1. Trang chủ
  2. » Cao đẳng - Đại học

Tiểu luận luật hình sự đề tài chế định án treo

19 271 1
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 19
Dung lượng 265,63 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Tính nghiêm khắc nhất của hình phạt thể hiện ở nội dung tước bỏ, hạn chế quyền và lợi ích của người bị kết án như quyền sở hữu, quyền tự do và có thể cả quyển sống của con người,..Trong

Trang 1

DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT

BLHS 2015 Bộ luật hình sự năm 2015 sửa đổi

bổ sung năm 2017

năm 2012

Trang 2

A MỞ ĐẦU .3

1 Lí do chọn đề tài .3

2 Đối tượng, phạm vi nghiên cứu .4

3 Mục đích nghiên cứu .4

4 Nhiệm vụ nghiên cứu .4

5 Phương pháp nghiên cứu .4

6 Tình hình nghiên cứu .4

B NỘI DUNG .5

I Khái quát chung về án treo trong bộ luật hình sự Việt Nam .5

II Những căn cứ áp dụng án treo .6

1 Về mức hình phạt tù .7

2 Về nhân thân người phạm tội .8

3 Có nhiều tình tiết giảm nhẹ .9

4 Thuộc trường hợp không cần bắt chấp hành hình phạt tù .11

II Liên hệ thực tiễn căn cứ áp dụng án treo hiện nay .12

1 Những vấn đề bất cập .13

2 Kiến nghị, đề xuất .16

C KẾT LUẬN .17

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 18

Trang 3

A MỞ ĐẦU

1 Lí do chọn đề tài

Hình phạt là biện pháp cưỡng chế nhà nước nghiêm khắc nhất Tính nghiêm khắc nhất của hình phạt thể hiện ở nội dung tước bỏ, hạn chế quyền và lợi ích của người bị kết án như quyền sở hữu, quyền tự do và có thể cả quyển sống của con người, Trong nhiều trường hợp, với những điều kiện nhất định, việc quyết định áp dụng hình phạt tù đối với người phạm tội sẽ bảo đảm tính nghiêm khắc và tính răn đe tội phạm Tuy nhiên, nếu như cứng nhắc trong việc bắt buộc người bị kết án phạt tù phải chấp hành án trong các cơ sở giam giữ thì

sẽ không đảm bảo tính nhân đạo, tính mềm dẻo trong thi hành án Xuất phát từ nhiệm vụ của luật hình sự Việt Nam và mục đích của hình phạt đó là đề cao tính nhân đạo xã hội chủ nghĩa, đấu tranh phòng chống các loại tội phạm, án treo là chế định pháp luật hình sự rất phù hợp để tạo điều kiện cho người bị kết án tù tự

tu dưỡng và lao động tại cộng đồng với sự giúp đỡ tích cực của xã hội, gia đình Trong đó phải kể đến các căn cứ áp dụng án treo cho người phạm tội vì đây là những căn cứ rất quan trọng để xem xét người bị kết án có được hưởng án treo hay không

Ngày nay, án treo càng khẳng định sự ưu việt của nó khi tác dụng khuyến khích người bị kết án tự tu dưỡng và lao động tại cộng đồng với sự giúp đỡ tích cực của xã hội cũng như gia đình đồng thời cảnh báo họ nếu phạm tội mới trong thời gian thử thách thì buộc phải chấp hành hình phạt tù đã tuyên Chế định này biểu hiện rõ nét sự kết hợp hài hoà giữa sự cưỡng chế Nhà nước với sự tác động của xã hội trong việc trừng trị, giáo dục cải tạo người phạm tội Bên cạnh đó, trong thực tiễn xét xử, chế định này đã bộc lộ những hạn chế nhất định khi vận dụng các căn cứ áp dụng án treo Điều đó đã làm giảm vai trò ý nghĩa của án treo

Vì vậy em xin lấy chủ đề nghiên cứu của bài tiểu luận là: “Phân tích căn

cứ áp dụng án treo theo Bộ luật Hình sự 2015, liên hệ thực tiễn căn cứ áp dụng

án treo hiện nay”

Trang 4

2 Đối tượng, phạm vi nghiên cứu

_ Căn cứ áp dụng án treo trong Bộ luật hình sự Việt Nam năm 2015

_ Thực tiễn vận dụng án treo trong công tác đấu tranh phòng chống tội phạm

3 Mục đích nghiên cứu

Làm sáng tỏ nội dung về căn cứ áp dụng án treo theo quy định của Bộ luật Hình sự năm 2015 Từ đó nghiên cứu thực tiễn vấn đề căn cứ áp dụng án treo để tìm ra những bất cập, nguyên nhân cốt lõi, đồng thời tìm ra các giải pháp khắc phục nhằm hoàn thiện và nâng cao hiệu quả của án treo

