IKON (TRANH TƯỢNG THÁNH)

Một phần của tài liệu Lịch sử châu Âu: Phần 1 (Trang 391 - 395)

Tranh tượng thánh là một loại hình tồn tại lâu dài nhất của nghệ thuật châu Âu. Tuy vậy, chúng không chủ yếu được tạo ra như là những tác phẩm nghệ thuật. Chúng trợ giúp cho sự mộ đạo. Chúng là “những cánh cổng huyền bí”, “những cánh cửa của tri giác” mở vào thế giới tâm linh ở bên kia những hình ảnh. Việc thẩm định chúng tùy thuộc vào sự am hiểu thần học và sự cảm thụ của người xem.336 Đế chế Byzantine đã bảo vệ những trung tâm hàng đầu sản xuất tranh tượng thánh, và sau đó phương Tây Trung Cổ đã sản sinh những trường phái quan trọng về tranh tượng thánh.

Thái độ cần có của người thờ kính tranh tượng thánh có thể tóm gọn bằng cái từ Hy Lạp hesychia hay “một sự bình thản đầy cẩn trọng”. Nó đòi hỏi sự kiên trì, siêu thoát, lòng tôn kính, và một sự tập trung đầy tính nguyện cầu. Philokalia, một tiểu luận và tuyển tập các bài viết thuộc thế kỷ thứ 5 về “tình yêu cái đẹp” liên kết điều vừa kể với việc một con mèo đang chăm chú rình bắt con chuột.

Theo truyền thuyết thì Thánh Luca là người đầu tiên vẽ tranh tượng thánh; đề tài của ông là Thánh Nữ Đồng Trinh và Chúa Hài Đồng. Cùng với “Christus Pantokrator” (Đức Kitô Chúa Tể Của Thế Giới), Thánh Nữ Đồng Trinh Maria là hình ảnh hàng đầu của các tranh tượng thánh.

Thánh Nữ Đồng Trinh được vẽ theo ba tư thế tiêu chuẩn: tư thế eleus với Chúa Hài Đồng được Thánh Mẫu đưa lên cao trước mặt; tư thế odititria trong đó Thánh Mẫu giữ Chúa Hài Đồng trong hai tay duỗi thẳng; và tư thế orakta trong đó Thánh Mẫu đưa hai tay lên và trong lòng Thánh Mẫu là Chúa Hài Đồng.337

Trong suốt cuộc Iconomachia – “Chiến Tranh Các Tranh Tượng Thánh” kéo dài, Thánh John Damascene (675-748) là người vĩ đại nhất trong số những người thờ kính tranh tượng thánh, hay còn gọi là

“Iconodules” nghĩa là “những kẻ nô lệ của tranh tượng thánh”. Tuy vậy, ông đã nhấn mạnh đến sự khác biệt giữa thờ kính các tranh tượng thánh và sự tôn thờ Thiên Chúa một các sâu sắc mà qua đó các tranh tượng thánh giúp cho sự tôn thờ trở nên dễ dàng hơn. Ông cũng xác định lý thuyết thần học ba cấp độ về hình ảnh Đức Kitô trở thành Con Người;

Con Người được tạo ra theo hình ảnh của Thiên Chúa; các tranh tượng thánh vì vậy là những hình ảnh đích thực của Đấng Thiêng Liêng và các Thánh.

Các tranh tượng thánh luôn giữ một vị trí chính trong các nhà thờ

Chính Thống giáo. Iconostasis hay “bình phong tranh tượng thánh” ngân khu dành cho thánh bộ với chính điện, dành cho hàng giáo phẩm. Theo truyền thống thì iconostasis gồm bốn hang tranh tượng thánh với hình ảnh của nhóm các thành viên ở bên trên, mười hai ngày lễ của giáo hội, mười hai Thánh Tông Đồ, và mười hai nhà tiên tri. Ở giữa iconostasis là hai cánh cửa với sáu panô có hình Thượng Đẳng Thần Cabriel, Thánh Mẫu và bốn Thánh soạn Phúc Âm. Tại Hy Lạp, hai cánh cửa này được gọi là “Cổng của Cái Đẹp”, tại Nga thì gọi là “Cổng của Đế Chế”. Bên trên hai cửa là ba hình tượng thánh có kích cỡ lớn hơn với hình Thiên Chúa trong Ngày Phán Xét, Chúa Ba Ngôi và Chúa Jesus trên Thập Giá.

Trong các thánh lễ của Chính Thống giáo, một hình tượng thánh được rước qua nhà thờ để cho các tín đồ cung kính hôn.

