HOÀN THIỆN PHÁP LUẬT TỔ CHỨC TÀI CHÍNH VI MÔ - DƯỚI GÓC NHÌN KINH TẾHOÀN THIỆN PHÁP LUẬT VỀ HUY ĐỘNG VỐN VÀ CHO VAY CỦA QUỸ TÍN DỤNG NHÂN DÂN DƯỚI TƯƠNG QUAN SO SÁNH VỚI NGÂN HÀNG THƯƠNG
Trang 1HOÀN THIỆN PHÁP LUẬT TỔ CHỨC TÀI CHÍNH VI MÔ - DƯỚI GÓC NHÌN KINH TẾ
HOÀN THIỆN PHÁP LUẬT VỀ HUY ĐỘNG VỐN VÀ CHO VAY CỦA QUỸ TÍN DỤNG NHÂN DÂN DƯỚI TƯƠNG QUAN SO SÁNH VỚI NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI
Mục tiêu khi làm đề tài này : so sánh hoạt động huy động vốn và cho vay của QTDND và của NHTM , qua
đó thấy được những điểm tồn tại vướng mắc trong quy định của pháp luật về cách huy động vốn và cho vay của QTDND , trên cơ sở phân tích những vướng mắc của pháp luật đó nêu đưa những giải pháp nhằm hoàn thiện pháp pháp luật về hoạt động huy động vốn và cho vay của QTDND
Môi trường chính sách, luật pháp Do đặc trưng và vai trò quan trọng của các trung gian tài chính nói
chung, của các TCTCNT nói riêng, hầu hết tất cả các TCTCNT đều chịu sự
quản lý và giám sát chặt chẽ của các cơ quan nhà nước nói chung, của một số
đơn vị chức năng nói riêng như Ngân hàng Trung ương, Bảo hiểm tiền gửi… Các hoạt động cơ bản của TCTCNT thường phải tuân thủ theo các quy định
pháp luật cụ thể như: quy chế về huy động tiền gửi tiết kiệm, quy chế tiền gửi
thanh toán, quy chế phát hành giấy tờ có giá; quy chế cho vay, quy định về bảo đảm Mức độ huy động vốn và cho vay đối với mỗi khách hàng thường
cũng có các giới hạn cụ thể Ngoài ra, một số quốc gia còn ban hành các chính
sách như giới hạn lãi suất, bảo vệ người gửi tiền, tăng cường tài chính Môi trường luật pháp nói chung cũng tạo ra khung pháp lý cho các TCTCNT thực hiện các hoạt động của mình trong phạm vi nhất định.
Môi trường luật pháp thuận lợi, khung pháp lý rõ ràng là điều kiện tiên
quyết cho sự phát triển hoạt động của các TCTCNT hiệu quả, phát huy tối đa vai trò của các tổ chức này đối với vấn đề phát triển nông thôn.
Trang 2Đặc trưng về đối tượng vay vốn: ( Đặc điểm của các TCTCNT Việc cung cấp dịch vụ tài chính trong nông thôn là một thách thức rất
lớn đối với các TCTCNT do đặc điểm riêng có của khu vực này Sự khác biệt
trong hoạt động tài chính tại khu vực nông thôn và thành thị tạo ra những đặc
trưng cho các TCTCNT như sau.
- Thứ nhất, chi phí giao dịch trong khu vực nông thôn cao hơn đối
với TCTCNT và khách hàng Khu vực nông thôn thường có mật độ dân số phân tán, cơ sở hạ tầng cứng (đường sá, dịch vụ viễn thông) và cơ sở hạ tầng mềm (giáo dục, y tế) có chất lượng thấp Doanh nghiệp và dân chúng nông thôn có khả năng tiếp cận tới thông tin, dịch vụ giáo dục và đào tạo kinh doanh kém hơn khu vực thành thị [227] Đặc điểm này ảnh hưởng rất lớn tới khả năng phát triển hoạt động của các TCTCNT Để phát triển
hoạt động, các TCTCNT phải giải quyết được vấn đề giảm chi phí giao
dịch đối với khách hàng.
- Thứ hai, TCTCNT muốn hoạt động thành công phải vận dụng linh
hoạt cả cơ sở pháp lý chính thức và phi chính thức Việc áp dụng theo luật
Trang 3lệ chính thức trong khu vực nông thôn thường mất nhiều chi phí và thời gian hơn khu vực đô thị Các hình thức bảo đảm truyền thống như nhà cửa, đất đai cũng kém hiệu lực hơn Tại nhiều khu vực nông thôn, dân chúng hầu như không có tài sản gì có thể thế chấp được trừ đất đai đã được cấp sổ hoặc các doanh nghiệp đã đăng ký kinh doanh Thực tế, các hương ước, lề lối phi chính thức có hiệu lực hơn nhiều tại khu vực nông thôn, mặc dù các
“luật lệ” phi chính thức này rất đa dạng và thậm chí khác nhau ngay trong một vùng Vì vậy, TCTCNT phải quan tâm và sử dụng các lề lối, giao ước phi chính thức này một cách linh hoạt trong hoạt động kinh doanh của
mình Một số TCTCNT đã rất thành công khi sử dụng kết hợp giữa “luật
nước” và “lệ làng”[21].
