1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

NGHIÊN CỨU ĐA DẠNG SINH HỌC BA BỘ CÔN TRÙNG NƯỚC: BỘ PHÙ DU (EPHEMEROPTERA), BỘ CÁNH ÚP (PLECOPTERA) VÀ BỘ CÁNH LÔNG (TRICHOPTERA) Ở VƯỜN QUỐC GIA HOÀNG LIÊN, TỈNH LÀO CAI

27 42 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 27
Dung lượng 356,89 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Trước đây, các nghiên cứu về bộ Phù du, bộ Cánh úp và bộ Cánh lông ở VQG Hoàng Liên, tỉnh Lào Cai chủ yếu tập chung vào việc nghiên cứu đa dạng về loài, các nghiên cứu này nhìn chung còn

Trang 1

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC TỰ NHIÊN

Nguyễn Văn Hiếu

NGHIÊN CỨU ĐA DẠNG SINH HỌC BA BỘ CÔN TRÙNG NƯỚC:

Trang 2

Công trình được hoàn thành tại:

Trường Đại học Khoa học Tự nhiên - Đại học Quốc gia Hà Nội

Người hướng dẫn khoa học:

Có thể tìm hiểu luận án tại:

- Thư viện Quốc gia Việt Nam;

- Trung tâm thông tin - Thư viện, Đại học Quốc gia Hà Nội

Trang 3

để đánh giá chất lượng môi trường nước Vườn quốc gia (VQG) Hoàng Liên, tỉnh Lào Cai nằm trong khu vực Tây Bắc Việt Nam có hệ thống suối rất phong phú Các

hệ thống suối này là điều kiện thuận lợi cho sự tồn tại và phát triển của các loài côn trùng nước nói chung và các loài thuộc bộ Phù du, bộ Cánh úp và bộ Cánh lông nói riêng Trước đây, các nghiên cứu về bộ Phù du, bộ Cánh úp và bộ Cánh lông ở VQG Hoàng Liên, tỉnh Lào Cai chủ yếu tập chung vào việc nghiên cứu đa dạng về loài, các nghiên cứu này nhìn chung còn ít và tập trung chủ yếu ở các suối chính của VQG mà chưa thực hiện nghiên cứu ở các suối nhánh Đặc biệt, chưa có công trình nghiên cứu nào sử dụng ba bộ côn trùng nước này làm sinh vật chỉ thị để đánh giá chất lượng nước suối tại VQG Hoàng Liên, tỉnh Lào Cai Xuất phát từ những lý do trên, chúng

tôi lựa chọn và thực hiện đề tài luận án “Nghiên cứu Đa dạng sinh học ba bộ côn trùng nước: bộ Phù du (Ephemeroptera), bộ Cánh úp (Plecoptera) và bộ Cánh lông (Trichoptera) ở Vườn quốc gia Hoàng Liên, tỉnh Lào Cai”

3 Ý nghĩa khoa học và ý nghĩa thực tiễn

3.1 Ý nghĩa khoa học

Cung cấp các dẫn liệu khoa học có hệ thống về thành phần loài của bộ Phù du,

bộ Cánh úp và bộ Cánh lông ở VQG Hoàng Liên, tỉnh Lào Cai

Cung cấp các dẫn liệu khoa học về đặc điểm phân bố của bộ Phù du, bộ Cánh

úp và bộ Cánh lông theo mùa, theo đai độ cao, theo tính chất của dòng chảy và theo cấp độ suối tại VQG Hoàng Liên, tỉnh Lào Cai

Các kết quả thu được từ đề tài là cơ sở cho việc nghiên cứu chuyên sâu và giảng dạy về bộ Phù du, bộ Cánh úp và bộ Cánh lông

Trang 4

2

3.2 Ý nghĩa thực tiễn

Dựa trên các kết quả thu được, đề tài cung cấp các dẫn liệu về bộ Phù du, bộ Cánh úp và bộ Cánh lông tại VQG Hoàng Liên, tỉnh Lào Cai và các yếu tố ảnh hưởng đến môi trường sống của chúng từ đó đề xuất các biện pháp nhằm bảo vệ sự đa dạng

của nhóm sinh vật này ở khu vực nghiên cứu

4 Những đóng góp mới của luận án

Lần đầu tiên cung cấp danh sách cập nhật nhất gồm 131 loài, 92 giống của 34

họ thuộc 3 bộ Phù du, bộ Cánh úp và bộ Cánh lông ở giai đoạn ấu trùng và thiếu trùng tại VQG Hoàng Liên, tỉnh Lào Cai

