Cuốn Lịch sử châu Âu của tác giả Norman Davies mang lại cho chúng ta một pho sử đồ sộ và đầy tham vọng về châu Âu từ thời cổ đại đến thời hiện đại. Với văn phong nghiêm cẩn của một sử gia nhưng cũng đầy xúc cảm và tài hoa, tác giả đề cập đến từng chi tiết lịch sử cụ thể, từ những cuộc di dân, tranh chấp lãnh thổ, chiến tranh tôn giáo v.v... qua bao biến động của thời cuộc để tạo nên những quốc gia và vùng lãnh thổ riêng biệt như ngày nay. Sách được chia thành 2 phần, mời các bạn cùng đón đọc phần 1 của cuốn sách sau đây.
Trang 3Ebook này được thực hiện theo dự án “SỐ HÓA SÁCH CŨ” của diễn đàn
TVE-4U.ORG
Trang 4TÁC GIẢ
--------
NORMAN DAVIES
(1939-)
Trang 6Norman Davies sinh năm 1939 tại Bolton, là sử gia hàng đầu người
Anh, đã công bố nhiều tác phẩm gây nhiều tiếng vang về lịch sử châu Âu,lịch sử nước Anh và Ba Lan
Xem thêm tại Wikipedia: https://en.wikipedia.org/wiki/Norman_Davies
Trang 7Bán đảo châu Âu, khoảng 10.000 trước CN.
Trang 8Vào buổi đầu, không hề có châu Âu như chúng ta thấy hiện nay.
Trong năm triệu năm, tất cả chỉ là một bán đảo dài, ngoằn ngoèo,không tên, tựa một con tàu nằm ở mũi một vùng đất rộng lớn nhất thế giới
Ở phía tây là đại dương, nơi chưa tùng có ai vượt qua Ở phía nam là haibiển nối liền nhau được bao quanh bởi những dải đất, với rải rác là nhữnghải đảo, những vịnh nhỏ và những bán đảo riêng của chúng Ở phía bắc làchỏm băng địa cực, mở rộng và thu hẹp lại qua các kỷ nguyên tựa nhữngcon sứa đông lạnh kỳ quái Ở phía đông là dải đất tựa như cây cầu nối vớiphần còn lại của thế giới, nơi mọi dân tộc và mọi văn minh sẽ xuất hiện.Trong những quãng thời gian giữa các Thời Đại Băng Hà, Bán đảo đã đónnhận những con người định cư đầu tiên Người Nean-derthal và ngườiCromagnon hẳn phải có những cái tên, những diện mạo và những ý tưởng.Nhung chúng ta không biết rõ về họ Chúng ta chỉ có thể lờ mờ nhận ra họqua những hình ảnh những đồ tạo tác và những bộ xương
Chỉ cách nay 12 ngàn năm, với lần rút lui sau cùng của băng hà, Bánđảo đã đón nhận những đợt di dân mới Chưa tùng được ca ngợi, nhữngngười tiên phong và những người thăm dò đã từ từ rời khỏi nơi đó để đi vềphía tây, dọc các bờ biển, vượt qua đất liền và các biển cho đến những hảiđảo xa nhất Công trình vĩ đại nhất còn tồn tại của họ - khi Thời Đại Đồ
Đá nhường chỗ cho Thời Đại Đồ Đồng - đã được xây dựng ở rìa của vùng
cư trú của con người, trên một hải đảo xa khuất ngoài khơi Nhưng ngàynay chưa có một nghiên cứu nào cho biết rõ điều gì đã gợi hứng cho nhữngthợ xây bậc thầy đó, hoặc cái vòng tròn bằng đá to lớn của họ đã được gọi
--------
TRUYỀN THUYẾT VỀ EUROPA
Trang 9là gì.1
Vào bình minh của Thời Đại Đồ Đồng, ở đầu bên kia của Bán đảo, cómột cộng đồng dân cư mà ảnh hưởng của nó tồn tại đến ngày nay Từ bêntrong lục địa, những người Hellenes đi xuống theo ba đợt chính và làm chủcác bờ biển của Aegea cho đến cuối thiên niên kỷ thứ 2 TCN Họ chinhphục và hòa trộn với các cư dân đang sống tại đây Họ tỏa ra hàng ngàn hảiđảo nằm rải rác trên những vùng biển nàm giữa các bờ biển của Peloponese
và Tiểu Á Họ hấp thu văn hóa đang nổi trội của lục địa và văn hóa cổ xưahơn của Crete Ngôn ngữ của họ làm cho họ khác biệt với những người
“ngoại lai” - “những người nói thứ tiếng không thể hiểu được” Họ lànhững người đã tạo ra Hy Lạp cổ đạị (Barbaros)
Vào thời kỳ muộn hơn, khi những đứa trẻ của thời đại cổ điển thắc mắcmuốn biết loài người từ đâu đến, thì chúng được cho biết về sự sáng tạo rathế giới của Opifex rerum hay “ Đấng tạo dựng thần thánh” Người ta kểcho chúng nghe về Hồng Thủy, và về Europa (châu Âu)
Europa là đề tài của một trong những truyền thuyết được trân trọngnhất của thế giới cổ điển Europa là mẹ của Minos, Chúa thượng của Crete,
và do đó là bà tổ của nhánh cổ xưa nhất của nền văn minh Địa Trung Hải
Europa đã từng được Homer nhắc đến Nhưng trong tác phẩm Europa
và Con Bò Tót, được cho là của Moschus người xứ Syracuse, và hơn hết
thảy, trong Biến Hình của nhà thơ La Mã Ovid, Europa được lưu danh
muôn thuở như là một công chúa ngây thơ bị Cha Của Các Thần dụ dỗ.Lang thang cùng với các trinh nữ dọc theo bãi biển của quê hươngPhoenicia, Europa bị quyến rũ bởi Zeus dưới lốt một con bò tót màu trắngnhư tuyết:
Và dần dà nàng hết sợ, và ông ta
Trang 10Trao bộ ngực cho những ve vuốt của nàng,
Trao cặp sừng để nàng quàng lên những chuỗi hoa,
Cho đến khi nàng công chúa chịu leo lên lưng ông,
Lên lưng con bò tót mà không biết mình đang cưỡi lên ai.
Rồi một cách từ tốn, chậm rãi đì xuống bãi biển rộng khô ráo
-Trước tiên, vị thần vĩ đại đặt những móng guốc,
Vào những con sóng cạn, rồi đi xa hơn
Cho đến khi mang chiến lợi phẩm ra ngoài khơi.
Lòng đầy sợ hãi, nàng nhìn lui và thấy
Những bãi cát đang lùi nhanh ra sau Bàn tay phải của nàng nắm lấy
Cái sừng, bàn tay kia trườn trên lưng bò.
Xao xuyến, chiếc áo của nàng bềnh bồng trong gió.2
Đó là truyền thuyết được nhiều người biết đến về Europa như đã được
vẽ trên những chiếc bình của Hy Lạp, trong đó những ngôi nhà của thànhphố Popeii, và được trình bày trong thời cận đại bởi các hoa sĩ Titian,Rembrandt, Rubens, Veronese, và Claude Lorrain
Cầm bút trong thế kỷ thứ 5.TCN, sử gia Herodotus không bị ấn tượngbởi truyền thuyết này Theo quan điểm của ông thì chuyện Europa bị bắtcóc chỉ là một sự cố trong những cuộc chiến thuở xưa nhằm tranh giànhphụ nữ Một nhóm người Phoenicie xuất phát từ Tyre đã bắt con gái củavua xứ Argos và đưa ra khỏi Io; và một nhóm người Hy Lạp dong buồm từCrete đến Phoenicia để bắt con gái của vua xứ Tyre Đó chỉ là nhữngtrường hợp ăn miếng trả miếng.3
Truyền thuyết về Europa mang nhiều hàm ý Nhưng khi mang nàngcông chúa từ bãi biển Phoenicia (ngày nay là nam Lebanon) về Crete, thì
Trang 11như thế là Zeus đang chuyển giao thành quả của những nền văn minh cổxưa hơn của người châu Á ở phương Đông sang những vùng định cư mớitại hải đảo của người Aegea Phoenicia nằm trong quỹ đạo của các pharaoh.Chuyến đi trên lưng bò tót của Europa cung cấp một sự nối kết mang tínhhuyền thoại giữa Ai Cập Cổ Đại và Hy Lạp cổ Đại Anh trai của Europa làCadmus - người đã lùng sục khắp nơi trên thế giới để tìm kiếm em mình -được cho là truyền bá thuật viết chữ cho Hy Lạp.