4 Nhiệm vụ nghiên cứu

_ Về lí luận: Nghiên cứu nội dung cơ bản liên quan đến án treo, phân tích cụ thể các căn cứ áp dụng án treo giúp có cái nhìn đúng đắn về chế định án treo

_ Về thực tiễn: Nghiên cứu, đánh giá tổng quát thực tiễn áp dụng án treo trong những năm gần đây Trên cơ sở đó, tìm ra các vướng mắc trong quá trình căn cứ xét án treo cho người phạm tội, đưa ra giải pháp nhầm nâng cao hiệu quả khi áp dụng án treo

5 Phương pháp nghiên cứu

Sử dụng phương pháp nghiên cứu phân tích tài liệu là chính, đồng thời kết hợp lý luận và thực tiễn, tham khảo nguồn internet,

6 Tình hình nghiên cứu

Trên thực tế, vấn đề án treo được đề cập ở một số giáo trình của các trường đại học chuyên ngành luật, có rất nhiều luận văn đã bình luận về án treo Trên thế giới, đề tài này cũng được nhiều người quan tâm Đã có công trình đề cặp án treo trong hệ thống lí luận chung về pháp luật hình sự Tuy nhiên, các bài viết trên chỉ đề cập khái quát về chế định án treo nói chung chứ chưa đi sâu vào phân tích các căn cứ áp dụng án treo Nếu có thì đó là những văn bản nước ngoài sẽ không phù hợp với tình hình nước ta hiện nay Vì thế căn cứ áp dụng án treo vẫn còn nhiều phức tạp về mặt lập pháp và áp dụng pháp luật cần được quan tâm và tìm hiểu sâu hơn

Trang 5

B NỘI DUNG

I Khái quát chung về án treo trong bộ luật hình sự Việt Nam

Khái niệm án treo

Bộ luật hình sự không đưa ra khái niệm cụ thể đối với án treo Nhưng dựa vào các quy định trong BLHS hiện nay, án treo có thể hiểu là biện pháp miễn chấp hành hình phạt tù có điều kiện Khi đó người được hưởng án treo là người

bị kết án phạt tù, nhưng được miễn chấp hành hình phạt tù có điều kiện

Khoản 1 Điều 65 BLHS 2015 quy định về án treo như sau: Khi xử phạt tù không quá 03 năm, căn cứ vào nhân thân của người phạm tội và các tình tiết giảm nhẹ, nếu xét thấy không cần phải bắt chấp hành hình phạt tù, thì toà án cho hưởng

án treo và ấn định thời gian thử thách từ 01 năm đến 05 năm và thực hiện các nghĩa vụ trong thời gian thử thách theo quy định của Luật thi hành án hình sự

Một số người có quan niệm sai về án treo, họ thường gọi án treo là “tù treo” và mặc nhiên cho rằng “tù treo” nhẹ hơn “tù giam” Vì vậy, chúng ta cần

có cái nhìn đúng hơn về các thuật ngữ này Đầu tiên, hình phạt tù chỉ bao gồm

“tù có thời hạn” và “tù chung thân” không có thuật ngữ pháp lý nào nói đến “tù giam” Khi bị áp dụng hình phạt tù thì người phạm tội sẽ bị giam giữ trong trại giam và bị quản lý bởi lực lượng công an Thứ hai nói đến tù là phải nói đến phải chấp hành hình phạt tù nên sẽ không tồn tại thuật ngữ “tù treo” bởi “án treo” được áp dụng đồng nghĩa với miễn chấp hành hình phạt tù có điều kiện

Bản chất của án treo

Bản chất của án treo trong thực tiễn thi hành mang đặc điểm pháp lý đó là biện pháp miễn chấp hành hình phạt tù có điều kiện là biện pháp không tước tự

do, qua đó thể hiện hai mặt của vấn đề Một là nếu không cải tạo trong trại giam thì người được hưởng án treo sẽ được tự do hơn về thể chất lẫn tinh thần mà như dân gian nói là “một ngày ở tù bằng nghìn thu ở ngoài”, ở ngoài trại giam thì họ

sẽ làm được nhiều việc cho bản thân họ, gia đình họ và cho xã hội, Song mặt khác của vấn đề là nếu người được hưởng án treo không thận trọng, không ý

