. Quản lý hành chính nhà nước Khái niệm quản lý hành chính nhà nước Tất cả mọi lao động xã hội trực tiếp hay lao động chung nhau tiến hành trên quy mô tương đối lớn, thì ít nhiều cũng cần đến một sự chỉ đạo để điều hòa những hoạt động của cá nhân và thực hiện những chức năng chung. Một người độc tố vĩ cầm tưởng mình điều khiển lấy mình con một dàn nhạc thì cần phải có nhạc trưởng. => C.Mác Nền HCNN là tổng thể các tổ chức và định chế hoạt động của bộ máy HCNN có trách nhiệm quản lý công việc hằng ngày của nhà nước, do các cơ quan có tư cách pháp nhân công quyền tiến hành bằng các văn bản dưới luật nhằm thực thi chức năng QLNN, giữ gìn và bảo vệ quyền lợi công, phục vụ nhu cầu hằng ngày của nhân dân trong mối quan hệ giữa công dân và nhà nước Các bộ phận cấu thành của nền hành chính nhà nước: 5 ➔ Thể chế của nền HCNN ➔ Tổ chức bộ máy của nền HCNN ➔ Công vụ và công chức hành chính nhà nước ➔ Công sở và công sản ➔ Nguồn ngân sách nhà nước phục vụ hoạt động hành chính => Quản lý là việc chỉ huy, điều khiển, hướng dẫn một hệ thống hay một quá trình dựa trên những quy luật khách quan nhằm mục đích nhất định. QLHC là một hình thức hoạt động của nhà nước được thực hiện trước hết và chủ yếu bởi cơ quan HCNN có nội dung làm việc chấp hành hiến pháp luật Pháp pháp lệnh nghị quyết của cơ quan quyền lực nhà nước nhằm tổ chức một cách trực tiếp và thường xuyên công cuộc xây dựng kinh tế văn hóa xã hội và hành chính chính trị ở nước ta. Nói cách khác đó là hoạt động chấp hành điều hành của nhà nước 4 QLHCNN là sự tác động có tổ chức bằng quyền lực nhà nước do các cơ quan hành chính từ trung ương đến địa phương tiến hành nhằm mục đích thực hiện các chức năng, nhiệm vụ nhà nước, bảo vệ duy trì trật tự an ninh quyền lợi ích hợp pháp của cá nhân công dân tổ chức. Điều kiện quản lý ➔ Phải có tổ chức ➔ Phải có quyền uy ➔ Có sức mạnh cưỡng Chủ thể quản lý nhà nước bao gồm: Cơ quan nhà nước, tổ chức xã hội Được nhà nước trao quyền và cá nhân được nhà nước uỷ quyền thực hiện quyền quản lý nhà nước . Khách thể của quản lý nhà nước: Là trật tự QLHCNN Các lĩnh vực quản lý hành chính cụ thể như an ninh trật tự, an toàn xã hội, y tế, văn hóa, môi trường, giáo dục, thuế, quản lý thị trường,..và được phản ánh trong các QPPLHC. Đối tượng của quản lý hành chính nhà nước là cá nhân tổ chức chịu sự tác động của chủ thể QLHCNN chẳng hạn như công dân, doanh nghiệp, cán bộ, công chức, viên chức Tính chấp hành thể hiện ở chỗ bảo đảm thực hiện thực tế các văn bản pháp luật của cơ quan quyền lực nhà nước Và các văn bản pháp luật của cơ quan nhà nước cấp trên. Tính chất điều hành để đảm bảo cho các văn bản pháp luật các cơ quan quyền lực nhà nước được thực thi.Trong thực tế các chủ thể của QLNN tiến hành hoạt động tổ chức và hoạt động trực tiếp đối với các đối tượng quản lý. Cơ quan HCNN ban hành mệnh lệnh cụ thể bắt buộc các đối tượng quản lý phải thực hiện. Như vậy các chủ thể QLHCNN sử dụng quyền lực nhà nước điều khiển hoạt động của các đối tượng quản lý. Hoạt động điều hành là nội dung cơ bản của hoạt động chấp hành quyền lực nhà nước. 5 Đặc điểm cơ bản của QLHCNN: ➔ Hoạt động có tính chủ động sáng tạo ➔ Là hoạt động dưới luật không có luật pháp ➔ Mang tính tổ chức trực tiếp thường xuyên chuyên nghiệp ➔ Mang tính chính trị rõ nét ➔ Tiến hành bằng các cơ quan HCNN hoạt động này được đảm bảo bằng cơ sở vật chất là nguồn nhân lực lớn
Trang 11 Quản lý hành chính nhà nước 4
2 Các nguyên tắc cơ bản trong quản lý hành chính nhà nước 6
- Đảng lãnh đạo: 7
- Nguyên tắc tuân thủ hiến pháp và pháp luật 9
