Warsaw khiến những nước cộng sản tại Đông Âu đều bị hạ bệ vào năm 1989
Sự chuyển biến tại Đông Âu cũng lan tới các nước cộng hòa trực thuộc Liên Xô Trong cuộc bầu cử quốc hội địa phương tại các nước cộng hoà hợp thành, những người theo chủ nghĩa quốc gia cũng như những người cải cách triệt để nổi lên khi Gorbachev
đã làm suy yếu hệ thống chính trị bên trong và khả năng áp đặt ý chí của chính phủ trung ương tại Moskva lên các nước cộng hoà hợp thành đã giảm nhiều Những cuộc tuần hành hoà bình rộng lớn tại các nước cộng hoà vùng Baltic như “con đường Baltic”
và “cách mạng Hát” đã thu hút sự chú ý của quốc tế và thúc đẩy các phong trào đòi độc lập ở nhiều vùng khác
Trong giai đoạn cuối cùng (tháng 07/1990 – tháng 12/1991), quá trình cải tổ ở Liên bang Xô Viết dần đưa đất nước Xô Viết đi đến thất bại và dẫn đến tình trạng sụp đổ Tới năm 1990, nhà nước Xô Viết mất kiểm soát trong việc điều hành và quản
lí nền kinh tế quốc gia Các khoản thu từ thuế giảm sút khi chính phủ các nước cộng hoà và chính phủ địa phương từ chối chi trả chúng cho chính quyền trung ương bởi sự phát triển ngày một lớn mạnh của chính quyền tự trị địa phương Chính phủ trung ương không còn được tham gia nhiều vào quyết định sản xuất, đặc biệt trong lĩnh vực hàng hoá tiêu dùng, dẫn đến sự tan vỡ trong quan hệ sản xuất – tiêu thụ truyền thống nhưng lại không góp phần vào việc xây dựng một mối quan hệ mới
Về chính trị - xã hội, tháng 07/1990, Liên Xô tiến hành thông qua điều lệ đảng mới, chính thức chấm dứt tình trạng độc quyền lãnh đạo của Đảng Cộng sản Liên Xô, xóa
bỏ nguyên tắc tập trung dân chủ Tất cả các nước cộng hòa thuộc Liên Xô đã tổ chức các cuộc bầu cử cạnh tranh tự do đầu tiên; những người theo chủ nghĩa cải cách và dân tộc thiểu số giành được chiến thắng ở một vài nước cộng hòa Các thế lực chống cộng
25 "1990 CIA World Factbook" Cơ quan Tình báo Trung ương Hoa Kì Truy cập ngày 13/09/2020
26 Triết gia, nhà văn A Dinoviev đã nhận xét về vấn đề này như sau: “Bây giờ ở Nga người ta tôn sùng những ai phủ nhận tất cả những gì của Xô Viết, kể cả chế độ xã hội Liên Xô (cộng sản) và lịch sử Liên Xô Bây giờ những việc làm này không những không bị trừng phạt, thậm chí còn được khuyến khích cổ vũ ” Xem thêm tại: Nhiều
tác giả (1998) Sự phản bội của Gorbachev Hà Nội: Nxb Công an Nhân dân, tr 25
Trang 21và dân tộc chủ nghĩa ở các nước cộng hòa bắt đầu tổng tấn công, đòi hỏi các nước cộng hòa độc lập hoàn toàn và li khai khỏi nhà nước Xô Viết, đấu tranh lật đổ sự lãnh đạo và quản lí của đảng cộng sản, v.v Bất bình trước những chính sách của Gorbachev, tháng 08/1991, một số nhà lãnh đạo theo đường lối cứng rắn tiến hành đảo chính với mục tiêu chấm dứt những sự hỗn loạn trong đất nước và bảo toàn sự thống nhất của Liên bang
Xô Viết; tuy nhiên, phe đảo chính đã thất bại khi không thể giành được sự ủng hộ của quần chúng
Cuộc đảo chính tháng Tám đã không đạt được mục tiêu mà càng làm tăng thêm mâu thuẫn giữa các nước cộng hòa thành viên và nhà nước trung ương Ngày 24/08/1991, Gorbachev tuyên bố từ chức Tổng Bí thư Đảng Cộng sản Liên Xô; một tháng sau, Đảng Cộng sản Liên Xô bị cấm hoạt động, tài sản bị tịch thu dẫn đến các cơ quan quản lí trung ương rơi vào trạng thái tê liệt Các nước cộng hòa Xô Viết lần lượt tuyên bố độc lập, tách ra khỏi Liên bang Ngày 08/12/1991, lãnh đạo ba nước cộng hòa Nga, Belarus
và Ukraine ký thỏa thuận thành lập “Cộng đồng các quốc gia độc lập” (gọi tắt là “SNG” theo tiếng Nga) Ngày 25/12/1991, Gorbachev tuyên bố từ chức Tổng thống, lá cờ đỏ búa liềm của Liên bang Xô Viết bị hạ xuống khỏi điện Kremlin và bị thay thế bởi lá cờ
ba màu của nước Nga đã đánh dấu sự cáo chung của Liên bang Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Xô Viết sau gần 70 năm tồn tại
1.2.2 Hậu quả và tác động
Sự kiện Liên bang Xô Viết khủng hoảng và sụp đổ, mà nhiều người đánh giá như
“một trận ‘động đất chính trị’, chấn động lòng người trong thế kỉ XX”27, đã dẫn đến
nhiều hệ quả tiêu cực đến bản thân nước Nga nói riêng và thế giới nói chung
Về phương diện chính trị, các quốc gia hậu Xô Viết đều rơi vào tình trạng không ổn định Nhà nước Xô Viết tan rã thành 15 nước cộng hòa và cùng hợp tác với
nhau trong khối SNG Tuy nhiên, bản thân SNG thực chất chỉ là một tổ chức liên kết lỏng lẽo, chủ yếu mang trong mình vai trò là bước “quá độ” trong việc chuyển giao từ các nước cộng hòa thuộc Liên Xô đến vị thế độc lập hoàn toàn Trong không gian hậu
Xô Viết, các thế lực phương Tây vẫn tiếp tục tăng cường sự ảnh hưởng đến các quốc gia trong khu vực, dần dần bao vây và cô lập sự ảnh hưởng của Liên bang Nga – quốc gia lớn nhất, kế thừa địa vị pháp lí của Liên Xô
Sau khi nhà nước Xô Viết tan rã, tầng lớp đảng viên trung thành với CNCS trong Đảng Cộng sản Liên Xô vừa căm phẫn cực độ vừa bất lực Ngược lại, bộ phận cựu đảng viên chống CNCS nay đã đạt được những mục đích của mình Thật vậy, nước Nga sau khi Liên Xô sụp đổ, ngoại trừ một số ít nhân vật ngự trên đỉnh ngọn kim tự tháp quyền lực, còn lại một phần cán bộ biến thành những “quý nhân” của nước Nga mới Ở nhiều nước cộng hòa thuộc Liên Xô trước đây, các thể chế và giá trị dân chủ, tự do dần dần
bị thay thế và xóa bỏ bởi sự kiểm soát quyền lực đến từ các thế lực “cựu Xô Viết” Nhiều vị Tổng thống tại một số quốc gia hậu Xô Viết vùng Trung Á sau khi Liên Xô
27 Tiêu Phong (2015) Hai chủ nghĩa một trăm năm Hà Nội: Nxb Chính trị Quốc gia Sự thật, tr 127
Trang 22vừa giải thể vốn là Bí thư thứ Nhất của nước cộng hòa trước đây, nay tiếp tục cầm quyền
và xây dựng những thể chế độc tài, sùng bái cá nhân, v.v
Về phương diện kinh tế, việc phát triển kinh tế - xã hội tại Nga và nhiều nước cộng hòa thụt lùi tận nhiều chục năm Nền kinh tế thời hậu Xô Viết hoàn toàn chưa
chuẩn bị gì cho giai đoạn quá độ và các "liệu pháp sốc" của phương Tây giới thiệu, cho nên cuối cùng nó đã đem lại vô số hậu quả bi kịch Kết quả của quá trình này đến rất nhanh, đó là dẫn đến một nền kinh tế tiêu điều và suy thoái nghiêm trọng Các quốc gia nghèo đi nhanh chóng, hệ thống an sinh xã hội suy yếu, xã hội rơi vào hỗn loạn, phạm tội xảy ra tràn lan, phân hóa giàu nghèo tăng mạnh, hàng chục vạn nhà khoa học và lao động có trình độ cao di cư sang phương Tây, nhiều người dân không có đủ tiền đi chữa bệnh (điều chưa từng xảy ra dưới thời Liên Xô), tỉ lệ tử vong do bệnh tật cũng tăng lên, v.v