Xác định được 4 loài thuộc bộ Phù du, 1 loài thuộc bộ Cánh úp được xem là đặc hữu cho VQG Hoàng Liên, tỉnh Lào Cai

Xác định họ Siphluriscidae và 20 loài thuộc bộ Phù du lần đầu tiên ghi nhận cho khu hệ động vật Việt Nam Đồng thời xác định được 4 loài lần đầu tiên ghi nhận cho VQG Hoàng Liên, tỉnh Lào Cai

Lần đầu tiên ghi nhận được giai đoạn ấu trùng của họ Limnephilidae thuộc bộ Cánh lông ở VQG Hoàng Liên, tỉnh Lào Cai

Cung cấp các dẫn liệu về phân bố của bộ Phù du, bộ Cánh úp và bộ Cánh lông theo mùa, theo đai độ cao, theo tính chất của dòng chảy ở khu vực nghiên cứu

Lần đầu tiên đề tài cung cấp các dẫn liệu về phân bố của bộ Phù du, bộ Cánh

úp và bộ Cánh lông theo các cấp độ suối ở VQG Hoàng Liên, tỉnh Lào Cai

5 Cấu trúc luận án

Luận án bao gồm phần Mở đầu 4 trang; 3 chương nội dung với 152 trang, bao gồm chương 1 (34 trang), chương 2 (21 trang), chương 3 (97 trang), phần kết luận 2 trang, kiến nghị 1 trang; số bảng biểu là 29 bảng, số hình là 15 hình, 134 tài liệu tham khảo (35 tài liệu tiếng Việt, 99 tài liệu tiếng Anh); 50 trang phụ lục gồm 15 phụ lục

chi tiết

CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN 1.1 Tình hình nghiên cứu bộ Phù du, bộ Cánh úp và bộ Cánh lông trên thế giới

1.1.1 Tình hình nghiên cứu bộ Phù du (Ephemeroptera)

Bộ Phù du (Ephemeroptera) là bộ côn trùng có cánh cổ sinh tương đối nguyên thủy, thậm chí còn được xem như một trong những tổ tiên của côn trùng Hiện nay, trên thế giới phạm vi nghiên cứu của bộ Phù du không chỉ dừng lại ở việc mô tả, phân loại mà còn đi sâu nghiên cứu các đặc điểm sinh học, sinh thái học Đặc biệt một hướng nghiên cứu mới về bộ côn trùng nước này là sử dụng chúng làm sinh vật chỉ

thị chất lượng nước Theo Helen et al (2008), trên toàn thế giới đã xác định được

khoảng 3046 loài thuộc 405 giống và 42 họ của bộ Phù du Trong đó ở Châu Âu có khoảng 350 loài và Bắc Mỹ là 670 loài Thành phần loài hay nói cách khác sự đa dạng về loài của Phù du ở các họ thể hiện rất khác nhau, có những họ chỉ có một loài như: Coryphoridae, Machadorythidae, Melanemerellidae, Pseudironidae, Rallidentidae, Siphlaenigmatidae, Siphluriscidae và Teloganellidae hoặc một vài loài như: Acanthametropodidae, Ametropodidae, Arthropleidae, Chromarcyidae, Ephemerythidae hay có những họ có tới hàng trăm loài như Baetidae,

Trang 5

3

Heptageniidae, Leptophlebiidae Tuy nhiên những con số này chưa phản ánh hết mức độ đa dạng của Phù du vì còn nhiều khu vực trên thế giới vẫn chưa được khám phá hết, nhất là các khu vực nhiệt đới

1.1.2 Tình hình nghiên cứu bộ Cánh úp (Plecoptera)

Theo Romolo và José (2008), trên thế giới đã xác định được khoảng 3500 loài Cánh úp, trong đó: khu vực Bắc Mỹ có khoảng 650 loài, khu vực Trung Mỹ có 95 loài, khu vực Nam Mỹ có 378 loài Khu vực châu Âu có 426 loài Khu vực châu Phi

có 126 loài Châu Á là khu vực có số lượng loài phong phú nhất với số loài đã xác định được lên tới 1527 loài Trong số các họ thuộc bộ Cánh úp ghi nhận được, họ Perlidae thuộc phân bộ Arctoperlaria có số lượng loài lớn nhất với khoảng hơn 1000 loài đã được mô tả