19
- Thứ ba, các TCTCNT phải đối mặt với rủi ro cao Thị trường tài
chính và hàng hóa trong khu vực nông thôn thường bị chia cắt, vì vậy giá
cả thường bị biến động mạnh nếu có sự thay đổi nhỏ về cung và cầu Thu nhập của dân cư nông thôn chủ yếu từ nông nghiệp, các nguồn thu nhập phi nông nghiệp như dịch vụ, công nghiệp, làm công ăn lương thường chỉ chiếm tỷ trọng rất nhỏ Rủi ro xẩy ra cho ngành nông nghiệp sẽ ảnh
hưởng tới toàn bộ khu vực nông thôn thông qua các liên kết ngược và
xuôi Hơn nữa, rất nhiều hoạt động nông nghiệp và sản xuất kinh doanh khác trong khu vực nông thôn mang tính chất tự cung tự cấp, tính tiền tệ hóa thấp Vì vậy, dòng tiền mặt tính theo đầu người của khu vực nông
thôn thường thấp và kém đa dạng Để đối mặt với rủi ro này, rất nhiều
Trang 4đơn vị tài chính phi chính thức đã được dân chúng nông thôn sử dụng như các hụi họ, vay mượn bạn bè, vay tư nhân…Tuy nhiên, khu vực phi chính thức thường không hiệu quả khi các rủi ro đa biến xảy ra như lũ lụt, hạn
hán, sâu bệnh Đây là một trong những thách thức lớn nhất khi các
TCTCNT phát triển hoạt động [227]
- Thứ tư, khách hàng của TCTCNT thường có khả năng chịu đựng rủi ro
thấp và tính dễ bị tổn thương cao Có ba nhóm khách hàng chính của các TCTCNT Nhóm thứ nhất là các doanh nghiệp công nghiệp chế biến nông
sản, các doanh nghiệp phi nông nghiệp và các chủ trang trại lớn – có thu nhập
cao, nắm giữ tài sản lớn ở khu vực nông thôn Nhóm thứ hai là các hộ gia đình có đất đai, không nghèo đói Hai nhóm này thường không gặp khó khăn khi tiếp cận với dịch vụ tài chính nhưng chiếm tỷ trọng nhỏ trong khu vực nông thôn, và họ cũng có khả năng tiếp cận khá tốt đối với các TCTC đô thị Nhóm thứ ba là các hộ gia đình sống dưới mức nghèo khổ hoặc gần mức nghèo nhưng rất dễ bị tổn thương Họ thường không có tài sản thế chấp
truyền thống, thu nhập phụ thuộc rất lớn vào nông nghiệp Nhóm thứ ba 20
chiếm tỷ trọng lớn trong khu vực nông thôn ở các nước đang phát triển [226],
[227] Sự biến động trong hoạt động sản xuất nông nghiệp nông thôn dễ dàng
khiến các khách hàng này rơi vào tình trạng nghèo đói.
Thứ năm, các TCTCNT phải đối mặt với vần đề cầu về các dịch vụ tài
chính nông thôn có tính thời vụ cao Do nông nghiệp thường đóng góp lớn
Trang 5nhất cho GDP khu vực nông thôn, tính chất thời vụ và phụ thuộc vào điều kiện tự nhiên của hoạt động nông nghiệp ảnh hưởng rất lớn tới hành vi sử dụng dịch vụ tài chính nông thôn [150] Nếu tập trung vào tác động tiêu cực
của nợ nần đến sự nghèo khổ của nông dân thì có thể kêu gọi sự hỗ trợ từ bên
ngoài để giảm bớt tình trạng này như cách tiếp cận tài chính truyền thống sử dụng (chẳng hạn, thông qua chính sách tín dụng chỉ định hoặc chính sách lãi suất thấp) Cách thứ hai, trên quan điểm của người vay, có thể chỉ quan tâm đến những kích thích vật chất cần thiết để huy động vốn cho các khoản vay: bởi vì vốn chỉ được vay vào một thời kỳ nào đó trong năm nên lãi suất cao hơn – chứ không phải thấp hơn – là cần thiết để bù đắp cho thời kỳ vốn nhàn rỗi Đây cũng chính là một trong những tư tưởng chính của trường phái tiếp cận tài chính mới.
Mặc dù đặc điểm của các TCTNT tương tự nhau, các TCTCNT chủ
yếu trên thị trường cũng có những đặc điểm khác nhau liên quan tới các vấn
đề về quy mô, chủ sở hữu, quy trình ra quyết định, sự giám sát, cơ cấu tổ chức, mô hình hoạt động.===luân án của lê thanh tâm về tctcnt
Lí do mà lãi suất thướng cao hơn ngan hàng thương mại
+đánh giá tính ưu việt so với hoạt động cấp tín dụng của ngân hàng thương mại (so sánh)
+ qua việc phân tích pháp luật về những hoạt động cũng như qui chế của tctcvm thấy dc những tồn tại còn vướng mắc về tổ chức hoạt động của loại hình hoạt động này (thực trạng pháp luật):
Các nguyên nhân thuộc về môi trường luật pháp
a Các quy định pháp lý cho hoạt động của các TCTCNT vừa thiếu vừa yếu Hiện nay, các quy định pháp lý điều chỉnh hoạt động của các
Trang 6TCTCNT không hề tính đến đặc trưng riêng có khu vực này Vì vậy, các đơn vị này chịu sự điều chỉnh giống như các TCTC đô thị Các quy định
về quản lý an toàn, về trích lập, xử lý rủi ro, về dự trữ, về phát triển dịch
vụ, về thuế thu nhập… được áp dụng chung cho mọi loại TCTCNT.
Trong khi đó, khả năng rủi ro, lợi nhuận, cơ sở khách hàng… của các
TCTCNT rất khác biệt, và điều này vô tình đã tạo ra sân chơi không bình đẳng cho các TCTCNT Đặc biệt, hệ thống QTDND hiện nay bị điều
chỉnh tương tự như một ngân hàng lớn, với các chỉ tiêu CAR, nợ quá hạn, thuế suất thuế thu nhập… tương đương.
Các QTDND có điểm mạnh rất lớn là định hướng hoạt động theo
đúng nhu cầu khách hàng Tuy vậy, các quỹ này không được phép mở rộng phạm vi đối tượng phục vụ của mình ra quá nhóm thành viên đã đăng ký của họ (trừ trường hợp cho vay người nghèo) Điều này đã gây ra hạn chế rất lớn cho việc tăng trưởng quy mô của các quỹ Để lấy được giấy phép của NHNN, và đạt được độ bền vững về hoạt động và tài chính, các QTDND phải cân bằng nguồn vốn của mình, và không thể tập trung riêng – hay thậm chí chủ yếu – đến mảng khách hàng nghèo trong cộng đồng Ngân hàng nhà nước và Chính phủ chưa tin tưởng vào sự hoạt động 117
an toàn của các QTDND nên đã có các phương thức, biện pháp quản lý giám sát quá trực tiếp, hành chính đối với hệ thống này.
