1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

skkn vận dụng tư tưởng nghệ thuật ngoại giao hồ chí minh vào dạy học lịch sử việt nam phần quan hệ ngoại giao việt – pháp (từ 291945-19121946)

15 734 1

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 15
Dung lượng 149,5 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Các giải pháp và tổ chức thực hiện.. Tư tưởng ngoại giao Hồ Chí Minh.. Trong tư tưởng Hồ Chí Minh chiến tranh là khúc quanh buộc phải tiến hành... - Ngoại giao công tâ

Trang 1

SỞ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO THANH HÓA

TRƯỜNG THPT NÔNG CỐNG 4

SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM

VẬN DỤNG TƯ TƯỞNG , NGHỆ THUẬT NGOẠI GIAO

HỒ CHÍ MINH VÀO DẠY HỌC LỊCH SỬ VIỆT NAM

PHẦN QUAN HỆ NGOẠI GIAO VIỆT - PHÁP

(TỪ 02/09/1945 ĐẾN 19/12/1946)

Người thực hiện: Đỗ Thị Ca Chức vụ: Tổ Trưởng bộ môn SKKN thuộc lĩnh vực môn: Lịch sử

THANH HÓA 2013

Trang 2

I Đặt vấn đề

Lý do chọn đề tài: Trong những năm gần đây Bộ giáo dục và Đào tạo luôn quan tâm đến vấn đề đổi mới dạy học, đổi mới phương pháp dạy học lấy học sinh làm trung tâm, đổi mới về kỉ năng, kỉ thuật dạy học lấy học song song với sự đổi mới đó là vấn đề đề thi vào các trường đại học và cao đẳng môn lịch sử không dễ chút nào, kể cả với cách cách chỉ đạo của chuyên viên lịch sử giáo dục tỉnh Thanh Hóa tôi nhận thấy đề thi học sinh giỏi năm nay đề ra rất hay mang tính sáng tạo có khả năng phân loại học sinh đánh giá được thực lực của học sinh giỏi Tuy nhiên điều khiến tôi băn khoan nhất la đề thi đại học càng ngày càng khó hơn vấn đề ra đề thi cũng thể hiện sự bao quát trương trình hơn không chú trọng đơn thuần giải quyết một vài vấn đề như trước đây Trong khi đó tâm lý học sinh là ngại, coi môn lịch sử là môn khó học Điều quan trọng nhất đối với giáo viên đứng lớp là phải làm gì để học sinh có hứng thú học trong giờ học và cảm thấy được mỗi buổi học các em sẽ tiếp cận được với cái hay cái mới

Bản thân học sinh không cảm thấy mơ hồ nhàm chán

Lý do nữa là trong quá trình dạy học phần lịch sử Việt Nam về quan hệ ngoại giao Việt- Pháp sau cách mạng tháng tám đến ngày 19/12/1946

Tôi nhận thấy phần này là một phần khó, học sinh thường không để ý học Khi cho học sinh làm bài kiểm tra liên quan đến phần này tôi nhận tháy các em còn mắc rất nhiều lỗi, đặc biệt là còn có học sinh hiểu sai bản chất vấn đề, còn nhầm lẫn trong quan hệ ngoại giao Việt-Tưởng-Pháp

II Giải quyết vấn đề

1 Cơ sở lý luận của vấn đề

Cơ sở lý luận để nghiên cứu đề tài là không nhiều Dựa trên một số tài liệu thành văn được các nhà khoa học, các nhà nghiên cứu lịch sử đã nghiên cứu và xuất bản, một số sách tuyển tập liên quan đến cuộc đời và sự nghiệp của Hồ Chí Minh Một số tài liệu về hoạt động ngoại giao của Hồ Chí Minh

2 Thực trạng nghiên cứu vấn đề.

Trên thực tế không có nhiều tài liệu tham khảo viết về giai đoạn lịch sử này Học sinh ngại học vì phần này thiên về lý luận nhiều, phần khó nhớ, nó không giống như một chiến dịch lịch sử cụ thể