1.1.3 Tình hình nghiên cứu bộ Cánh lông (Trichoptera)

Theo Ito et al (2012), ước tính trên thế giới có khoảng 14.548 loài, 616 giống

và 49 họ còn tồn tại và 685 loài thuộc 125 giống và 12 họ hóa thạch của bộ Cánh lông Bên cạnh những nghiên cứu về phân loại học, những nghiên cứu về sinh thái học và đặc điểm sinh học của bộ Cánh lông cũng được đặc biệt chú ý tiêu biểu là các công trình của Haris, Mackay và Wiggins vào những năm 70 của thế kỉ trước Các công trình của Wiggins (1977, 1982, 1984) đã mô tả hình thái ngoài của một số họ và giống của bộ Cánh lông Morse (2009) đã công bố một danh sách đầy đủ các loài cũng như phân bố địa lý sinh vật của bộ Cánh lông trên toàn thế giới và tiếp tục được cập nhật cho tới hiện nay

1.1.4 Tình hình nghiên cứu sử dụng bộ Phù du, bộ Cánh úp và bộ Cánh lông làm sinh vật chỉ thị và đánh giá chất lượng nước

Nghiên cứu sử dụng SVCT bắt đầu phát triển mạnh mẽ từ đầu thế kỷ XX Khái niệm “sinh vật chỉ thị” cho điều kiện môi trường lần đầu tiên được khởi xướng ở châu

Âu của Kolkwitz và Marsson (1908, 1909) sử dụng nghiên cứu sự nhiễm bẩn các con sông do chất hữu cơ làm giảm hàm lượng oxy hoà tan Những quan sát thu được về mối quan hệ chặt chẽ giữa các nhóm sinh vật nhất định với các điều kiện môi trường

đã dẫn đến sự phát triển của hệ thống danh sách SVCT sau này (Rosenberg et al,

1.2 Tình hình nghiên cứu bộ Phù du, bộ Cánh úp và bộ Cánh lông ở Việt Nam

1.2.1 Tình hình nghiên cứu về bộ Phù du (Ephemeroptera)

Những nghiên cứu đầu tiên về Phù du ở Việt Nam được thực hiện vào đầu thế

kỉ XX với các nhà khoa học nước ngoài Mở đầu là nghiên cứu của nhà côn trùng học

Trang 6

4

Lestage (1921, 1924) Tiếp đó là các nghiên cứu của Navás (1922, 1925), Braasch and Soldán (1984, 1986, 1988) Bên cạnh các nghiên cứu của các nhà khoa học nước ngoài, các nhà khoa học trong nước cũng đã sử dụng bộ Phù du là đối tượng nghiên cứu, đặc biệt từ năm 2001 trở lại đây như Nguyễn Văn Vịnh (2001, 2003, 2004,

2005, 2006, 2007, 2012, 2013, 2014); Cao Thị Kim Thu (2008); Mai Phú Quý, Hoàng Đình Trung, Lê Trọng Sơn (2011); Hoàng Đình Trung (2012, 2014) Tuy nhiên, các nghiên cứu về bộ Phù du ở nước ta mới chỉ tập trung vào việc nghiên cứu

về khu hệ và phân loại học dựa vào hình thái ngoài của giai đoạn ấu trùng Các nghiên cứu về sinh học, sinh thái học, phân loại học dựa vào giai đoạn trưởng thành

và ứng dụng của bộ này vẫn chưa được quan tâm nghiên cứu nhiều

1.2.2 Tình hình nghiên cứu về bộ Cánh úp (Plecoptera)

Nghiên cứu về bộ Cánh úp ở Việt Nam được tiến hành từ khá sớm bởi một số nhà khoa học nước ngoài như Klapálek (1912), Navás (1926) Tuy nhiên các nghiên cứu này còn rất ít, chủ yếu các nghiên cứu về phân loại học và sắp xếp chúng vào một

số khóa định loại Cánh úp của phương Tây Sau đó, Kawai (1969) khi nghiên cứu về khu hệ Cánh úp ở khu vực Đông Nam Á đã xác định được 4 loài thuộc bộ Cánh úp ở

Việt Nam Tiếp theo là các nghiên cứu của Zwick (1988), Stark et al (1999) Các

nghiên cứu trên tập trung vào việc mô tả và công bố một số loài mới cho khu hệ Cánh

úp ở nước ta Tuy nhiên, các mẫu vật dùng trong phân loại đều ở giai đoạn trưởng thành Từ năm 2000 trở lại đây, các nghiên cứu về bộ Cánh úp ở Việt Nam đã được quan tâm nghiên cứu Các nghiên cứu tập trung vào việc phân loại học, thành phần loài ở các Khu Bảo tồn thiên nhiên hoặc ở các VQG Trong các nghiên cứu này, bên cạnh sự tham gia của các nhà khoa học nước ngoài, còn có sự tham gia của một số nhà khoa học trong nước như: Nguyễn Văn Vịnh và cộng sự (2001, 2012, 2014); Cao Thị Kim Thu và cộng sự (2002, 2007, 2008, 2009, 2011, 2012, 2013); Hoàng Đình Trung (2012); Jung và cộng sự (2008)