Trang 6

thức hậu quả pháp lý của án treo mà lại phạm tội mới thì họ buộc phải chấp hành hình phạt tù trong bản án treo trước đó, cộng với hình phạt của bản án về tội phạm mới thực hiện

Vai trò của án treo

Án treo là một chế định tiến bộ thể hiện cụ thể phương châm trừng trị kết hợp với giáo dục và tính nhân đạo trong chính sách hình sự của Nhà nước ta Chế định này không buộc người bị kết án cách ly khỏi xã hội, họ vẫn được làm

ăn sinh sống và chứng tỏ sự hối cải, hoàn lương của mình ngay trong môi trường

xã hội bình thường dưới sự giám sát, theo dõi, giáo dục của cơ quan nhà nước,

tổ chức, đơn vị quân đội, cơ sở giáo dục, đào tạo hoặc Ủy ban nhân dân cấp xã nơi người được hưởng án treo Không những vậy, khi án treo được áp dụng Nhà nước sẽ tiết kiệm được khoản chi tương đối lớn cho việc cải tạo họ trong trại giam nếu cho người bị kết án được hưởng án treo Đặc biệt nếu họ cải tạo theo hưởng tích cực khi làm việc và sinh sống ở ngoài sẽ giúp thúc đẩy nền kinh tế nước ta phát triển Hơn nữa án treo còn có tác dụng phòng chống các loại tội phạm có thể xảy ra Bởi những người xung quanh thấy được hậu quả bất lợi từ hành vi phạm tội thì họ sẽ lấy đó làm bài học và có ý thức chấp hành pháp luật tốt hơn

Tất cả điều đó đã thể hiện vai trò quan trọng của án treo đối tất cả các chủ thể trong lĩnh vực pháp luật Nó vừa là chính sách nhân văn sâu sắc của Nhà nước đối với người phạm tội, vừa mang lại hiệu quả cao trong công tác đấu trang phòng chống các loại tội phạm Như thế xã hội sẽ ổn định, đảm bảo an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội đồng thời giúp kinh tế, văn hoá xã hội phát triển bền vững

II Những căn cứ áp dụng án treo

BLHS 2015 đã đưa ra các quy định chung về căn cứ áp dụng án treo tại Khoản 1 Điều 65 Cụ thể sẽ có 4 căn cứ chính giúp NPT được hưởng án treo đó là: căn cứ mức hình phạt tù; căn cứ nhân thân người phạm tội; có nhiều tình tiết giảm nhẹ và thuộc trường hợp không cần bắt chấp hành hình phạt tù

Trang 7

1 Về mức hình phạt tù

Mức hình phạt tù là căn cứ đầu tiên để toà án xem xét cho người bị kết án

tù có được hưởng án treo hay không Bởi nếu thời gian chấp hành hình phạt tù ngắn hay dài sẽ chứng tỏ hành vi mà NPT thực hiện gây ra hậu quả lớn hay không lớn cho xã hội Khi NPT gây ra hậu quả không lớn thì họ cần được cho thêm một cơ hội để thay đổi theo hướng tốt hơn, đồng thời họ cần phải được cơ quan có thẩm quyền quản lý kiểm soát để tránh tình trạng tái phạm hoặc phạm tội mới Điều này thể hiện sự nhân đạo và tính mềm dẻo trong thi hành án đối với NPT Chính vì lẽ đó, tại Điều 65 của BLHS 2015 quy định rõ những người

bị toà án phạt tù không quá 03 năm, không kể tội phạm là tội gì đều có thể được xem xét cho hưởng án treo

Như vậy, so với BLHS 1999 (sửa đổi, bổ sung năm 2009) và Nghị quyết

số 01/2013/NQ-HĐTP ngày 06/11/2013 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn về áp dụng Điều 60 BLHS 1999 (sửa đổi bổ sung năm 2009) về án treo thì căn cứ hưởng án treo theo BLHS 2015 đã có bước tiến bộ hơn khi bỏ quy định án treo chỉ được áp dụng đối với NPT bị xử phạt tù không quá 03 năm về tội ít nghiêm trọng, tội nghiêm trọng, tội rất nghiêm trọng Qua