Chuyến đi của Europa cũng không ngưng cuốn hút những người lầntheo những dấu vết của nàng Không như những nền văn minh lớn củasông Nile, sông Hằng, của Mesopotamia, và của Trung Hoa - tồn tại lâu dàinhưng uể oải trong phát triển tri thức và địa lý - văn minh Địa Trung Hảiđược kích thích bởi một chuyển động liên tục Chuyển động gây ra sựkhông chắc chắn, dễ thay đổi và bất ổn Sự bất ổn thúc đẩy hoạt động mãnhliệt Minos nổi tiếng với những con thuyền của nó Crete là cường quốcđầu tiên trên biển Những con tàu chuyên chở con người, hàng hóa và vănhóa; chúng thúc đẩy sự trao đổi mọi loại hàng hóa với những vùng đất màchúng dong buồm đến Tựa như bộ cánh của Europa, tâm trí của nhữngthủy thủ thời cổ đại luôn “bềnh bồng trong gió” - tremulae sinuatur flaminevestes.4
Trên lưng bò tót, Europa tiến theo con đường ngập nắng, từ đông sangtây Theo một truyền thuyết khác thì mặt trời là một cỗ xe rực lửa được kéobởi những con ngựa vô hình, từ những chuồng ngựa ở phía sau vùng mặttrời mọc về nơi chúng nghỉ chân ở bên kia vùng mặt trời lặn Thật vậy, mộttrong số những từ nguyên đã đối chiếu châu Á, “vùng đất Mặt Trời Mọc”,với Europa, “vùng đất Mặt Trời Lặn”5 Sau đó, người Hy Lạp đã sử dụng
“Europa” (châu Âu) để đặt tên cho lãnh thổ của họ ở phía tây Aegea, nhằmphân biệt với những vùng đất cổ xưa hơn Tiểu Á
Trang 12Vào bình minh của lịch sử châu Âu, cái thế giới đã biết nằm ở phươngđông Cái thế giới chưa biết thì ở phương tây, những nơi đến đang chờđược khám phá Sự tò mò của Europa có thể là chưa kết thúc Nhưng nó đãdẫn đưa đến việc thành lập một nền văn minh mới mang tên nàng và lantoả khắp Bán đảo.
Trang 13Bản đồ 2 NỮ HOÀNG CHÂU ÂU (REGINA EUROPA) Mộc bản từ tác phẩm Cosmography của Sebastian Muntzer.
Trang 14Lịch sử có thể được viết ở bất kỳ mức độ biểu kiến nào Ta có thể
viết lịch sử vũ trụ chỉ nội trong một trang giấy, và có thể dành rabốn mươi tập sách để viết về chu kỳ sống của một con phù du Một sử giahàng đầu chuyên nghiên cứu về quan hệ ngoại giao giữa các nước trongthập niên 1930, đã viết một cuốn sách về Khủng hoảng Munich và những
hệ quả của nó (1938 -1939), rồi cuốn thứ hai với tựa The Last Week of
Peace, và cuốn thứ ba với tựa 31 August 1939 Các đồng nghiệp của ông
vẫn chờ đợi để ông cho ra đời một tác phẩm đúc kết sẽ được gọi là One
Minute to Midnight.6 Đó là một ví dụ của sự thúc ép hiện đại nhằm am hiểunhiều hơn, nhiều hơn nữa về cái vi mô
Cũng vậy, lịch sử châu Âu cũng có thể được viết ở bất kỳ mức độ biểu
kiến nào Bộ sách L’Evolution de l’humanité - mà nội dung có tới 90 phần
trăm đề cập đến người châu Âu - đã được biên soạn sau Chiến Tranh ThếGiới Thứ Nhất với 110 tập chính và một số tập phụ.7 Ngược lại, cuốn sách
mà bạn đang cầm trong tay đây, tuy cũng có cùng đề tài, nhưng được góigọn trong một tập
Tuy vậy, không một sử gia nào có thể cạnh tranh với các nhà thơ trongviệc tiết kiệm tư duy;
Nếu châu Âu là một nữ thần xinh đẹp.
Thì Naples là mắt biếc của nàng,
Và Warsaw là tim nàng.
DẪN NHẬP
--------
LỊCH SỬ NGÀY NAY
Trang 15Sebastopol và Azoff,
Petersburg, Mitau, Odessa;
Là những cái gai đâm vào bàn chân nàng.
Paris là đầu nàng,
London là cái cổ áo hồ bột,
Và Rome - là áo choàng vai của nàng.8
Vì một số lý do, trong khi những chuyên khảo lịch sử càng thu hẹp hơnvào phạm vì nghiên cứu, thì những khảo sát chung đã tuân theo một mức độbiểu kiến có tính quy ước là khoảng vài trăm trang cho mỗi thế kỷ Chẳnghạn, để nói về khoảng thời gian từ Constantine đến Thomas More, tác
phẩm Cambridge Mediaeval History (1936 - 1939) gồm có tám tập.9 Baotrùm mười hai thế kỷ, từ Charlemagne cho đến chế độ của những đại tá tại
Hy Lạp, bộ sử Handbuch der Europaischen Geschichte (1968 - 1979) gồm
bảy tập, với tầm cỡ như những tập vừa kể.10 Có một khuynh hướng kháphổ biến là dành nhiều giấy mực cho lịch sử đương đại hơn là cho thời cổđại hoặc thời Trung cổ Với những sách được viết bằng Anh ngữ thì ngườiđọc nhận thấy có một bộ tiên phong cho vấn đề vừa kể là bộ tám tập
‘Những Thời Kỳ Của Lịch Sử Châu Âu’ Bộ sách này chuyển từ quá khứ
xa xôi đến những thời kỳ gần hơn với mức độ biểu kiến càng lúc càng giatăng - 442 năm với tỷ lệ 1, 16 năm cho mỗi trang cho phần Thời Đại ĐenTối 476 - 918 (1919) do Charles Oman viết, 104 năm với tỉ lệ là 4, 57trang cho mỗi năm cho phần châu Âu trong Thế kỷ Mười Sáu (1897) do A
H Jonhson viết, 84 năm với tỉ lệ là 6, 59 trang cho mỗi năm cho phần châu
Âu Cận đại 1815 - 99 do W Alison Phillipps viết (1905)11 Những bộ sửđược biên soạn gần đây hơn cũng theo cùng mẫu mực đó.12
Hầu hết những người đọc đều quan tâm nhiều hơn đến lịch sử của thời
Trang 16họ Nhưng không phải mọi sử gia đều theo cung cách đó ‘Có một quanđiểm cho rằng, những sự việc đang xảy ra’ chỉ trở thành ‘lịch sử” sau nửathế kỷ, cho đến khi những tư liệu đã trở nên có thể sử dụng được và conngười đã khôn ra trước những sự việc đã rồi ’13 Đó là một quan điểmđúng đắn Nhưng nó có nghĩa là bất kỳ một sự khảo sát tổng quát nào cũngphải đột ngột kết thúc ở cái điểm mà nó trở nên hấp dẫn nhất Tuy vậy,không một người trưởng thành có học vấn nào có thể hy vọng hoạt độngmột cách hữu hiệu nếu không biết một số điều cơ bản về những nguồngốc của các vấn đề đương đại.14 Bốn trăm năm trước, sau khi lãnh án tử,Sirwalter Ralegh đã hoàn toàn am hiểu những hiểm nguy và ông đã viết:
‘Những ai viết lịch sử cận đại thì sẽ phải theo bén gót sự thật, điều đó cóthể giương ra nanh vuốt của nó ’15
Do những phức tạp như vậy, hẳn ta không nên ngạc nhiên khi thấynhững chủ đề nội dung của những nghiên cứu về ‘châu Âu’ hoặc về ‘Vănminh châu Âu’ có những khác biệt rất lớn lao Đã có những nỗ lực nhằmkhảo sát toàn bộ lịch sử châu Âu mà không cân đến nhiều pho sử hoặc
nhiều tác giả, nhưng số đạt được thành công rất ít Cuốn A History of
Europe (1936)16 của H A L Fisher hoặc cuốn A Modem History of
Europe (1971)17 được kể vào những ngoại lệ hiếm hoi đó Cả hai đều lànhững tiểu luận được mở rộng về khái niệm có tính đáng ngờ về ‘Vănminh phương Tây’ (xem phần dưới) Có lẽ những khảo sát lớn đạt đượcnhiều hiệu quả hơn cả là những khảo sát đã tập trung vào một chủ đề, như
cuốn Civilisation18 của Kemmeth Clark, nhìn vào quá khứ của châu Âu
qua lăng kính của nghệ thuật và hội hoạ, hoặc cuốn The Ascent of Man (
1973)19 của Joseph Bronowski, chọn một lối tiếp cận qua lịch sử khoa học
và kỹ thuật Một tiểu luận gần đây hơn thì đã tiếp cận đề tài từ một quan
Trang 17điểm có tính duy vật dựa trên địa chất học và những tài nguyên kinh tế.20Giá trị của những pho khảo sát lịch sử nhiều tập không phải là vấn đềđược nêu ra ở đây; nhưng chúng bị lên án vì vẫn giữ lại những tác phẩmtham chiếu, và chúng được dùng để tham khảo chứ không phải để đọc.Trong những năm gần đây, càng lúc càng có sự thúc bách hơn nhằmxem xét lại cái khung sườn của lịch sử châu Âu và sự thúc bách đó tươngứng với sự gia tăng của những cuộc nghiên cứu có tính chuyên môn cao và
có mức độ biểu kiến cao Chỉ có một ít ngoại lệ nổi bật có thể được dùng
để chứng minh cho qui luật này, trong số đó có tác phẩm của FernandBraudel21 Nhưng các sử gia và sinh viên bị lôi cuốn vào việc ‘am hiểunhiều hơn, nhiều hơn nữa vào cái vi mô’ để đến chỗ những quan điểmrộng hơn đôi khi đã bị đã bị bỏ quên Tuy vậy, khoa học nhân văn cần cómọi mức độ biểu kiến
Một điều mà ai ai cũng phải công nhận là trong những năm gần đây,việc nghiên cứu lịch sử đã trù phú hơn bởi những phương pháp, nhữngmôn học, và những lãnh vực mới Sự xuất hiện của máy tính mở ra mộtphạm vi điều tra nghiên cứu mang tính định lượng mà trước kia vốn ởngoài tầm với của các sử gia Nghiên cứu lịch sử đã đạt được lợi ích lớnlao từ sử dụng những kỹ thuật và khái niệm xuất phát từ khoa học xã hội vànhân văn Ngày nay, hầu hết mọi nơi đều ca ngợi một khuynh hướng viết
sử do trường phái biên niên sử Pháp tiên phong từ năm 1929 Những lãnhvực mới mang tính kinh viện như lịch sử truyền khẩu, lịch sử tâm thần,hoặc lịch sử dòng họ, hay lịch sử của các lề thói, đã được thiết lập mộtcách tốt đẹp Đồng thời, một số đề tài phản ảnh những quan tâm đương đạicũng được trao cho một chiều kích mới mẻ Phong trào bài trừ tệ phân biệtchủng tộc, môi trường, giới tính, đặc tính và ảnh hưởng Do Thái, tính dục,giai cấp, và hoà bình là những chủ đề chiếm một phần lớn trong những bài
Trang 18viết và tranh luận đang diễn ra.