Các nước thuộc Liên bang Xô Viết trước đây phải trải qua một cuộc khủng hoảng về dân tộc đầy kinh hoàng và ám ảnh Sự trỗi dậy mạnh mẽ của chủ nghĩa dân
tộc, chủ nghĩa địa phương vào những năm đầu của thời kì hậu cộng sản là một minh chứng cho chính sách dân tộc kém hiệu quả nhưng luôn được ca tụng tại các quốc gia trên Rõ ràng là, chính sự “tuyệt đối hóa cái chung, coi nhẹ đặc thù và bản sắc” của từng dân tộc, nên các quốc gia này “đã không những không phát huy được thế mạnh của từng dân tộc trong phát triển kinh tế - xã hội, làm thui chột tính năng động, sáng tạo của họ,
mà còn kìm hãm sự phát triển hài hòa của các dân tộc”28 và đẩy những mâu thuẫn tích
tụ, dồn nén lâu ngày giữa họ càng thêm sâu sắc
Người ta không thể ngờ, trong vòng vài năm sau khi mô hình XHCN sụp đổ tại Liên
Xô (nói đúng hơn là ngay khi quá trình sụp đổ diễn ra), ngọn cờ dân tộc chủ nghĩa lại được dấy lên mạnh mẽ, đi tiên phong trong việc làm suy yếu, phá vỡ từng mảng lớn của lãnh thổ quốc gia Trong đó, tình trạng khủng hoảng về dân tộc tại đây nổi cộm lên với hai vấn đề lớn, bao gồm: vấn đề người Nga tại các nước “cận ngoại biên” và vấn đề xung đột tại Kavkaz
Phương diện xã hội tại các quốc gia hậu Xô Viết cũng cho thấy một bức tranh toàn cảnh hỗn loạn Nó đã làm xuất hiện nhiều băng nhóm tội phạm có tổ chức cỡ lớn,
chảy máu chất xám rất nặng nề, nghiên cứu khoa học kỹ thuật cũng bị đình trệ, v.v Trong đó, điều quan trọng nhất, quan niệm đạo đức – tinh thần trong xã hội cũng trở nên hỗn loạn, những luân lí xã hội và năng lực phân định đúng – sai biến mất, khủng hoảng về niềm tin và giá trị sống xuất hiện Các giá trị đạo đức cũ mất hiệu lực, bị thực
tế cuộc sống phủ định trong khi các giá trị đạo đức mới chưa hình thành Một số phương tiện truyền thông tư nhân chỉ biết tập trung truyền bá các giá trị quan của phương Tây, thực chất là khuyến khích người dân khéo léo vơ vét và theo đuổi lợi ích cá nhân, đặt
28 Hà Mỹ Hương (2006) Nước Nga trên trường quốc tế - Hôm qua, hôm nay và ngày mai Hà Nội: Nxb Chính
trị Quốc gia, tr 98
Trang 23đồng tiền lên trên hết, từ đó mất đi phẩm chất chính trực, yêu lao động vốn có của người dân Xô Viết
Nạn buôn người để phục vụ cho công nghiệp tình dục và các ngành công nghiệp khác bắt đầu xuất hiện và phát triển tại nước Nga hậu Xô Viết Số người tự tử ở Nga gia tăng khi sự tan rã của Liên Xô đã biến những con người bình thường thành những
kẻ lạc loài, những người vô căn cước, không bản sắc, những đồ thừa, những thành phần phế thải Ý nghĩa của sự việc này thật đơn giản khi họ phát hiện ra mình đã bị một huyền thoại đánh lừa, huyền thoại mà họ đã góp công góp sức dựng lên bằng đức độ hy sinh
và mù quáng, nhiều người Nga không thể chịu đựng nổi cú sốc này
Ngoài ra, sự kiện nhà nước Xô Viết rơi vào khủng hoảng và sụp đổ dẫn đến những
tác động vô cùng to lớn đến thế giới nói chung và các quốc gia hậu Xô Viết nói riêng
Đối với phong trào cách mạng thế giới, thành trì của CNXH đã sụp đổ, chỗ dựa
vững chắc của phong trào cộng sản và công nhân quốc tế đã không còn, các nước XHCN còn lại đứng trước thử thách khốc liệt do hệ quả của sự tổn thất đó để lại Ngay sau khi Liên Xô tan rã, nhiều quốc gia đi theo con đường CNXH sụp đổ hàng loạt từ Đông Âu đến Trung Đông, Bắc Phi, v.v., dẫn đến việc hệ thống XHCN toàn cầu biến mất, khiến cho phương Tây không còn một đối trọng đủ mạnh mẽ để cân bằng và cản trở những tham vọng của họ Thế và lực của CNXH cũng bị thu hẹp đáng kể từ sau biến cố tại Liên Xô và Đông Âu, CNXH với tư cách là một hệ thống chỉ còn nằm trong những trang sách sử, không thể, hay nói chính xác hơn là bị mất hoàn toàn khả năng cạnh tranh với CNTB Ngày nay, một số ít quốc gia XHCN còn lại (Trung Quốc, Việt Nam, Cuba, v.v.) đã thoát ra khỏi tình trạng khủng hoảng và tiếp tục phát triển đất nước đi theo con đường tiến lên xây dựng CNXH
Sự sụp đổ của hệ thống xã hội chủ nghĩa trên phạm vi toàn cầu cũng đã làm trật tự lưỡng cực Yalta sụp đổ, kéo theo tình trạng chiến tranh Lạnh giữa hai cực, hai phe chấm dứt Tác động trên được đánh giá mang tính hai mặt khi nó mở ra một thời kì mới trong lịch sử nhân loại với những nội dung và đặc điểm mới (trật tự thế giới
đa cực đang hình thành; nền chính trị quốc tế với bản chất cường quyền vẫn tiếp tục vận động, chi phối và tác động vào tất cả các mối quan hệ lớn nhỏ trên toàn cầu; hòa bình, hợp tác trở thành xu thế chủ đạo, lấy kinh tế làm trọng tâm phát triển) Mặt khác, nó cũng tạo ra một thời kì đầy bất ổn bởi xung đột và tranh chấp Thế giới trở thành một nơi “vô trật tự” và đang dần điều chỉnh thành “đa cực, nhiều trung tâm”, một thế giới đầy bất ổn nhưng cũng thật nhiều cơ hội cho những ai biết nắm bắt và đặc biệt, nó đặt lại vấn đề về tính hiệu quả của các định chế khu vực hay toàn cầu, v.v
Tiếp đến, một làn sóng công khai từ bỏ chủ nghĩa xã hội trên phạm vi thế giới
được biểu hiện trên quy mô và tầm mức khác nhau sau sự sụp đổ của Liên Xô và
hệ thống xã hội chủ nghĩa hiện thực. Điểm chung của hiện tượng này là nhiều đảng cộng sản đổi tên, thay điều lệ/định hướng chính trị - tuyên bố rời bỏ chủ nghĩa Marx hoặc đi theo con đường cải lương kiểu CNXH dân chủ Việc chuyển hướng sang lập
Trang 24trường xã hội dân chủ thực chất được xem là biểu hiện của sự từ bỏ con đường đấu tranh cho lợi ích của giai cấp công nhân; bản thân học thuyết xã hội dân chủ đã đi ngược lại học thuyết Marx vì nó từ bỏ đấu tranh giai cấp và chọn cho mình con đường đấu tranh ôn hòa, kiên quyết duy trì chế độ tư hữu và phủ định giá trị của công hữu Ở các nước XHCN (trừ Đông Nam Âu) thì diễn ra một quá trình khác gọi là đổi mới nhận thức về CNXH Làn sóng công khai chối bỏ CNXH diễn ra có phần mạnh mẽ hơn khi người dân phải trải qua một giai đoạn khủng hoảng niềm tin về chế độ, giới trẻ thì tiếp nhận luồng tư tưởng mới và ra sức ca ngợi CNTB, dễ dàng tiếp nhận quan niệm giá trị TBCN, mơ hồ và lạc hướng đối với giá trị XHCN, chạy theo lối sống văn hóa phương Tây và xem nhẹ truyền thống dân tộc Bên cạnh đó, làn sóng này còn được kết hợp với làn sóng bài Nga, lôi kéo đông đảo quần chúng tại các nước vốn từng chịu nhiều chèn