đó cho thấy phạm vi hưởng án treo về cơ bản đã được mở rộng hơn

Song bên cạnh đó cần lưu ý những điều sau Mức hình phạt tù không quá

03 năm được tuyên phải phù hợp với tính chất và mức độ nguy hiểm của tội phạm, trên cơ sở tuân thủ các căn cứ quyết định hình phạt áp dụng cho trường hợp phạm tội cụ thể Khi quyết định hình phạt phải tuân thủ nguyên tắc xử lí quy định tại Điều 3 BLHS kết hợp với các căn cứ quyết định hình phạt quy định tại Điều 50 BLHS; không được cho rằng án treo là một loại hình phạt nhẹ hơn hình phạt tù để tăng hình phạt lên cao hơn các trường hợp khác không có căn cứ

và cho hưởng án treo; không được tuỳ tiện giảm mức hình phạt tù không có căn

cứ để đủ điều kiện về mức hình phạt tù quy định tại Điều 65 BLHS và cho hưởng án treo Ngoài ra cần phải xem xét trên nhiều phương diện và các căn cứ khác có liên quan để toà án quyết định đối với người bị xét xử trong cùng một

Trang 8

lần về nhiều tội hoặc có nhiều bản án mà khi tổng hợp hình phạt, hình phạt chung không quá 03 năm tù được hưởng án treo hay không

Từ những phân tích trên yêu cầu mọi người phải hiểu đúng Điều 65 của BLHS 2015 đó là nếu bị toà án phạt tù không quá 03 năm thì người phạm tội vẫn có khả năng phải chấp hành hình phạt tù có thời hạn chứ không phải lúc nào cũng được xem xét hưởng án treo Không những thế khi xem xét áp dụng án treo, thẩm phán cần khách quan trong việc đưa ra mức hình phạt tù phù hợp với tội phạm mà người phạm tội thực hiện để đảm bảo sự công bằng trong lĩnh vực pháp luật

2 Về nhân thân người phạm tội

Người được hưởng án treo phải là người có nhân thân tốt Theo hướng dẫn của Nghị quyết số 02/2018/NQ-HĐTP, người phạm tội có nhân thân tốt được hiểu là ngoài lần phạm tội này họ luôn tôn trọng các quy tắc xã hội, chấp hành đúng chính sách, pháp luật, thực hiện đầy đủ nghĩa vụ của công dân nơi cư trú, công tác; không vi phạm các điều mà pháp luật cấm

Những đặc điểm NTNPT không chỉ là căn cứ quan trọng của quyết định hình phạt mà còn là căn cứ cần thiết để xem xét người phạm tội với điều kiện cụ thể có khả năng tự giáo dục, cải tạo hay không Chúng ta phải xem xét toàn diện

về nhân thân kết hợp với thái độ của họ sau khi phạm tội và đối chiếu với yêu cầu phòng ngừa chung của xã hội để quyết định hình phạt tù đối với họ Đối với những người có nhân thân tốt, lần đầu phạm tội, sau khi phạm tội có thái độ biết lỗi và có ý thức sửa sai thì sẽ có nhiều khả năng tự cải tạo hơn các đối tượng khác, vì vậy án treo sẽ giúp người họ hoàn lương một cách tốt nhất

Trường hợp người phạm tội có án tích nhưng đã được xoá án tích, được đương nhiên xoá án tích thì coi là chưa bị kết án; đã bị xử lý hành chính, xử lý

kỷ luật nhưng đã hết thời hạn được coi là chưa bị xử lý VPHC, xử lý kỷ luật hoặc hết thời hiệu xử lý VPHC , xử lý kỷ luật thì được coi là chưa bị xử lý hành chính, chưa bị xử lý kỷ luật; hoặc nếu xét thấy tính chất, mức độ của tội phạm mới được thực hiện thuộc trường hợp ít nghiêm trọng hoặc người phạm tội là

Trang 9

đồng phạm có vai trò không đáng kể trong vụ án và có đủ các điều kiện khác thì cũng có thể cho hưởng án treo Cụ thể theo quy định tại Điều 7 LXLVPHC 2012 thì “Cá nhân, tổ chức bị xử lý VPHC, nếu trong thời hạn 06 tháng, kể từ ngày chấp hành xong quyết định xử lý phạt cảnh cáo hoặc 01 năm, kể từ ngày chấp hành xong quyết định xử phạt hành chính khác hoặc từ ngày hết thời hiệu thi hành quyết định xử phạt VPHC mà không tái phạm thì được coi là chưa bị xử phạt VPHC ” Theo quy định này thì người bị xử phạt cảnh cáo vì VPHC được coi như chưa bị xử phạt VPHC và có thể được xem xét cho hưởng án treo sau 12 tháng, kể từ khi họ được coi là chưa bị xử lý hành chính Đối với quyết định xử phạt VPHC khác và trường hợp đã hết thời hiệu thi hành quyết định xử phạt VPHC thì thời hạn được coi như chưa bị xử phạt VPHC phải là 01 năm, tức là người được coi là chưa bị xử phạt VPHC phải bảo đảm hơn 18 tháng, kể từ khi được coi là chưa bị xử phạt vi phạm hành chính đến khi phạm tội mới Theo quy định tại khoản 2 Điều 69 và khoản 1 Điều 107 BLHS thì các trường hợp được coi là không có án tích thuộc phạm tội do lỗi vô ý, được miễn hình phạt, đưa vào trường giáo dưỡng, áp dụng biện pháp tư pháp