Ngoài ra, sự gia tăng của các lãnh vực nghiên cứu đi kèm với sự giatăng tương ứng các tác phẩm có tính học thuật được công bố, đương nhiêntạo ra những căng thẳng nghiêm trọng Các sử gia chuyên nghiệp thất vọng
vì ‘có quan hệ với văn học’ Họ bị quyến rũ bởi việc tiến sâu hơn nữa vàonhững lối hẹp của chuyên môn sâu và đánh mất khả năng truyền đạt vớiquần chúng Phần lớn sự chuyên môn hoá đã được tiến hành bất chấp việcgây hại cho lịch sử được kể lại Một số chuyên gia đã làm việc với giả địnhrằng những nét đại cương thì không cần phải xét lại; rằng con đường duynhất tiến đến những khám phá mới nằm trong việc đào sâu vào một khuvực hẹp Số khác, do chủ trương thăm dò ‘những cấu trúc sâu’ nên đã hoàntoàn quay lưng với ‘bề mặt’ của lịch sử Họ tập trung vào việc phân tích
‘những chiều hướng trường hạn, nằm bên dưới bề mặt’ Tựa như một sốđồng nghiệp của họ làm việc trong lĩnh vực phê bình văn học chủ trươngrằng ý nghĩa có tính văn học của một văn bản là không có giá trị lịch sử,một số sử gia muốn từ bỏ việc nghiên cứu các ‘sự việc' có tính qui ước Họđào tạo những sinh viên không có ý định học hỏi về cái gì đã xảy ra, bằngcách nào, ở đâu, và khi nào
Sự suy tàn của lịch sử dựa trên các sự việc được kèm theo - đặc biệt làtrong lớp học - với trào lưu của ‘sự đồng cảm’ nghĩa là, của những bài tập
có mục tiêu là kích thích trí tưởng tượng có tính lịch sử Khả năng tưởngtượng là thành tố quan trọng của nghiên cứu lịch sử Nhưng những bài tậpđồng cảm là điều chỉ có thể được biện minh nếu chúng đi kèm với mộtlượng kiến thúc nhỏ hoặc vừa phải Trong một thế giới mà ở đó văn học hưcấu cũng chịu sự đe doạ tựa như một nguồn thông tin lịch sử đáng trântrọng, thì các sinh viên đôi khi có nguy cơ là chẳng có gì để xây dựng mộtnhận thức về quá khứ.22
Trang 19Sự phân ly giữa lịch sử và văn học là điều đáng tiếc Khi những ngườitheo ‘thuyết cấu trúc’ trong khoa học nhân văn bị bắt kịp và vượt qua bởinhững người theo thuyết ‘deconstruction’ (của triết gia Jacques Derrida,một trong ba triết gia quan trọng nhất của thế kỷ 20, qua đời năm 2004).Đừng lầm deconstruction là tiến trình triệt phá tan tành hoặc tước hết các
sự vật Thật ra deconstruction là trong tiến trình tạo ra một điều gì đó thì cómột điều gì khác dứt khoát phải bị loại đi Những cơ cấu loại trừ đó có xuhướng trấn áp và kéo theo những hệ quả, thì cả những sử gia lẫn những nhàphê bình văn học không những tìm cách loại trừ mọi kiến thúc qui ước màcòn loại trừ lẫn nhau May thay, vì những khía cạnh cực đoan củadeconstructionism đã bị loại trừ, nên những rạn nút có thể được hàn gắn.23Hoàn toàn không có lý do để cho một sử gia sáng suốt không sử dụngnhững văn bản văn học đã được thẩm định một cách có phê phán, hoặcchẳng có lý do gì để cho những nhà phê bình văn học không sử dụng kiếnthúc có tính lịch sử
Vì vậy, giờ đây, có vẻ như các nhà chuyên môn đã vung tay quá trán
Từ trước đến nay luôn có sự phân công minh bạch giữa những chú ong thợchuyên cần của sử học với những con ong chúa - những grandssimplificateurs (những người đơn giản hóa) - mang lại trật tự cho các côngviệc của tổ ong Sẽ không có mật nếu các ong thợ hoàn toàn thao túng tổong Hoặc không ai có thể chấp nhận những đuờng nét lớn của ‘lịch sửtổng quát’ cứ bị cố định mãi Cũng vậy, chúng phải chuyển dịch phù hợpvới thời buổi: và những gì đã được cố định cách nay năm mươi hoặc mộttrăm năm trước thì giờ đây đã chín mùi để được xét lại Tương tự như vậy,việc nghiên cứu những địa tầng của lịch sử không thể bị tách rời khỏinhững việc đang làm Trong khi tìm kiếm ‘những chiều hướng’, ‘những xãhội’, ‘những nền kinh tế’, hoặc ‘những văn hóa’, ta không nên bỏ quanhững con người cụ thể
Trang 20Vì không ai được xem là có khả năng để nêu ra một quan điểm ở ngoàilãnh vực chuyên môn của mình, nên những con thú dữ vẫn nhởn nhơ trênnhững cánh đồng cỏ Sự kết hợp việc nghiên cứu tư liệu kèm với nhữngchủ đề được chọn lựa một cách rõ ràng, nhưng loại trừ việc xem lại toàn bộmọi yếu tố có liên quan, là điều đặc biệt tệ hại Với một công trình như thế,
A J P Taylor đã để lại cho chúng ta câu nói đáng nhớ, ‘Nó là chín mươiphần trăm sự thật và một phần trăm vô dụng’.24
Một đáp ứng thận trọng cho những phát triển vừa kể là ủng hộ hệ đanguyên trong những diễn giải và ủng hộ ‘sự an toàn của số đông’ nghĩa là;khuyến khích sự da dạng của các quan điểm nhằm chống lại sự giới hạncủa từng quan điểm Chỉ với một quan điểm thôi thì sẽ có nhiều bất trắc.Nhưng năm mươi hoặc sáu mươi quan điểm - hoặc ba trăm quan điểm - cóthể cùng được kể đến để xây dựng một phức hợp sử dụng được, ‘Khôngchỉ có một sự thật mà là nhiều sự thật khi chúng mang tính nhạy cảm’.25Đến một điểm nào đó, công việc khó khăn của sử gia cũng tựa nhưcông việc của nhà nhiếp ảnh, mà hình ảnh tĩnh, hai chiều chẳng bao giờ cóthể trình bày một cách chính xác thế giới động, ba chiều ‘Sử gia, tựa nhưcái máy ảnh, luôn thiếu trung thực.’26 Nếu sự so sánh đó được triển khai,thì ta có thể nói rằng các nhà nhiếp ảnh có thể làm gia tăng sự gần giốngnhư thật trong tác phẩm của họ - và đó cũng là mục tiêu của tác phẩm -bằng cách gia tăng số ảnh chụp về một đề tài Nhiều bức ảnh được chụp từnhiều góc độ khác nhau, với những loại phim, ống kính và kính lọc khácnhau có thể cũng làm giảm sự chọn lọc thô thiển của một lần chụp duynhất Cũng vậy, ‘lịch sử trung thực’ là điều chỉ có thể tái dựng lại nếu sửgia biết kiểm tra và so sánh kết quả đạt được từ rất nhiều nguồn khả dĩ.Hiệu quả sẽ chẳng bao giờ là toàn hảo; nhưng mỗi góc độ và mỗi kỹ thuậtkhác nhau đóng góp vào việc soi sáng những phần mà kết hợp lại sẽ thành
Trang 21một tổng thể.