- Tập trung dân chủ: 10
- Nhân dân tham gia quản lý nhà nước 14
- Bình đẳng giữa các dân tộc 15
- Kết hợp quản lý theo ngành và theo lãnh thổ (nguyên tắc tổ chức kĩ thuật) 16
3 Đối tượng điều chỉnh và phương pháp điều chỉnh của Luật hành chính 19
4 Vai trò của Luật hành chính Việt Nam 21
5 Hệ thống ngành luật hành chính 22
6 Luật hành chính trong tương quan với các ngành luật khác thuộc hệ thống pháp luật Việt Nam 22
7 Khái niệm, đặc điểm quy phạm pháp luật hành chính 27
8 Vai trò của quy phạm pháp luật hành chính 29
9 Cơ cấu của quy phạm pháp luật hành chính 30
10 Hiệu lực của quy phạm pháp luật hành chính 31
11 Hệ thống hóa nguồn của luật hành chính 33
12 Thực hiện quy phạm pháp luật hành chính 34
13 Khái niệm, đặc điểm quan hệ pháp luật hành chính 35
14 Cơ cấu quan hệ pháp luật hành chính 37
Câu 15: Căn cứ phát sinh, thay đổi, chấm dứt quan hệ pháp luật hành chính 38
Trang 21.Sự tồn tại của quy phạm pháp luật hành chính: 38
2.Sự xuất hiện của chủ thể cụ thể, tương ứng với chủ thể mà quy phạm pháp luật hành chính đặt ra 39
3.Sự xuất hiện của sự kiện pháp lý hành chính: (quan trọng nhất) 40
Câu 16: Cơ quan hành chính nhà nước 41
Câu 17 Những quy định chung về cán bộ, công chức, hoạt động công vụ 43
Câu 18 Những quy định chung về viên chức và hoạt động nghề nghiệp 46
Câu 19 Quy chế pháp lý hành chính của cán bộ, công chức 48
Câu 20 Quy chế pháp lý hành chính của viên chức 51
Câu 21 Khái niệm và đặc điểm của tổ chức xã hội 52
Câu 22 Phân loại tổ chức xã hội 53
Câu 23 Nội dung quy chế pháp lý hành chính của tổ chức xã hội 54
Câu 24 Quy chế pháp lý hành chính của cá nhân 56
I Quy chế pháp lý của công dân 56
II Quy chế pháp lý hành chính của người nước ngoài, người không quốc tịch 59
Câu 25 Hình thức quản lý hành chính nhà nước 62
27 Phương pháp quản lý hành chính nhà nước 65
28 Quyết định hành chính 67
29 Trách nhiệm hành chính và mục đích của trách nhiệm hành chính 71
30 Khái niệm và dấu hiệu vi phạm hành chính 71
31 Các yếu tố cấu thành của vi phạm hành chính 72
32 Nguyên tắc xử lý vi phạm hành chính 73
Trang 337 Phương thức kiểm soát bên ngoài hoạt động hành chính nhà nước 78
38 Phương thức kiểm soát bên trong hoạt động hành chính nhà nước 81
Trang 4ĐỀ CƯƠNG MÔN LUẬT HÀNH CHÍNH VIỆT NAM
1 Quản lý hành chính nhà nước
Khái niệm quản lý hành chính nhà nước
Tất cả mọi lao động xã hội trực tiếp hay lao động chung nhau tiến hành trên quy mô tương đối lớn, thì ít nhiều cũng cần đến một sự chỉ đạo để điều hòa những hoạt động của cá nhân và thực hiện những chức năng chung Một người độc tố
vĩ cầm tưởng mình điều khiển lấy mình con một dàn nhạc thì cần phải có nhạc trưởng => C.Mác
Nền HCNN là tổng thể các tổ chức và định chế hoạt động của bộ máy HCNN
có trách nhiệm quản lý công việc hằng ngày của nhà nước, do các cơ quan có tư cách pháp nhân công quyền tiến hành bằng các văn bản dưới luật nhằm thực thi chức năng QLNN, giữ gìn và bảo vệ quyền lợi công, phục vụ nhu cầu hằng ngày của nhân dân trong mối quan hệ giữa công dân và nhà nước
Các bộ phận cấu thành của nền hành chính nhà nước: 5
➔ Thể chế của nền HCNN
➔ Tổ chức bộ máy của nền HCNN
➔ Công vụ và công chức hành chính nhà nước
➔ Công sở và công sản
➔ Nguồn ngân sách nhà nước phục vụ hoạt động hành chính
=> Quản lý là việc chỉ huy, điều khiển, hướng dẫn một hệ thống hay một quá trình dựa trên những quy luật khách quan nhằm mục đích nhất định