1.2.3 Tình hình nghiên cứu về bộ Cánh lông (Trichoptera)

Ở Việt Nam, bộ Cánh lông được nghiên cứu từ rất sớm Cũng tương tự như bộ Cánh úp, các nghiên cứu về bộ Cánh lông ở Việt Nam đã được các nhà khoa học quan tâm nghiên cứu, đặc biệt từ năm 2000 trở lại đây Các nghiên cứu này có sự tham gia của các nhà khoa học trong nước và nước ngoài Các nghiên cứu chủ yếu tập trung theo hướng điều tra đa dạng về loài và mô tả các đặc điểm phân loại học như các nghiên cứu của Hoàng Đức Huy và cộng sự (2005, 2006, 2007, 2009); Nguyễn Văn Vịnh và cộng sự (2001, 2012, 2014); Cao Thị Kim Thu và cộng sự (2008); Hoàng Đình Trung (2012) Các nghiên cứu về bộ Cánh lông ở nước ta chủ yếu tập trung vào các thủy vực dạng suối ở các VQG và các khu bảo tồn thiên nhiên Các nghiên cứu này chủ yếu dựa trên các mẫu vật ở giai đoạn ấu trùng Các tài liệu

về phân loại tới loài của giai đoạn ấu trùng thuộc bộ Cánh lông trên thế giới và ở Việt Nam còn ít Vì vậy, đa số các nghiên cứu mới chỉ dừng lại ở bậc phân loại cấp giống

Trang 7

cỡ lớn làm sinh vật chỉ thị quan trắc và đánh giá chất lượng nước ở Việt Nam”

Nguyễn Xuân Quýnh và cộng sự (2000) đã đưa ra khoá định loại đến họ các nhóm ĐVKXS ở nước ngọt thường gặp ở nước ta để phục vụ cho việc nghiên cứu đánh giá chất lượng nước bằng SVCT

Hoàng Đình Trung (2011) đã sử dụng chỉ số EPT để đánh giá chất lượng môi trường nước mặt ở suối Năm Cống và Bạch Xà tại vùng Hải Vân, tỉnh Thừa Thiên - Huế Kết quả nghiên cứu chỉ ra rằng chất lượng nước suối tại 2 khu vực trên không xuất hiện dấu hiệu ô nhiễm hữu cơ hoặc có dấu hiệu ô nhiễm hữu cơ nhưng không đáng kể

Hoàng Đình Trung (2012) đã sử dụng chỉ số EPT để đánh giá chất lượng nước suối vùng Bạch Mã, tỉnh tỉnh Thừa Thiên - Huế Kết quả cho thấy, chất lượng nước suối ở vùng Bạch Mã cũng tương tự như ở vùng Hải Vân

1.3 Tình hình nghiên cứu bộ Phù du, bộ Cánh úp và bộ Cánh lông ở VQG Hoàng Liên, tỉnh Lào Cai

Các nghiên cứu về bộ Phù du, bộ Cánh úp và bộ Cánh lông ở VQG Hoàng Liên, tỉnh Lào Cai Một số công trình nghiên cứu gần đây mới chỉ tập trung vào nghiên cứu về nhóm côn trùng nước nói chung hoặc thời gian nghiên cứu chưa nhiều, mới chỉ là những nghiên cứu ban đầu, mang tính chất điều tra thành phần loài Mặt khác, các nghiên cứu mới chỉ tiến hành ở các suối chính mà chưa nghiên cứu ở các hệ thống suối nhánh, đặc biệt là những con suối có lòng suối hẹp Mặt khác, các nghiên cứu về vai trò chỉ thị của các bộ côn trùng nước này vẫn chưa được quan tâm Các nghiên cứu về biến động của ba bộ côn trùng nước này theo mùa, theo đai độ cao, theo tính chất của dòng chảy, theo cấp độ suối và theo đặc điểm nền đáy vẫn chưa

được nghiên cứu cụ thể

CHƯƠNG 2 THỜI GIAN, ĐỊA ĐIỂM

VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 2.1 Thời gian, địa điểm nghiên cứu

Luận án được thực hiện từ năm 2010 đến năm 2015 Vật mẫu được thu trong 3 năm 2011, 2012 và 2013 với 29 điểm thu mẫu dọc theo các hệ thống suối khác nhau

thuộc VQG Hoàng Liên, tỉnh Lào Cai

2.2 Phương pháp nghiên cứu

Trước khi thu mẫu, tiến hành đo một số chỉ số thủy lý, hóa học của nước tại khu vực nghiên cứu bằng máy đo đa chỉ tiêu WQC - 22A, TOA, Nhật Bản Trong đó

