HELLAS – HY LẠP CỔ ĐẠI

Một phần của tài liệu Lịch sử châu Âu: Phần 1 (Trang 144 - 152)

được. Nhưng không nơi đâu - ngoại trừ có thể là Biển Nhật Bản — có được đồng thời cả ba yếu tố đó, như ở Đông Địa Trung Hải. Sự trỗi dậy của Hy Lạp cổ đại thường khiến nhiều người kinh ngạc ngưỡng mộ và xem như một phép lạ; nhưng điều đó có thể không hoàn toàn do ngẫu nhiên.

Bản đồ 6: Châu Âu tiền sử

Hẳn nhiên, có một chút thận trọng cần phải thêm vào khi đề cập đến

“giai đoạn đáng kinh ngạc nhất của lịch sử nhân loại”. Quan điểm hiện đại thì quá bão hoà bởi sự biện hộ đặc biệt của Thời Đại Khai Sáng và chủ nghĩa lãng mạn đến nỗi người ta thường khó có thể thấy Hy Lạp cổ Đại như nó thật sự đã là. Johann Joachim Winckelmann (1717 - 1768) “Người

khám phá” đã nghĩ ra một sơ đồ mỹ học tác động sâu sắc đến những thái độ người châu Âu đối với Hy Lạp kể từ đó. Trong tác phẩm Thoughts on the Imitations of Greek Works... (1955) và History of Art Among the Ancients (1764), ông viết về “sự đơn giản cao quý và sự vĩ đại thầm lặng”

và “qui luật hoàn hảo của nghệ thuật” được cho là ngấm vào mọi thứ165 là Hy Lạp. Phương châm đã được sử dụng là “không thái quá trong bất cứ điều gì” hoặc “tiết chế trong mọi sự”. Giờ đây người ta có thể nghi ngờ rằng nhiều học giả cổ điển đã áp đặt những lối giải thích mang nặng chủ nghĩa tiên nghiệm và sự kiềm chế của thời đại Wickelmann nhiều hơn họ tưởng. Việc nhấn mạnh đến yếu tố phi lý trong đời sống Hy Lạp hoặc nhấn mạnh đến niềm vui sống của nó không phải là mốt thời thượng.

Những người theo chủ nghĩa lãng mạn trong thế kỷ 19 ủng hộ cuộc chiến vì độc lập của Hy Lạp đã giữ những quyền ưu tiên của chính họ. Trước tiên, điều đó xuất phát từ John Keats với tác phẩm “Ode on a Grecian Um”:

Ôi hình dáng Athens phong nhã! Ôi thái độ trung thực!

Với dòng dõi của cẩm thạch, đàn ông và trinh nữ quấn quít, Với những cành cây của rừng và cỏ dại bị dẫm đạp:

Hỡi hình dáng thinh lặng của người! Người rút đi tư tưởng của chúng tôi

Như vĩnh hằng lấy đi. Khúc hát đồng quê lạnh lẽo!

Khi thời đại xưa cũ sẽ vứt bỏ cái thế hệ này, Người sẽ tồn tại, giữa nỗi thống khổ khác,

Không phải là chúng tôi, bạn của con người, kẻ mà người đã nói,

“Cái đẹp là chân lý, cái đẹp đích thực - là tất cả

Cái được biết trên trái đất, và là tất cả cái cần phải biết.”

Tiếp đến là cảm xúc của Shelley về Hy Lạp:

Một thời đại vĩ đại của thế giới lại bắt đầu, Trái đất tựa một con rắn lột xác,

Cỏ dại mùa đông của nó tả tơi.

Trời mỉm cười, các niềm tin và những đế chế lập loè, Tựa những mảnh của một giấc mộng đang tan vỡ.