ép, lệ thuộc vào Nga trong quá khứ Nhiều người, vô tình hay cố ý, đã đồng nhất CNXH với chủ nghĩa Đại Nga hoặc xem CNXH chỉ là một dạng thức sinh ra từ chủ nghĩa Đại Nga, đã nô dịch các dân tộc xung quanh và ép buộc các dân tộc đó vào vòng ảnh hưởng của người Nga
Cuối cùng, sự sụp đổ của Liên Xô và hệ thống xã hội chủ nghĩa thế giới về cơ
bản đã làm thay đổi tương quan cấu trúc quyền lực và trật tự quốc tế; hay nói cách
khác, địa – chính trị toàn cầu bắt đầu có sự thay đổi, lợi thế nghiêng về phía CNTB.Xét riêng một mặt nào đó, sự triển khai kinh tế toàn cầu hóa cũng chính là sự triển khai kinh
tế hàng hóa TBCN trên phạm vi toàn cầu, mà chủ nhân của những định dạng này là các tập đoàn xuyên quốc gia, các công ty tư bản Nếu không có sự tan vỡ có tính hệ thống này, toàn cầu hóa, với tư cách là một quá trình/hiện tượng xuyên suốt bắt đầu từ sau năm 1945 vẫn sẽ diễn ra và tác động đến các quốc gia trên thế giới Tuy nhiên, sự sụp
đổ của hệ thống XHCN thế giới đã góp phần đẩy nhanh, phổ quát với tốc độ chóng mặt
và tác động đến mọi nơi của quá trình/hiện tượng đó, kể cả những quốc gia, dân tộc
“bảo thủ” nhất trên hành tinh này
TIỂU KẾT CHƯƠNG 1
Như vậy, ở chương 1 của niên luận này, chúng tôi đã trình bày những vấn đề liên quan đến sự khủng hoảng và sụp đổ của Liên bang Xô Viết Những vấn đề ấy có tác dụng cung cấp một bộ khung về sự hình thành, phát triển, khủng hoảng và sụp đổ của Liên Xô Từ đó, chúng tôi chỉ ra những hậu quả và tác động đến từ sự sụp đổ của nhà nước Xô Viết
Chúng tôi cố gắng cung cấp và làm rõ các vấn đề có liên quan đến sự hình thành và phát triển của Liên bang Xô Viết Cụ thể, chúng tôi chỉ ra sự hình thành của Liên Xô từ những mầm mống vào cuối thế kỉ XIX cho đến khi chính thức được thành lập năm
1922 Từ đó, chúng tôi tiếp tục phân tích sự phát triển của nhà nước Xô Viết từ sau khi thành lập cho đến những năm 70 của thế kỉ XX Thông qua việc phân tích, chúng tôi có thể thấy rằng Liên Xô trong giai đoạn trên đã đạt được nhiều thành tựu trong công cuộc xây dựng CNXH, trở thành một siêu cường công nghiệp hùng mạnh, đứng vị trí thứ hai trên thế giới, là một tấm gương sáng điển hình cho rất nhiều quốc gia và con người
Trang 25Sau đó, chúng tôi phân tích đến sự khủng hoảng, sụp đổ của Liên bang Xô Viết và những hậu quả, tác động do nó mang lại Cụ thể, đến giữa thập niên 70 và đầu thập niên
80 của thế kỉ XX trở đi, Liên bang Xô Viết bắt đầu xuất hiện và trầm trọng hóa những dấu hiệu của sự khủng hoảng trong đời sống kinh tế - xã hội, cần có một sự điều chỉnh toàn diện về mọi mặt nhằm đưa đất nước thoát ra khỏi khủng hoảng và tiếp tục phát triển Cuộc cải tổ được tiến hành từ năm 1985, tuy nhiên, do nhiều yếu tố khác nhau đã dẫn đến việc nhà nước Liên Xô tan rã vào cuối năm 1991 Sự kiện trên đã dẫn đến nhiều
hệ quả tiêu cực và tác động mạnh đến bản thân nước Nga nói riêng và thế giới nói chung trên nhiều phương diện như kinh tế, chính trị, xã hội, trật tự thế giới, tư tưởng, đạo đức, dân tộc, v.v Cho đến tận ngày nay, nhiều hệ quả vẫn còn dư âm, tồn động và gây nên nhiều vấn đề nhạy cảm, buộc các quốc gia hậu Xô Viết phải tìm ra nhiều phương cách nhằm cố gắng hạn chế và khắc phục triệt để
Trang 26CHƯƠNG 2 MỘT SỐ QUAN ĐIỂM CỦA HỌC GIẢ PHƯƠNG
TÂY VỀ SỰ SỤP ĐỔ CỦA LIÊN BANG XÔ VIẾT
Liên bang Xô Viết chính thức cáo chung vào một ngày mùa đông năm 1991 Xét về mặt thời gian, đây là điều chúng ta không cần phải bàn luận Tuy nhiên, về việc lý giải những nguyên nhân dẫn đến sự sụp đổ của Liên Xô, từ đó cho đến nay, đã có vô vàn những lời giải đáp khác nhau, với những bình luận và tranh cãi không ngừng nghỉ Ngay khi nhà nước Xô Viết biến mất khỏi bản đồ thế giới, các quan điểm đánh giá đầu tiên
về sự sụp đổ của nó đã bắt đầu xuất hiện từ nhiều phía: về phía thành phần xã hội (những quan điểm đến từ giới chính trị gia, báo chí, văn nghệ sĩ cho đến thường dân); về phía hoạt động chuyên môn (những quan điểm đến từ các học giả và những người làm công tác hoạch định chính sách); về không gian (những quan điểm đến từ những cá nhân, tổ chức tại Nga và các cá nhân, tổ chức ở nước ngoài) và về lập trường cách mạng (ý thức
hệ, bao gồm các quan điểm của những người marxist, phi marxist và tư sản)
Ngày nay, nhờ vào độ lùi nhất định của lịch sử, các lý giải được đưa ra mang nhiều góc nhìn mới và các phương diện tiếp cận vấn đề cũng trở nên đa dạng hơn Trong đó, các quan điểm đến từ những học giả phương Tây có một vị trí đặc biệt quan trọng Họ
đã chỉ ra và chứng minh được cơ sở cho những quan điểm của mình, liên quan đến các khía cạnh khác nhau, về sự sụp đổ của Liên bang Xô Viết Chúng tôi đã tiến hành khảo sát và hệ thống hóa các quan điểm đó thành bốn nhóm sau:
2.1 Các quan điểm về đảng cầm quyền
Về vấn đề đảng cầm quyền, đa phần các học giả phương Tây được đề cập trong bài cho rằng nền tảng chính trị, nhất là Đảng Cộng sản Liên Xô, đã tồn tại nhiều bất cập,
kể từ những mầm mống đầu tiên trong tư tưởng cách mạng của những người Bolshevik, hay khi chúng thoát thai trong hình hài của một nước Nga sau Cách mạng tháng Mười
và rồi trải qua các biến động mạnh mẽ từ giữa những năm 50 của thế kỉ XX Nó đóng
vai trò quyết định trong việc dẫn đến khủng hoảng và sụp đổ của đất nước Liên Xô
Xét theo mặt khái niệm, đảng cầm quyền là thuật ngữ được sử dụng trong khoa học chính trị, dùng để chỉ một đảng chính trị đại diện cho giai cấp đang nắm giữ và lãnh đạo chính quyền để tổ chức và quản lý đất nước thực hiện lợi ích của giai cấp thống trị29 Ngoài ra, đảng cầm quyền cũng có thể được hiểu là khái niệm nhằm chỉ vị thế, tư cách chính trị cầm quyền của Đảng chính trị sau khi giành được chính quyền nhà nước, thực hiện sự lãnh đạo chủ yếu bằng quyền lực của bộ máy công quyền để phục vụ cho lợi ích của nhân dân30
Trong đó, xét theo nghĩa rộng (cầm quyền tuyệt đối, nắm được toàn bộ nhà nước), đảng cầm quyền là sự lãnh đạo toàn diện và tuyệt đối của đảng đối với toàn xã hội, làm
29 Trương Ngọc Nam (2019) Nội dung, phương thức cầm quyền của Đảng: Một số vấn đề lý luận và thực tiễn
Cổng thông tin điện tử Bộ Nội vụ, đăng ngày 18/11/2019 Truy cập ngày 04/10/2021