QLHC là một hình thức hoạt động của nhà nước được thực hiện trước hết và chủ yếu bởi cơ quan HCNN có nội dung làm việc chấp hành hiến pháp luật Pháp pháp lệnh nghị quyết của cơ quan quyền lực nhà nước nhằm tổ chức một cách trực tiếp và thường xuyên công cuộc xây dựng kinh tế văn hóa xã hội và hành chính chính trị ở nước ta Nói cách khác đó là hoạt động chấp hành - điều hành của nhà nước
Trang 5QLHCNN là sự tác động có tổ chức bằng quyền lực nhà nước do các cơ quan hành chính từ trung ương đến địa phương tiến hành nhằm mục đích thực hiện các chức năng, nhiệm vụ nhà nước, bảo vệ duy trì trật tự an ninh quyền lợi ích hợp pháp của cá nhân công dân tổ chức
Điều kiện quản lý
Khách thể của quản lý nhà nước: Là trật tự QLHCNN Các lĩnh vực quản lý hành chính cụ thể như an ninh trật tự, an toàn xã hội, y tế, văn hóa, môi trường, giáo dục, thuế, quản lý thị trường, và được phản ánh trong các QPPLHC
Đối tượng của quản lý hành chính nhà nước là cá nhân tổ chức chịu sự tác động của chủ thể QLHCNN chẳng hạn như công dân, doanh nghiệp, cán bộ, công chức, viên chức
Tính chấp hành thể hiện ở chỗ bảo đảm thực hiện thực tế các văn bản pháp luật của cơ quan quyền lực nhà nước Và các văn bản pháp luật của cơ quan nhà nước cấp trên
Tính chất điều hành để đảm bảo cho các văn bản pháp luật các cơ quan quyền lực nhà nước được thực thi.Trong thực tế các chủ thể của QLNN tiến hành hoạt động tổ chức và hoạt động trực tiếp đối với các đối tượng quản lý
Cơ quan HCNN ban hành mệnh lệnh cụ thể bắt buộc các đối tượng quản lý phải thực hiện Như vậy các chủ thể QLHCNN sử dụng quyền lực nhà nước điều khiển hoạt động của các đối tượng quản lý Hoạt động điều hành là nội dung cơ bản của hoạt động chấp hành quyền lực nhà nước
Trang 6Đặc điểm cơ bản của QLHCNN:
➔ Hoạt động có tính chủ động sáng tạo
➔ Là hoạt động dưới luật không có luật pháp
➔ Mang tính tổ chức trực tiếp thường xuyên chuyên nghiệp
➔ Mang tính chính trị rõ nét
➔ Tiến hành bằng các cơ quan HCNN hoạt động này được đảm bảo bằng cơ
sở vật chất là nguồn nhân lực lớn
2 Các nguyên tắc cơ bản trong quản lý hành chính nhà nước
Nguyên tắc là tư tưởng chủ đạo bắt nguồn từ bản chất của chế độ được quy định trong pháp luật là cơ sở để thực hiện việc QLHC
Các nguyên tắc quản lý hành chính nhà nước mang các tính chất sau :
● Tính chính trị sâu sắc vì nó được ghi trong các Nghị quyết của Đảng
● Tính pháp lý và bắt buộc thi hành vì nó được cụ thể hóa qua các văn bản pháp luật
● Tính khách quan bởi vì chúng được xây dựng, đúc kết từ thực tế cuộc sống và phản ánh các quy luật phát triển khách quan
● Tính chủ quan bởi vì chúng được xây dựng bởi con người mà con người dựa trên những nhận thức chủ quan để xây dựng
● Tính ổn định cao nhưng không phải là nguyên tắc bất di bất dịch Nó gắn liền với quá trình phát triển của xã hội, tích lũy kinh nghiệm, thành quả của khoa học về quản lý hành chính nhà nước
● Tính độc lập tương đối với chính trị Hệ thống chính trị của nhà nước Việt nam được thực hiện thông qua: các tổ chức chính trị xã hội (Ðảng, Mặt trận tổ quốc…), và bộ máy nhà nước (Lập pháp, hành pháp, tư pháp) Trong hệ thống nguyên tắc quản lý hành chính nhà nước có cả những nguyên tắc riêng, đặc thù trong hoạt động quản lý hành chính nhà nước
Trang 7Tuy nhiên giữa hoạt động chính trị và quản lý nhà nước có mối quan hệ hữu cơ chặt chẽ Các quan điểm chính trị là cơ sở của việc tổ chức hoạt động quản lý hành chính nhà nước và hoạt động quản lý hành chính nhà nước thực hiện tốt không chỉ đòi hỏi được trên pháp luật (luật), mà còn phải thực hiện đúng đắn các quan điểm chính trị (chính sách)
● Tính hệ thống Mỗi nguyên tắc quản lý hành chính nhà nước có nội dung riêng, phản ánh những khía cạnh khác nhau của quản lý hành chính nhà nước Tuy nhiên, những nguyên tắc này có mối quan hệ chặt chẽ với nhau tạo thành một thể thống nhất Việc thực hiện tốt nguyên tắc này sẽ tạo tiền