Trang 3

Trong quá trình dạy học trên lớp tôi đã thực nghiệm ở một số lớp, kết quả phản hồi là khác nhau Đặc biệt kiểm tra phần này còn có nhiều học sinh bị điểm yếu

Một trong những khó khăn cho giáo viên dạy học lịch sử giai đoạn này là khi cho học sinh làm bài kiểm tra thì đa số bài làm còn lúng túng chưa hiểu rõ bản chất vấn đề

Xuất phát từ những lý do trên nên tôi đã quyết định chọn đề tài: Vận dụng

tư tưởng, nghệ thuật ngoại giao Hồ Chí Minh vào dạy học phần quan hệ ngoại giao Việt-Pháp ( từ 2-9-1945 đến ngày 19-12-1946)

Tôi muốn nghiên cứu đề tài này để giúp học sinh khắc phục được những điểm khó, hiểu bài sâu và hiểu được bản chất vấn đề Có như vậy học sinh mới cảm thấy tự tin khi bước vào các kỳ thi Đại học, cao đẳng và thi học sinh giỏi

Qua đề tài giúp học sinh hiểu sâu hơn về Hồ Chí Minh và vai trò của người và Đảng ta trong thời điểm lịch sử này

3 Các giải pháp và tổ chức thực hiện.

Giải pháp 1: là phải chỉ cho học sinh hiểu rõ tư tưởng, nghệ thuật ngoại

giao Hồ Chí Minh là gì sau đó mới vận dụng để dạy học phần mối quan hệ ngoại giao Việt - Pháp sau cách mạng tháng tám

Tư tưởng, nghệ thuật ngoại giao của Hồ Chí Minh giai đoạn này là gì

Tư tưởng ngoại giao Hồ Chí Minh

Trong tư tưởng ngoại giao Hồ chí Minh thì hai mục tiêu độc lập, hòa bình không tách rời nhau

Tư tưởng về hòa bình của Hồ Chí Minh mang tính chiến đấu Phải có lực mới có thể thương lượng, đàm phán với kẻ thù khi chúng luôn luôn nuôi tham vọng xâm lược

Nguyên tắc quan trọng trong tư tưởng hòa bình trong tư tưởng hòa bình của Hồ Chí Minh là hòa bình đạt được không phải bằng cầu xin mà bằng đấu tranh chống những thế lực ngoan cố không chịu chấp nhận con đường hòa bình thương lượng để kêta thúc chiến tranh

Chủ trương hòa bình của người xuất phát từ thiện chí, từ sức mạnh của chính nghĩa Của nhân dân, đấu tranh cho độc lập tự do Trong tư tưởng Hồ Chí Minh chiến tranh là khúc quanh buộc phải tiến hành Còn cánh cửa hòa bình vẫn

Trang 4

luôn rộng mở, nhịp cầu thương lượng vẫn bắc sẵn để đi tới kết thúc cuộc chiến tranh và giành được mục tiêu thắng lợi được xác định

Tư tưởng nêu trên được thể hiện trong cuộc kháng chiến chống thực dân pháp và tiếp theo là kháng chiến chống đế quốc Mĩ

Nghệ thuật ngoại giao gắn với cuộc đời hoạt động Hồ Chí Minh

Khi nói đến nghệ thuật ngoại giao Hồ Chí Minh người ta đề cập đến mấy yếu tố sạu

Nguyễn Ái Quốc - Hồ Chí Minh đã vận dung 5 cái biết

Biết mình, biết người, biết thời thế, biết dừng và biết biến

Nhân nhượng có nguyên tắc

Phát hiện, lợi dụng mâu thuẫn trong hàng ngũ đối phương

Thêm bạn bớt thù

Khi nói đến phương pháp ngoại giao Hồ Chí Minh, chúng ta phải đề cập đến một số vấn đề như