Trước khi có sự ra đời của nghị định 28, Việt Nam chưa có một
khung pháp lý nào đối với hoạt động tài chính quy mô nhỏ, và cũng chưa
Trang 7có sự nhất trí nào về một chính sách tài chính vi mô hợp lý Nghị định 28 đưa ra nền pháp lý cần thiết cho khu vực tài chính bán chính thức, nhưng ngay từ khi ra đời, nghị định này đã gây ra rất nhiều tranh cãi [9].
Tới cuối năm 2007, Chính phủ đã có nghị định 165 sửa đổi, bổ sung
và bãi bỏ một số điều của Nghị định 28 Những điểm nổi bật của Nghị
định 165 là: cho phép TCTC quy mô nhỏ được hạch toán theo hướng dẫn của Bộ Tài chính chứ không nhất thiết theo hướng dẫn của NHNN (sửa
đổi điều 30); cho phép các TCTC quy mô nhỏ không huy động tiết kiệm
tự nguyện được quyền tiếp tục hoạt động như bình thường (sửa đổi điều
37 khoản 2), bãi bỏ một số quy định về việc thu hồi giấy phép, phá sản,
góp vốn và chuyển nhượng và miễn trừ (bãi bỏ điểm đ khoản 2 Điều 13, Điều
15, Điều 20 và Điều 36) [9, 11] Tuy vậy, một số vướng mắc như:
chế tài TCTC quy mô nhỏ như NHTM, vấn đề về vốn pháp định, phạm vi
hoạt động… vẫn tồn tại Do đó, việc triển khai nghị định 28 và nghị định
165 đã bị chậm trễ Ngày 2/4/2008, tức sau hơn ba năm ra đời nghị định
28, NHNN mới hoàn thành và ban hành thông tư hướng dẫn thực hiện
nghị định [39].
Các hạn chế khác đòi hỏi việc tăng cường can thiệp pháp lý để phát
triển hoạt động của các TCTCNT ở Việt Nam bao gồm :
- Nhu cầu cấp thiết để tạo ra và duy trì cơ sở dữ liệu thông tin cập nhật
và liên tục về các tổ chức tài chính phục vụ thị trường, kể các chất lượng tài sản, các nguồn vốn, và phân đoạn thị trường để tăng cường quản lý rủi ro 118
- Việc thiếu hệ thống tham chiếu tín dụng (văn phòng) với ít nhất hệ
Trang 8thống đăng ký vay cũng làm tăng rủi ro của việc quá nhiều tín dụng, và do đó
không phát hiện được rủi ro của danh mục đầu tư tại thị trường hoạt động tốt
- Sự xếp hạng thường xuyên của các TCTCNT lớn và trung bình
(chính thức và bán chính thức) cũng cải thiện lòng tin và hiểu biết thị trường tài chính trong ngành này.
Với quy định khuyến khích và địa vị pháp lý rõ ràng, các TCTCNT bán
chính thức dường như cũng phát triển khả năng lớn hơn để sánh vai với các TCTCNT chính thức, tiếp thu kinh nghiệm quốc tế, tăng cường nỗ lực để hoạt động chuyên nghiệp hơn Việc tuân thủ các quy định pháp lý mới chắc chắn
sẽ làm phát sinh chi phí, nhưng tạo cơ sở để tăng cường khả năng về tổ chức
và thể chế của các TCTCNT này Trong tương lai, các TCTCNT sẽ cần đầu tư nhiều hơn vào đào tạo nhân viên và quản lý, phát triển hệ thống thông tin quản lý và kế toán để đáp ứng các quy định bổ sung yêu cầu các TCTCVM phải tuân thủ theo các tiêu chuẩn báo cáo mới của NHNN [46].
b Việc áp dụng các tiêu chuẩn kế toán quốc tế hiện tại chưa được thực hiện tốt.
Các quy định của NHNN ban hành liên quan tới các tỷ lệ đảm bảo
an toàn và quản lý rủi ro đã tiến gần tới tiêu chuẩn quốc tế [21], [43], 48], nhưng các chế tài kiểm tra việc thực hiện còn nhiều vấn đề Số liệu tài chính của các TCTCNT gặp rất nhiều vấn đề, có sự chênh lệch lớn
[46-giữa số liệu theo chuẩn kế toán Việt Nam và chuẩn kế toán quốc tế Phần phụ lục 2.7 minh họa rõ hơn vấn đề số liệu và các chuẩn kế toán của các TCTCNT Việt Nam.
Trang 9c Quan niệm chưa hợp lý về cách cung cấp tín dụng cho người nghèo
Cách tiếp cận tín dụng đối với người nghèo hiện nay vẫn là chính sách lãi suất thấp, thể hiện rất rõ thông qua hoạt động của NHCSXH và các 119
chương trình hỗ trợ của chính phủ Điều này có thể dẫn đến ba sai lệch như sau.
- Hạn chế hoàn toàn khả năng đưa ra mức lãi suất của các TCTCNT để
có thể trang trải mọi chi phí thông qua các giới hạn lãi suất Kết quả là các TCTCNT khác bị đẩy ra khỏi thị trường, các NHTM và các TCTCNT mới
không được khuyến khích tham gia vào thị trường
- NHCSXH chịu một nửa lãi suất của AGRIBANK, là đối tượng
được miễn thuế và được Chính phủ bảo lãnh Các chính sách liên quan tới NHCSXH và một chừng mực nào đó liên quan tới NHPT cho dù là có
thiện chí, đã gây ra những sai lệch trong hệ thống, giảm huy động vốn và
có thể ảnh hưởng nghiêm trọng tới mức độ ổn định bền vững của các
TCTCNT khác.
- Tăng thái độ trông chờ, ỷ lại, phụ thuộc vào bao cấp của các hộ nghèo
Vì vậy, thị trường tài chính nông thôn không có sự cạnh tranh lành
mạnh, bị bóp méo Đây là những khó khăn thách thức trong thời kỳ quá độ của một nền kinh tế thị trường tự do.