30 Dương Xuân Ngọc (2020) Đảng lãnh đạo, đảng cầm quyền: quan niệm và quan hệ Trang thông tin hội đồng
lý luận Trung ương, đăng ngày 17/04/2020 Truy cập ngày 04/10/2021
Trang 27cho xã hội vận động theo quỹ đạo mà Đảng chính trị mong muốn Ngược lại, xét theo nghĩa hẹp (cầm quyền không tuyệt đối, chỉ nắm được cơ quan hành pháp), đảng cầm quyền là đảng chính trị trực tiếp nắm giữ được cơ quan hành pháp để duy trì và áp đặt
ý đồ chính trị của đảng đối với xã hội Khái niệm này được dùng ở các nước TBCN và các nước XHCN Đối với các nước TBCN, khái niệm này dùng để chỉ một đảng hay một liên minh chính trị gồm nhiều đảng đã nắm được chính quyền, điều hành đất nước trong nhiệm kỳ hiện tại của quốc hội, nhiệm kỳ của tổng thống Còn với các nước XHCN, khái niệm này được dùng trong thời kỳ từ khi đảng cộng sản đã giành được chính quyền, nắm chính quyền, lãnh đạo nhân dân thực hiện nhiệm vụ, mục tiêu chính trị Như vậy, đảng cầm quyền là đảng giành chiến thắng trong các cuộc bầu cử dân chủ
và cạnh tranh Từ đó, đảng thành lập chính phủ đưa ra các quyết định chính sách đại diện cho nhân dân
Cụ thể hơn, các vấn đề liên quan đảng cầm quyền có thể được chia thành bốn khía cạnh, bao gồm: công tác chính trị – tư tưởng; công tác tổ chức – hoạt động; công tác cán bộ và công tác đối ngoại
• Công tác chính trị – tư tưởng
Với công tác chính trị – tư tưởng, hay còn được gọi là các vấn đề lý luận về CNXH
và đường lối xây dựng CNXH, đảng cầm quyền xem đó là cơ sở quan trọng để xác định lập trường, thái độ cách mạng của mình Trong đó, lý luận về CNXH đóng một vai trò
vô cùng quan trọng đối với đảng cộng sản, như Lenin từng chỉ ra rằng, không có lý luận thì đảng sẽ mất đi quyền sinh tồn, hơn nữa sớm muộn sẽ không thể tránh khỏi sự phá sản về chính trị hoặc là “không có lý luận cách mạng, sẽ không có chính đảng xã hội chủ nghĩa vững mạnh”31 Một khi đã có nền tảng lý luận, đảng cộng sản cần phải cụ thể hóa lý thuyết đó thành hiện thực thông qua các kế hoạch hay đường lối xây dựng CNXH tại quốc gia của mình Đảng Cộng sản Liên Xô cũng không nằm ngoại lệ
Tuy nhiên, trong quá trình nhận thức lý luận về CNXH, Đảng Cộng sản Liên Xô đã vấp phải một số hạn chế nhất định Xuyên suốt quá trình lãnh đạo đảng, từ Lenin cho đến Gorbachev, mỗi một thế hệ lãnh tụ lại vạch ra những đánh giá về thực trạng xây dựng CNXH và CNCS tại Liên Xô rất khác nhau Điều này đã dẫn đến sự rối loạn và hoang mang, tác động tiêu cực đến suy nghĩ và niềm tin của đại bộ phận người dân Càng về sau, những từ ngữ trên chỉ còn mang tính biểu tượng khi được các lãnh tụ sử dụng trong việc phát biểu những báo cáo chính trị Trong đó, nghiêm trọng nhất, học giả Martin McCauley32 cho rằng, vào thập niên 1960, Khrushchev đã ngấm ngầm làm xói mòn nhận thức về cải cách, CNXH và CNCS Hệ quả là, từ thời điểm ấy trở về sau, các thuật ngữ này chỉ còn mang tính hình thức Đến thời Gorbachev, chúng trở thành những từ vựng được dùng trong giới lãnh đạo mà thôi
31 V.I Lenin (1975) Toàn tập, tập 6 Moskva: Nxb Tiến bộ, tr 30
32 Martin McCauley là giảng viên chính trị cao cấp thuộc trường Slanovic and East European Studies, Đại học
London, Anh Quốc Đồng thời, ông cũng là một trong những chuyên gia hàng đầu nghiên cứu về thời đại Xô Viết
Trang 28Không chỉ vậy, đảng cộng sản còn mắc phải một số sai lầm trong đường lối phát triển đất nước Tác giả Zbigniew Brzezinski33 trong tác phẩm THE GRAND FAILURE:
The Birth and Death of Communism in the Twentieth Century34 cho rằng học thuyết
“Chủ nghĩa xã hội trong một nước” là mệnh đề then chốt của Stalin nhằm thực hiện một
sự đập phá tan tành xã hội chưa từng thấy của một bộ máy nhà nước Một nhóm lãnh đạo của đảng cộng sản có quyền lực tuyệt đối tự đảm nhận nhiệm vụ xây dựng lại xã hội, tiêu diệt phần lớn giai cấp nông dân và giai cấp trung lưu, cưỡng bức di dân hàng triệu người và trong quá trình đó đã mở rộng phạm vi quyền lực của nhà nước đến một mức độ xưa nay chưa gì so sánh nổi
Ông cũng nêu tiếp, di sản của chính Stalin là sự tâng bốc lên tận mây xanh bạo lực được Nhà nước đỡ đầu chống lại chính cái xã hội mà của nhà nước đó được dựng nên,
sự hiện lên rõ nét của một nhà nước cảnh sát bóp nghẹt sự sáng tạo xã hội, bóp chết từ trong trứng nước bất cứ biểu hiện nào của đổi mới trí tuệ, thành lập một hệ thống đặc quyền theo đẳng cấp, tất cả đều nằm đặt dưới sự kiểm soát của mô hình chính trị tập trung Phần lớn di sản đó kéo quá dài không chỉ trong thời kỳ Stalin, mà còn tồn tại ngay cả trong những cuộc tấn công dữ dội vào những di sản của Stalin do Khrushchev phát động Kết quả là, chúng không chỉ làm cho mô hình Xô Viết mất tín nhiệm trên phạm vi rộng lớn của thế giới mà sau thời Khrushchev còn thúc đẩy làm cho những khuyết tật tai hại đó có cơ hội di căn cho những giai đoạn sau, đặc biệt là hai mươi năm tiếp theo với tình hình chính trị - xã hội trì trệ của thời kỳ Brezhnev Từ đó, Brzezinski
xem những điều đó đã làm tình hình thế giới trở nên căng thẳng hơn, góp phần to lớn dẫn đến hiện trạng đối đầu trong Chiến tranh Lạnh35
Không dừng lại ở đó, ông cũng cho rằng, việc Nhà nước đàn áp các lực lượng chống đối dựa vào hành động khủng bố cũng thúc đẩy sự cộng sinh nhanh chóng giữa đảng cầm quyền và các lực lượng công an mật (mà Lenin đã thành lập gần như tức thời sau khi cầm quyền) Như vậy, việc khủng bố hàng loạt sớm trở thành phương sách hành chính để giải quyết mọi vấn đề của Nhà nước Nó sẽ sản sinh ra một chế độ cai trị tách biệt với xã hội, chủ yếu là một sự câu kết lẫn nhau ở cấp độ chính quyền và kết luận rằng một hệ thống chính trị sẽ không thể chung sống mãi với một xã hội hoạt động rộng rãi trên cơ sở một sự tự phát năng động Một cuộc chung sống như thế hoặc là sẽ làm thối nát chế độ chính trị, hoặc là thúc đẩy một số đụng độ giữa hai bên, bao gồm xã hội bên phía dưới và tầng lớp cầm quyền bên trên36
33 Zbigniew Brzezinski là nhà khoa học chính trị, chiến lược gia địa chính trị, chính khách người Mĩ gốc Ba Lan
Ông đã cố vấn cho tổng thống Lyndon B Johnson (1966 – 1968) và giữ chức Cố vấn An ninh Quốc gia Hoa Kì cho tổng thống Jimmy Carter (1977 – 1981)