- Dự báo thời cơ và nắm bắt đúng thời cơ

- Ngoại giao công tâm

- Tư tưởng dĩ bất biến, ứng vạn biến

- Thêm bạn bớt thù

* Vậy thế nào là dĩ bất biến, ứng vạn biến

Là lấy cái không thể thay đổi để ứng phó với muôn vàn sự thay đổi

Mục đích bất di bất dịch của chúng ta là hòa bình, thống nhất, độc lập dân chủ Nguyên tắc thì phải giữ vững, sách lược thì phải linh hoạt Sự linh hoạt phải trên cơ sở giữ vững hai nguyên tắc Muốn vậy phải

Thứ nhất: Phải xác định được giới hạn của nhân nhượng, đó là không

được làm tổn hại đến chủ quyền quốc gia và lợi ích dân tộc

Thứ hai: Cần phải nắm vững mục tiêu cách mạng, có bản lĩnh vững vàng

và sự quyết đoán khôn ngoan, mau lẹ để ứng phó kịp thời với từng tình thế, từng đối tượng trong từng hoàn cảnh cụ thể

Thứ ba: Lượng sức mình mà sử lí ứng phó kịp thời với từng tình thế,

từng đối tượng trong từng hoàn cảnh cụ thể Lượng sức mình mà tìm cách xử lý ứng phó phù hợp, linh hoạt, mềm dẻo trong sách lược, nhưng cũng phải thể hiện thái độ kiên quyết và biết tận dụng mọi cơ hội để tấn công ngoại giao

Giải pháp 2

Trang 5

Vận dụng tư tưởng, nghệ thuật ngoại giao Hồ Chí Minh dạy phần hiệp định sơ bộ 6/3/1946

Sau cách mạng tháng tám nước ta đứng trước tình thế “ngàn cân treo sợi tóc.” Bên trong thì bọn đội phản chống phá bên ngoái thì các thế lực thù địch câu kết để bóp chết chính quyền non trẻ nước Việt Nam dân chủ cộng hòa

Ngày 28 - 02 - 1946 pháp và trung hoa dân quốc bắt tay với nhau bằng hiệp ước hoa pháp, theo đó, Trung Hoa Dân Quốc được Pháp trả lại các tô giới, nhượng địa của Pháp trên đát Trung Quốc và được vận chuyển hàng hóa qua cảng Hải Phòng và Vân Nam không phải đóng thuế Đổi lại Pháp được đư quân

ra miền Bắc thay quân Trung Hoa dân quốc làm nhiệm vụ giải giáp quân Nhật

Hiệp ước Hoa Pháp buộc cách mạng nước ta đứng trước hai con đường phải lựa chọn hoặc là hòa hoãn, hoặc chống pháp Trước tình hình khó khăn đó, để tránh cùng một lúc phải đối phó với nhiều kẻ thù và để kéo dài thời gian hòa hoãn xây dựng lực lượng chuẩn bị kháng chiến chống pháp lâu dài

Ngày 3 - 3 - 1946, Ban thường vụ trung ương Đảng họp, do Hồ Chí Minh chủ trì đã chọn giải pháp “hòa để tiến”

Chiều ngày 6 - 3 - 1946 tại Hà Nội, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã ký với Pháp bản hiệp định sơ bộ với nội dung

Chính phủ Pháp công nhận nước Việt Nam Dân Chủ Cộng hòa là một quốc gia tự do, có chính phủ riêng, nghị viện riêng, quân đội riêng, tài chính riêng và là thành viên của liên bang Đông Dương, nằm trong khối liên hiệp Pháp

Chính phủ Việt Nam dân chủ Cộng hòa thỏa thuận cho 15000 quân pháp

ra Bắc thay quân Trung Hoa dân quốc làm nhiệm vụ giải giáp quân Nhật

Hai bên ngừng mọi xung đột ở phía nam và giữ nguyên quân đội của mình tại vị trí cũ