Trang 8

ở nơi nước đứng và 1 mẫu ở nơi nước chảy Mẫu thu được ngoài thực địa được bảo quản trong lọ nhựa bằng cồn 800

Vật mẫu được định loại bằng các tài liệu đã được công bố trong và ngoài nước: Jacobus và McCafferty (2008); Nguyễn Văn Vịnh (2001, 2003, 2004, 2005, 2006,

2007, 2012, 2013, 2014); Nguyễn Xuân Quýnh và cộng sự (2001); Meritt và

Cummins (1996); Morse et al (1994); Cao Thị Kim Thu (2002, 2008), Hoàng Đức

Huy (2005) Dụng cụ sử dụng phân tích vật mẫu gồm có: kính hiển vi, kính lúp, kính soi nổi, đĩa petri, lam kính, kim nhọn

Chất lượng nước sẽ được đánh giá bằng chỉ số EPT dựa trên việc tính điểm số của các họ thuộc bộ Phù du, bộ Cánh úp và bộ Cánh lông (Hilsenhoff, 1998)

Phương pháp ứng dụng phần mềm Microsoft office exel 2007 và Primer v.6 để tính toán các giá trị trung bình, sai số, chỉ số đa dạng sinh học (Shannon - Weiner), chỉ số tương đồng (Sorensen) Các số liệu được tính toán và xử lý theo các tài liệu trong và ngoài nước, được biểu diễn qua bảng biểu

CHƯƠNG 3 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN

3.1 Đa dạng về loài của bộ Phù du, bộ Cánh úp và bộ Cánh lông ở VQG Hoàng Liên, tỉnh Lào Cai

Bảng 3.1 Tổng hợp các taxon của các bậc phân loại thuộc bộ Phù du,

bộ Cánh úp và bộ Cánh lông tại VQG Hoàng Liên, tỉnh Lào Cai

STT Tên bộ

Số lượng

Tỷ lệ (%)

Số lượng

Tỷ lệ (%)

Số lượng

Tỷ lệ (%)

Trang 9

7

3.1.1 Đa dạng về loài của bộ Phù du (Ephemeroptera)

Bảng 3.3 Tổng hợp số lượng các taxon của các bậc phân loại

thuộc bộ Phù du tại VQG Hoàng Liên, tỉnh Lào Cai

ở Việt Nam Trong 78 loài thuộc bộ Phù du đã phân loại được ở khu vực nghiên cứu

có 20 loài lần đầu tiên ghi nhận ở Việt Nam Trong đó có 15 loài thuộc họ Baetidae

(Acentrella lata, Baetis clivisus, Baetis gracilentus, Baetis inornatus, Baetis morrus, Baetis pseudofrequentus, Baetis pseudothermicus, Baetis tatuensis, Baetis terminus, Cloeon bimaculatum, Labiobaetis operosus, Labiobaetis borneoensis, Neobaetiella macani, Nigrobaetis gracientus và Nigrobaetis mundus), 2 loài thuộc họ Ephemerellidae (Drunella ishiyamana và Teloganopsis oriens), 1 loài thuộc họ Heptageniidae (Epeorus nguyenbaeorum), 1 loài thuộc họ Leptophlebiidae (Thraulus macilentus) và 1 loài thuộc họ Prosopistomatidae (Prosopistoma sinensis) Ba loài lần đầu tiên ghi nhận cho VQG Hoàng Liên, tỉnh Lào Cai (Baetiella bispinosa, Hyrtanella grandipennis và Notacanthella perculta) và 4 loài được xem là đặc hữu cho khu vực nghiên cứu (Procloeon spinosum, Afronurus separatus, Pothamanthellus

unicutibius và Rhoenanthus sapa)

3.1.2 Đa dạng về loài của bộ Cánh úp (Plecoptera)

Kết quả phân tích mẫu vật ở giai đoạn thiếu trùng của bộ Cánh úp cho thấy, tại VQG Hoàng Liên, tỉnh Lào Cai đã xác định được 17 loài, 14 giống của 4 họ thuộc bộ Cánh úp Trong đó, họ Perlidae có số lượng loài và giống nhiều nhất với 11 loài (chiếm 64,7% tổng số loài) và 8 giống (chiếm 57,1% tổng số giống) Tiếp đến là họ Nemouridae có 4 loài (chiếm 23,5% tổng số loài) thuộc 4 giống (chiếm 28,6% tổng