Đồng thời cần lưu ý người bị kết án phải có nơi cư trú rõ ràng hoặc nơi làm việc ổn định Theo đó, nơi cư trú rõ ràng là nơi tạm trú hoặc thường trú có địa chỉ được xác định cụ thể theo quy định của Luật cư trú mà người được hưởng án treo về cư trú, sinh sống thường xuyên sau khi được hưởng án treo Nơi làm việc ổn định là nơi người phạm tội làm việc có thời hạn từ 01 năm trở lên theo hợp đồng lao động hoặc theo quyết định của cơ quan, tổ chức có thẩm quyền Khi có nơi cư trú rõ ràng và nơi làm việc ổn định thì chính quyền địa phương có thể theo dõi hoạt động của người phạm tội một cách chính xác Đây

là cơ sở giúp cơ quan, tổ chức có thẩm quyền giám sát giáo dục người phạm tội

có hiệu quả hơn

3 Có nhiều tình tiết giảm nhẹ

Các tình tiết giảm nhẹ để xem xét cho hưởng án treo là những tình tiết được quy định tại khoản 1 Điều 51 BLHS 2015 gồm 22 tình tiết Đối với từng

vụ án cụ thể, những tình tiết giảm nhẹ có thể được toà án xác định theo khoản 2

Trang 10

Điều 51 BLHS 2015 Hiện nay quy định tại khoản 2 Điều 51 của BLHS 2015 chưa được Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn một cách rõ ràng Tuy nhiên trong quá trình xét xử, Tòa án có thể tham khảo quy Nghị quyết

số 01/2000/NQ-HĐTP ngày 04-8-2000 của Hội đồng Thẩm phán và theo Công văn 212/TANDTC – PC 2019 để xác định tình tiết khác là tỉnh tiết giảm nhẹ

Những tình tiết đó được liệt kê trong BLHS là hoàn toàn có căn cứ vì đã được các nhà làm luật xem xét trên cơ sở lý luận thực tiễn được và ghi nhận Như vậy các tình tiết giảm nhẹ đã được giới hạn rõ ràng, dễ hiểu, phù hợp với mong muốn được giảm trách nhiệm hình sự của người phạm tội Người phạm tội sẽ căn cứ vào đây để biết được mình có được giảm nhẹ trách nhiệm hay không, từ đó có thể bảo vệ quyền lợi của mình Còn đối với cơ quan xét xử sẽ căn cứ các tình tiết này để áp dụng pháp luật một cách đúng đắn khi xem xét quyết định hình phạt cho NPT Điều này sẽ hạn chế được quan điểm chủ quan của cá nhân có thẩm quyền xét xử, đồng thời mang lại sự công bằng bình đẳng cho tất cả NPT

Vì vậy, những tình tiết giảm nhẹ sẽ là căn cứ quan trọng để Toà án quyết định người bị kết án có được hưởng án treo hay không Nó vừa thể hiện chính sách khoan hồng của Nhà nước ta đối với người phạm tội; vừa thể hiện tính khách quan, mềm dẻo, linh hoạt trong quá trình giải quyết vụ án Những tình tiết giảm nhẹ còn đảm bảo quyền con người, quyền và lợi ích hợp pháp của công dân, đặc biệt là đối với những người có nhiều thành tích trong học tập và công tác; những người có công với cách mạng và thân nhân của họ Đặc biệt là khuyến khích người phạm tội thành khẩn khai báo, thành khẩn hối lỗi trước hành vi phạm tội của mình

Nhằm bảo đảm việc xét cho hưởng án treo được áp dụng một cách chặt chẽ, nghiêm túc, toà án chỉ cho hưởng án treo đối với các trường hợp sau:

_ Có từ 02 tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự trở lên, trong đó có ít nhất 01 tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại khoản 1 Điều 51 của BLHS

2015 và không có tình tiết tăng nặng TNHS tại khoản 1 Điều 52 BLHS 2015

Ngày đăng: 27/01/2022, 20:23

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

w