Và hơn hết thảy là giấc mộng của chàng trai trẻ Lord Byron về “Những hải đảo của Hy Lạp”:

Hãy đặt tôi trên dốc đá cẩm thạch của Sunium, Nơi chẳng có gì cứu vớt những con sóng và tôi,

Nơi chúng tôi có thể nghe thấy tiếng nức nở của nhau,

Ở đó, tựa như thiên nga, hãy để tôi cất lên tiếng hát và chết.166

Với sự hấp dẫn tài tình, những cây bút lãng mạn đã viết về Hy Lạp; và điều chẳng mấy ngạc nhiên là họ đã rút đi tư tưởng của chúng ta. Ngay cả những nhà phê bình xuất sắc nhất cũng có thể mất khả năng bình phẩm của họ. Khi viết về văn học Hy Lạp, một người trong số họ đã cho rằng văn học này đã cho “những kết quả rất thích đáng trong loại hình và có một sự hấp dẫn mạnh mẽ trong nội dung đến nỗi chúng thường nổi bật như một điển hình của sự hoàn hảo”. Một người khác thì cho biết rằng cảm thấy vui sướng khi đào bới “bất kỳ một di chỉ cổ điển hoặc cận cổ điển nào của thế giới Hy Lạp... nơi hầu như mọi vật mà bạn phát hiện đều xinh đẹp”. Thậm chí, có người đã cho rằng, “cái tinh thần của Hy Lạp cổ đại... đã mang lại sự sinh động cho tính chất của vũ trụ đến nỗi mỗi hòn đá và cây cỏ, mỗi dòng thác, hoang mạc đều tuôn trào với nó”. Những lời vừa kể có thể cho thấy rằng con người hiện đại bị xúc động mạnh mẽ bởi hoài cảm vẻ một

thời khi thế giới còn trẻ trung, hoặc họ bị khuấy động bởi một khát vọng đặt không đúng chỗ, nhằm chứng tỏ sự độc đáo của Hy Lạp cổ đại. Hoặc cũng có thể, trong khi kinh ngạc trước những tác phẩm kiệt xuất còn lại, người ta đã quên đi những thứ cặn bã không còn tồn tại. Một sử gia Athens đã viết rằng, “Ngay cả đi dạo trong những con phố của đô thị xinh đẹp này, được cúng bái trong những đền thờ lộng lẫy, dong buồm trên Địa Trung Hải trong những con tàu của nó, cũng là một nền giáo dục tự do”.167

Nhưng với những ai tìm kiếm các khía cạnh tiêu cực của Hy Lạp thì họ chắc chắn sẽ thấy chúng. Những người Hy Lạp cao quý, vốn được nhiều ngưỡng mộ, cũng là những người bi bao quanh bởi những “mê tín dị đoan suy đồi, những thói xấu khác thường, bởi chế độ nô lệ và việc sử dụng con người làm vật hiến tế”.168 Nhiều nhà bình luận đã so sánh sự rắn rỏi, sức mạnh của trí tuệ cao cả của thời kỳ sớm của Hy Lạp, với bạo lực và sự suy đồi của những thế kỷ sau đó. Tuy vậy, các sự việc vẫn chưa được giải quyết. Khi nền văn minh của Hy Lạp cổ đại lần đầu tiên trở nên rõ nét, những liên kết của nó với những thế giới xưa cũ hơn của Ai Cập và Mesopotamia là mỏng manh. Trong một khoảng thời gian ba hoặc bốn trăm năm, nó đã tạo được những thành tựu trong hầu hết các lãnh vực nỗ lực của nhân loại. Và chỉ đến thời Phục Hưng, lịch sử châu Âu mới được chứng kiến một sự bùng nổ sinh lực như thế. Hiển nhiên, với Hy Lạp, điều đó không phát triển một cách từ tốn, có trật tự và logic. Nó đã bột phát rực rỡ.

Lịch sử chính trị của Hy Lạp cổ đại trải dài trên một ngàn năm và ngang qua một số thời đại khác hẳn nhau. Thời kỳ tiền sử ban đầu, được biểu lộ trong hai trung tâm song sinh của nền văn minh Minoa và Mycenea, đi đến điểm kết thúc trong thế kỷ 12 trước CN. Trong những giai đoạn muộn của nó, thời kỳ đó phần lớn trùng khớp với cái gọi là “Thời Đại Anh Hùng Xa Xưa” mà đỉnh cao là trận chiến Troy, và cũng là thời đại mà văn học Hy

Lạp thuộc thời kỳ muộn hơn đã đưa vào những cái tên thần thoại Hercules, Ajax, Achilles và Agamemnon. Troy được xây dựng trên phần châu Á của bờ biển Aegea và là thành phố đã, trong nhiều thế kỷ, hỗ trợ những trung tâm định cư quan trọng của người Hy Lạp, đặc biệt tại Ionia. Theo truyền thuyết thì Troy bị đánh chiếm vào năm 1184 trước CN. Những cuộc khai quật khảo cổ tại đó cho thấy rằng nền tảng có tính lịch sử của các truyền thuyết là điều đáng tin cậy hơn trước đây người ta đã nghĩ.