Trang 10

8

số giống) Họ Leuctridae và họ Peltoperlidae đều thu được 1 loài (cùng chiếm 5,9% tổng số loài) và 1 giống (cùng chiếm 7,1% tổng số giống) Kết quả nghiên cứu cụ thể

được trình bày ở bảng 3.4

Bảng 3.4 Tổng hợp số lượng các taxon của các bậc phân loại

thuộc bộ Cánh úp tại VQG Hoàng Liên, tỉnh Lào Cai

Trong 17 loài thu được, loài Acroneuria magnifica được xem là loài đặc hữu

cho khu vực nghiên cứu Theo nghiên cứu của Cao Thị Kim Thu (2008), loài này chỉ bắt gặp ở độ cao khoảng 2.000m tại suối Thác Bạc Trong nghiên cứu của chúng tôi loài này còn thu được ở khu vực suối Vàng, Sín Chải, Cát Cát nơi có độ cao hơn 1.200m

3.1.3 Đa dạng về loài của bộ Cánh lông (Trichoptera)

Bảng 3.5 Tổng hợp số lượng các taxon của các bậc phân loại

thuộc bộ Cánh lông tại VQG Hoàng Liên, tỉnh Lào Cai

Trang 11

9

Như vậy, tại VQG Hoàng Liên, tỉnh Lào Cai đã xác định được 36 loài, 35 giống, 17 họ thuộc giai đoạn ấu trùng của bộ Cánh lông Trong đó họ Limnephilidae lần đầu tiên thu được mẫu vật thuộc giai đoạn ấu trùng ở khu vực nghiên cứu Đồng

thời bổ sung thêm một giống mới cho VQG là giống Wormaldia thuộc họ

Philopotamidae

3.1.4 Chỉ số đa dạng sinh học Shannon - Weiner (chỉ số H’)

Kết quả tính toán chỉ số đa dạng sinh học Shannon - Weiner (chỉ số H’) trung bình của ba bộ Phù du, Cánh úp và Cánh lông cho thấy: chỉ số H’ trung bình dao động từ 1,00 đến 3,95 Tính cho cả khu vực nghiên cứu chỉ số H’ trung bình là 2,68; như vậy mức độ da dạng sinh học của ba bộ côn trùng nước (bộ Phù du, bộ Cánh úp

và bộ Cánh lông) ở khu vực nghiên cứu ở mức khá Chỉ số H’ trung bình trong mùa khô là 2,83 ± 0,11 và trong mùa mưa là 2,45 ± 0,10 Tiến hành so sánh hai giá trị trung bình này chúng tôi nhận thấy hai giá trị trung bình khác nhau có ý nghĩa thống

kê (mức ý nghĩa α = 0,05) Như vậy, chỉ số H’ trung bình ở mùa khô cao hơn so với mùa mưa

3.2 Phân bố của bộ Phù du, bộ Cánh úp và bộ Cánh lông

3.2.1 Phân bố theo tính chất của dòng chảy

3.2.1.1 Phân bố của bộ Phù du theo tính chất của dòng chảy

Kết quả nghiên cứu sự phân bố của bộ Phù du theo tính chất của dòng chảy ở nơi nước chảy và nơi nước đứng (trên đơn vị diện tích 0,25m2) cho thấy: số lượng loài trung bình của bộ Phù du ở nơi nước chảy là 9,8 ± 0,3; ở nơi nước đứng là 6,0 ± 0,3 Số lượng cá thể trung bình của bộ Phù du ở nơi nước chảy là 48,3 ± 4,8; nơi nước đứng là 21,1 ± 2,4 Tiến hành so sánh hai cặp giá trị trung bình này, chúng tôi cũng nhận thấy sự khác nhau có ý nghĩa thống kê (mức ý nghĩa α < 0,05) Như vậy tại khu vực nghiên cứu, trên cùng một đơn vị diện tích số lượng loài cũng như số lượng các thể của bộ Phù du ở nơi nước chảy luôn có ưu thế hơn so với nơi nước đứng

3.2.1.2 Phân bố của bộ Cánh úp theo tính chất của dòng chảy

Kết quả nghiên cứu sự phân bố của bộ Cánh úp theo tính chất của dòng chảy ở nơi nước chảy và nơi nước đứng (trên đơn vị diện tích 0,25m2) cho thấy: số lượng loài trung bình của bộ Cánh úp ở nơi nước chảy là 2,5 ± 0,2; ở nơi nước đứng là 1,1 ± 0,1 Số lượng cá thể trung bình của bộ Cánh úp ở nơi nước chảy là 7,5 ± 1,1; nơi nước đứng là 2,0 ± 0,3 Tiến hành so sánh hai cặp giá trị trung bình này, chúng tôi cũng nhận thấy sự khác nhau có ý nghĩa thống kê (mức ý nghĩa α < 0,05) Như vậy tại khu vực nghiên cứu, trên cùng một đơn vị diện tích số lượng loài cũng như số lượng các thể của bộ Cánh úp ở nơi nước chảy luôn có ưu thế hơn so với nơi nước đứng Kết quả này có thể được giải thích là do đa số thiếu trùng của các loài thuộc bộ Cánh úp ưa sống ở những nơi nước sạch, hàm lượng oxy cao Tại các vùng nước chảy, dòng nước luôn được “xáo trộn” làm cho nước tương đối sạch, hàm lượng oxy