Với việc ký hiệp định sơ bộ ta đã gạt được việc đuổi quân Tưởng sang cho Pháp là sách lược linh hoạt của Hồ Chí Minh, khai thác cái thuận lợi trong điều kiện bất lợi

Tư tưởng, nghệ thuật ngoại giao Hồ Chí Minh vận dụng đối với hiệp định

sơ bộ là tư tưởng hòa bình, độc lập tranh thủ đồng minh, cô lập kẻ thù chủ yếu, kiên định về nguyên tắc, linh hoạt về sách lược, biết thắng từng bước để tiến tới

Trang 6

thắng lợi hoàn toàn Sự cứng rắn về nguyên tắc đó là vẫn giữ được độc lập tự chủ, nhưng lại mềm dẻo về sách lược đó là sự nhượng bộ có nguyên tắc

Lợi dụng mâu thuẫn trong hàng ngũ đối phương để tách kẻ thù chĩa mũi nhọn vào kẻ thù trước mắt

Đấu tranh ngoại giao song song với xây dựng và phát triển lực lượng, triệt tiêu khả năng tập hợp lực lượng của kẻ thù

Giải pháp 3

Vận dụng tư tưởng, nghệ thuật ngoại giao khéo léo của Chủ Tịch Hồ Chí Minh đối phó với Pháp trong hoàn cảnh khó khăn sau khi đã ký hiệp định

sơ bộ

Sau khi ký bản hiệp định sơ bộ,ta nghiêm chỉnh chấp hành những điều đã ký, còn thực dân pháp thì bội ước

Trước thái độ ngoan cố và khiêu khích của phía Pháp

Ngày 31/5 với danh nghĩa là thượng khách của nước Pháp, Người cùng phái đoàn chính phủ ta do Phạm Văn Đồng làm trưởng đoàn đến Pháp đàm phán với phái đoàn chính phủ Pháp ở Phôngtennơbrô

Việc Hồ Chí Minh sang nước Pháp cùng thời gian với đàm phán Việt Nam là một quyết định sáng suốt, thể hiện một bản lĩnh cách mạng vững vàng

Nhiều đồng chí lãnh đạo của Đảng lo lắng cho sự an toàn của Người, song vững tin ở sức mạnh chính nghĩa ở sự ủng hộ của Đảng Cộng Sản và nhân dân tiến bộ Pháp Cần thiết phải có mặt trong cuộc đấu tranh ngoại giao

Những gì có thể sảy ra khi người lãnh đạo nhà nước vắng mặt trong một thời gian dài

Trước khi lên đường người căn dặn một điều đơn giản mà hàm súc, làm phương trâm ứng xử trong mọi tình huống “ dĩ bất biến, ứng vạn biến”

Không chỉ kiên định với tư tưởng hòa bình, thống nhất, độc lập, dân chủ mà nghệ thuật ngoại giao “ dĩ bất biến, ứng vạn biến”đã được Hồ Chí Minh vận dụng vào sách lược ngoại giao để đối phó với pháp trong tình huống tưởng chừng như đã bế tắc trước khi ký với Pháp bản tạm ước

Mặc dù không là thành viên phái đoàn chính phủ, nhưng trong suốt thời gian diễn ra hội nghị Phôngtennơblô, Chủ Tịch Hồ Chí Minh thường xuyên theo dõi và ra những chỉ thị kịp thời chỉ đạo hoạt động của đoàn ta trên bàn hội nghị