+ pháp luật về mô hình tctcvm trên thế giới
Mô hình thứ ba khởi xướng cho sự phát triển của tài chính nông thôn hiện
Trang 10nay là mô hình ngân hàng Grameen ở Bangladesh Chính GS Yunus là người sáng
lập ra mô hình này năm 1983 và hiện đã được áp dụng tại hơn 100 quốc gia trên
toàn thế giới Đây là một ngân hàng riêng cho người nghèo, cung cấp các món vay
không cần thế chấp Hơn 66% của khoản tiền gửi là từ thành viên vay vốn của
ngân hàng Ngân hàng do người vay sở hữu và dựa trên phương pháp luận riêng
khác biệt hoàn toàn với các ngân hàng thương mại thông thường Hiện nay, ngân
hàng Grameen đang cung cấp món vay cho 4.5 triệu người nghèo, 96% trong số
họ là phụ nữ, tại 50.936 xã ở Bangladesh [174], [183] Mô hình này chứng minh
rằng người nghèo có nhu cầu tài chính lớn, và hoạt động bền vững chỉ dựa vào
khách hàng nghèo có tính khả thi cao.
+ hướng hoàn thiện pháp luật (giải pháp : có học hỏi kinh nghiệm về mô hình pháp luật của tctcvm trên cơ sở các điều kiện về kinh tế xã hội của việt nam)
Tổng quan : Hiện nay,ở Việt Nam có hàng trăm tổ chức cung cấp dịch vụ tài chính vi mô thuộc ba khu vực: khu vực chính thức, khu vực bán chính thức và khu vực phi chính thức Khu vực chính thức gồm hệ thống quỹ tín dụng nhân dân, Ngân hàng chính sách xã hội và Ngân hàng Nông nghiệp và phát triển nông thôn Khu vực bán chính thức gồm các tổ chức phi chính phủ trong và ngoài nước và chương trình của các tổ chức xã hội Khu vực phi chính thức là các nhóm cho vay tương hỗ dưới hình thức phường, họ, hụi, thậm chí vay nặng lãi.
Trang 11luận văn chỉ tập trung nghiên cứu TCTCVM ở khu vực chính thức là quỹ tín dụng nhân dân, ko nghiên cứu về nhcsxh bởi do nhcs xh mục tiêu ko vì lợi nhuận, nhân viên ko có động lực phát triển, ko nghiên cứu về ngân hàng argibank vì năm 2003 nó được nhà nước tách biệt
vs hoạt động cho dân nghèo vay = luận án lê thanh tâm
Cần một hành lang pháp lý để tài chính vi mô bền vững và trách nhiệm
Nhiều nội dung thiết thực xung quanh chủ đề này đã được các đại biểu thảo luận, nhằm có một hành lang pháp
lý, một cơ chế hợp lý để tài chính vi mô phát triển bền vững.
Tài chính vi mô khác tín dụng vi mô ở chỗ: tài chính vi mô đề cập đến các hoạt động cho vay, tiết kiệm, bảo hiểm, chuyển giao dịch vụ và các sản phẩm tài chính khác đến cho nhóm khách hàng có thu nhập thấp Tín dụng vi mô chỉ đơn giản là một khoản cho vay nhỏ, không cần tài sản thế chấp, hoặc thông qua việc cho vay theo nhóm.
Do vai trò đặc biệt của nó, nhất là trong bối cảnh còn nhiều người nghèo, xóa đói giảm nghèo còn là mục tiêu lớn nên Luật các tổ chức tín dụng năm 2010 đã khẳng định tài chính vi mô là một loại hình tổ chức tín dụng tại Việt Nam Bước tiến về phương diện pháp lý này cũng phù hợp với thông lệ quốc tế hiện nay.
Trang 12Tổng giám đốc TYM Dương Ngọc Linh điều hành phiên thảo luận
Việt Nam là một trong những quốc gia tại Đông Á có tỷ lệ tiếp cận tài chính thấp nhất, chỉ có 21% số người trưởng thành có tiếp cận với các dịch vụ tài chính chính thức Đặc biệt là tiếp cận với dịch vụ tiết kiệm còn rất hạn chế, chỉ có 8% số người trưởng thành gửi tiết kiệm tại một tổ chức tài chính chính thức Cũng như ở các nước khác, phụ nữ và người nghèo thậm chí còn ít tiếp cận hơn với các dịch vụ tài chính chính thức, đặc biệt là khu vực nông thôn Do vậy, tài chính vi mô hay phổ cập dịch vụ tài chính là một trong những thách thức lớn ở Việt Nam, cần có bàn tay hỗ trợ của nhiều tổ chức, bao gồm chính phủ, cơ quan hoạch định chính sách, các tổ chức tài chính, các hiệp hội nghề nghiệp…
Chia sẻ tại Hội thảo, ông Nguyễn Mạnh Cường, Vụ Kinh tế tổng hợp Văn phòng Chính phủ đưa ra những con
số và hình ảnh cho thấy vai trò của tài chính vi mô đối với người nghèo hiện nay Ngân hàng Chính sách xã hội
vì an sinh xã hội đưa ra mức lãi suất 5-7%/năm nhưng do nguồn lực hạn chế nên tỷ lệ người nghèo được vay vốn ít Ngân hàng thương mại lãi suất 10-12%/năm nhưng có nhiều rào cản đối với người nghèo như đòi hỏi tài sản thế chấp, thủ tục phức tạp, nên người nghèo không thể tiếp cận Trong khi đó tài chính vi mô lãi suất 20-12%/năm thì có thể đến được với mọi đối tượng nghèo Hiện nay, người nghèo không tiếp cận được với ba nguồn trên đây sẽ đến với tín dụng đen lãi suất 70-100%/năm Mức lãi suất quá cao cộng với các thủ đoạn o
ép, buộc trả nợ, khiến nhiều người nghèo bị tước đoạt đến những tài sản cuối cùng như nhà đất, ruộng vườn, kéo theo nhiều hệ lụy xã hội phức tạp Ông Cường cho biết, trên 90% khách hàng nghèo đã gia tăng thu nhập
và đầu tư cho sản xuất kinh doanh của họ cũng tăng lên đáng kể từ khi sử dụng dịch vụ tài chính vi mô.