đề cho việc thực hiện có hiệu quả nguyên tắc khác Vì thế nên các nguyên tắc quản lý hành chính nhà nước luôn thể hiện tính hệ thống, tính thống nhất và đây là một thuộc tính vốn có của chúng
Các nguyên tắc trong QLHCNN được chia thành hai nhóm bao gồm nguyên tắc chính trị - xã hội và nguyên tắc tổ chức - kĩ thuật
Nội dung 6 nguyên tắc cơ bản trong quản lý hành chính
- Đảng lãnh đạo:
Cơ sở pháp lý: Đây là nguyên tắc hiến định được ghi nhận tại điều 4 hiến pháp
2013 là “Đảng Cộng sản Việt Nam đội tiên phong của giai cấp công nhân Việt Nam đại biểu trung thành quyền lợi của giai cấp công nhân nhân dân lao động
và của cả dân tộc theo chủ nghĩa Mác-Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh là lực lượng lãnh đạo nhà nước và xã hội”
Nội dung nguyên tắc
Nguyên tắc Ðảng lãnh đạo trong quản lý hành chính nhà nước biểu hiện cụ thể
Trang 8hóa đường lối chủ trương đó thành pháp luật làm cho cơ sở tổ chức hoạt động chính nhà nước hoạt động Thể chế hóa đó đã đưa đường lối chính sách của đảng vào cuộc sống thông qua hoạt động QLHC
➔ Đảng lãnh đạo hành chính nhà nước bằng các cương lĩnh chính trị đường lối chủ trương chính sách và giám sát thực hiện
Thông qua kiểm tra xác định tính hiệu quả, tính thực tế của các chủ trương chính sách mà Ðảng đề ra từ đó khắc phục khiếm khuyết, phát huy những mặt tích cực trong công tác lãnh đạo
➔ Đảng phát hiện đào tạo bồi dưỡng những người có năng lực phẩm chất và giới thiệu đảm nhận các chức vụ lãnh đạo quản lý trong bộ máy hành chính thông qua con đường bầu cử
Các tổ chức Ðảng đã bồi dưỡng, đào tạo những Ðảng viên ưu tú, có phẩm chất và năng lực gánh vác những công việc trong bộ máy hành chính nhà nước, đưa ra các ý kiến về việc bố trí những cán bộ phụ trách vào những vị trí lãnh đạo của các cơ quan hành chính nhà nước Tuy nhiên vấn đề bầu, bổ nhiệm được thực hiện bởi các cơ quan nhà nước theo trình tự, thủ tục do pháp luật quy định,
ý kiến của tổ chức Ðảng là cơ sở để cơ quan xem xét và đưa ra quyết định cuối cùng
Đảng lãnh đạo thông qua tổ chức cán bộ đảng bồi dưỡng đào tạo những giảng viên có năng lực, phẩm chất, trình độ, giới thiệu cho các cơ quan nhà nước,
ý kiến của các tổ chức đảng ý nghĩa rất quan trọng trong việc sắp xếp, bố trí cán
bộ trong cơ quan nhà nước Tuy nhiên việc bầu bổ nhiệm phải dựa trên căn cứ pháp luật
➔ Đáng kiểm tra hoạt động của cơ quan hành chính nhà nước trong việc thực hiện đường lối chính sách của đảng
Đảng lãnh đạo thông qua hình thức kiểm tra hình thức này không mang tính quyền lực pháp lý đây là điểm khác biệt với hoạt động kiểm tra của nhà nước Hoạt động này giúp đảng đánh giá được tính đúng đắn hiệu quả của các
Trang 9nghị quyết do mình ban hành Trên cơ sở đó đáp ứng kịp thời giúp cho công tác lãnh đạo của đảng ngày càng thân thiện Đồng thời hoạt động kiểm tra còn nắm được tình hình thực hiện đường lối chủ trương chính sách của đảng và pháp luật nhà nước đối với các tổ chức đảng các cấp và đảng viên và nhất là các tổ chức đảng đảng viên trong các cơ quan nhà nước, từ đó khắc phục những khiếm khuyết hay những mặt tích cực làm cho hoạt động quản lý đi đúng định hướng của đảng
➔ Cán bộ đảng viên và các tổ chức đảng gương mẫu thực hiện đường lối chủ trương chính sách của đảng pháp luật của nhà nước
Thực hiện sự lãnh đạo của đảng phải đảm bảo tôn trọng một số yêu cầu như: đảng lãnh đạo hoạt động hành chính nhưng không được làm thay các cơ quan chính quyền; nghị quyết của đảng phải phù hợp với thực tế đời sống; phải đảm bảo được phương châm “đảng lãnh đạo nhà nước quản lý nhân dân lao động làm chủ” Ðây là cơ sở nâng cao uy tín của Ðảng đối với dân, với cơ quan nhà nước