Méo mó là đặc trưng không thể thiếu của mọi nguồn thông tin Kháchquan tuyệt đối là điều tuyệt đối không thể đạt được Mọi kỹ thuật đều cómặt mạnh và mặt yếu Điều quan trọng là am hiểu cái giá trị và những méo
mó của mỗi kỹ thuật đang nằm ở đâu, và tiến đến một cách hợp lý sự gầnđúng Có những nhà phê bình đã phản đối việc các sử gia sử dụng thơ ca,
xã hội học hoặc thiên văn học, hoặc bất cứ điều gì khác, vì họ cho rằngnhững nguồn tư liệu như thế là có tính ‘chủ quan’ hoặc ‘thiên vị’ hoặc
‘thiếu khoa học’ Họ đã nói điều hiển nhiên, tựa như ta có thể phản đốinhững hình chụp X-quang về bộ xương, hoặc những siêu âm nội tạng, vìchúng cho ra những hình ảnh không mấy giống với vẻ bề ngoài của conngười Các bác sĩ sử dụng mọi phương tiện biết được nhằm khám phánhững bí ẩn của tâm trí và cơ thể Các sử gia cũng cần một loạt trang bịtương tự nhằm xâm nhập những bí ẩn của quá khứ
Lịch sử có tính tư liệu - vốn tồn tại lâu dài và được trân trọng - vừa lànhững tuyến tiếp cận có giá trị nhất vừa mang nhiều nguy cơ nhất Nếu xử
lý không thận trọng, nó mở ra những loại hình thô thiển của sự trình bày sailạc; và có những lĩnh vực rộng lớn của kinh nghiệm quá khứ mà người takhông thể ghi lại Tuy vậy, không ai có thể phủ nhận rằng những tư liệu lịch
sử là những nguồn mạch mang nhiều thành quả tri thức nhất
Huân tước Acton, người thành lập trường phái sử học Cambridge, đãtiên báo về tác động đặc biệt tai hại của lịch sử có tính tư liệu Loại lịch sửnày dành ưu tiên cho việc gom góp chúng cứ hơn là quan tâm đến sự giảithích của sử gia về chứng cứ Cách nay khoảng chín mươi năm, Acton đãviết, (chúng ta đang sống) ‘trong thời đại của tư liệu, có khuynh hướng làmcho lịch sử trở nên độc lập với các sử gia, khuynh hướng phát triển sự hiểubiết qua sự trả giá của chữ viết.'27
Trang 22Nói chung, các sử gia đã dành nhiều tư duy cho những cuộc tranh luậncủa họ hơn là cho các vấn đề mà từ lâu các độc giả của họ băn khoăn Việcđeo đuổi tính khách quan khoa học giúp giảm nhiều những bay bướm củahoang tưởng thuở trước, và cách ly sự thật với hư cấu Đồng thời, nó cũnggiảm đi số công cụ mà các sử gia có thể sử dụng để chuyển giao nhữngkhám phá của họ Như vậy, chỉ đủ cho một sử gia tài năng thiết lập các sựviệc và tập trung chứng cứ Nửa kia của công việc là thâm nhập tâm tríngười đọc, vật lộn với mọi khả năng nhận thức bị bóp méo mà tất cả nhữngngười đọc lịch sử đều trang bị Những khả năng nhận thức đó không chỉgồm có các giác quan mà còn cả những lộ trình tri thức phức hợp đã đượcđịnh trước, thay đổi từ thuật ngữ, địa danh và những mã có tính biểu tượng,đến những quan điểm chính trị, những tập quán xã hội, tình cảm, nhữngniềm tin tôn giáo, ký ức thị giác, và tri thức về lịch sử truyền thống Mọingười đọc lịch sử đều có một kho lưu trữ kinh nghiệm đã có trước đó vàqua đó mọi thông tin về quá khứ nhập vào sẽ được sàng lọc.
Vì lý do này, rằng sử gia có hiệu năng phải thận trọng khi chuyển giaothông tin của họ, cũng như họ đã cẩn trọng trong sưu tầm và định hình nó
Ở phần này của công việc, họ cũng có những bận tâm tựa như các nhà thơ,nhà văn và nghệ sĩ Họ phải để mắt đến các tác phẩm của những ngườikhác, những người đã giúp nhào nặn và truyền đạt những ấn tượng về quákhứ của chúng ta - các sử gia nghệ thuật, các nhà âm nhạc học, bảo tànghọc, các chuyên viên lưu trữ, những nhà minh hoạ, những nhà vẽ bản đồ,những người viết nhật ký và viết tiểu sử, những nhà làm phim, những nhàghi âm, những nhà viết tiểu thuyết lịch sử Ở mỗi giai đoạn thì cái phẩmchất chủ yếu - như được định nghĩa lần đầu tiên bởi Vico - là ‘trí tưởngtượng sáng tạo có tính lịch sử’ Không có nó thì tác phẩm của sử gia vẫn làmột lá thư không gửi, một thông điệp chưa được phát đi
Trong cái thời đại được cho là khoa học này thì khía cạnh tưởng tượng
Trang 23của nghề viết sử dĩ nhiên đã bị giáng cấp Người ta đã xem trọng thái quánhững báo cáo kinh viện không đọc được và những dữ liệu nghiên cứu khó
có thể tiêu hóa Những sử gia có trí tưởng tượng trù phú như ThomasCarlyle không chỉ bị phê bình vì mang quá nhiều chất thơ mà còn bị lãngquên Tuy vậy, những vững tin của Carlyle về quan hệ giữa lịch sử và thi ca
là điều đáng để chúng ta cân nhắc Điều quan trọng là chúng ta phải biết ràsoát và kiểm tra - điều mà đôi khi Carlyle đã thiếu sót Nhưng ‘nói lên mộtđiều gì đó là đúng’ cũng là một việc quan trọng Mọi sử gia hẳn phải nóilên câu chuyện của họ một cách thuyết phục, bằng không họ sẽ bị ngoảnhmặt.28
Trong những năm gần đây, ‘trào lưu hậu hiện đại’ là một thú tiêu khiểncho những ai dành ưu tiên cho nghiên cứu của các sử gia trên về quá khứ.Điều đó liên quan đến một trào lưu noi theo bước chân của hai triết giaPháp là Foucault và Derrida, công kích cả những chuẩn mực đã được chấpthuận của kiến thức lịch sử lẫn những nguyên tắc của phương pháp quiước Ở một tuyến tiếp cận, điều đó dẫn đến việc triệt hạ giá trị của nhữngnguồn tư liệu theo cách mà những người theo thuyết ‘deconstruction’ tìmcách tháo dỡ ‘cái ý nghĩa’ của các văn bản văn học Ở một nơi khác, nó đã
tố giác ‘sự chuyên chế bạo ngược của các sự thật’ và ‘những hệ tư tưởngchuyên chính’ được cho là ẩn náu phía sau mỗi khối lượng thông tin Cựcđoan hơn, nó cho rằng mọi lời tuyên bố về thực tế đã xảy ra đều là ‘cưỡngép’ Và trong số những người cung cấp sự cưỡng ép đó có tất cả những sửgia đang biện luận cho ‘một cam kết về những giá trị của con người’ Dướicon mắt của những nhà phê bình theo thuyết deconstruction thì lịch sử đã bịthu hẹp vào ‘trò đùa của các sử gia’ và trở thành một công cụ của nhữngngười cấp tiến đã bị chính trị hoá với lịch làm việc của riêng họ Do khinhmiệt dữ liệu đã được kê ra nên những người theo thuyết deconstruction gợi
ý rằng, việc am hiểu một điều gì đó thì còn nguy hiểm hơn là chẳng biết
Trang 24Nhưng giờ đây chúng ta hãy trở về với vấn đề mức độ biểu kiến Bất
kỳ một sự tường thuật nào ghi chép sự kiện lịch sử theo trật tự chúng xảy ra(biên niên) trong những thời kỳ dài thì được cho là khác với cái toàn cảnhphối hợp mọi đường nét có liên quan đến một giai đoạn cá biệt hoặc thờiđiểm cá biệt Trong hướng tiếp cận đầu, có tính biên niên, sử gia phải nhấnmạnh đến những chuyển động và những sự kiện có tính cách tân, tuy khôngđiển hình vào buổi đầu chúng xuất hiện, nhưng sẽ nổi trội vào thời kỳmuộn hơn Trong hướng tiếp cận thứ hai, có tính đồng bộ, thì sử gia phảikết hợp cả cái cách tân lẫn cái truyền thống, và những tương tác củachúng Lối tiếp cận thứ nhất thì có nguy cơ sai niên đại, và lối thứ hai thì
có nguy cơ lâm vào sự bất động
Buổi đầu của châu Âu cận đại đã được dùng như là một trong nhữngphòng thí nghiệm để giải quyết vấn đề đó Một khi đã bị thống trị bởinhững sử gia thăm dò những cội nguồi của chủ nghĩa nhân văn Tin Lành,chủ nghĩa tư bản, khoa học và nhà nước dân tộc, nó sau đó đã thu hút sựchú ý của những chuyên gia, những người đã, một cách chính xác, cho thấybằng cách nào những yếu tố của các thế giới trung cổ và dị giáo đã sống
Trang 25còn và phát triển Một sử gia am tường phải bằng một cách nào đó tạo một
sự cân bằng giữa hai lối tiếp cận vừa kể Chẳng hạn, khi mô tả về thế kỷ
16, thật là thiếu sáng suốt nếu sử gia dành toàn bộ để viết về những thuật sĩluyện kim, những phù thủy và những chuyện hoang đường, cũng như trướcđây người ta chỉ viết về Luther, Copernicus, hoặc sự nổi lên của Nghị việnEngland khi mô tả thế kỷ này Một lịch sử có tính bao quát, toàn diện thìphải ghi nhận những tranh luận của các chuyên gia, nhưng đồng thời nóphải tìm ra một con đường để vươn lên trên những quan tâm đang trôi quacủa họ
Những khái niệm về châu Âu
‘Châu Âu’ là một ý tưởng tương đối cận đại Nó đã dần dà thay thếkhái niệm ‘Thế giới Kitô giáo’ có trước đó, trong một tiến trình tri thứcphức tạp kéo dài từ thế kỷ 14 đến thế kỷ 18 Tuy vậy, thời kỳ quyết định đãđược đạt đến vào những thập kỷ trước và sau 1700, sau những thế hệ xungđột tôn giáo Trong giai đoạn đầu đó của Thời Đại Khai Sáng cái từ ‘Thếgiới Kitô giáo’ gây bối rối cho cộng đồng các quốc gia đã phân ly vì nógợi nhớ đến tính đồng nhất Kitô giáo chung của họ; và cái tên gọi ‘châuÂu’ đã thỏa mãn nhu cầu của họ vì nó mang những hàm ý không thiên vịmột sắc thái riêng nào Tại phương Tây, những cuộc chiến chống LouisXIV khiến cho một số nhà văn chính luận kêu gọi phải có hành động chungcho những phân chia đang nổi cộm vào thời bấy giờ William Penn (1644 -1718) tín đồ giáo phái Quaker và là người thành lập bang Pennsylvania, đãđược nhiều người biết đến do phát biểu công khai ủng hộ một sự khoandung phổ quát và một nghị viện châu Âu Tu viện trưởng bất đồng chínhkiến người Pháp, Charles Castel de St Pierre (1658 - 1743), tác giả của
Projet d’une paix perpétuelle (1713), kêu gọi thành lập một hợp bang gồm
các cường quốc châu Âu nhằm bảo đảm một nền hòa bình trường cửu Ở
Trang 26phương Đông, sự trỗi lên của Đế chế Nga dưới thời Peter Đại đế khiếnchâu Âu cần phải có một sự suy xét lại có tính cấp tiến về khung sườnquốc tế Hiệp ước Utrecht năm 1713 cung cấp một cơ hội quan trọng cuốicùng khi công chúng đề cập nhiều đến Respublica Christiana - ‘Khối ThịnhVượng Chung Kitô Giáo’.