Trang 7

Mặc dù chính quyền Pháp tìm cách ngăn cản, Hồ Chí Minh vẫn tích cực tuyên truyền cho lập trường chính nghĩa Việt Nam trước dư luận nhân dân pháp và phần nào dư luận quốc tế Người đã căn dặn phải làm tôt ba việc là phả đoàn kết, cẩn thận làm cho người pháp hiểu ta để gây tình hữu nghị giữa hai dân tộc Trong thời gian ở pháp người đã gặp gỡ và nói chuyện với hầu hết đại diện các chính đảng lớn, các tổ chức chính trị và đoàn thể quan trọng của nước Pháp.Người đã giành nhiều thời gian gặp gỡ giới báo chí pháp đủ các xu hướng và các hảng thông tấn …

Những hoạt động của Hồ Chí Minh đã gây ảnh hưởng tốt trong dư luận tiến bộ pháp Báo chí và dư luận Pháp trong thời gian này sôi nổi nói về người, về cuộc đàm phán tại lâu đài Phôngtennơblô

Những hoạt động của Hồ Chí Minh trên đất Pháp đã phối hợp chặt chẽ và hỗ chợ tích cực cho cuộc đấu tranh ngoại giao của phái đoàn ta trong hội nghị phôngtennơblô Tại cuộc họp báo quan trọng ngày 12-7-1946 tại Pa ri, Người đã nêu rõ 6 điểm trong lập trường đàm phán của Việt Nam:

Việt Nam đòi quyền độc lập nhưng không phải hoàn toàn tuyệt giao với pháp mà ở trong liên hiệp Pháp, vì như thế có lợi cho cả hai nước Về mặt kinh tế và văn hóa Việt Nam vui lòng cộng tác với Pháp

Việt Nam quyết không chịu có chính phủ liên bang

Nam Bộ là một bộ phận của nước Việt Nam, không có ai có quyền chia rẽ Việt nam sẽ bảo hộ tài sản của pháp, nhưng người pháp phải tuân theo luật lao đọng Việt Nam và Việt Nam giữ quyền mua lại những tài sản có quan hệ đến quốc phòng

Nếu cần đến cố vấn, Việt Nam sẽ dùng người Pháp trước

Việt Nam có quyền phái đại sứ và lãnh sự đi các nước

Thời gian này Hồ Chí Minh thường xuyên theo dõi diễn biến của hội nghị phôngtennoblô Người đã đến thăm, trao đổi với phái đoàn ta ít nhất là 8 lần Người đã có những chỉ thị cho phái đoàn và đặc biệt lưu ý nhắc nhở về thái độ mềm mỏng cần thiết để tỏ rõ thiện chí của nhân dân Việt Nam Người rất chú trọng việc tạo không khí hòa dịu thuận lợi cho cuộc đàm phán

Cuộc đàm phán chính thức khai mạc ngày 6 - 7 - 1946

Trang 8

Cuộc đàm phán căng thẳng giữa hai bên đến ngày 10-9-1946 nhưng không đạt được thỏa thuận nào Ngày 13-9-1946 phái đoàn chính phủ Việt Nam rời Pa Ri lên đường về nước Cuộc đàm phán tại Phôngtennơblô bị thất bại

Phái thực dân hiếu chiến pháp gần như đã thực hiện được âm mưu phá vỡ cuộc đàm phán với chính phủ ta Xóa bỏ hiệp định sơ bộ nguy cơ một cuộc chiến tranh mới dang đến trong khi Chủ Tịch Hồ Chí Minh còn ở xa đất nước

Trước tình hình đó, một là kiên quyết không ký kết, ra về với sự tan vỡ không còn gì ràng buộc giữa hai chính phủ, hai là chịu nhân nhượng thêm một bước nữa

Giải pháp 4.