Bà Nguyễn Thị Hà, đại diện UBND tỉnh Nghệ An mang đến cho Hội thảo những thông tin từ địa phương rất cụ thể Nghệ An có dân số trên 3 triệu người, trong đó 13,4% là hộ nghèo, vì vậy xóa đòi giảm nghèo là một trong những nhiệm vụ quan trọng của Nghệ An Nguyên nhân nghèo được xác định là 55,63% thiếu tư liệu sản xuất, 24,645% thiếu lao động, 19,73% do nguyên nhân khác Do đó, sự có mặt của TYM – Tổ chức tài chính vi mô đầu tiên được cấp phép tại Việt Nam đã hỗ trợ Nghệ An giảm nghèo trên địa bàn.
Đại biểu này chia sẻ: Chúng tôi đã chứng kiến các cán bộ Quỹ Tình thương, nay là Tổ chức tài chính vi mô Tình thương –TYM, ngoài việc tư vấn, hỗ trợ vay vốn, gửi tiết kiệm, còn dạy thành viên học chữ, giáo dục về tài chính, đào tạo về giới và kinh doanh, chăm sóc sức khỏe, hỗ trợ cộng đồng… Về vốn vay, thành viên đạt 99,9% tỷ lệ hoàn trả vốn Tiền tiết kiệm của các thành viên cũng không ngừng tăng lên đều đặn, dù số tiền đóng góp rất nhỏ, từ 5000đ Trong số các khách hàng của TYM, đã có khoảng 70% thoát nghèo sau 3 năm tham gia và rất nhiều người nghèo đã đi lên từ doanh nghiệp siêu nhỏ, doanh nghiệp nhỏ sau nhiều năm tham
Trang 13gia vay vốn và tham dự các khóa đào tạo.
Phát triển bền vững
Lãi suất của các tổ chức tài chính vi chính vi mô cao hơn các ngân hàng Đây là một vấn đề được chú ý Mức lãi suất này dựa trên nguyên tắc hoạt động của các tổ chức tài chính vi mô là mang dịch vụ về tận thôn bản, người nghèo không mất chi phí đi lại, giao dịch như vay vốn của các ngân hàng Do đó, trong mức lãi suất này
có phần gánh chi phí của người vay.
Bà Nguyễn Thị Hà, đại biểu đến từ Nghệ An
Một khác biệt nữa của dịch vụ tài chính vi mô so với hệ thống tín dụng khác còn ở chỗ “tài sản đảm bảo” của người nghèo chỉ là… nghèo và vì thế, họ chỉ có niềm tin để “thế chấp” cho các tổ chức tài chính vi mô Nếu rủi
ro, người vay không có khả năng trả nợ thì tổ chức tài chính cho vay phải gánh chịu Hơn nữa, do các khoản vay rất nhỏ, nên chi phí quản lý lớn hơn các ngân hàng là điều không thể tránh được Như ông Muhammda Yunus, người sáng lập Ngân hàng Grameen và chủ nhân giải Nobel Hòa Bình đã nói: “Tài chính vi mô không phải là từ thiện Đây là kinh doanh Kinh doanh với mục đích xã hội là giúp con người thoát nghèo” Vì vậy, duy trì một mức lãi suất hợp lý là vấn đề lớn đặt ra cho các tổ chức tài chính vi mô Nếu lãi suất thấp, không bù đắp nổi chi phí và lãi suất huy động thì tổ chức phá sản Nếu quá cao để khách hàng không trả được, dẫn đến mất vốn thì rủi ro cũng thuộc về tổ chức tài chính cho vay.
Làm thế nào để có lãi suất hợp lý và phát triển bền vững là nội dung được Hội thảo rất quan tâm Ông Nguyễn Mạnh Cường cũng cho rằng, do tính chất đặc thù nên khi hoạch định chính sách, cần có trần lãi suất riêng cho tài chính vi mô.
Bà Maggaret Miller, chuyên gia nhóm phổ cập dịch vụ tài chính của WB cho rằng, với mục tiêu xóa đói giảm nghèo, phổ cập dịch vụ tài chính là rất quan trọng Các hoạt động của các tổ chức tài chính vi mô khắc phục những bất cập của thị trường và nhà nước trong lĩnh vực này Chia sẻ kinh nghiệm giảm lãi suất, bà Miller cho rằng phải quản lý nội bộ tốt để giảm chi phí, tăng sự minh bạch và tiếp cận rộng rãi với các nguồn vốn, trong nước và nước ngoài để có đầu vào hợp lý.
Bà Mohini Bhatia, có 15 năm làm việc trong lĩnh vực phát triển khu vực tư nhân của WB và GE Capital, hiện
là chuyên gia tài chính của IFC chia sẻ kinh nghiệm của các tổ chức tài chính vi mô có hiệu quả trên thế giới
để phát triển bền vững và có trách nhiệm Như ở Azecbaizan, hoạt động theo tiêu chí giảm nhẹ rủi ro, giảm nhẹ chi phí, tăng năng suất và tạo điều kiện thuận lợi cho tăng trưởng… để đạt được lợi ích cho cả hai phía Ở Ấn
Trang 14Độ người ta đề ra các tiêu chí: Liêm khiết, chất lượng dịch vụ, minh bạch, công bằng, bí mật thông tin của khách hàng, tích hợp các giá trị và hoạt động kinh doanh, cách góp ý của khách hàng…
Về con đường phía trước của các tổ chức tài chính vi mô Việt Nam, chuyên gia này cho rằng, phải dựa trên ba trụ cột đó là bảo vệ người tiêu dùng; tự quản của các tổ chức tài chính; giáo dục tài chính, xóa mù tài chính, tăng cường nhận thức về tài chính cho người dân Bà Mohini Bhatia nhấn mạnh: Khách hàng phải là trung tâm, các hoạt động phải xoay quanh trung tâm đó.
Chính phủ thúc đẩy sự phát triển của tài chính vi mô
Trong một diễn biến khác, Thủ tướng Chính phủ đã kí Quyết định số 381/QĐ-TTg ngày 18/3/2014 về việc thành lập Ban công tác tài chính vi mô Thống đốc Ngân hàng Nhà nước Việt Nam Nguyễn Văn Bình làm Trưởng ban Ban công tác có chức năng giúp Thủ tướng Chính phủ nghiên cứu, chỉ đạo công tác phát triển hoạt động tài chính vi mô.