34 Tạm dịch: Thất Bại Lớn - Sự ra đời và cái chết của chủ nghĩa cộng sản trong thế kỷ XX
35 Zbigniew Brzezinski (1992) Thất Bại Lớn - Sự ra đời và cái chết của chủ nghĩa cộng sản trong thế kỷ XX Sđd,
tr 15, 22
36 Zbigniew Brzezinski (1992) Thất Bại Lớn - Sự ra đời và cái chết của chủ nghĩa cộng sản trong thế kỷ XX Hà
Nội: Viện Thông tin Khoa học xã hội Hà Nội, tr 12
Trang 29Trong khi tiến hành công cuộc cải tổ, các học giả chỉ ra rằng, bản thân giới lãnh đạo tin vào quyền lực tuyệt đối của họ và họ có thể đạt được mọi mục tiêu mong muốn Đảng Cộng sản Liên Xô tin rằng mọi người dân đều chấp nhận nhu cầu cải cách và bản chất của nó đã khiến giới lãnh đạo tự dối mình để tin rằng cải cách có thể nhanh chóng đạt được và giải quyết được hết thảy mọi vấn đề đang nổi cộm trong nhiều năm qua của đất nước Điều này dẫn tới niềm tin là vẫn có thể đồng thời đạt được các mục tiêu trái ngược nhau37 Tuy nhiên, thực tế đã cho thấy, các chỉ đạo về cải cách đã không được thực hiện triệt để Họ đưa ra một so sánh các cơ sở đảng ở Liên Xô và Trung Quốc trước khi tiến hành công cuộc đổi mới Ông nói rằng, không giống như Trung Quốc, nơi Cách mạng Văn hóa những năm 1960 đã phá vỡ nghiêm trọng và làm suy yếu cấu trúc của đảng cộng sản ở các khu vực, các cơ quan chức năng địa phương ở Liên Xô ngày càng bảo thủ và thậm chí còn phát triển một biện pháp đòi độc lập khỏi các cơ quan trung ương đảng và nhà nước vào những năm 1970 – 1980 Tất cả những điều này có nghĩa
là tiềm năng phản kháng đối với những chỉ đạo cải cách nghiêm túc từ trung ương ở Liên Xô sẽ lớn hơn rất nhiều38
Một thời gian ngắn sau khi Gorbachev đưa ra những chính sách mới trong xã hội,
đặc biệt là cởi mở (glasnost), Đảng Cộng sản Liên Xô cũng bắt đầu đánh mất dần vai
trò lãnh đạo của mình Việc cải tổ đảng và thanh lọc những cán bộ, đảng viên tham nhũng bắt đầu xuất hiện tác dụng phụ là kỷ luật bị nới lỏng Glasnost đã vượt ra ngoài những lời chỉ trích, phản biện xã hội lành mạnh để thách thức các nguyên tắc cơ bản của nhà nước Xô Viết Mỗi nước cộng hòa Xô Viết quyết tâm làm những gì tốt nhất cho mình, những xung đột sắc tộc nổ ra làm suy yếu sự liên kết trong Liên bang và làm suy yếu sự lãnh đạo của đảng cộng sản Thực ra, về mặt khách quan, McCauley nhận định một số chính sách cũng sẽ mang lại lợi ích cho đảng cộng sản; tuy nhiên, do phương pháp thực hiện sai lầm cộng với khoảng thời gian ngắn ngủi lúc bấy giờ đã không thể giúp cho Gorbachev đạt được ý nguyện Chính Gorbachev đã làm suy yếu Đảng Cộng sản Liên Xô đến bước đường cùng, không thể hồi phục
Quan trọng hơn, đảng cộng sản cũng phạm phải nhiều sai lầm trong việc đánh giá, nhìn nhận lịch sử xây dựng đảng, nhà nước, lãnh đạo, v.v Các đời lãnh đạo của nhà nước Xô Viết luôn luôn tiến hành việc xét lại và phủ định gần như sạch trơn những thành tựu của đội ngũ người tiền nhiệm nhằm mục đích đề cao những thành quả của bản thân mình lên mức độ tối đa Điều này đã dẫn đến tình trạng hoang mang, dao động
ở trong lòng xã hội cũng như đối với đội ngũ cán bộ, đảng viên Bởi vì, những điều được xem là “chính nghĩa” mà họ đã dành cả một giai đoạn cống hiến, đóng góp và xây dựng đến ngày nay lại bị xem là “phi nghĩa”, trong khi bộ máy lãnh đạo thời kỳ mới lại không thể mang đến những thành tựu tốt hơn thời kỳ cũ mà họ đã và đang phủ định Dần dần, họ trở nên bất bình, mất lòng tin vào đội ngũ lãnh đạo đương thời
37 Martin McCauley (2009) Gorbachev Sđd, tr 117, 119
38 Robert W Strayer (1998) Why Did the Soviet Union Collapse?: Understanding Historical Change Op cit, p
16
Trang 30vấn đề về tổ chức của phong trào Dân chủ Xã hội Nga, cũng đã phân tích và chỉ ra một
số điểm hạn chế của chúng Trong đó, bà cho rằng việc thực hiện nguyên tắc tập trung dân chủ này sẽ “biến một phong trào lao động non trẻ thành nô dịch của một nhóm tinh hoa trí thức khao khát quyền lực bằng cái lạt trói quan liêu này, cái sẽ đông cứng phong trào và biến nó thành một cái máy do Uỷ ban Trung ương điều khiển”41
Đúng như những phân tích của Rosa, Đảng Cộng sản Liên Xô đã vướng phải sai lầm trong việc duy trì thể chế độc đảng tập trung tối đa quyền lực Từ đây, nó đã dẫn đến sai lầm trong việc cho phép sự lãnh đạo của đảng lẫn lộn với chức năng của cơ quan quyền lực nhà nước, cơ quan hành chính địa phương và làm cho nguyên tắc tập trung dân chủ bị lợi dụng, phá hoại một cách thường xuyên và liên tục Theo đó, với tính chất tập quyền cao độ của đảng cộng sản, quá trình tập thể lãnh đạo cũng dần trở nên suy yếu Việc phát triển tư tưởng trong đảng cũng yếu kém Trong nhiều khía cạnh, hệ tư tưởng của chế độ trở nên tự mãn, hình thức hóa và chỉ còn tuân theo trên nghi thức Kết quả là, hệ tư tưởng dần rơi vào trạng thái bảo thủ và đã đẩy lùi rất nhiều điều có lợi cho Đảng Cộng sản Liên Xô Nhiều nhà lãnh đạo cấp cao nhất đã không đủ cảnh giác về ý nghĩa và sự nguy hiểm của chủ nghĩa cơ hội, tạo điều kiện cho các thành phần cơ hội lọt vào bên trong đảng
Đặc biệt, với sự kiện tháng 07/1988, Đảng Cộng sản Liên Xô ra tuyên bố về việc từ
bỏ đấu tranh giai cấp Các học giả cho rằng, đó là tuyên bố dứt khoát đăng trên báo đảng rằng Liên bang Xô Viết đã từ bỏ nguyên lý quan trọng nhất của chủ nghĩa Marx – Lenin
39 Lý Thận Minh, Trần Chi Hoa (Chủ biên, Phó Chủ biên, 2017) Tính trước nguy cơ - Suy ngẫm sau 20 năm
Trang 31Chính điều này sau đó dẫn đến sự hỗn loạn bên trong bộ máy đảng42 Đảng Cộng sản Liên Xô tổ chức bầu cử Đại hội Đại biểu Nhân dân vào tháng 03/1989 đã làm thay đổi hẳn nền chính trị đương thời Việc đảng cộng sản mất dần quyền lãnh đạo từ năm 1989, được tác giả đánh giá, là một lời cảnh báo rõ ràng rằng: nếu Đảng không tham gia chính sách perestroika và bản thân công cuộc cải cách không bắt kịp với xu thế thay đổi của
xã hội, thì sẽ không còn là một đảng tiên phong nữa và phải cố gắng không để tuột mất quyền lãnh đạo Những người Bolshevik giành thắng lợi năm 1917 là do họ cấp tiến hơn đối thủ của mình Nguy cơ hiện nay là những người khác sẽ giành được sự ủng hộ của nhân dân bởi họ cấp tiến hơn Đảng43 Các nhà lãnh đạo của đảng cộng sản vốn chỉ quen giải quyết các vấn đề kinh tế trở nên lúng túng khi họ phải tham gia giải quyết các vấn đề về chính trị dân chủ Thay vì đóng vai trò tiên phong lãnh đạo chính trị của đất nước, với tâm lý do dự, đảng đã đẩy gánh nặng lên vai chính quyền mới, còn chính quyền mới lại đang trong giai đoạn điều chỉnh ban đầu Cộng với sự kiện loại bỏ điều 6 trong Hiến pháp Liên Xô vào năm 1990, những điều trên đã dẫn đến tình trạng vai trò của đảng cộng sản ngày càng trở nên thui chột, tạo tiền đề để các lực lượng chống đảng nổi dậy giành lấy vai trò lãnh đạo, lật đổ Đảng Cộng sản Liên Xô
