PENINSULA – MÔI TRƯỜNG VÀ TIỀN SỬ

Một phần của tài liệu Lịch sử châu Âu: Phần 1 (Trang 75 - 81)

Âu như một toàn thể.

Thật ra, Bán đảo châu Âu không hoàn toàn là một ‘châu lục’: nó không phải là một vùng đất tự giới hạn trong nó. Với khoảng 10 triệu cây số vuông (3,6 triệu dặm vuông), nó có diện tích kém hơn một phần tư châu Á, một phần ba châu Phi, một nửa Nam Mỹ, và Bắc Mỹ. Các nhà địa lý hiện đại xếp nó - cũng như Ấn Độ - vào loại cận lục địa Âu - Á: ‘một mũi đất của cựu lục địa, một phần phụ phía tây châu Á’. Ngay cả như thế, thật khó để phủ nhận tất cả những đặc trưng tuyệt vời của địa lý hình thể châu Âu.

Địa mạo, khí hậu, địa chất và quần thể động vật của châu Âu. Đó là những điều đã kết hợp để tạo ra một môi trường tốt lành và cần thiết để hiểu sự phát triển của nó. Những địa mạo của châu Âu không giống với bất kỳ địa mạo của lục địa hoặc cận lục địa nào khác. Những vùng trũng (depressions) ở phía bắc và nam bị ngập nước đại dương để hình thành hai chuỗi biển song song xâm nhập sâu vào nội địa. Ở phía bắc, đường Biển Bắc - Biển Baltic trải dài 1.500 dặm (2.500 cây số) từ Đại Tây Dương đến Nga. Ở phía nam, hệ Địa Trung Hải - Biển Đen trải dài trên 2.400 dặm (4000 cây số) từ Gibraltar đến Caucasus. Bên trong những đại dương đó là một phức hợp rộng lớn của các vịnh nhỏ hơn và nhiều hải đảo. Hệ quả là tỉ lệ của đường bờ biển với đất liền là rất cao; khoảng 37 ngàn cây số hay 23 ngàn dặm - đường bờ biển châu Âu hầu như dài tương đương với đường xích đạo.

Vì những bờ biển của Bán đảo nằm trong những vùng khí hậu ôn đới, nên có khí hậu thuận lợi. Hướng gió nổi trội hơn cả là hướng tây và vì thế những bờ biển phía tây của các lục địa lớn được hưởng không khí biển ôn hòa. Ở nơi khác, nếu bờ biển phía tây không bị chắn bởi những đỉnh núi, thì được viền bởi những sa mạc Sahara, Kalahari, hoặc Atacama.

Do đó, khí hậu của châu Âu là khác thường đối với vùng khí hậu của

nó. Nói chung, dưới ảnh hưởng của dòng nước ấm chảy từ Vịnh Mexico qua Đại Tây Dương đến châu Âu, bắc châu Âu có khí hậu dịu dàng và ẩm;

miền nam châu Âu tương đối nóng, khô và nắng. Trung và đông châu Âu có những yếu tố của khí hậu lục địa đích thực, với những mùa đông lạnh và những mùa hè nóng. Nhưng ở khắp nơi, khí hậu có xu hướng thay đổi.

Những thái quá thường tránh được. Ngay cả tại vùng nước Nga châu Âu, nơi sự khác biệt giữa nhiệt độ trung bình của tháng Giêng với tháng Bảy có thể lên đến 45°c, sự khác biệt chỉ là phân nửa so với tại Siberia. Nơi có khí hậu ẩm ướt nhất tại châu Âu là miền tây Na Uy, với mức độ mưa bình quân hàng năm là 3.500 mm (238 inches). Vùng có khí hậu khô nhất châu Âu là vùng bao quanh Biển Caspi, với lượng mưa không đến 250mm (9 inches) mỗi năm. Điểm lạnh nhất của châu Âu là Vorkuta, với nhiệt độ trung bình vào tháng giêng là - 20°C; và điểm nóng nhất thì thuộc về Seville và Astrakhan, với cái nóng tháng Bảy là 29°c. Những mức độ cao nhất trong thời tiết như vậy không thể so sánh với châu Á, châu Phi hoặc châu Mỹ.

Khí hậu ôn hoà của châu Âu mang lại những điều kiện thuận lợi cho nông nghiệp ở buổi sơ khai. Phần lớn Bán đảo nằm bên trong vùng tự nhiên có thể trồng cỏ. Ở đó có khá nhiều rừng có thể lấy gỗ làm nhà, nấu nướng và sưởi ấm. Những vùng cao nguyên để chăn thả thường xuất hiện kề cận với những thung lũng phì nhiêu. Tại miền tây và miền nam, gia súc vẫn có thể được thả mà không cần phải trú đông. Những điều kiện địa phương thường khuyến khích nhưng thích nghi cá biệt. Đường bờ biển trải dài kết hợp với thềm lục địa rộng lớn mang lại cho những người đánh cá nhiều thuận lợi. Những cánh đồng rộng lớn, đặc biệt tại châu thổ sông Danube, là nơi bảo tồn những dân du mục của các thảo nguyên Âu - Á với những đàn ngựa và gia súc. Tại núi Alps, việc chuyển súc vật lên chân thả ở núi trong vụ hè đã có từ thời kỳ sớm.115