Với quyết định này của Thủ tướng Chính phủ, hoạt động tài chính vi mô có điều kiện để lớn mạnh, phát huy vai trò của mình trong công cuộc kinh doanh vì mục tiêu xã hội, xóa đói giảm nghèo.
Tuy nhiên, hiện nay nhận thức chung về tài chính vi mô, khuôn khổ pháp lý, mục tiêu hoạt động, tính tự vững, quản trị điều hành… đang còn nhiều bất cập Vì vậy, việc tổ chức các hội thảo, với sự tham gia của các đại diện NHNN, các tổ chức tài chính, các chuyên gia quốc tế là hết sức cần thiết và bổ ích Ông Hoàng Quốc Mạnh, đại diện cơ quan Thanh tra giám sát của NHNN tham dự hội thảo cũng nhận định, nội dung hội thảo rất
bổ ích cho NHNN hướng dẫn thực hiện Luật các tổ chức tín dụng, nhằm hướng các tổ chức tài chính vi mô phát triển bền vững và có trách nhiệm.
Tài chính vi mô còn góp phần bình đẳng giới Năm 2013, TYM có 96.000 khách hàng là phụ nữ Họ đều là phụ
nữ nghèo, cận nghèo, vùng sâu vùng xa hoặc ảnh hưởng HIV/AIDS Với sản phẩm mới là vốn vay chính sách, chị em có thể vay từ 1 triệu đến 10 triệu đồng/lượt vay Sau gần 1 năm TYM đã giải ngân gần 40 tỷ đồng cho
4815 đối tượng nghèo… Bên cạnh đó TYM duy trì các khoản vay truyền thống như hỗ trợ phát triển kinh tế, xây dựng sửa chữa, vốn tiêu dùng, nên năm 2013 tổng số vốn phát ra toàn TYM đạt gần 1.087 tỷ đồng, dư nợ vốn 582,2 tỷ đồng Tỷ lệ hoàn trả toàn TYM đạt gần 99,96%.( http://www.baomoi.com/Can-mot-hanh-lang- phap-ly-de-tai-chinh-vi-mo-ben-vung-va-trach-nhiem/126/14616604.epi )
Trang 15Nghiên cứu của Nhóm công tác tài chính vi mô cho thấy tài chính vi mô đã cải thiện khả năng tiếp cận dịch vụ tài chính cho người nghèo và thu nhập thấp, từ đó mang lại hiệu quả kinh tế lớn cho hàng triệu hộ gia đình.
Thông tin được các diễn giả đưa ra tại Hội thảo “Tài chính vi mô bền vững và trách nhiệm tại Việt Nam - Thực trạng và phương hướng phát triển”, do NHNN, Tổ chức Tài chính quốc tế (IFC) và một số đơn vị trong và ngoài nước tổ chức ngày 19/8 tại Hà Nội, có chung một nhận định:
Việt Nam là một trong những quốc gia tại Đông Nam Á có tỷ lệ tiếp cận dịch vụ tài chính thấp Chỉ có 21% số người trưởng thành có tiếp cận với các dịch vụ tài chính chính thức Phụ nữ và người nghèo, nhất là ở khu vực nông thôn là những đối tượng ít được tiếp cận với các dịch vụ tài chính Do vậy, việc hỗ trợ người dân tiếp cận tài chính vi mô (TCVM), hay phổ cập dịch vụ tài chính là một trong những thách thức lớn của Việt Nam Ông Nguyễn Phước Thanh - Phó thống đốc NHNN cho rằng, ngành TCVM ở Việt Nam đã có những bước tiến quan trọng trên con đường chính thức hóa và chuyên nghiệp hóa Các nhà cung cấp TCVM bước đầu đã tạo những tác động kinh tế - xã hội lớn lao tới các hộ gia đình nghèo, có thu nhập thấp và các DN siêu nhỏ , nhưng vẫn còn nhiều khó khăn và thách thức khi chúng ta muốn phổ cập hơn nữa các dịch vụ tài chính, ngân hàng.
Phó thống đốc cho rằng, trước mắt chúng ta là những thách thức về khả năng cạnh tranh đòi hỏi phải nâng cao năng lực của tổ chức từ nguồn lực vốn, nhân sự đến những yêu cầu đổi mới công nghệ, dịch vụ và đặc biệt là những đòi hỏi cao về năng lực quản lý, điều hành tổ chức TCVM trong môi trường hội nhập.
Nghiên cứu của Nhóm công tác TCVM cho thấy: TCVM đã cải thiện khả năng tiếp cận dịch vụ tài chính cho người nghèo và thu nhập thấp, từ đó mang lại hiệu quả kinh tế lớn cho hàng triệu hộ gia đình Theo đó, trên 90% khách hàng là hộ nghèo đã gia tăng thu nhập và có vốn đầu tư cho sản xuất kinh doanh đáng kể từ khi sử dụng dịch vụ TCVM Điều đó chứng minh TCVM đang có những đóng góp hiệu quả rất tích cực đối với sự phát triển kinh tế - xã hội của đất nước.
Là tổ chức TCVM chính thức được cấp phép đầu tiên tại Việt Nam, Tổ chức TCVM Tình Thương (TYM) đang khẳng định vai trò xuất sắc trong việc cung ứng dịch vụ TCVM hàng đầu cho các cá nhân, hộ gia đình có thu nhập thấp, đặc biệt là phụ nữ nghèo và yếu thế Bà Dương Thị Ngọc Linh - Tổng giám đốc TYM cho rằng, thời gian qua, TYM luôn duy trì cung cấp các sản phẩm truyền thống đã được chứng minh phù hợp với các đói tượng nghèo như hỗ trợ vốn phát triển kinh tế, vốn xây dựng, sửa chữa… TYM cho vay theo phương thức cho vay trực tiếp, không cần tài sản thế chấp, món vay từ nhỏ đến lớn và hoàn trả dần theo tuần.