• Công tác cán bộ
Công tác cán bộ tại Liên Xô có nhiều khiếm khuyết, dẫn đến đội ngũ cán bộ rơi vào tình trạng tham nhũng, quan liêu, kiêu ngạo, v.v Tựu trung lại, đó chính là tình trạng đội ngũ cán bộ rời vào tha hóa, biến chất Mà theo đó, nguyên nhân của tình trạng tha hóa bao gồm: công tác tuyển chọn; công tác kiểm tra giám sát; công tác khen thưởng,
kỷ luật tồn tại nhiều bất cập Từ đó, cơ chế kiểm soát quyền lực còn nhiều thiếu sót, thậm chí là sai phạm
Theo Brzezinski44, vấn đề này đã bắt đầu xuất hiện trong những năm 1920 Ông cho rằng, việc tập trung quyền lực chính trị vào tay một số người và hành động của nhà nước dựa trên tính chất khủng bố đã gây ra nhiều sai phạm trong công tác lãnh đạo Theo đó, sự tập trung mọi quyền lực chính trị vào một đảng tiên phong mà chính nó ngày càng bị quan liêu hóa, với mục đích nhằm kiểm soát toàn bộ cơ cấu xã hội thông
qua hệ thống nhân sự lan tràn khắp nơi mà ông gọi là nomenklatura (tạm dịch: “tầng
lớp đặc quyền”), tức là một hệ thống kiểm soát chính trị chặt chẽ có cấp bậc từ trên xuống dưới đối với mọi chức vụ trong các cơ quan đảng
Vào nửa cuối thập niên 1960 trở về sau, các học giả cho biết, hệ thống cán bộ ngày càng phân tầng dầy đặc hơn, do đó, tình trạng quan liêu, tha hóa và biến chất cũng nhờ thế mà phức tạp, khó giải quyết hơn Những ý tưởng cải cách, đổi mới trong việc phát triển đảng và đất nước bị dập tắt bởi số đông cán bộ bảo thủ, sợ mất quyền lợi Hai nhà
42 Martin McCauley (2009) Gorbachev Sđd, tr 169
43 Martin McCauley (2009) Gorbachev Sđd, tr 182
44 Zbigniew Brzezinski là nhà khoa học chính trị, chiến lược gia địa chính trị, chính khách người Mĩ gốc Ba Lan
Ông đã cố vấn cho tổng thống Lyndon B Johnson (1966 – 1968) và giữ chức Cố vấn An ninh Quốc gia Hoa Kì cho tổng thống Jimmy Carter (1977 – 1981)
Trang 32nghiên cứu Richard Sakwa45 và Peter Kenez46 cùng cho biết, bất kỳ khả năng cải cách nào của các quốc gia trong khối XHCN nhằm đưa đất nước ra khỏi những khủng hoảng trước mắt đã bị kìm hãm ngay từ sớm và liên tục trong suốt những năm 1950 và 1960 Sau cuộc đàn áp tàn bạo ở Hungary (1956) và Tiệp Khắc (1968), không có cơ chế phản hồi nào từ phía xã hội bên dưới tồn tại trong đó giúp lãnh đạo có thể thấu hiểu các vấn
đề xã hội, chính trị và kinh tế Điện Kremlin rơi vào tình trạng thiếu hiểu biết về thực
tế cuộc sống ở Liên Xô47
Về công tác bổ nhiệm cán bộ, theo J Grenville48, mặc dù bản thân họ, trên lý thuyết, được cho là lựa chọn một cách dân chủ từ cơ sở trở lên Tuy nhiên, trên thực tế, điều ngược lại mới là chính xác Họ được bổ nhiệm từ trên xuống, ngoại trừ vị trí lãnh đạo của Tổng Bí thư Đảng Cộng sản Liên Xô, người được chọn trong số các ủy viên Bộ Chính trị, mặc dù chính thức được Bộ Chính trị đề nghị và Ban Chấp hành Trung ương chấp thuận49 Chính bản thân Gorbachev, vị Tổng Bí thư tương lai của Liên Xô đã từng đánh giá về nền chính trị nước nhà thập niên 1970 rằng không thể làm được điều gì tốt nếu người ta chấp hành tất cả các luật lệ và quy định Bộ máy lãnh đạo ngày càng trở nên bảo thủ Ngay trật tự chỗ ngồi trong các cuộc họp của Bộ Chính trị cũng được giám sát rất chặt chẽ và nghiêm ngặt50
Ngoài ra, một số học giả cũng chỉ ra rằng công tác cán bộ của Đảng Cộng sản Liên
Xô vào nửa sau thập niên 1970 không thể ngăn cản chủ nghĩa cơ hội của Gorbachev trong khi nó đã cản trở chủ nghĩa cơ hội của những người đi trước ông Họ đặt câu hỏi rằng, tại sao đảng ít có khả năng đối phó với Gorbachev năm 1987 và 1988 hơn là với Khrushchev năm 1964, hay Bukharin năm 1929? Họ đã đưa ra lý giải cho điều này, một phần vì đảng đã thiếu cảnh giác và ý chí để trấn áp sự tham nhũng bên trong các cơ quan đảng và chính quyền Đảng trở nên quá lỏng lẻo về số lượng thành viên của mình,
mở cửa quá rộng rãi, đặc biệt là đối với những người không phải là công nhân Chế độ tập trung dân chủ đã trở nên “xuống cấp” rất nhiều Việc phê bình và tự phê bình trong đảng cũng ít dần Mối quan hệ ràng buộc giữa Đảng và giai cấp công nhân thông qua tổ chức công đoàn, các Xô viết và các cơ chế khác trở nên lỏng lẻo
• Công tác đối ngoại
Đối với công tác đối ngoại của đảng cộng sản, khía cạnh này bao gồm bốn lĩnh vực: đảng với nhà nước; đảng với nhân dân; đảng với các đảng cộng sản khác, với phong
45 Richard Sakwa là Giáo sư về chính trị Nga và Châu Âu tại Đại học Kent (Anh Quốc) Ông đã viết nhiều sách
nghiên cứu về chính trị thời kỳ cộng sản và hậu cộng sản ở Nga, Trung và Đông Âu
46 Peter Kenez là một nhà sử học người Mĩ gốc Hungary, chuyên về lịch sử và chính trị Nga và Đông Âu Ông
đã giảng dạy tại Đại học California (Hoa Kì)
47 Jean-Baptiste Tai-Sheng Jacquet (2013) What Explains the Collapse of the USSR? Id, tr 03
48 J Grenville là Giáo sư ngành Lịch sử Quốc tế tại Đại học Leeds (1966 - 1969), Giáo sư và Trưởng Khoa Lịch
sử Hiện đại tại Đại học Birmingham (1969 – 1994) Sau đó, ông làm việc tại Đại học Hamburg và Viện Leo Baeck, Anh Quốc
49 J.A.S Grenville (2005) A History of the World From the 20th to the 21st century London: Taylor & Francis
e-Library, p 798
50 Martin McCauley (2009) Gorbachev Hà Nội: Nxb Công an Nhân dân, tr 97
Trang 33trào công nhân, phong trào cánh tả, phong trào giải phóng dân tộc; đảng với các nước TBCN
Đầu tiên, sự tương tác giữa đảng với nhà nước được hiểu là các chính sách, chủ trương, tư tưởng chỉ đạo của đảng trong mối quan hệ với nhà nước Dù đảng đưa ra những chính sách chỉ mang tính định hướng đối với các thể chế nhà nước nhưng trên thực tế, đảng thường lấn át vào công việc của nhà nước Đảng Cộng sản Liên Xô càng ngày càng tập trung quyền lực vào tay mình, mà một trong những biểu hiện rõ nhất cho điều này là sự can thiệp (thậm chí là thô bạo) đến thẩm quyền của các cơ quan quyền lực nhà nước Tổ chức thực sự có quyền lập pháp cao nhất là Bộ Chính trị Trung ương Đảng Cộng sản Liên Xô Ở địa phương, chính quyền Xô Viết các cấp cũng cơ bản không thể giám sát cơ quan hành chính và cơ quan tư pháp các cấp, những cơ quan này đều chỉ phục tùng cơ quan cấp trên của mình, đặc biệt là cấp ủy đảng liên quan