➔ Đảng chính là cầu nối giữa nhà nước với nhân dân
Sự lãnh đạo của đảng là cơ sở bảo đảm sự phối hợp của các cơ quan nhà nước
và tổ chức, lôi cuốn nhân dân lao động tham gia thực hiện các nhiệm vụ quản lý nhà nước ở tất cả các cấp quản lý
- Nguyên tắc tuân thủ hiến pháp và pháp luật
Cơ sở pháp lý: Điều 8 HP 2013 “ NN được tổ chức và hoạt động theo HP VÀ
PL, quản lý xh bằng HP VÀ PL, thực hiện nguyên tắc tập trung dân chủ.” Nội dung nguyên tắc
Để đảm bảo nguyên tắc tuân thủ Hiến pháp và pháp luật trong quá trình quản lý hành chính nhà nước cần phải đáp ứng những yêu cầu sau:
Một là, trong hoạt động ban hành quyết định và thực hiện những hành vi hành
chính, cơ quan hành chính không được vượt ra khỏi phạm vi thẩm quyền do luật định
Trang 10Hai là, thiết lập chế độ trách nhiệm tương ứng với thẩm quyền đối với mọi chủ
thể hoạt động hành chính để xây dựng một nền hành chính chuyên nghiệp, trong sạch và có hiệu quả, hiệu lực Vì vậy để hành vi hành chính phải tuân thủ đúng
PL thì Các cơ quan HCNN và các chủ thể QLHCNN phải chấp hành , tuân thủ
PL trong quá trình QLHCNN Đồng thời Các quyết định QLHCNN được ban hành phải đảm bảo tính hợp pháp, pháp lý
Ba là, hệ thống bộ máy quản lý hành chính phải được tổ chức và kiểm soát một
cách chặt chẽ, đảm bảo hiệu lực, hiệu quả trong hoạt động CQHCNN phải chịu
sự giám sát của các cơ quan quyền lực NN, tòa án, mặt trận tổ quốc, công dân
- Tập trung dân chủ:
Cơ sở pháp lý: đây là nguyên tắc cơ bản trong tổ chức và hoạt động của nhà nước nên việc thực hiện quản lý hành chính và tuân theo nguyên tắc này Nguyên tắc này được quy định tại điều 8 HP 2013 “Nhà nước được tổ chức và hoạt động theo hiến pháp và pháp luật quản lý xã hội bằng hiến pháp và pháp luật thực hiện nguyên tắc tập trung dân chủ”
Ngoài ra điều 6 HP 2013 có nhắc đến “Nhân dân thực hiện quyền lực nhà nước bằng dân chủ đại diện thông qua Quốc hội và hội đồng nhân dân thông qua các
cơ quan nhà nước khác”
Nội dung nguyên tắc:
Nguyên tắc này nguyên tắc cơ bản trong tổ chức hoạt động của các cơ quan nhà nước và cơ quan HCNN Trong lĩnh vực QLHC nguyên tắc này trước hết quy định cơ quan hành chính từ trung ương và cơ quan hành chính nhà nước các cấp trên, đảm bảo sự lãnh đạo tập trung đối với những vấn đề cơ bản chính yếu nhất về kinh tế, văn hóa, xã hội, an ninh quốc phòng của đất nước Đồng thời phải đảm bảo cho cấp dưới của mình thực hiện quyết định của cấp trên và trung ương vào điều kiện thực tế của địa phương
Tập trung được thể hiện ở việc các cơ quan quyền lực nhà nước có những quyền
hạn nhất định trong việc thành lập, sáp nhập hay giải thể các cơ quan hành chính
Trang 11nhà nước cùng cấp Ở trung ương Quốc hội thành lập ra Chính phủ và trao cho
nó quyền hành pháp Ở địa phương các UBND do HĐND cùng cấp bầu ra và thực hiện hoạt động quản lí hành chính nhà nước ở địa phương
Tập trung còn được thể hiện trong hoạt động, các cơ quan hành chính nhà nước
luôn chịu sự chỉ đạo, giám sát của cơ quan quyền lực nhà nước và chịu trách nhiệm báo cáo hoạt động của mình với cơ quan quyền lực nhà nước cùng cấp
Dân chủ được thể hiện trong việc cơ quan quyền lực nhà nước trao quyền chủ
động sáng tạo cho các cơ quan hành chính nhà nước trong việc chỉ đạo thực hiện hiến pháp, luật và các văn bản khác của cơ quan quyền lực nhà nước
Nguyên tắc tập trung dân chủ bao hàm sự kết hợp giữa hai yếu tố tập trung