Sau đó, sự nhận thức về một cộng đồng châu Âu tương phản với cộngđồng Kitô giáo đã giành được ưu thế Viết vào năm 1751, Voltaire mô tảchâu Âu như là:
Một nền cộng hoà lớn chia thành những nhà nước mà một số theo chế
độ quân chủ, số khác hỗn hợp nhưng tất cả đều phù hợp với nhau Tất cảđều có cùng nền tảng tôn giáo, ngay cả nếu có phân chia thành một số tínđiều Tất cả đều có cùng nguyên tắc về công pháp và chính trị, một điều
mà những phần khác của thế giới chưa từng biết.31
Hai mươi năm sau đó, Rousseau loan báo: ‘Chẳng bao lâu nữa sẽ khôngcòn người Pháp, người Đức, người Tây Ban Nha, hoặc kể cả người Anh,
mà chỉ là những người châu Âu’ Theo một nhận xét thì sự thể hiện cuốicùng của ‘ý tưởng châu Âu’ đã diễn ra trong năm 1796, khi Edmund Burkeviết: ‘Không một người châu Âu nào có thể là hoàn toàn lưu vong tại bất
kỳ nơi đâu của châu Âu.’32 Tuy thế, những thông số địa lý, văn hóa vàchính trị của cộng đồng châu Âu vẫn luôn là một vấn đề bỏ ngỏ cho tranhluận Năm 1794, khi William Blake công bố một trong những tập thơ tốinghĩa nhất của ông có tựa ‘Châu Âu: Một lời tiên tri’, ông đã minh họa nóbằng hình ảnh của Đấng Toàn Năng đang nghiêng mình ra khỏi thiên đàng,tay cầm một chiếc compa.33
Hầu hết những nét chính để phân định châu Âu là những bờ biển của
nó Nhưng việc phân định biên địa của nó thì diễn ra một cách lâu dài Kéo
Trang 27dài từ Hellespont đến sông Don là tuyến phân chia giữa châu Âu và châuÁ; nó được xác định bởi những người cổ đại và tồn tại cho đến thời Trung
cổ Một nhà bách khoa của thế kỷ 14 đã nêu ra một định nghĩa khá chínhxác như sau:
Người ta cho rằng Europe (châu Âu) là một phần ba của toàn thế giới, và cái tên của nó xuất phát từ Europa, con gái của Agenor, vua xứ Lybya Jupiter say mê Europa đưa nàng về Crete, và dùng cái tên Europa để đặt cho phần lớn vùng đất này Châu Âu bắt đầu ở sông Tanay (Don) trải dài dọc theo Biển Bắc đến cuối Tây Ban Nha Phần phía đông và phía nam trỗi lên từ biển có tên Pontus, (Biển Đen), tất cả nối với Biển Lớn (Địa Trung Hải) và kết thúc tại hải đảo Cadiz (Gibratar) 34
Giáo hoàng Pius II (Enea Piccolomini) đã mở đầu Tiểu Luận về Nhà
Nước Châu Âu (1458) với những dòng mô tả về Hungary, Transylvania, và
Thrace, mà lúc đó đang bị đe dọa bởi người Thổ
Cả những người cổ đại lẫn những người Trung cổ đều không biết nhiều
về những vùng rộng lớn nằm ở phía đông bình nguyên châu Âu - chỉ đếnthế kỷ 18, một số vùng ở đó mới được thường xuyên định cư Năm 1730,một sĩ quan Thụy Điển là Strahlenberg làm việc cho nhà nước Nga đã gợi ýnên đẩy lùi biên giới châu Âu từ sông Don về dãy Ural và sông Ural Vàocuối thế kỷ 18, nhà cầm quyền Nga đã dựng một cột mốc biên giới châu
Âu và châu Á Từ đó, những phạm nhân bị Sa Hoàng đày ải về Siberia đãhình thành một tục lệ là quì xuống bên cột mốc để bốc lấy nắm đất cuốicùng của châu Âu Một nhà quan sát đã ghi lại, ‘Trên toàn thế giới, không
có nột cột mốc biên giới nào khác có những cảnh thương tâm đến thế.’35
Vào năm 1833, khi Volger công bố tác phẩm Handbuch des Geographic,
thì cái ý tưởng ‘châu Âu từ Đại Tây Dương đến dãy Urals’ được mọingười chấp nhận.36
Trang 28Tuy vậy, chẳng có chút gì thiêng liêng nơi cái qui ước đang ngự trị đó.