Ảnh minh họa
Trang 16Năm 2013, tổng vốn phát ra của toàn hệ thống TYM gần 1.087 tỷ đồng, với dư nợ vốn đạt gần 582 tỷ đồng; Tỷ
lệ hoàn trả toàn TYM đạt 99,96% Sang năm 2014, tính đến tháng 5/2014 đã có 97.200 người vay với dư nợ
640 tỷ đồng (30,1 triệu USD); Tỷ lệ trả nợ là 99,98% Điều này cho thấy tổ chức TCVM đang hoạt động hiệu quả, mang lại nhiều lợi ích đối với người nghèo cần vốn sản xuất kinh doanh nhỏ lẻ.
Tầm quan trọng của TCVM không chỉ đối với Việt Nam mà ở hầu hết các nước đang phát triển Bà Margaret Miller - Chuyên gia kinh tế cao cấp Nhóm Phổ cập dịch vụ tài chính (WB) cho biết, ở các nước đang phát triển, nhu cầu về dịch vụ tài chính rất cao, hơn 70% người trưởng thành không tiếp cận được các dịch vụ tiết kiệm, tín dụng, thanh toán hay bảo hiểm chính thức Số đối tượng không được hưởng dịch vụ ngân hàng còn cao hơn trong nhóm người nghèo, dân cư khu vực nông thôn và phụ nữ.
Chính vì vậy, việc phổ cập TCVM trên thế giới và bắt đầu được cập nhật và trở thành mục tiêu chiến lược tại các nước đang phát triển và mới nổi, đặc biệt là châu Á Các chuyên gia cho rằng, việc phát triển mô hình này đem lại nhiều cơ hội cũng như thách thức cho các tổ chức tài chính trong việc phục vụ phân khúc khách hàng tài chính thu nhập thấp một cách bền vững.
Theo ông Nguyễn Mạnh Cường - Vụ Kinh tế tổng hợp, Văn phòng Chính phủ, các đối tượng người nghèo ở Việt Nam khi có nhu cầu vay vốn họ có thói quen tìm đến tín dụng đen, vay nặng lãi, hoặc cầm đồ với lãi suất rất cao Điều này không chỉ là thiệt thòi, khó khăn cho người vay mà còn gây nhiều hệ lụy đối với xã hội Đây cũng không phải là vấn đề chỉ có ở Việt Nam Mặc dù trên thế giới có hơn 1.500 tổ chức chuyên cung cấp dịch vụ tài chính cho người nghèo, song quy mô vẫn còn hạn chế so với nhu cầu Các ngân hàng và tổ chức TCVM phải tốn nhiều chi phí hơn khi phục vụ khách hàng là người nghèo Ví dụ so với khi cho một khách hàng vay một khoản trị giá 100.000 USD, ngân hàng sẽ bỏ ra chi phí ít hơn khi TCVM cho 1.000 khách hàng
mà mỗi khoản vay chỉ là 100 USD Do đó các tổ chức TCVM thường gặp khó khăn khi phải cung cấp các khoản vay và các dịch vụ tài chính khác với giá thấp.
Bà Nguyễn Tuyết Mai - Giám đốc Trung tâm tư vấn nguồn lực TCVM DNNVV cho rằng, hiện các tổ chức TCVM ở Việt Nam ngoài khó khăn về môi trường pháp lý liên quan đến cấp phép, tổ chức hoạt động còn gặp khó khăn về sự cạnh tranh trên thị trường.
Ông Hoàng Quốc Mạnh, Phó vụ trưởng Vụ Quản lý cấp phép các TCTD và hoạt động ngân hàng (Cơ quan Thanh tra, giám sát ngân hàng - NHNN) cho rằng: để tổ chức TCVM hoạt động và phát triển cần tạo dựng môi trường pháp lý tốt hơn cho hoạt động này NHNN đã có những giải pháp như hoàn thiện các văn bản quy phạm pháp luật hướng dẫn thi hành Luật Các TCTD liên quan đến TCVM; Ban hành các chính sách hỗ trợ phù hợp, khuyến khích phát triển hoạt động TCVM như ưu đãi các vấn đề về thuế, phí…( http://www.baomoi.com/Tai- chinh-vi-mo-Co-hoi-de-nguoi-ngheo-tiep-can-dich-vu-tai-chinh/126/14616075.epi )
mở rộng các tổ chức tài chính vi mô, giải pháp giúp tháo gỡ những khó khăn cho cá nhân, hộ gia đình có thu nhập thấp
Trang 17Hoạt động của tổ chức tài chính quy mô nhỏ được quy định tại các văn bản pháp quy như Nghị định số 28/2005/NĐ-CP ngày 9/3/2005 về tổ chức và hoạt động của tổ chức tài chính quy mô nhỏ tại Việt Nam, Nghị định số 165/2007/NĐ-CP ngày 15/11/2007 sửa đổi, bổ sung, bãi bỏ một số điều Nghị định số 28 nói trên, Thông tư số 02/2008/TT- NHNN ngày 2/4/2008 hướng dẫn thực hiện Nghị định số 28 và Nghị định số 165 nói trên, Thông tư số 07/2009/TT-NHNN ngày 17/4/2009 quy định về các tỷ lệ đảm bảo an toàn trong hoạt động của tổ chức tài chính quy mô nhỏ, Luật Doanh nghiệp năm 1997, Luật TCTD năm 2010 và các văn bản pháp quy khác Theo đó, tổ chức tài chính quy
mô nhỏ là tổ chức tài chính hoạt động trong lĩnh vực tài chính, ngân hàng, với chức năng chủ yếu là sử dụng vốn tự có, vốn vay và nhận tiết kiệm để cung cấp một số dịch
vụ tài chính, ngân hàng nhỏ, đơn giản cho các hộ gia đình, cá nhân có thu nhập thấp.
Tổ chức tài chính quy mô nhỏ chỉ được phép thực hiện các hoạt động bằng đồng Việt Nam Đối với những tổ chức tài chính quy mô nhỏ nhận tiết kiệm tự nguyện phải tham gia bảo hiểm tiền gửi (BHTG) theo quy định của pháp luật Đó là những quy định pháp luật về hoạt động cơ bản của các tổ chức tài chính quy mô nhỏ.