Từ quan điểm địa lý hình thể thì Bán đảo mang đến cho con người thuộc thời kỳ sớm một sự hoà trộn mang tính kích thích của cơ hội và thách thức. Đời sống khó nhọc nhưng được đền đáp. Những nhịp điệu của các mùa khuyến khích hoạt động mang tính lề thói và có tiên liệu. Khí hậu có xu hướng thay đổi kích thích tính uyển chuyển. Có khá nhiều hiểm nguy của tự nhiên cần phải vượt qua - những cơn gió giật trên biển, tuyết mùa đông, hạn hán mùa hè, và dịch bệnh; vậy mà những triển vọng để sống còn và khỏe mạnh là khá tốt.

Quả là thiếu suy nghĩ khi nói rằng Bán đảo châu Âu là nơi duy nhất mà văn minh nhân loại có thể phát triển; tuy vậy, đúng là một số những nơi khác đã có những mặt hạn chế. So sánh với những thung lũng sông cận nhiệt đới nơi loài người đã phát triển trước tiên, thì những nhịp điệu thay đổi theo mùa và sự ôn hòa tốt lành của Bán đảo cung cấp một vùng định cư tốt đẹp hơn cho sự phát triển kéo dài. Môi trường địa chất và sinh học trù phú và đa dạng. Có những dãy núi cao ‘trẻ’, những đồi cổ sinh đại, những núi lửa còn hoạt động; những hẻm núi sâu và những đồng bằng rộng lớn;

những ngọn thác chảy xiết, những dòng sông rộng, hàng ngàn hồ; những lãnh nguyên cận địa cực, những sông băng, những tầng đất bị đóng băng vĩnh cửu. Nó có những đồng cỏ mênh mông, những cánh rừng rộng, những vùng đầm lầy, những vùng hoàng thổ và ‘đất đen’. Nó có một hệ động vật và thảo mộc trù phú.

Tuy vậy, điều quan trọng khác là phạm vi của những độ cao và khoảng cách của Bán đảo là thuận lợi hơn những nơi khác. Các khu vực của châu Âu được kết nối với nhau bằng một mạng lưới những đường mòn tự nhiên mà người sơ khai hẳn nhận thấy đó là một sự mời gọi hơn là ngăn trở.

Người ta có thể chèo thuyền đi quanh những vùng sông nước trong nội địa cũng như có thể xuôi bất cứ một con sông nào để đi về bất kỳ phương hướng nào. Các con sông Seine, Rhine, Elbe, Oder, Vistula, Niemen, và

Dvina đều chảy về phương bắc; các sông Ebro, Rhône, Maritsa, Dnieper, và Volga chảy về phương nam. Tagus, Loire, và Severn chảy về phương tây; Thames, Danube. Po và Dniester chảy về phương đông. Giữa những con sông đó là một chuỗi bất tận những lối đi ngắn. Chẳng hạn tại quận Auxois ở Burgundy Thượng, người ta chỉ mất vài tiếng đồng hồ đi bộ để có thể chuyển từ con sông này sang con sông khác để lên tàu về Địa Trung Hải, Đại Tây Dương, hoặc ra Eo biển Anh. Tại vùng trung tâm dãy núi Alps, các nguồn của con sông Rhine và sông Rhône vươn lên kề cận nhau trước khi một con sông chảy về hướng bắc và con sông kia chảy về hướng nam. Với lối đi ngắn Dvina - Dnieper tại vùng phụ cận Vitebsk, người ta có thể dễ dàng đón một con tàu đến từ Thụy Điển để đi Ai Cập.

Ta hẳn không nên đánh giá thấp tiến trình lâu dài, qua đó những xa lộ và những đường phụ đã được mở ra cho sự chuyển động và định cư của con người. Mặt khác, ta không thể so sánh việc đi đây đi đó một cách tương đối dễ dàng tại châu Âu với những châu lục lớn hơn. Để ngang qua châu Á, những đoàn người và lạc đà trên con đường tơ lụa thuở xưa phải mất một năm hoặc hơn. Vậy mà, từ thời rất xa xưa, bất cứ một lữ khách biết suy tính nào cũng có thể ngang qua châu Âu trong thời gian tính bằng tuần, nếu không phải là bằng ngày.