Sự mở rộng của châu Âu đến dãy Urals đã được chấp nhận như là hệ quảcủa sự nổi lên của Đế chế Nga Nhưng nó bị chỉ trích nhiều, đặc biệt là từnhững nhà địa lý Biên giới tại Urals không có mấy giá trị dưới mắt củaHalford Mackinder, của Arnold Toynbee - những người xem trọng các yếu
tố môi trường - hoặc dưới mắt nhà địa lý Thụy Sĩ J Reynold, người đã viếtrằng, ‘Về mặt địa lý, nước Nga là đối cách của châu Âu’ Sự suy tàn củaquyền lực Nga có thể gợi lên một sự xét lại - trong trường hợp đó thìnhững quan điểm của một giáo sư gốc Nga của Oxford cho rằng nhữngbiên giới của châu Âu tựa như thủy triều lên xuống và trôi chảy, là điềuhẳn được khẳng định.37
Châu Âu xét về mặt địa lý thì luôn cạnh tranh với những ý niệm vềchâu Âu như một cộng đồng văn hóa; và với sự vắng mặt của những cấutrúc chính trị chung, thì văn minh châu Âu chỉ có thể được định nghĩa bằngtiêu chuẩn văn hóa Thường được đặc biệt nhấn mạnh là vai trò của Kitôgiáo trong việc tạo nền tảng cho những phát triển trong tương lai, và vai tròhạt giống đó chỉ chấm dứt khi cái nhãn mác Thế giới Kitô giáo bị rơixuống
Năm 1945, khi lên tiếng trên đài phát thanh với một nước Đức đã bịđánh bại, nhà thơ T S Eliot bày tỏ quan điểm là văn minh châu Âu đangtrong tình trạng lâm nguy sau khi cái cốt lõi Kitô giáo đã nhiều lần bị phaloãng Ông mô tả ‘sự khép lại của những biên giới tâm trí của châu Âu’,một điều đã xảy ra trong những năm mà các nhà nước - dân tộc đã hoàntoàn tự khẳng định mình Ông nói, ‘Một văn hóa tự túc theo sau một nềnkinh tế và chính trị tự túc là điều không tránh khỏi.’ Ông nhấn mạnh đếntính hữu cơ của văn hóa: ‘Văn hóa là cái cần phải phát triển Bạn không thểxây dựng một cây xanh; bạn chỉ có thể trồng nó, chăm sóc nó, và chờ nó
Trang 29phát triển ’ ông nhấn mạnh đến sự phụ thuộc lẫn nhau của nhiều văn hóacấp thấp bên trong gia đình châu Âu Cái mà ông gọi là ‘mậu dịch’ văn hóachính là dòng máu mang lại sự sống cho cơ thể Và ông nhấn mạnh đếnnhiệm vụ đặc biệt của những nhà văn Hơn hết thảy, ông nhấn mạnh đếnvai trò trung tâm của truyền thống Kitô giáo, mang trong nó ‘di sản của HyLạp của Rome và Israel’:
‘Cái đặc trưng chính trong khi tạo ra một văn hóa chung giữa các dân tộc
mà mỗi dân tộc đều có văn hóa riêng, đó là tôn giáo Tôi đang nói về cái truyền thống chung của Kitô giáo, truyền thống đã làm cho châu Âu được như ngày nay, và tôi đang nói về những yếu tố văn hóa chung mà Kitô giáo chung đó đã mang theo Chính trong Kitô giáo mà những ngành nghệ thuật của chúng ta đã phát triển; trong Kitô giáo mà những luật pháp của châu Âu
- cho đến gần đây - đã bắt rễ Chính trên nền tảng Kitô giáo mà mọi tư tưởng của chúng ta đã manh nha ý nghĩa Chỉ có văn hóa Kitô giáo mới có thể sản sinh một Voltaire hoặc một Nietzsche Tôi không tin rằng văn hóa châu Âu có thể sống còn sau khi đức tin Kitô giáo đã hoàn toàn biến mất.’38
Xét theo mọi nghĩa thì cái khái niệm đó là một khái niệm truyền thống
Nó là khởi điểm của cái mà Mme de Stael đã từng gọi là “penser àreuropéenne’ (tư duy theo lối châu Âu)
Đối với các sử gia văn hóa châu Âu, những công việc cơ bản nhất làxác định những nét đang tranh đua bên trong truyền thống Kitô giáo và đolường trọng lượng của chúng so với những yếu tố không-Kitô giáo và bài-Kitô giáo khác nhau, ở điểm này thì thuyết đa nguyên là derigueur (tuyệtđối cần thiết) Mặc dầu, cho đến giữa thế kỷ 20, ưu thế của niềm tin Kitôgiáo là điều hiển nhiên, chúng ta không thể phủ nhận rằng có nhiều tácnhân trong hầu hết tác nhân mang lại thành quả của thời cận đại - từ sựđam mê thời cổ đại của những người dưới thời Phục Hung đến sự say mêthiên nhiên của những người lãng mạn đều chủ yếu mang đặc trưng dị
Trang 30giáo Tương tự như thế, thật khó để khẳng định rằng những sự tôn thờ màngày nay người ta dành cho chủ nghĩa hiện đại, cho tính gợi dục, thể thao,kinh tế, hoặc văn hóa pop là có nhiều liên quan đến di sản Kitô giáo Giờđây, vấn đề chính là quyết định xem những lực ly tâm của thế kỷ 20 có thuhẹp cái di sản đó thành một đống lộn xộn vô nghĩa hay không Một giảipháp đáng quan tâm là xem di sản văn hóa của châu Âu bao gồm bốn hoặcnăm chu kỳ gối lên nhau hoặc gắn chặt vào nhau.39 Theo nhà văn AlbertoMoravia thì bản sắc văn hóa độc đáo của châu Âu là một tấm vải có thể đảongược, một bên có điểm nhiều đốm màu khác nhau mặt kia thì chỉ có mộtsắc thắm.40
Tuy vậy, hẳn là sai lầm khi cho rằng ‘châu Âu’ không có nội dung chínhtrị Ngược lại, đều đó thường được xem là đồng nghĩa với sự hài hòa vàhợp nhất mà nó đang thiếu ‘Châu Âu’ là một lý tưởng không thể đạt được,
và là một mục tiêu phấn đấu được cho là của mọi người châu Âu gươngmẫu
Cái quan điểm không tưởng hoặc đượm thuyết cứu thế về châu Âu làđiều mà người ta có thể nhận thấy từ cuộc thảo luận diễn ra trước khi kýHiệp ước Westphalia Nó đã được lớn tiếng gợi lên trong những lời tuyêntruyền của William xứ Orange và những đồng minh của ông, những người
tổ chức các liên minh để chống Louis XIV cũng như những người chốngNapoléon ‘Châu Âu là chúng ta’, Sa Hoàng Alexander I đã nói như thế.Điều đó đã hiện diện trong ngôn ngữ hùng biện của thế kỷ 18 khi nói vềcán cân quyền lực, và trong thế kỷ 19 khi nói về Đồng minh châu Âu Nó
là đặc trưng chính của Thời đại Đế quốc chủ nghĩa, xem châu Âu là căn cứchính để cai trị toàn thế giới, cho đế khi nó bị vỡ tan bởi Đại chiến 1914.Trong thế kỷ 20 lý tưởng châu Âu đã được phục hồi bởi những chínhtrị gia quyết tâm hàn gắn vết thương của hai cuộc chiến tranh thế giới
Trang 31Trong thập niên 1920, sau Chiến tranh Thế giới I, khi cái lý tưởng đó cóthể được lan truyền ở mọi nơi tại châu lục ngoại trừ Liên Xô, thì nó đã tìmđược sự biểu hiện tại Liên Hiệp Quốc và đặc biệt trong tác phẩm củaAristide Briand Nó đặc biệt hấp dẫn đối với những nhà nước mới củaĐông Âu, vốn không bị trĩu nặng bởi những đế quốc ngoài châu Âu, vàđang tìm kiếm một sự bảo hộ mang tính cộng đồng trước sự đe dọa của cácđại cường Vào cuối thập niên 1940, nó được sử dụng bởi những người có
ý đồ xây dựng một tiểu châu Âu tại Tây Âu, những người rằng công trìnhcủa họ sẽ là một loạt những vòng tròn đồng tâm tập trung vào Pháp và Đức.Tính dễ vỡ của lý tưởng châu Âu là điều đã được nhìn nhận bởi nhữngngười chống đối lẫn những người ủng hộ nó Tựa như Metternich đã từnggiải thể Italy, năm 1876 Bismarck đã giải tán châu Âu, như là ‘một kháiniệm có tính địa lý’ Bảy mươi năm sau đó, Jean Monnet, ‘Cha đẻ của châuÂu’ đã thấy sức mạnh trong hành vi khinh miệt đó của Bismarck Và ông
đã nói: ‘Châu Âu chưa từng tồn tại, ta phải một cách tài tình tạo ra châuÂu.’41
Trong hơn một trăm năm, vấn đề chính trong xác định nước Nga đãđược tập trung quanh việc nên đưa nước Nga vào hay loại ra Trong suốtlịch sử cận đại, một nước Nga Chính thống giáo, chuyên quyền, kinh tế lạchậu, nhưng đang bành trướng, là một nước khó phù hợp Những láng giềngphía tây của Nga thường tìm những lý do để loại trừ nó Bản thân nhữngngười Nga cũng chẳng bao giờ chắc chắn trong việc họ muốn vào hay rakhỏi châu Âu
Chẳng hạn, năm 1517, hiệu trưởng của trường Đại học Cracow làMaciej Miechowita đã công bố một tiểu luận địa lý ủng hộ sự phân biệt cótính truyền thống của Ptolémé giữa Sarmatia europaea (châu Âu Sarmatia)
và Sarmatia asiatica (châu Á Sarmatia) với đường biên giới ở sông Don
Trang 32Như vậy, Ba Lan - Lithuania là ở trong và Nga Muscovy là ở ngoài.42 Bathế kỷ sau đó, các sự việc có vẻ không mấy rõ ràng Ba Lan - Lithuania vừa