Cụ thể gần đây, chúng ta được biết đến Tổ chức tài chính vi mô TNHH MTV tình thương (TYM) được ngân hàng nhà nước cấp giấy phép và hoạt động tại Việt Nam tháng 10/2010 với chức năng chủ yếu là sử dụng vốn tự có, vốn huy động (TYM được huy động vốn của cá nhân bắt buộc và tự nguyện) để hỗ trợ những phụ nữ có thu nhập thấp, có hoàn cảnh khó khăn.
TYM là tổ chức tài chính quy mô nhỏ được ra đời trong bối cảnh: Năm 1989 Ban chấp hành trung ương Hội Liên Hiệp phụ nữ Việt Nam phát động cuộc vận động "phụ nữ giúp nhau làm kinh tế gia đình" với 5 nội dung cụ thể, trong đó giúp nhau vốn sản xuất kinh doanh Đây là mục tiêu chính trong chương trình tín dụng của hội Trong giai đoạn này, nhiều tổ chức phi chính phủ đã lồng ghép hoạt động tín dụng - tiết kiệm vào các dự
án phát triển và coi đó như một bộ phận quan trọng bảo đảm tính bền vững của chương trình, là một công cụ hữu hiệu để xóa đói giảm nghèo Dự án do tổ chức SIDA Thụy Điển, UNFPA tài trợ là một trong những dự án như thế Tuy nhiên để tiến tới một quy mô hoạt động hiệu quả, sâu rộng và bền vững hơn, cuối năm 1991 với sự giúp đỡ tận tình của cố vấn tín dụng FAO - tiến sỹ Jame Stole B Aris Alip, Hội LHPN Việt Nam
đã xây dựng dự án tín dụng "Quỹ Tình Thương" nhằm hỗ trợ vốn cho nhóm phụ nữ nghèo và nghèo nhất theo phương pháp tiếp cận kiểu ngân hàng Grameen - Bangladesh.
Ngày 7/01/1992, bà Nguyễn Thị Thân - Tổng thư ký Trung ương Hội LHPN Việt Nam đã
ký quyết định số 11/QĐ về thực hiện Dự án Quỹ Tình Thương và trình Thủ tướng Chính phủ cho phép hoạt động thử nghiệm trên địa bàn huyện Sóc Sơn, Hà Nội Ngày
Trang 1820/2/1992, Chính phủ đã ban hành văn bản số 563/KTĐN cho phép Hội thực thi dự án trên các vùng miền nghèo.
Quỹ Tình Thương ra đời với tên giao dịch quốc tế là "Tau Yeu May" hay còn gọi là TYM Hoạt động chính của TYM là hỗ trợ vốn cho phụ nữ nghèo tăng thu nhập, phát triển sản xuất, dịch vụ đồng thời tuyên truyền nâng cao kiến thức về khuyến nông, về giới, sức khỏe sinh sản, phòng chống tệ nạn xã hội… Năm 2006 được coi là năm bản lề trong quá trình phát triển của TYM khi Hội Liên hiệp Phụ nữ Việt Nam quyết định chuyển Quỹ Tình Thương thành đơn vị sự nghiệp có thu hoạt động vì mục đích xã hội phi lợi nhuận Đây là kết quả của những nỗ lực không ngừng của cả tập thể cán bộ Quỹ Tình Thương trong suốt 8 năm Bước chuyển đổi này tạo điều kiện để TYM có thể tiếp cận với nguồn vốn trong và ngoài nước nhằm mở rộng hoạt động phục vụ thêm nhiều phụ nữ nghèo.
Chính bước chuyển đổi này đã giúp TYM phát triển nhanh chóng Tính đến cuối tháng 5/2012, TYM đã triển khai hoạt động trên 10 tỉnh thành của cả nước với 45 chi nhánh/phòng giao dịch, 74.938 thành viên với tổng số vốn phát ra gần 1756,9 tỷ đồng,
dư nợ vốn đạt trên 426,3 tỷ đồng Tỷ lệ hoàn trả luôn đạt trên 99,9% Số tiền tiết kiệm huy động được từ thành viên là 20,9 tỷ đồng Số cán bộ tính đến thời điểm này là 348 cán bộ.Trong quá trình hoạt động,với tầm nhìn là trở thành tổ chức tài chính vi mô tốt nhất ở Việt Nam thông qua việc cung cấp các dịch vụ tài chính vi mô bền vững và hiệu quả cho những phụ nữ người nghèo với đội ngũ cán bộ có chuyên môn, tâm huyết nhằm thực hiện trách nhiệm xóa đói giảm nghèo, TYM đã hoàn thành nhiệm vụ, nâng cao cuộc sống cho phụ nữ có thu nhập thấp, đặc biệt phụ nữ nghèo Các thành viên của TYM luôn được trau dồi đào tạo kiến thức, kĩ năng đào tạo nâng cao kiến thức kinh doanh và quản lí doanh nghiệp nhỏ cho thành viên; dạy xóa mù chữ…và tổ chức hoạt động cộng đồng Chính vì vậy,TYM đã giúp nhiều chị em phụ nữ vượt qua khó khăn, có
cơ hội làm giàu Một tấm gương điển hình từ một người thu mua phế liệu - chị Dương Thị Tuyết (Nam Định)- trở thành nữ doanh nhân được giải thưởng Tài chính vi mô quốc
tế Chị là một trong những thành viên tiêu biểu của TYM được vinh danh "Doanh nhân
vi mô tiêu biểu năm 2008" Một bất ngờ lớn, năm 2011, được TYM giới thiệu, chị đã trở thành 1 trong 6 doanh nhân vi mô trên toàn cầu (là doanh nhân vi mô duy nhất của Việt Nam) được nhận Giải thưởng Tài chính vi mô quốc tế do tổ chức Planet Finance thực hiện nhằm vinh danh các doanh nhân vi mô có thành tích sử dụng vốn hiệu quả trong quá trình tham gia các hoạt động tài chính vi mô Chị là một thành viên của quỹ TYM đã
sử dụng nguồn vốn vay hiệu quả để phát triển kinh tế, cải thiện chất lượng cuộc sống gia đình Tham gia quỹ TYM là một hoạt động có ý nghĩa, giúp cải thiện biết bao cuộc sống con người, thay đổi bao số phận.