Theo sau sự sụp đổ của Troy là “Thời Đen Tối”, một thời gian mà người ta không thể biết nhiều qua những ghi chép có tính lịch sử và ngay cả qua khảo cổ học.

“Thời Hoàng Kim” của các quốc gia đồ thị Hy Lạp tồn tại từ thế kỷ thứ 8 đến thế kỷ thứ 4 và trải qua một số thời kỳ riêng biệt. Thời kỳ cổ đại để lại dấu ấn trong sử ký với Đại hội Thể thao Olympic đầu tiên được tổ chức năm 776 trước CN và đã được tuỳ tiện dùng làm khởi điểm cho niên lịch Hy Lạp. Thời kỳ trung tâm của vinh quang vĩ đại nhất của Hy Lạp bắt đầu vào thế kỷ thứ 5 và chấm dứt vào năm 338 trước CN, khi người Hy Lạp buộc phải đầu hàng người Macedonia. Từ đó, trong thời lệ thuộc, các đô thị Hy Lạp đã lao động và nỗ lực dưới sự cai trị của người nước ngoài, trước tiên là người Mecédonia và sau đó là người La Mã.

Những xung đột chính trong Thời Hoàng Kim của Hy Lạp là những cuộc chiến chống đế chế Ba Tư, một đế chế dưới quyền Cyrus Đại đế (558 - 529) đã nuốt chửng nửa phần phía đông của thế giới Hy Lạp, và sau đó là Chiến tranh Peloponnese (431 - 404), nơi các đô thị Hy Lạp lao vào cuộc huynh đệ tương tàn. Những trận đánh đã khiến cho quân thù bị chặn lại và đẩy lùi tại cánh đồng Marathon (490 trước CN), hoặc tại đèo Thermopylae, và vịnh Salamis (480 trước CN) là nguồn sáng tác cho vô số những bài diễn văn và tác phẩm tán tụng. Ngược lại, chiến thắng không

lừng lẫy của quân Sparta - được sự hỗ trợ của Ba Tư - trên Athens năm 404 trước CN, hoặc sự xoá sổ không thương xót Sparta bởi người Thebes là những điều ít được chú ý.

Những cuộc chiến tranh Ba Tư mang lại một cảm nhận thường xuyên về tính đồng nhất cho người Hy Lạp, những người đã thoát khỏi sự đô hộ của người Ba Tư. Hellas tự do được xem như là “Phương Tây Quang Vinh”, “Vùng Đất Tự Do”, quê hương của cái đẹp và minh triết. Phương Đông là nơi của chế độ nô lệ, sự tàn bạo, ngu dốt. Aeschylus đã đặt những quan điểm đó vào miệng nữ hoàng Ba Tư. Cảnh này diễn ra tại cung điện hoàng gia tại Susa, nơi nữ hoàng được tin con trai bà bị đánh bại tại Salamis:

(5169)

Cái khái niệm cho rằng Hy Lạp là tự do toàn diện và Ba Tư là hoàn toàn chuyên chế là cực kỳ chủ quan. Nó đã cung cấp nền tảng cho một truyền thống dai dẳng gắn liền “văn minh” với “châu Âu” và với “phương Tây”.

(Barbaras).

Sự trỗi dậy của Macedonia, một xứ đã Hy Lạp hoá ở phía bắc Hy Lạp, đạt đến đỉnh điểm của nó dưới quyền của Philip xứ Macedonia (trị vì 359 - 336 trước CN) và con là Alexander Đại đế (trị vì 336 - 323 trước CN).