bị chia cắt, và biên giới Nga đã dịch chuyển nhiều về phía tây Khi mộtngười Pháp là Louis-Philippe de Ségur (1753 - 1830) ngang qua đó vàobuổi trước khi xảy ra Cách mạng Pháp, ông tin chắc rằng Ba Lan khôngcòn nằm trong châu Âu Sau khi đi vào Ba Lan, ông viết: “Người ta tưởngmình đã hoàn toàn rời khỏi châu Âu; mọi thứ làm cho ta có cảm tưởng làlùi về mười thế kỷ trước” Bằng cách sử dụng sự tiến bộ kinh tế như là tiêuchuẩn chính của một thành viên châu Âu, Segus quả là một người rất hợpthời.43
Tuy vậy, đó chính là cái kỷ nguyên mà Nga muốn có được những sự tín
nhiệm của châu Âu Mặc dầu có lãnh thổ trải dài từ châu Âu, qua châu Á
đến Bắc Mỹ, năm 1767, Nữ hoàng Catherine đã tuyên bố một cách dứtkhoát rằng, ‘Nga là một nhà nước châu Âu’ Những ai muốn kinh doanhvới St Petersburg hãy ghi nhận điều đó Dầu sao, Muscovy đã là một phầnkhông thể thiếu của Thế giới Kitô giáo kể từ thế kỷ thứ 10; và Đế chế Nga
là một thành viên có giá trị của mặt trận ngoại giao Những lo sợ về ‘Congấu Nga’ không thể ngăn trở sự phát triển của quan điểm chung là xemnước Nga là thành viên của châu Âu Trong thế kỷ 19, điều đó đã đượccủng cố một cách mạnh mẽ bởi vai trò của Nga trong việc đánh bạiNapoleon, và bởi sự phát triển tuyệt vời của văn hóa Nga trong việc thờiđại của Dostoevsky, Tolstoy, Tchaikovsky và Chetov
Bị phân chia bởi những người theo phương Tây và những người yêuthích Slav, giới trí thức Nga không mấy rõ về mức độ của tính chất châu
Âu của Nga Trong tác phẩm Nước Nga và châu Âu (1871), Nikolay
Danilevskiy (1822 - 1885) một người yêu mến tính chất Slav đã biện luậnrằng Nga có một văn minh Slav riêng biệt của nó, ở giữa Âu và Á Ngược
Trang 33lại, Dostoevsky, khi phát biểu trong lễ khánh thành tượng Pushkin, đã lêntiếng ca ngợi châu Âu Ông tuyên bố: ‘Người dân châu Âu không biếtchúng ta quí mến họ đến thế nào’ Chỉ có một nhóm nhỏ những vostochnikihay ‘phương đông’ thì vẫn cho rằng Nga là hoàn toàn không - châu Âu, và
có chung nhiều tính chất với Trung Quốc thuộc châu Á.44
Sau năm 1917, chính sách của Liên Xô làm sống lại những nghi ngờ và
mơ hồ xưa cũ Một số nhà bình luận khăng khăng cho rằng những tínnhiệm mà châu Âu dành cho Anh cũng không kém mơ hồ như đối vớiNga Từ xâm lược của người Norman đến Chiến Tranh Trăm Năm, vươngquốc England đã can dự sâu vào những công việc của châu Âu Lục Địa.Nhưng đối với hầu hết các sử gia hiện đại thì người England đã tìm kiếmvận may của họ ở một nơi khác, ngoài châu Âu Sau khi đã khuất phục vànuốt chửng các lân bang tại những hải đảo Britain, họ dong buồm ra đi đểtạo dựng một đế chế hải ngoại Tựa như người Nga, một cách dứt khoát họ
là người châu Âu, nhưng những quyền lợi quan trọng nhất của họ thì nằmngoài châu Âu Thật sự thì họ đã tỏ ra hờ hững với châu Âu Họ có thóiquen nhìn về ‘Châu Lục’ như thể nhìn từ một nơi xa xăm và cái thói quen
đó chỉ biến mất khi đế chế của họ không còn Hơn thế nữa, kinh nghiệm
đế chế dạy cho họ nhìn vào châu Âu theo cách chia nó thành hai hạng gồm
‘các đại cường’, chủ yếu tại Tây Âu, và ‘các tiểu quốc’, chủ yếu tại Đông
Âu - một điều không thật sự đáng kể Trong số những tượng điêu khắc baoquanh đài tưởng niệm Albert (1876) tại London có một nhóm tượng tượngtrưng cho ‘châu Âu’ Nó gồm có Anh, Đức, Pháp và Italy Vì tất cả những
lý do đó, các sử gia thường xem Anh như là một ‘trường hợp đặc biệt’.45Trong thập niên 1920, những người khởi xướng phong trào Liên - Âu đầutiên đã cho rằng cả Anh lẫn Nga hẳn sẽ không gia nhập
Cũng trong thời gian đó, đã có những nỗ lực khác nhau nhằm xác định
Trang 34những phần đã bị chia nhỏ của văn hóa châu Âu Vào cuối thế kỷ 19, kháiniệm chịu sự chi phối của Đức là Mitteleuropa đã được tung ra nhằm phùhợp với vùng ảnh hưởng chính trị của các cường quốc Trung Âu Trongnhững năm chiến tranh, một vùng lãnh thổ gọi là ‘Đông Trung Âu’ đã đượcnghĩ ra nhằm phù hợp với ‘những nhà nước kế vị’ độc lập mới - từ PhầnLan và Ba Lan đến Nam Tư Điều đó đã được phục hồi một lần nữa saunăm 1945 như là một nhãn mác thích hợp dành cho một loạt tương tự gồmcác quốc gia, độc lập trên danh nghĩa, nằm trong khối Liên Xô Cũng vàothời gian đó, sự phân ly giữa ‘Tây Âu’ bị thống trị bởi NATO và EEC(Cộng đồng Kinh tế châu Âu hay Khối Thị Trường Chung) và ‘Đông Âu’của Liên Xô, xem chừng không thể tái hợp Trong thập niên 1980 mộtnhóm nhà văn với người đứng đầu là tiểu thuyết gia Czech Milan Kundera,
đã tung ra một phiên bản mới về ‘Trung Âu’ nhằm triệt hạ những hàng ràođang ngự trị Đây là một hình dáng khác, một ‘vương quốc của tinh thần'46thực sự khác
‘Trái tim của châu Âu’ là một ý tưởng hấp dẫn có chứa những hàm ýmang tính địa lý và cảm xúc Nhưng nó là một ý tưởng đặc biệt khó nắmbắt Có một tác giả đặt nó tại Bỉ, người khác thì đặt nó tại Ba Lan, ngườithứ ba tại Bohemia, người thứ tư tại Hungary, và người thứ năm đặt nótrong văn học Đức.47
Trong bảy mươi lăm năm khi châu Âu bị chia rẽ bởi cuộc nội chiến kéodài nhất, thì khái niệm về hợp nhất châu Âu chỉ được giữ cho sinh độngbởi những người có tầm nhìn xa về văn hoá và lịch sử Đặc biệt trong bốnmươi năm Chiến Tranh Lạnh, cần phải có một khả năng chịu đựng và canđảm trí tuệ lớn lao để có thể cưỡng lại không chỉ chủ nghĩa dân tộc daidẳng mà còn đối với một cái nhìn hạn hẹp, mang tính địa phương chỉ dựatrên sự thịnh vượng của Tây Âu May thay, đã có một ít cá nhân có tầm vóc
Trang 35đã để lại di sản của họ trong những bài viết mà chẳng mấy chốc tỏ rõ tínhtiên tri.
Một trong những người như thế là Hugh Seton-Watson (1916 - 1984),con của nhà tiên phong trong nghiên cứu Đông Âu tại Anh, R W Seton-Watson (1879 - 1951) Khi là một cậu bé, còn đùa trên đầu gối của ThomasMasaryk, Watson đã nói thạo tiếng Serbo - Croat, Hungary và Romania, tựanhư tiếng Pháp, Đức và Italy Chào đời tại London, nơi mà sau này ông trởthành giáo sư môn lịch sử Nga tại Trường nghiên cứu Slav và Đông Âu,Watson không khi nào để bị sa ngã bởi minh triết có tính qui ước của thờiđại ông Như một di chúc, ông đề ra khái niệm của ông về châu Âu trongmột báo cáo chỉ công bố sau khi ông qua đời Ông nhấn mạnh đến ba điểm
cơ bản là: sự cần thiết phải có một lý tưởng châu Âu, vai trò bổ sung nhaucủa các quốc gia Đông Âu và Tây Âu, và hệ đa nguyên của truyền thốngvăn hóa châu Âu
Tiếng sét đầu tiên của Seton-Watson được hướng đến chân trời hạn hẹpcủa những người trông đợi sự thống nhất châu Âu được xây dựng chỉ trênnhững quyền lợi an ninh của NATO hoặc những quyền lợi kinh tế của EEC
mà thôi:
Chúng ta không nên đánh giá thấp sự cần thiết phải có một mục đích chung tích cực, phải có một điều gì đó hấp dẫn hơn là giá bơ, có tính xây dựng hơn là việc ký kết những hiệp ước phòng thủ - một sự cần thiết phải có một tính thần bí châu Âu.48
Tiếng sét thứ hai được hướng vào những người tìm cách lại bỏ Đông
Âu nhân danh văn minh phương Tây:
Cộng đồng văn hóa châu Âu bao gồm những người dân sống ở bên kia Đức và Italy đã bị xem như không có bởi sự việc là hiện nay họ không thể
có mặt trong toàn cộng đồng kinh tế và chính trị châu Âu Trên thế giới,
Trang 36không có nơi đâu mà niềm tin về thực tế, và tầm quan trọng, của một cộng đồng văn hóa châu Âu lại lan tỏa rộng như ở những quốc gia nằm giữa EEC
và Liên Xô Với những người dân đó thì cái ý tưởng về châu Âu là một cộng đồng của những văn hóa trong đó văn hóa cá biệt hay cận văn hóa đều có mặt Không một văn hóa nào trong số chúng có thể sống còn nếu không có châu Âu, cũng như châu Âu cũng không thể sống còn nếu thiếu chúng Dĩ nhiên đó là một huyền thoại một loại hỗn hợp của cái có thật và cái hoang tưởng Điều quan trọng là không được để cho những phi lý của cái hoang tưởng che khuất sự thật.49