Vận dụng tư tưởng, nghệ thuật ngoại giao Hồ Chí Minh dạy phần tạm ước

19 - 12 - 1946

Tiếp tục giữ mối quan hệ hòa hoãn dù chỉ rất mong manhvới chính phủ pháp giữa hai con đường ấy Hồ Chí Minh quyết định chọn con đường thứ hai Ngày 14 - 9 - 1946 Chủ Tịch Hồ Chí Minh gặp Mu tê và Bi đôn, ký với Mu tê ( bộ trưởng bộ quốc pháp hải ngoại) bản tạm ước 14-9 Bản tạm ước gồm có 11 điều khoản có hai điều khoản ban đầu còn lại 9 điều khoản đều nhằm hai nội dung tiếp tục nhượng bộ cho Pháp một số quyền lợi về kinh tế và văn hóa, hiệp định Sơ bộ ký kết ngày 14- 9 mãi đến 30-10 mới có hiệu lực, điều này cũng nằm trong dự tính Hồ chí Minh trong thời gian đó nhân dân ta có thêm thời gian hòa hoãn để chuẩn bị kháng chiến

Ký tạm ước với Mu tê là một quyết định đúng đắn của chủ Tịch Hồ Chí Minh Điều này chứng tỏ người nắm rất chắc lập trường, thái độ của từng nhân vật trong chính giới pháp về vấn đề Đông Dương và quan hệ với Việt Nam Vậy là Hồ Chí Minh đã khai thác đúng chỗ những khả năng ít ỏi nhất để đạt được sự hòa hoãn với Pháp trong khi con dường ấy giường như bế tắc Tạm ước 14/9/1946 là bước nhân nhượng cần thiết để cứu vãn hòa bình

Điều quan trọng đối với ta lúc ấy đó chỉ là bản tam ước đặt trong hoàn cảnh cụ thể khi quân Trung Quốc Dân Quốc dã rút Phái hiếu chiến khác đang ráo riết cắt đứt mọi đàm phán, xóa bỏ mọi thỏa thuận để xúc tiến nhanh chóng việc mở rộng chiến tranh thôn tính toàn bộ Việt Nam

Vậy bản tạm ước càng thể hiện sự sáng suốt và kịp thời của Người Bản tạm ước đã đẩy lùi được âm mưu của thế lực hiếu chiến khác trong việc

Trang 9

làm bùng nổ cuộc chiến tranh, trong tình thế ấy Hồ Chí Minh cho rằng “ Có tạm ước còn hơn không.”Hồ Chí Minh đã kiên quyết là “ Không trở về bằng tay không” mà phải đạt được điều gì đó mặc dù đó chỉ là bản tạm ước nhưng nó đã tạo được điều kiện hòa bình thuận lợi để nhân dân ta chuẩn bị kháng chiến lâu dài

Một điều sáng suốt nữa mà ta còn thấy được khi kí tạm ước với Pháp Hồ Chí Minh đã cân nhắc kĩ lưỡng về ngày có hiệu lực của bản tạm ướclà 30/10

Tư tưởng Nghệ thuật ngoại giao của Hồ Chí Minh được vận dụng trong việc ký kết bản tạm ước đó là:

Về mặt tư tưởng không thay đổi

Vận dụng nghệ thuật biết mình, biết người, dự báo tình hình, dĩ bất biến ứng vạn biến

Tìm kiếm bạn đồng minh, lợi dụng mâu thuẩn trong hàng ngũ kẻ thù, phân hóa chúng

Việc ký hiệp định sơ bộ ngày 6-3-1946 và bản tạm ước ngày 14-9-1946 gắn với tư tưởng và tài trí trong nghệ thuật ngoại giao Hồ Chí Minh, điều đó có ý nghĩa vô cùng to lớn đối với việc khẳng định và nâng cao vị thế của nước Việt Nam Dân Chủ Cộng hòa trên trường quốc tế Những hoạt đọng của Chủ Tịch Hồ Chí Minh tại Pháp đã làm cho công luận pháp và thế giới thấy rõ âm mưu xâm lược của bọn thực dân phản động pháp, tranh thủ sự đồng tình ủng hộ của nhân dân Pháp và nhân dân thế giới đối với cuộc đấu tranh chính nghĩa của nhân dân ta