Trong một loạt những chiến dịch kiệt xuất - chỉ kết thúc với cái chết do cảm sốt của Alexander tại Babylon - toàn bộ các lãnh thổ rộng lớn của Ba Tư đã bị xâm chiếm và thế giới Hy Lạp vươn rộng đến hai bên bờ sông Indus. Xét theo quan điểm ngưỡng mộ, Alexander là người đầu tiên đã nhìn toàn bộ cái thế giới đã biết - cái oikoumene - như một tổ quốc duy nhất. Nhưng theo một sử gia hàng đầu của Anh về Hy Lạp, ở cuối tập 12 và chưong 96 tác phẩm của ông, thì sự kết thúc của “Hy Lạp Tự Do” là điều đáng được thương tiếc còn hơn cả sự ca ngợi dành cho Alexander.

Ông viết, “Sử gia cảm thấy sự sống đã rời khỏi chủ đề của ông và trong buồn bã và tủi nhục, ông kết thúc sự tường thuật”170. Xét theo một nghĩa có tính chính trị, thì cái Thời Đại Hy Lạp đó - bắt đầu với ưu thế của Macedonia - đã tồn tại cho đến khi những người kế vị Alexander bị loại bỏ một cách có hệ thống bởi quyền lực La Mã đang lớn mạnh. (Makedon).

Sự bành trướng về mặt địa lý của thế giới Hy Lạp là một điều gây ấn tượng. Hải đảo bé nhỏ và các quốc gia đô thị quanh bờ biển Egea phủ đá thường không đủ tài nguyên để hỗ trợ một dân số đang gia tăng. Đất đai canh tác là vấn đề hàng đầu. Các thị trường lớn mạnh, ngay cả khi không hề có nhận thức hiện đại về tổ chức kinh doanh. Những trạm mậu dịch thân hữu là điều cần thiết để có thể tiếp cận hữu hiệu với bên trong lục địa. Vì những lý do đó, sự thành lập các thuộc địa mang lại nhiều hấp dẫn. Từ thế kỷ thứ 8 trở đi, một số những đô thị cổ xưa nhất của Hy Lạp lục địa và của Tiểu Á - Chalcis, Eretria, Corinth, Megara, Phocea, và hơn hết là Mileus - đã tích cực tham gia vào việc chiếm cứ thuộc địa. Những nơi thường được nhắm đến nhiều nhất là Sicily, Nam Italy, Thrace, và những bờ biển Euxine hay còn gọi là biển “Hiếu Khách” - tựa như Thái Bình Dương, biển Euxine được gọi tên như thế với hy vọng điều đó sẽ bớt đi tính hung hãn của nó.

(Chersonesos).

Theo thời gian, khi các thuộc địa trong thời kỳ đầu đã tự chúng sản sinh những thuộc địa khác, thì toàn bộ những chuỗi hoặc những dòng họ đô thị được thành lập, tất cả đều hết lòng tận tuy đối với những đô thị đã khai sinh ra chúng. Milletus đã xây dựng một chuỗi những dòng họ đô thị lớn lao nhất, với trên 80 thành viên gồm nhiều thế hệ khác nhau. Ở phía tây, tại Sicily, những thuộc địa đầu tiên của Chaleis là Naxos và Messana (Messina) có niên đại từ 735 trước CN. Emporia (Ampurias) tại Iberia, Massilia, (Marseille), Neapolis (Naples), Syracusa (Syracuse), Byzantium bên bờ Bosporus, Cyrene tại Bắc Phi, và Sinope tại phía nam vùng bờ biển Euxine là những đô thị có niên đại từ những thế kỷ đầu CN. Vào niên đại muộn hơn, theo sau những cuộc chinh phục của Alexander Đại đế, các đô thị Hy Lạp mọc lên ở bên trong châu Á. Những đô thị mang tên nhà chinh phục người Macedonia gồm có: Alexandria tại Tận Cùng Thế Giới (Khojent, tại Turkestan), Alexandria tại Areia (Herat), Alexandria tại Arachosia (Kandahar), Alexandria tại Syria, và hơn hết là Alexandria tại Ai Cập (332 trước CN). Từ Saguntum (Sagunto gần Valencia) ở viễn tây đến Bucephala (Jhelym) thành phố mang tên con ngựa chiến của Alexader - tại Punjab ở cực đông, những chuỗi liên kết của các đô thị Hy Lạp trải dài trên gần 4500 dặm, gần gấp đôi chiều dài của Bắc Mỹ. (Massilia)

Một phần của tài liệu Lịch sử châu Âu: Phần 1 (Trang 144 - 152)

Tải bản đầy đủ (PDF)

(748 trang)