Được dùng để thực hiện các tranh tượng thánh là những tấm ván có kích cỡ trung bình, có thể mang đi. Các họa sĩ sử dụng màu keo (thuốc màu trộn với trứng) trên một nền màu trắng hoặc mạ vàng. Những tư thế các điệu, những cử chỉ và những khuôn mặt, tất cả đều mang dáng vẻ khiến người xem phải tôn kính.338 Đặc trưng của các tranh tượng thánh Ikon là không quan tâm đến phối cảnh. (Flagelltaio)

Tranh tượng thánh Chính Thống gíao trải qua một số thời kỳ riêng biệt. Trước tiên là "Thời Hoàng Kim” kết thúc với sự tranh luận về việc bài trừ sùng bái hình thánh. Chỉ có một số ít tranh tượng thánh là còn sót lại sau thời kỳ này. Thời kỳ thứ hai kết thúc khi Byzantium bị La Mã xâm lược trong năm 1204. Thời kỳ Byzantium muộn là thời kỳ chứng kiến sự phát triển của các trường phái vẽ tranh tượng thánh có tính quốc gia phát triển tại Bulgaria. Serbia, Nga, Novgorod, Belarus và Pskov; tất cả đều có truyền thống riêng cho đến khi Giao hội Chính Thống Nga áp đặt một phong cách Muscovite cho tranh tượng thánh. Kể từ đó, tranh

tượng thánh Chính Thống giáo cách ly hẳn với những phát triển của nghệ thuật Công giáo. Tuy vậy, cũng đã xảy ra một số “lai tạo chéo”

quan trọng. Một "phong cách Veneto - Byzantine kết hợp” độc đáo đã nổi lên tại Crete. Một sự hòa trộn tương tự như vậy của hình ảnh thánh của Công giáo và Chính Thống giáo cũng có thể được nhận thấy trong nghệ thuật của giáo đồ phái hợp nhất Ukraina.339 (Greco).

Mặc dầu xảy ra ly giáo, tranh tượng thánh Chính Thống giáo vẫn được đánh giá cao tại phương Tây. Tất cà những “Thánh Mẫu Đen” nổi tiếng của Công giáo châu Âu đều xuất phát từ các nguồn Byzantine.

Cũng vậy, “Mặt Chúa” tại Laon, Picardy, là một ikon đen tuyệt đẹp khác, lần này về Đức Kitô. Tuy được vẽ trên tấm ván gỗ thông, nó mang một dòng chữ Slav được viết không đúng - Obras Gosponden Naubrus (Hình ảnh của Thiên Chúa trên Vải), có lẽ có nguồn gốc Serbia. Hình ảnh thánh đó có thể là bản sao tấm khăn liệm Chúa Jesus, đã từng được trưng bày tại Byzantium.340

Mọi gia đình Chính Thống giáo mộ đạo đều thờ kính tranh tượng thánh. Maxim Gorky đã hồi tưởng về ngôi nhà của ngoại ông tại Niznhy Novgorod trong thập niên 1870 như sau:

Khi (bà ngoại nội) nói về Thiên Chúa, mặt bà trở nên tươi trẻ hẳn...

Bà nói, “Người ta không thể trông thấy, Thiên Chúa, bởi nếu thấy Ngài thì mắt ta sẽ mù. Chỉ có các thánh mới có thể nhìn thấy mặt Chúa.” Quả thật là thích thú khi nhìn ngoại phất bụi các tranh tượng thánh và những áo lề không tay... Ngoại nhẹ nhàng nhấc một tranh tượng thánh lên, mỉm cười với tranh tượng và nói bằng giọng đầy tôn kính, “Quả là một tôn nhan đáng kính!" Rồi ngoại làm dấu thánh, và hôn.341

Triều đình là trung tâm của một nền hành chính trung ương tập quyền

rộng lớn được điều hành bởi một đạo quân quan liêu. Heraclius đã chọn tước vị Basileus của Ba Tư và tính chất chuyên chế của bộ máy nhà nước phô bày rõ qua những lễ nghi có tính phương Đông của nó. “Byzantium”

trở thành một điển hình của sự quị lụy hoàn loàn, của sự giấu diếm che đậy, và thủ đoạn. Cái vẻ bề ngoài của một số định chế La Mã xưa được giữ lại, nhưng hoàn toàn mang tính thứ cấp. Nghị viện là một hội đồng của những người nắm giữ chức quyền dược sáp xếp chặt chẽ theo cấp bậc. Các quốc vụ khanh dưới quyền eparchos (tổng đốc), symponus (quan chưởng ấn) và logothete (trưởng tư pháp) được thay thế bằng những viên chức của triều đình - tất cả là hoạn quan dưới quyền của Paracomoenus (Đại thị thần). Bằng cách sử dụng các hoạn quan, Đế chế đã bảo vệ chính nó trước khả năng chính biến trong triều đình, điều thường xảy ra tại phương Tây.

Quốc phòng là nhiệm vụ được phân chia cho quân dự bị của hoàng gia và vệ binh, gồm những lính đánh thuê nước ngoài, dưới quyền chỉ huy của các domestos và một hệ thống gồm các themes hay “vùng quân sự”, mỗi vùng được đặt dưới quyền của một strategos.

Tuy vậy, Byzantium chủ yếu là một cường quốc trên biển. Với 300 chiếc thuyền có hai hàng chèo được trang bị bằng “hỏa công Hy Lạp” và những cây gỗ nặng để phá thuyền đối phương, hải quân Byzantium có thể đương đầu với mọi đối thủ. Mặc dầu không thắng người A Rập trong trận hải chiến lớn ở ngoài khơi Phoenix, Lycia năm 655, sức mạnh hải quân của Byzantium vẫn tiếp tục thống trị Biển Aegea và Biển Đen.

Một phần của tài liệu Lịch sử châu Âu: Phần 1 (Trang 391 - 395)

Tải bản đầy đủ (PDF)

(748 trang)