Chính vì vậy, trong thời kỳ Cải tổ, thời điểm mà Gorbachev chủ trương tách rời sự can thiệp và lãnh đạo của đảng cộng sản ra khỏi các thể chế nhà nước Xô Viết hiện hữu
đã gây ra sự hỗn loạn trong việc quản lý quốc gia Bởi vì, đảng cộng sản lúc bấy giờ được xem như là hệ thống khung xương của một “cơ thể người” mang tên gọi là Liên bang Xô Viết Nó không thể tách rời và trong một sớm một chiều có thể khiến cho “cơ thể người” hoạt động một cách bình thường Cho nên, việc thúc đẩy quá nhanh tiến trình phân tách ảnh hưởng trên đã làm cho đảng cộng sản mất kiểm soát, không thể quản
lý được các cơ quan nhà nước Song, bản thân các cơ quan này cũng chưa có kinh nghiệm trong việc tự điều hành mà không thông qua đảng cộng sản Từ đây, nó kéo theo sự rối loạn và trì trệ trong việc giải quyết các công việc chung của Liên bang
Tiếp đến, đối ngoại giữa đảng với nhân dân được triển khai nhằm tìm kiến sự đồng thuận và kêu gọi sự ủng hộ của người dân trước các chính sách, chủ trương của đảng, thông qua tuyên truyền, vận động, lấy ý kiến Tuy nhiên, Đảng Cộng sản Liên Xô đã dần trở nên hình thức hóa công việc này Đến thời kỳ Cải tổ, Gorbachev đưa ra chính sách đề cao “nhân tố con người” là chủ thể của mọi hoạt động Ông đi đến những khu vực có đông cộng đồng công nhân sinh sống nhằm tuyên truyền cho chính sách của mình và tranh thủ sự ủng hộ của họ Tuy nhiên, theo như một số nhà nghiên cứu đánh giá, Gorbachev đã không giải quyết thỏa đáng những vấn đề khó khăn bấy lâu nay mà
họ gặp phải Ông bỏ lỡ cơ hội tạo dựng chất kết dính cho chính sách mới được gọi là
“nhân tố con người” ngay từ khi nó được bắt đầu51 Điều này sẽ dẫn đến hệ lụy về sau cho chính bản thân ông
Đánh giá cùng vấn đề được nêu ra, Brzezinski cũng có ý kiến riêng của mình Ông cho rằng, mặc dù toàn thể xã hội đã được chính trị hóa nhưng hoạt động chính trị thật
sự thì chỉ đóng khung trong giới chóp bu cao nhất Do đó, hệ thống được bảo vệ trước những thách thức của sự thay đổi và trì trệ là cái giá không thể tránh khỏi của một hệ thống tự tồn tại mãi mãi bằng cưỡng bức Ngay từ những năm sau cùng của thời đại
51 Martin McCauley (2009) Gorbachev Sđd, tr 113
Trang 34Brezhnev, một cảm giác bất an đã phát triển trong một bộ phận của tầng lớp Xô Viết ưu
tú Một nỗi lo âu về suy thoái, về sự mục nát của hệ tư tưởng, về sự cằn cỗi của văn hóa
đã nảy nở Nó không những bắt đầu thấm vào giới trí thức mà còn lây sang một số thành viên của giới lãnh đạo chính trị52
Đối với các đảng cộng sản khác, với phong trào công nhân, phong trào cánh tả, phong trào giải phóng dân tộc, đối ngoại của đảng thể hiện ở chỗ các chính sách, chủ trương, thái độ của đảng trong việc đối xử với các chủ thể nêu trên Đặc biệt, có ý kiến cho rằng, đường lối đối ngoại sai lầm của Liên Xô trong giai đoạn Cải tổ đối với các nước thuộc khối Đông Âu đã tác động không nhỏ đến sự sụp đổ của nhà nước Xô Viết Tác giả Victor Sebestyen53 trong quyển sách Revolution 1989 – The fall of the Soviet
Âu năm 1987 Gorbachev nói rõ rằng ông sẽ không can thiệp vào tình hình nội bộ ở các nước này Học giả này cho biết: Chỉ trong một đêm, Liên Xô đã thay đổi toàn bộ “đế quốc xã hội chủ nghĩa” hay đã “giết nó chết”, như lời một quan chức Đông Âu có mặt trong phiên họp nhận định55 Cụ thể hơn, một nhà nghiên cứu khác là Daniel Klenbort56
giải thích các chính sách của perestroika và glasnost mang đến cho mọi người trong
khối Xô Viết cảm giác tự do, và khiến họ nhận ra rằng lý tưởng cộng sản không thực
sự khả thi Điều này làm cho các cuộc cách mạng ở Đông Âu trở nên dễ dàng hơn vì họ không bị Liên Xô can thiệp và đàn áp, cũng như khiến người dân cảm thấy cần phải làm một điều gì đó - họ có thể đứng lên chống Liên Xô và đòi lại tự do Tất cả những diễn biến trên đã làm cho mô hình cộng sản của Liên Xô bị mất uy tín hoàn toàn và Gorbachev không còn lựa chọn nào khác ngoài việc để người dân Đông Âu thực hiện ý nguyện của họ, đánh dấu bằng câu chuyện các chính phủ cộng sản ở Đông Âu đều bị lật đổ trong năm 1989 Nghiêm trọng hơn, các học giả đã xem đây là một sai lầm lớn Bởi vì, nếu Ba Lan có thể độc lập thì tại sao nước cộng hòa Xô Viết Litva và nước cộng hòa Xô Viết Georgia lại không thể đứng lên đấu tranh đòi tách ra khỏi Liên Xô? Một khi CNCS sụp đổ ở Đông Âu, kết cục ở Liên Xô sẽ trở thành một cuộc nội chiến dẫn đến tan rã57
Tác giả J Grenville trong quyển A History of the World From the 20th to the 21st
century58 cũng nhận xét rằng: Gorbachev không phải là một nhà dân chủ theo cách hiểu của phương Tây hay một người chuyển đổi sang quan điểm rằng CNTB sẽ giải cứu Liên
52 Zbigniew Brzezinski (1992) Thất Bại Lớn - Sự ra đời và cái chết của chủ nghĩa cộng sản trong thế kỷ XX Sđd,
tr 23
53 Victor Sebestyen là một nhà báo người Anh gốc Hungary Ông đã làm việc cho nhiều tờ báo của Anh bao gồm:
The Times, Daily Mail và London Evening Standard Ông cũng đã viết cho nhiều ấn phẩm của Mĩ, bao gồm: The New York Times và là biên tập viên của Newsweek
54 Tạm dịch: Cuộc cách mạng 1989 – Sự sụp đổ của Đế chế Xô Viết
55 Victor Sebestyen (2009) Revolution 1989 – The fall of the Soviet Empire New York: Randon House, Inc., p
355
56 Daniel Klenbort là Giáo sư khoa Lịch sử tại Đại học Morehouse (Morehouse) ở Atlanta, Hoa Kì
57 Arthur Jeannerot (2014) The Quiet Collapse of the Soviet Union Trang web E-International Relations, đăng
ngày 24/05/2014 Truy cập ngày 31/08/2021, tr 04
58 Tạm dịch: Một lịch sử của thế giới từ thế kỉ XX đến thế kỉ XXI
Trang 35Xô khỏi sự lạc hậu về kinh tế Ông là một nhà cải cách XHCN, được truyền cảm hứng
từ những ý niệm phù hợp với chủ nghĩa lý tưởng phương Tây là niềm tin vào các quyền
tự do của cá nhân Nhưng ông không định dẫn dắt Liên Xô đi theo con đường mà Tiệp Khắc hay Ba Lan đang đi theo Cũng theo Grenville, Gorbachev đồng ý với những nhận xét của Brzezinski về những năm lãng phí, về sự thiếu năng suất của lao động Liên Xô