Dự đoán trước xu thế phát triển của các sự kiện, xác định rõ mục tiêu hoạt động đối ngoại, tạo cơ hội và kịp thời khi thời cơ xuất hiện, kết hợp giữa việc xây dựng thực lực với hoạt động ngoại giao, giữa tìm kiếm bạn đồng minh với việc lợi dụng mâu thuẫn trong hàng ngũ kẻ thù, phân hóa chúng, triệt tiêu khả năng tập hợp lực lượng của kẻ thù chính, đó chính là nét đặc sắc sáng tạo trong hoạt động ngoại giao của Chủ Tịch Hồ Chí Minh

Tư tưởng, nghệ thuật ngoại giao Hồ Chí Minh còn được vận dụng sáng tạo vào dạy phần Đường lối kháng chiến toàn quốc 1946-1954 Đó là Chủ Tịch Hồ Chí Minh đã vận dụng tính chính nghĩa và tính nhân dân để đập tan âm mưu của kẻ thù, đồng thời tập hợp sức mạnh toàn dân để chống lại thực dân pháp

Trang 10

Phân tích tính chính nghĩa và tính nhân dân đường lối kháng chiến chống Pháp của Đảng Cộng Sản Đông Dương

Đường lối kháng chiến chống thực dân Pháp Chủ Tịch Hồ Chí Minh luôn thể hiện quan điểm tư tưởng của mình, vai trò của mình trong quan điểm đấu tranh

Trước âm mưu và hành động trở lại xâm lược nước ta của thực dân Pháp Đảng và chính phủ ta đã chủ trương hòa hoãn với pháp bằng cách ký hiệp định

sơ bộ ngày 6 - 3 - 1946 và tạm ước ngày 14 - 9 - 1946

Sau khi ký hiệp định sơ bộ và tạm ước ta thực hiện những đièu đã ký còn thực dân pháp thì bội ước ngày càng lấn tới, và cuối cùng chúng ngang nhiên xé bỏ hiệp sơ bộ và tạm ước.Trước tình thế đó, Chủ Tịch Hồ Chí Minh thay mặt Đảng và chính phủ ra lời kêu gọi toàn quốc kháng chiến

Cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp của nhân dân ta là cuộc kháng chiến bảo vệ nền độc lập của dân tộc đã giành được trong cách mạng tháng tám

1945

Đây là cuộc kháng chiến hoàn toàn chính nghĩa, vì chĩnh nhgiã nên trong quá trình kháng chiến, nhân dân ta đã nhận được sự đồng tình ủng hộ của nhân dân tiến bộ trên thế giới, đặc biệt là nhân dân Pháp

Cũng xuất phát từ cuộc kháng chiến chính nghĩa nên ta chủ trương kháng chiến lâu dài để chống lại âm mưu “ đánh nhanh thắng nhanh” của pháp và cuối cùng giành thắng lợi

Tính nhân dân trong tư tưởng Hồ Chí Minh được vận dụng vào quá trình thực hiện đường lối kháng chiến

Trong đường lối kháng chiến chống pháp xâm lược, Đảng ta chủ trương kháng chiến toàn dân Nhờ có đường lối này, đã tập hợp được đông đảo quần chúng nhân dân tham gia kháng chiến và phục vụ kháng chiến

Trong lời kêu gọi toàn quốc kháng chiến Chủ Tịch Hồ Chí Minh đã nêu rõ Bất kì đàn ông, đàn bà, bất kì người già, người trẻ, không phân chia tôn giáo, đảng phái Hễ là người Việt Nam, phải cầm vũ khí chống thực dân pháp …Đáp lời kêu gọi nhân dân cùng đứng lên kháng chiến

Trong quá trình kháng chiến ta đánh địch ở khắp các mặt trận và sử dụng các loại vũ khí có sẵn trong tay, như Hồ Chủ Tịch đã kêu gọi: “ Ai coa súng

Ngày đăng: 18/07/2014, 15:15

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w