tự do trong nước lớn thuận lợi cho sự tồn tại và phát triển của các loài thuộc bộ Cánh

úp

Trang 12

10

3.2.1.3 Phân bố của bộ Cánh lông theo tính chất của dòng chảy

Kết quả nghiên cứu sự phân bố của bộ Cánh lông theo tính chất của dòng chảy

ở nơi nước chảy và nơi nước đứng (trên đơn vị diện tích 0,25m2) cho thấy: số lượng loài trung bình của bộ Cánh lông ở nơi nước chảy là 4,4 ± 0,2; ở nơi nước đứng là 2,1

± 0,2 Số lượng cá thể trung bình của bộ Cánh lông ở nơi nước chảy là 20,5 ± 2,8; nơi nước đứng là 4,5 ± 0,6 Tiến hành so sánh hai cặp giá trị trung bình này, chúng tôi cũng nhận thấy sự khác nhau có ý nghĩa thống kê (mức ý nghĩa α < 0,05) Như vậy tại khu vực nghiên cứu, trên cùng một đơn vị diện tích số lượng loài cũng như số lượng các thể của bộ Cánh lông ở nơi nước chảy luôn có ưu thế hơn so với nơi nước đứng Nguyên nhân có thể được giải thích là do ở nơi nước chảy hàm lượng oxy tự

do cao, nước tương đối sạch, nền đáy chủ yếu là sỏi, đá hộc xen lẫn với cát Các yếu

tố này là điều kiện thuận lợi cho sự tồn tại và phát triển của các loài thuộc bộ Cánh lông

3.2.1.4 So sánh sự phân bố của bộ Phù du, bộ Cánh úp và bộ Cánh lông theo tính chất của dòng chảy

Bảng 3.7 Số lượng loài trung bình và số lượng cá thể trung bình

của bộ Phù du, bộ Cánh úp và bộ Cánh lông (trên đơn vị diện tích 1m 2 ) theo tính

chất của dòng chảy tại VQG Hoàng Liên, tỉnh Lào Cai

Số lượng trung bình Bộ Phù du Bộ Cánh úp Bộ Cánh lông

Số loài Nước chảy 39,4 ± 1,3 10,2 ± 0,9 17,6 ± 0,9

Nước đứng 24,2 ± 1,1 4,3 ± 0,5 8,3 ± 0,7

Số cá thể Nước chảy 193,3 ± 19,4 30,2 ± 4,2 82,2 ± 11,3

Nước đứng 84,5 ± 9,6 8,0 ± 1,1 18,1 ± 2,6

Về số lượng loài: trên cùng một đơn vị diện tích tại nơi nước chảy và nơi nước

đứng bộ Phù du có số loài lớn nhất, tiếp theo là bộ Cánh lông và số loài của bộ Cánh

úp là ít nhất

Về số lượng cá thể: trên cùng một đơn vị diện tích tại nơi nước chảy và nơi

nước đứng số cá thể của bộ Phù du luôn lớn nhất, tiếp theo là bộ Cánh lông và bộ Cánh úp có số lượng cá thể ít nhất

3.2.2 Phân bố theo đai độ cao

Tại đai cao 0-700m: đã xác định được 117 loài thuộc 82 giống, 28 họ của ba

bộ Phù du, Cánh úp và Cánh lông Trong đó bộ Phù du có số lượng loài nhiều nhất với 71 loài (chiếm 60,7% tổng số loài), tiếp theo là bộ Cánh lông với 31 loài (chiếm 26,5% tổng số loài) Bộ Cánh úp có số loài ít nhất với 15 loài (chiếm 12,8% tổng số loài)

Tại đai cao 700-1700m: đã xác định được 126 loài thuộc 89 giống, 32 họ của

ba bộ Phù du, Cánh úp và Cánh lông Trong đó bộ Phù du có số lượng loài nhiều nhất với 75 loài (chiếm 59,5% tổng số loài), tiếp theo là bộ Cánh lông với 34 loài (chiếm 27,0% tổng số loài) Bộ Cánh úp có số loài ít nhất với 17 loài (chiếm 13,5% tổng số loài)