và về việc sử dụng tài nguyên không hiệu quả, nhưng đối với Gorbachev thì những điều này không phải là cái chết của CNCS mà là nhu cầu đổi mới, vì perestroika và glasnost
là động cơ của sự thay đổi Gorbachev cho rằng CNCS đơn giản là chưa phát huy hết tiềm năng của nó Niềm tin này đã ngăn cản Gorbachev tìm cách cải tổ nền kinh tế Liên
Xô và nền chính trị Xô Viết về cơ bản khi ông chuyển đổi các mối quan hệ bên ngoài của đất nước59 Sebestyen cũng đồng tình với quan điểm của Grenville Ông chỉ bổ sung thêm một vài chi tiết nhỏ, cho rằng trên tất cả, Gorbachev thật lòng tin rằng nếu được chọn lựa, nhân dân trong khối thịnh vượng chung XHCN sẽ chọn tiếp tục ở lại với thể chế quen thuộc và ở trong quỹ đạo Liên Xô Gorbachev không nghĩ rằng ông sẽ phải hứng chịu những rủi ro lớn lao khi cho nới lỏng bàn tay kiểm soát vốn thường được xiết chặt của Liên Xô60
Cuối cùng, đối với các nước TBCN, đối ngoại của đảng được biểu hiện thông qua các chính sách, cho biết thái độ với các nước TBCN đang tồn tại Trong suốt giai đoạn trước Cải tổ, Liên Xô chủ yếu chủ trương chính sách thù địch với các nước TBCN phương Tây Đến thời kỳ Cải tổ, bản thân Đảng Cộng sản Liên Xô cũng mang nhiều nhược điểm khó có thể xoay chuyển trong việc thiết lập các chính sách trong thời kỳ mới Lý giải cho điều này, một số học giả cho rằng, bản thân các đảng viên Đảng Cộng sản Liên Xô, nhất là nhiều nhân vật trong Bộ Chính trị và cố vấn hỗ trợ cho Tổng Bí thư, ngoại trừ Yakovlev, là không ai có kinh nghiệm công tác thực tế ở một nước phương Tây61 Đây chính là điểm hạn chế cực kỳ quan trọng khi xem xét tiến trình cải cách chính trị ở Liên Xô Từ đây, nó dẫn đến tình trạng mất phương hướng, không biết có thể đưa đảng đi theo con đường phát triển theo hướng như thế nào để đất nước vừa có thể bình thường hóa với các nước TBCN, đồng thời vẫn tiếp tục đẩy mạnh công cuộc cải tổ ở trong nước
2.2 Các quan điểm về nền tảng kinh tế - xã hội
Trên khía cạnh kinh tế - xã hội, nhiều nhà nghiên cứu phương Tây chỉ ra rằng sự
phát triển của hạ tầng cơ sở và mâu thuẫn giữa chúng với thượng tầng kiến trúc đã góp
một phần đáng kể dẫn đến sự khủng hoảng và sụp đổ của nhà nước Xô Viết
Về cơ bản, nền tảng kinh tế - xã hội là các vấn đề chung, mang tính biện chứng giữa kinh tế và xã hội Mặt khác, đây cũng có thể được hiểu theo nghĩa là toàn bộ cơ sở hạ tầng và sự chuyển biến của hạ tầng cơ sở Cả hai cách giải thích đều có điểm chung là không nên hiểu cụm từ này như một thành tố kinh tế hoặc xã hội riêng biệt hay chỉ là
59 J.A.S Grenville (2005) A History of the World From the 20th to the 21st century Op cit, p 797, 798
60 Victor Sebestyen (2009) Revolution 1989 – The fall of the Soviet Empire Op cit, p 356
61 Martin McCauley (2009) Gorbachev Sđd, tr 103
Trang 36một phép cộng cơ học của cả hai thành tố ấy Theo đó, sự chuyển biến của hạ tầng cơ
sở ở đây nên được hiểu là sự phát triển của cách mạng khoa học – công nghệ Điều này
đã dẫn đến sự chuyển biến về lực lượng sản xuất (kinh tế, xã hội), thông qua đó thúc đẩy sự chuyển biến của toàn bộ cấu trúc của hạ tầng cơ sở
Cơ sở hạ tầng nào sinh ra kiến trúc thượng tầng ấy Giai cấp nào chiếm địa vị thống trị về kinh tế thì cũng chiếm địa vị thống trị trong đời sống tinh thần Quan hệ sản xuất nào thống trị thì tạo ra kiến trúc thượng tầng chính trị tương ứng Mâu thuẫn trong lĩnh vực kinh tế quyết định tính chất mâu thuẫn trong lĩnh vực tư tưởng Do đặc điểm nói trên, bất kỳ hiện tượng nào thuộc kiến trúc thượng tầng: nhà nước, pháp luật, đảng phái chính trị, triết học, đạo đức, v.v không thể giải thích từ chính nó, bởi vì, chúng đều trực tiếp hoặc gián tiếp phụ thuộc vào cơ sở hạ tầng và do cơ sở hạ tầng quyết định Những biến đổi căn bản trong cơ sở hạ tầng sớm hay muộn cũng sẽ dẫn đến sự biến đổi căn bản trong kiến trúc thượng tầng
Cụ thể, tại Liên Xô, cho đến giữa những năm 1980, hệ thống cơ sở hạ tầng vẫn duy trì các hình thức và mô hình của giai đoạn vào những năm 1930 Nó bao gồm: tập thể hóa nông nghiệp; kế hoạch hóa công nghiệp; độc quyền hóa, quan liêu hóa công nghiệp quốc phòng, v.v Tại thời điểm những năm 30 của thế kỷ XX, Liên Xô đã nỗ lực trong việc đẩy mạnh sự phát triển nền kinh tế của đất nước thông qua hệ thống các mô hình công – nông nghiệp cũng như quốc phòng, v.v Mặc dù những số liệu phát triển có thể
đã được thổi phồng trong các báo cáo chính thức, đó vẫn là những thành công to lớn không thể phủ nhận Theo học giả Robert W Strayer62 trong tác phẩm Why Did the
tập trung là thành tựu đáng tự hào nhất của đảng và là trái tim của CNXH Xô Viết Nó được thiết kế trong giai đoạn này để tránh sự cạnh tranh lãng phí và hỗn loạn của CNTB
và đưa đất nước nhanh chóng bước vào hàng ngũ những quốc gia công nghiệp phát triển Nó đã thành công, nền kinh tế Liên Xô đã cung cấp nền tảng vật chất cho chiến thắng trong Chiến tranh thế giới thứ hai và là mô hình phát triển công nghiệp nhanh chóng cho nhiều nước trong Thế giới thứ ba64
Tuy nhiên, những điểm hạn chế trong nền tảng cơ sở hạ tầng cũng đã bộc lộ ngay
sau đó Trong tác phẩm The collapse of Soviet communism: a view from the information
society65, hai tác giả Manuel Castells66 và Emma Kiselyova67 nêu rõ: Trong những năm
62 Robert W Strayer là Tiến sĩ, Đại học Wisconsin Ông giảng dạy Lịch sử thế giới tại Đại học California, và
Cao đẳng Cabrillo (Hoa Kì)
63 Tạm dịch: Tại sao Liên bang Xô Viết sụp đổ?: Tìm hiểu sự thay đổi mang tính lịch sử
64 Robert W Strayer (1998) Why Did the Soviet Union Collapse?: Understanding Historical Change Op cit, p
06
65 Tạm dịch: Sự sụp đổ của chủ nghĩa cộng sản Xô Viết: Một góc nhìn từ xã hội số
66 Manuel Castells là một Giáo sư và nhà xã hội học người Tây Ban Nha Ông gắn liền với nghiên cứu về xã hội
thông tin, truyền thông và toàn cầu hóa Ông từng giảng dạy tại Đại học Oberta de Catalunya (Barcelona, Tây Ban Nha); Đại học Nam California (Los Angeles, Hoa Kì); Đại học California (Berkeley, Hoa Kì) và Đại học Cambridge (Anh Quốc)
67 Emma Kiselyova là thành viên cao cấp tại Trung tâm Ngoại giao Công chúng, Đại học Nam California Cô
cũng là trưởng phòng Quan hệ Quốc tế của Đại học Oberta de Catalunya (Barcelona, Tây Ban Nha)