Tiếng sét thứ ba được hướng vào những người có quan điểm giản đơnhoặc mang tính nguyên khối về văn hóa châu Âu:
Sự đan bện của những ý niệm về châu Âu và về Thế giới Kitô giáo là một
sự thật lịch sử mà ngay cả phép ngụy biện xuất sắc nhất cũng không thể tháo gỡ Nhưng cũng có một sự thật không kém quan trọng đó là trong văn hóa châu Âu, có những sợi chỉ không thuộc Kitô giáo: La Mã, Hy Lạp, cũng có thể kể đến Ba Tư, và (trong những thế kỷ cận đại) Do Thái Một điều khó nói hơn nữa là phải chăng đã có một sợi chỉ Hồi giáo.50
Trong kết luận, Seton-Watson định nghĩa mục tiêu và giá trị của vănhóa châu Âu:
(Văn hóa châu Âu) không phải là công cụ của chủ nghĩa tư bản hoặc chủ nghĩa xã hội; nó không phải là sở hữu độc quyền của các chuyên gia châu Âu của EEC hoặc của bất kỳ ai Sự hợp nhất văn hóa châu Âu chỉ đơn giản là thành quả của 3000 năm lao động của những tổ tiên của chúng ta Đó là di sản mà chúng ta đã hắt hủi nó khi lâm nguy và sẽ là tội ác nếu chúng ta không gìn giữ nó cho những thế hệ mai sau Nhiệm vụ của chúng ta là bảo tồn và hồi phục nó.51
Seton-Watson là một trong số ít người ưu tú đã chạy bộ qua đêm dàicủa châu Âu, gương cao ngọn đuốc của sự thống nhất, ông là một trong số
Trang 37ít các học giả phương Tây đã bước qua những hàng rào ngăn cách Đông vàTây Âu Ngày nay, di sản trí thức của ông được trân trọng.52
Giờ đây, người ta chỉ có thể tiến hành việc viết sử châu Âu sau khi kháiniệm châu Âu đã được xác định và thuật viết sử đã có một bước ngoặtmang tính phân tích Nhưng dĩ nhiên là trong những năm đầu của thế kỷ
19, công việc viết sử cũng đã được thực hiện tốt Những nỗ lực sớm nhấtnhằm có một cái nhìn tổng hợp đã được thực hiện bởi nhà văn và chính
khách Pháp Francois Guizot (1787 - 1874) Tác phẩm Histoire de la
civilisation en Europe (1828 - 1830) của ông được hoàn thành dựa trên
những bài giảng của ông tại Đại học Sorbonne
Nhờ vào những vấn đề có liên quan đến việc xác định rõ nên hầu hếtcác sử gia hẳn đồng ý rằng đề tài - vấn đề của lịch sử châu Âu phải đượctập trung vào những kinh nghiệm tìm thấy trong từng thời đại lớn của quákhứ châu Âu Hầu hết cùng đồng ý rằng chính vào cuối thời cổ đại mà lịch
sử châu Âu đã không còn là một hỗn hợp của những sự kiện rời rạc, khôngliên quan nhau, diễn ra ở bên trong Bán đảo, và bắt đầu có những đặc trưngcủa một tiến trình có tính văn minh cố kết hơn Điều quan trọng nhất cáitiến trình đó là sự nổi lên của những thế giới ngoại lai và cổ điển; và hệ quả
là sự khẳng định của một cộng đồng Kitô giáo có ý thức - hay nói khác hơn
là sự thành lập Thế giới Kitô giáo Muộn hơn sau đó là đủ loại bất đồnggay gắt, ly giáo, nổi dậy, bành trướng, tiến hóa, chia tách, làm trỗi lên cáihiện tượng đa nguyên thiên hình vạn trạng là châu Âu ngày nay Không hề
có hai bản danh sách về những thành tố chính của văn minh châu Âu có thểtrùng khớp Nhưng nhiều mục trong các danh sách luôn có những nét nổibật: từ những nguồn gốc của thế giới Kitô giáo tại Hy Lạp, Rome, và DoThái giáo đến hiện tượng cận đại như Thời Đại Khai Sáng, hiện đại hóa,phong trào lãng mạn, chủ nghĩa dân tộc, chủ nghĩa tự do, chủ nghĩa đế
Trang 38quốc, chủ nghĩa toàn trị Cũng vậy, không thể thiếu sự liệt kê những cuộcchiến tranh, xung đột và bức hại đã kéo dài ở mỗi giai đoạn của truyện kể.
Có lẽ điều đó làm cho ta liên tưởng đến âm nhạc: ‘Châu Âu tựa như mộtban nhạc Có những có một số nhạc cụ nào đó giữ vai trò thứ yếu, hoặcngay cả im tiếng Nhưng ban nhạc thì còn đó’.53
Tuy vậy, vì châu Âu chưa từng thống nhất về chính trị, nên tính đadạng là một trong những đặc trưng tồn tại lâu dài của nó Tính đa dạng làđiều có thể nhận thấy trong những phản ứng khác nhau của mỗi người đốivới những kinh nghiệm cùng chia sẻ Có một tính đa dạng dai dẳng trongnhững văn hóa và nhà nước dân tộc tồn tại bền bỉ trong văn minh châu Âuxét như một tổng thể Có tính đa dạng trong những nhịp thay đổi Guizot,nhà tiên phong, không phải là người duy nhất nghĩ về tính đa dạng như làđặc trưng hàng đầu của châu Âu
Khuynh hướng xem châu Âu là trung tâm
Ta không thể xem việc viết lịch sử châu Âu là khuynh hướng xem châu
Âu là trung tâm (Eurocentrism) chỉ đơn giản là vì nó hướng sự tập trungvào những công việc của châu Âu - nghĩ là đeo đuổi đề tài Khuynh hướngxem châu Âu là trung tâm là một vấn đề thuộc về thái độ chứ không phảithuộc về nội dung Nó liên quan đến khuynh hướng truyền thống của cáctác giả châu Âu xem văn minh của họ là cao cấp và có tính kiềm chế, và họ
là những người đã không buồn cân nhắc đến những quan điểm không châu Âu Mọi người đều cảm thấy có sự thôi thúc nhằm khám phá nguồngốc của mình Không may thay, các sử gia châu Âu thường tiếp cận đề tàicủa họ tựa như Narcissus tiến đến bên hồ, chỉ để nhìn thấy phản ảnh củasắc đẹp của mình Guizot đã không thiếu những người noi theo kể từ khiông đồng nhất văn minh châu Âu với những thánh ý của Thượng đế Theo
Trang 39-ông thì: ‘Văn minh châu Âu đã đi vào chân lý vĩnh hằng, vào kế hoạchcủa Đấng Toàn Năng Nó tiến triển phù hợp với thánh ý của ThiênChúa’.54 Đối với Guizot, và nhiều người như ông, thì châu Âu là đất hứa
và người châu Âu là một chủng loại được tuyển chọn
Nhiều sử gia đã tiếp tục có cái máu tự hào đó và, thường một cách dứtkhoát, cho rằng thành tích của châu Âu là một khuôn mẫu để cho những xứ
sở khác noi theo Chỉ đến gần đây, họ mới nhìn đôi chút vào sự tương táccủa văn hóa châu Âu với văn hóa của những láng giềng là châu Phi, Ấn Độhoặc Hồi giáo Viết năm 1898, một học giả hàng đầu của Hoa Kỳ đã lầnngược lên cội nguồn của văn minh châu Âu và ông cho rằng nó chủ yếuxuất phát từ công trình của ‘các bộ lạc Teuton’ - như vậy, rõ ràng và hiểnnhiên không cần phải chứng minh, châu Âu là khuôn mẫu phổ quát:
Những người thừa kế thế giới cổ đại là những bộ lạc Teuton, những bộ lạc đã dần dà hình thành một nền văn minh có tính đồng bộ mới trên nền tảng của cái kỳ cựu, và trong thời gian gần đây, nền văn mình đó đã bắt đầu lan rộng khắp thế giới và đưa mọi cư dân trên trái đất vào quan hệ gần gũi
và vào dưới những ảnh hưởng chung.55
Khi nhà xuất bản Oxford University Press công bố tập một của bộ Lịch
sử châu Âu, qua lời tựa của nó người ta cũng đọc thấy một cảm nghĩ tương
tự;
Tuy đã có một số nền văn minh lớn tồn tại ở những thời đại khác nhau, nhưng văn minh châu Âu đã tạo ấn tượng sâu rộng nhất, và giờ đây (khi đã phát triển ở cả hai bờ của Đại Tây Dưong), nó đặt ra chuẩn mực cho các dân tộc trên trái đất.56
Cái tuyến tư duy và lối trình bày đó dần dà đánh mất sự hấp dẫn của
nó, đặc biệt đối với những người không-Âu
Trang 40Bản đồ 3: Những tuyến phân chia sai lầm Đông – Tây tại châu Âu
Rudyard Kipling (1865 - 1936) đôi khi được xem là nhân vật trung tâmcủa truyền thống xem châu Âu là trung tâm, ngay cả khi ông là ‘người biện
hộ cho sứ mệnh khai hoá của sự bành trướng thuộc địa của Anh’ Bài thơ
nổi tiếng Ballad of East and West của ông đã được sáng tác với hình ảnh
Ấn Độ trong tâm trí:
Đông là Đông và Tây là Tây, và sẽ chẳng bao giờ gặp nhau
Cho đến khi Đất và Trời trình diện trước Toà Phán Xét của Thiên Chúa Nhưng ở đó thì chẳng còn Đông hay Tây, biên giới, giống nòi.
Khi hai người hùng mạnh đứng đối diện, đến từ những tận cùng của Trái