Sự phân chia châu Âu thành những vùng ‘tự nhiên’ hoặc ‘lịch sử’ là một vấn đề thú vị mang tính trí tuệ, nhưng đồng thời cũng lửng lơ không dứt khoát. Đã có rất nhiều nỗ lực nhằm xác định ‘Tây Âu’ là khác biệt với

‘Đông Âu’ cũng như tiêu chuẩn đã được sử dụng để định những tuyến phân chia. Sự phân biệt giữa ‘Bắc Âu’ và ‘Nam Âu’ là điều rõ ràng và không thay đổi tại khu vực trung tâm dãy núi Alps của Bán đảo. Nhưng điều đó tỏ ra không vững vàng tại miền viễn tây châu Âu. Tạii Iberia, hoặc tại miền viễn đông châu Âu, trong vùng nội địa của Biển Đen. Những chứng cứ được nêu ra nhằm chứng minh tính chính thức của những vùng như ‘Trung

Âu’ hoặc ‘Đông Trung Âu’ cũng khéo léo tài tình như việc chúng bị vặn vẹo méo mó.116 Một nền tảng an toàn hơn để từ đó ta có thể chia châu Âu thành những vùng như thế là dựa trên hình thể và những đặc trưng địa lý.

Bán đảo châu Âu đã được xây dựng từ năm thành tố tự nhiên. Trong thời gian lịch sử thì những đon vị chính trị ở thượng tầng đến rồi đi một cách rất thất thường. ‘Các đế chế kiêu hãnh của trái đất’ không ngưng tắt lịm. Nhưng các cánh đồng, núi non, những bán đảo, và những hải đảo thì rõ ràng là mãi tồn tại.

1/ Đồng bằng lớn châu Âu liền lạc trải dài trên bốn ngàn cây số, từ Đại Tây Dương đến dãy Urals. Nó là vùng đất có đặc trưng nổi trội tại châu Âu. Thật vậy, khi mà hình thể của Urals chỉ lớn hơn đôi chút so với một cây cầu thì đồng bằng này có thể được xem như là nối dài của một vùng đất thấp rộng lớn hơn trải dài đến rặng Verkhoyansk của đông Siberia. Tại đường kinh độ của dãy Urals, nó kéo dài qua hai ngàn cây số giữa Biển Barents và Biển Caspi. Giữa bờ biển và những ngọn đồi Các Quốc Gia Vùng Đất Thấp, nó hẹp lại ở dưới mức 200 cây số. Hầu hết những dòng sông chính của đồng bằng chảy theo trục bắc - nam và như vậy tạo ra một loạt những khoảng trống tự nhiên trên con đường đông - tây và chia đường vắt ngang đồng bằng thành sáu hoặc bảy quãng đường để lui tới. Ở phía đông Vistula, vùng đầm lầy Pripet hiểm trở tách đồng bằng thành hai hướng đi - hướng phía bắc chạy dọc theo vùng đất có nhiều hồ của Baltic, và hướng thứ hai được sử dụng như một trục lộ để đi vào các vùng thảo nguyên và rời khỏi đó (Ukraina).

Vùng nằm giữa sông Rhine và sông Oder là nơi dễ bị xâm phạm nhất của đồng bằng. Cho đến ngày nay, Ardennes, Teutohurger Wald và Hars vẫn là những hàng rào đáng ngại. Chúng ngăn trở cả sự chuyển động theo chiều ngang dọc theo đồng bằng lẫn chuyển động theo chiều dọc từ đồng

bằng vào núi Alps. Bản đồ nước Đức hiện đại cho thấy bằng cách nào hầu hết các khu vực phát triển của đất nước đã được hướng hoặc là vào đồng bằng hoặc vào bốn vùng châu thổ của các sông Rhine, Main, Neckar, và Danube.

Những người dân định cư ở đồng bằng phải khổ sở vì một vấn đề thuừng xuyên tồn tại: họ không thể tìm thấy những ranh giới cho lãnh thổ mà họ sinh sống và khai khẩn. Vì vậy, họ phải chiến đấu để giữ nó. Những người sống ở đất thấp có khuynh hướng nghĩ rằng họ là những người cày cấy hiền hoà, khác với những người hung dữ, sống trên các đồi núi. Thật ra, chính dân đồng bằng là những người đã biết nghệ thuật quân sự và chiếm đóng một cách có hệ thống. Tại đồng bằng, người ta phải học chiến đấu trước tiên, còn nếu không sẽ bị hạ gục. Có lẽ trong buổi đầu định cư, người dân đồng bằng đã thành công trong việc chống lại những người xuống từ vùng núi và không một sự cố nghiêm trọng nào đa xảy ra; cũng vậy, đồng bằng đã nuôi dưỡng những sức mạnh quân sự lớn lao của lịch sử châu Âu. Pháp, Phổ và Nga - tất cả đều lớn mạnh từ những cuộc chiến bất tận của các đồng bằng, và đã phát triển một truyền thống quân sự phù hợp với tình huống của họ. Các đồng bằng là nơi đã diễn ra những cuộc chạm trán ác liệt nhất: tại Kunersdorf và Kursk, tại Leipzig và Tannenberg, tại Waterloo và Stalingrad.

Một phần của tài liệu Lịch sử châu Âu: Phần 1 (Trang 75 - 81)

Tải bản đầy đủ (PDF)

(748 trang)