và dân chủ, vừa đảm bảo sự lãnh đạo tập trung trên cơ sở dân chủ, vừa đảm bảo
mở rộng dân chủ dưới sự lãnh đạo tập trung
Tuy nhiên, đây không phải là sự tập trung toàn diện và tuyệt đối, mà chỉ đối với những vấn đề cơ bản, chính yếu nhất, bản chất nhất Sự tập trung đó bảo đảm cho cơ quan cấp dưới, cơ quan địa phương có cơ sở và khả năng thực hiện quyết định của trung ương; đồng thời, căn cứ trên điều kiện thực tế của mình, có thể chủ động sáng tạo trong việc giải quyết các vấn đề của địa phương và cơ sở
Cả hai yếu tố này vì thế phải có sự phối hợp chặt chẽ, đồng bộ Chúng có mối quan hệ qua lại, phụ thuộc và thúc đẩy nhau cùng phát triển trong quản lý hành chính nhà nước
Từ đó, nguyên tắc tập trung dân chủ được biểu hiện cụ thể như sau:
➢ Sự phụ thuộc của cơ quan hành chính nhà nước vào cơ quan quyền lực nhà nước cùng cấp
+ Các cơ quan quyền lực nhà nước có những quyền hạn nhất định trong việc thành lập, thay đổi, bãi bỏ các cơ quan hành chính nhà nước cùng cấp
+ Trong hoạt động, các cơ quan hành chính nhà nước luôn chịu sự chỉ đạo, giám sát của cơ quan quyền lực nhà nước và chịu trách nhiệm báo cáo hoạt động của mình với cơ quan quyền lực nhà nước cùng cấp
Trang 12Tất cả sự phụ thuộc này nhằm mục đích bảo đảm cho hoạt động của hệ thống cơ quan hành chính nhà nước, phù hợp với ý chí, nguyện vọng và lợi ích của nhân dân lao động, bảo đảm sự tập trung quyền lực vào cơ quan quyền lực-
cơ quan do dân bầu và chịu trách nhiệm trước nhân dân
➢ Sự phục tùng của cấp dưới đối với cấp trên, của địa phương đối với trung ương
+ Sự phục tùng ở đây là sự phục tùng mệnh lệnh hợp pháp trên cơ sở quy định của pháp luật
+ Mặt khác, trung ương cũng phải tôn trọng ý kiến của cấp dưới, địa phương về công tác tổ chức, hoạt động và về các vấn đề khác của quản lý hành chính nhà nước
+ Phải tạo điều kiện để cấp dưới, địa phương phát huy sự chủ động, sáng tạo nhằm hoàn thành tốt nhiệm vụ được giao, nhằm chủ động thực hiện được “thẩm quyền cấp mình” Có như thế mới khắc phục tình trạng quan liêu, áp đặt ý chí, làm mất đi tính chủ động sáng tạo của địa phương, cấp dưới
➢ Sự phân cấp quản lý: Phân cấp quản lý là một biểu hiện của nguyên tắc tập trung dân chủ Tuy nhiên, việc phân cấp phải đảm bảo những yêu cầu sau:
+ Phải xác định quyền quyết định của trung ương đối với những lĩnh vực then chốt, những vấn đề có ý nghĩa chiến lược để đảm bảo sự phát triển cân đối hài hòa của toàn xã hội, bảo đảm sự quản lý tập trung và thống nhất của nhà nước trong phạm vi toàn quốc
+ Phải mạnh dạn phân quyền cho địa phương, các đơn vị cơ sở để phát huy tính chủ động sáng tạo trong quản lý, tích cực phát huy sức người, sức của, đẩy mạnh sản xuất và phục vụ đời sống nhằm hoàn thành nhiệm vụ mà cấp trên giao phó + Phải phân cấp quản lý cụ thể, hợp lý trên cơ sở quy định của pháp luật Hạn chế tình trạng cấp trên gồm quá nhiều việc, khi không làm xuể công việc ấy thì giao lại cho cấp dưới Phân cấp quản lý phải xác định chức năng cơ quan Mỗi
Trang 13loại việc chỉ được thực hiện bởi một cấp cơ quan, hoặc một vài cấp cơ quan Cấp trên không phải lúc nào cũng thực hiện được một số chức năng một cách có hiệu quả như cấp dưới
Có như vậy hoạt động của các đơn vị này mới phát triển một cách mạnh mẽ theo đúng định hướng xã hội chủ nghĩa Ðây cũng chính là việc thực hiện “dân là gốc” trong hoạt động quản lý hành chính nhà nước
➢ Sự phụ thuộc hai chiều của cơ quan hành chính nhà nước ở địa phương Các cơ quan hành chính nhà nước ở địa phương đều tổ chức và hoạt động theo nguyên tắc song trùng trực thuộc Ðối với cơ quan nhà nước có thẩm quyền chung một mặt phụ thuộc vào cơ quan quyền lực nhà nước cùng cấp, mặt khác phụ thuộc vào cơ quan hành chính nhà nước cấp trên