Trang 13

11

Tại đai cao 1700-2200m: đã xác định được 106 loài thuộc 72 giống, 27 họ của

ba bộ Phù du, Cánh úp và Cánh lông Trong đó bộ Phù du có số lượng loài nhiều nhất với 61 loài (chiếm 57,5% tổng số loài), tiếp theo là bộ Cánh lông với 30 loài (chiếm 28,3% tổng số loài) Bộ Cánh úp có số loài ít nhất với 15 loài (chiếm 14,2% tổng số loài)

3.2.2.1 Phân bố của bộ Phù du theo đai độ cao

Về số lượng và thành phần các taxon của các bậc phân loại

Ở đai cao 0-700m: đã ghi nhận được 71 loài thuộc 38 giống của 9 họ thuộc bộ

Phù du Trong đó họ Baetidae có số lượng loài nhiều nhất với 23 loài (chiếm 32,4% tổng số loài), tiếp đến là họ Heptageniidae với 18 loài (chiếm 25,4% tổng số loài) Họ Ephemerellidae thu được 14 loài (chiếm 19,7% tổng số loài), họ Leptophlebiidae thu được 7 loài (chiếm 9,9% tổng số loài) Các họ còn lại gồm họ Họ Caenidae, Ephemeridae, Isonychiidae, Potamanthidae và Vietnamellidae thu được số loài ít, dao động từ 1 đến 3 loài

Ở đai cao 700-1700m: đã xác định được 75 loài, 42 giống của 12 họ thuộc bộ

Phù du Trong đó họ Baetidae có số lượng loài nhiều nhất với 23 loài (chiếm 30,7% tổng số loài), tiếp đến là họ Heptageniidae với 18 loài (chiếm 24,0% tổng số loài) Họ Ephemerellidae thu được 14 loài (chiếm 18,7% tổng số loài), họ Leptophlebiidae thu được 8 loài (chiếm 10,7% tổng số loài) Các họ còn lại gồm họ Họ Caenidae, Ephemeridae, Neoephemeridae, Prosopistomatidae, Potamanthidae, Siphluriscidae, Teloganodidae và Vietnamellidae thu được số loài ít, dao động từ 1 đến 3 loài

Ở đai cao 1700-2200m: đã xác định được 61 loài, 30 giống của 8 họ thuộc bộ

Phù du Trong đó họ Baetidae có số lượng loài nhiều nhất với 19 loài (chiếm 31,1% tổng số loài), tiếp đến là họ Heptageniidae với 18 loài (chiếm 29,5% tổng số loài) Họ Ephemerellidae thu được 10 loài (chiếm 16,4% tổng số loài), họ Leptophlebiidae thu được 8 loài (chiếm 13,1% tổng số loài) Các họ còn lại gồm họ Họ Caenidae, Ephemeridae, Siphluriscidae và Vietnamellidae thu được số loài ít, dao động từ 1 đến

3 loài

Về mật độ: ở đai cao 0-700m mật độ trung bình của bộ Phù du là 22,4 ± 2,3

(cá thể/0,25m2), ở đai cao 700-1700m là 46,8 ± 5,6 (cá thể/0,25m2) và ở đai cao 1700-2200m là 27,9 ± 3,8 (cá thể/0,25m2) Tiến hành so sánh các giá trị trung bình này chúng tôi nhận thấy mật độ trung bình của bộ Phù du ở đai cao 700-1700m cao hơn mật độ trung bình ở 2 đai cao còn lại Ở đai cao 0-700m và đai cao 1700-2200m, mật độ trung bình của bộ Phù du sai khác không có ý nghĩa thống kê Như vậy, các cá thể trong bộ Phù du có xu hướng phân bố tập trung ở đai cao 700-1700m

3.2.2.2 Phân bố của bộ Cánh úp theo đai độ cao

Về số lượng và thành phần các taxon của các bậc phân loại

Ở đai cao 0-700m: đã ghi nhận được 15 loài thuộc 13 giống của 4 họ là

Leuctridae, Nemouridae, Peltoperlidae và Perlidae thuộc bộ Cánh úp Trong đó họ Perlidae có số lượng loài nhiều nhất với 9 loài (chiếm 60% tổng số loài), họ Nemouridae có 4 loài (chiếm 26,6% tổng số loài) Hai họ còn lại là Leuctridae và Peltoperlidae mỗi họ chỉ có 1 loài (cùng chiếm 6,7% tổng số loài)

Ngày đăng: 22/06/2021, 13:15

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w