Ví dụ: UBND Tỉnh A một mặt chịu sự chỉ đạo của HÐND Tỉnh A theo chiều ngang, một mặt chịu sự chỉ đạo của Chính phủ theo chiều dọc
Ðối với cơ quan chuyên môn, một mặt phụ thuộc vào cơ quan hành chính nhà nước có thẩm quyền chung cùng cấp, mặt khác nó phụ thuộc vào cơ quan hành chính nhà nước có thẩm quyền chuyên môn cấp trên trực tiếp
Ví dụ: Sở Tư pháp Tỉnh B, một mặt phụ thuộc vào UBND Tỉnh B, mặt khác phụ thuộc vào Bộ Tư pháp
Nguyên tắc song trùng trực thuộc của cơ quan hành chính nhà nước ở địa phương bảo đảm sự thống nhất giữa lợi ích chung của nhà nước với lợi ích của địa phương, giữa lợi ích ngành với lợi ích của lãnh thổ
Trang 14- Nhân dân tham gia quản lý nhà nước
Cơ sở pháp lý:
Nguyên tắc này là biểu hiện cao nhất của yếu tố dân chủ trong quản lý hành chính nhà nước Nhân dân tham gia quản lý nhà nước là hình thức dân chủ quan trọng nhất trong quản lý hành chính nhà nước
Điều này xuất phát từ bản chất của Nhà nước ta được ghi nhận tại Khoản
2 Điều 2 Hiến pháp năm 2013: "Nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam do Nhân dân làm chủ; tất cả quyền lực nhà nước thuộc về Nhân dân "
Từ đó, Điều 28 Hiến pháp năm 2013 quy định: "Công dân có quyền tham gia quản lý nhà nước và xã hội, tham gia thảo luận và kiến nghị với cơ quan nhà nước về các vấn đề của cơ sở, địa phương và cả nước Nhà nước tạo điều kiện
để công dân tham gia quản lý nhà nước và xã hội; công khai, minh bạch trong việc tiếp nhận, phản hồi ý kiến, kiến nghị của công dân"
Nội dung nguyên tắc
Nhân dân tham gia quản lý nhà nước được thực hiện một cách trực tiếp hoặc gián tiếp
cả nước và địa phương, kiến nghị với cơ quan nhà nước, biểu quyết khi Nhà nước
tổ chức trưng cầu ý dân" và trao quyền tổ chức trưng cầu ý dân cho Ủy ban
Trang 15thường vụ Quốc hội Đến Hiến pháp năm 2013, quyền tổ chức trưng cầu ý dân
là quyền thuộc về Quốc hội (Khoản 15 Điều 70 Hiến pháp năm 2013)
Ngoài ra, nhân dân còn nhiều hình thức tham gia trực tiếp khác vào quản lý nhà nước, đó là: Thảo luận, góp ý kiến vào quá trình xây dựng những đạo luật hoặc các quyết định quan trọng khác của Nhà nước hoặc của địa phương; tham gia trực tiếp với tư cách là cán bộ, công chức hoặc thành viên không chuyên trách trong hoạt động của cơ quan quản lý, các tổ chức xã hội; thực hiện quyền khiếu nại, tố cáo những hành vi vi phạm pháp luật trong quản lý nhà nước; thực hiện quyền yêu cầu, kiến nghị nhằm hoàn thiện quản lý nhà nước; tham gia với tư cách là thành viên do tập thể người lao động bầu ra trong việc giải quyết những vấn đề quan trọng của cơ quan, đơn vị, doanh nghiệp,
+ Hình thức gián tiếp
Các hình thức tham gia gián tiếp của nhân dân vào quản lý nhà nước là thông qua các cơ quan đại diện của nhân dân như Hội đồng nhân dân quốc hội thông qua hoạt động của các tổ chức xã hội mà công dân là thành viên
Điều 6 HP 2013 có nhắc đến “Nhân dân thực hiện quyền lực nhà nước bằng dân chủ đại diện thông qua Quốc hội và hội đồng nhân dân thông qua các cơ quan nhà nước khác”
- Bình đẳng giữa các dân tộc
Cơ sở pháp lý: sự bình đẳng giữa các dân tộc, Bình đẳng về địa vị pháp lý giữa các dân tộc là nền tảng cho sự trường tồn và phát triển ổn định của Nhà nước Việt Nam Trên tinh thần đó, Khoản 2 Điều 5 Hiến pháp năm 2013 quy định: "Các dân tộc bình đẳng, đoàn kết, tôn trọng và giúp nhau cùng phát triển; nghiêm cấm mọi hành vi kỳ thị, chia rẽ dân tộc"
Nội dung nguyên tắc
➢ Trong công tác lãnh đạo và sử dụng cán bộ
Trang 16Nhà nước ưu tiên đối với con em các dân tộc ít người, thực hiện chính sách khuyến khích về vật chất, tinh thần để họ học tập Số cán bộ nhà nước là người dân tộc ít người cũng chiếm một số lượng nhất định trong cơ quan nhà nước, tạo điều kiện cho người dân tộc ít người cùng tham gia quyết định những vấn đề có liên quan đến quyền và lợi ích chính đáng của họ và các vấn đề quan trọng khác của đất nước
➢ Trong việc hoạch định các chính sách phát triển kinh tế-văn hóa-xã hội Nhà nước ta trước hết là đảm bảo sự bình đẳng hoàn toàn giữa các dân tộc trong quá trình phát triển, bảo đảm những điều kiện cần thiết để mỗi dân tộc đều có cơ hội phát triển toàn diện về kinh tế, văn hoá, truyền thống, tinh hoa, bản sắc tốt đẹp của dân tộc mình Phải có chính sách ưu tiên cho các dân tộc thiểu
số , dt vùng cao còn chậm phát triển ( hỗ trợ trực tiếp từ nguồn ngân sách, đầu
tư các công trình giao thông, cơ sở hạ tầng, khai thác tiềm năng tài nguyên thiên nhiên…) Song song với chính sách hỗ trợ trực tiếp từ nguồn ngân sách, Chính phủ đầu tư cho các công trình đường giao thông, cơ sở hạ tầng, khai thác tiềm năng tài nguyên thiên nhiên cho những vùng dân tộc
➢ Nhà nước chú ý tới việc đầu tư xây dựng công trình quan trọng về kinh
tế, quốc phòng ở các vùng dân tộc ít người, một mặt khai thác những tiềm năng kinh tế, xóa bỏ sự chênh lệch giữa các vùng trong đất nước, đảm bảo nâng cao đời sống vật chất tinh thần của các dân tộc ít người
➢ Nhà nước có những chính sách đúng đắn đối với người đi xây dựng vùng kinh tế mới, tổ chức phân bố lại lao động một cách hợp lý tạo điều kiện thuận lợi để các dân tộc ít người nâng cao trình độ về mọi mặt NN thu hút nhân tài cho những vùng có nhiều ng dt, khuyến khích sử dụng cán
bộ địa phương, tổ chức đào tạo tại chỗ kết hợp vs cử cán bộ đi học tập, bồi dưỡng nâng cao trình độ
- Kết hợp quản lý theo ngành và theo lãnh thổ (nguyên tắc tổ chức kĩ thuật)
Ngành là một phạm trù chỉ tổng thể những đơn vị, tổ chức sản xuất, kinh doanh có cùng một cơ cấu kinh tế-kỹ thuật hay các tổ chức, đơn vị hoạt động với
Trang 17cùng một mục đích giống nhau Có sự phân chia các hoạt động theo ngành tất yếu dẫn đến việc thực hiện hoạt động quản lý theo ngành
Quản lý theo ngành là hoạt động quản lý các đơn vị tổ chức kinh tế, vhoa,
xh có cùng cơ cấu kinh tế kỹ thuật hoặc hoạt động với mục đích giống nhau nhằm làm cho hoạt động của các tổ chức, đơn vị này phát triển một cách đồng bộ nhịp nhàng, đáp ứng yêu cầu của NN và xh
Quản lý theo lãnh thổ là hoạt động của các CQNN tại địa phương, thực hiện chức năng chấp hành - điều hành trong phạm vi địa giới của địa phương mình
Quản lý theo lãnh thổ là hoạt động của các cơ quan nhà nước tại địa phương, thực hiện chức năng chấp hành - điều hành trong phạm vi địa giới của địa phương mình Theo quy định của Hiến pháp năm 2013, việc quản lý theo địa phương ở nước ta thực hiện theo ba cấp: Tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương; huyện, quận, thị xã và thành phố thuộc tỉnh; xã, phường, thị trấn Ngoài ra còn
có các đơn vị hành chính - kinh tế đặc biệt do Quốc hội thành lập”
Cơ quan quản lý đối với ngành theo đó được thiết lập, gồm các cơ quan ở Trung ương (bộ, cơ quan ngang bộ) và các cơ quan ở địa phương (các sở, phòng chuyên môn) Tuy nhiên, quản lý theo ngành không đồng nghĩa với việc mỗi ngành đều
có một trung tâm quản lý ở Trung ương và địa phương mà có thể quản lý theo hướng liên ngành hoặc quản lý đa ngành Tại đây, các cơ quan hành chính nhà nước có chức năng xây dựng chiến lược, quy hoạch phát triển, quản lý khoa học
và công nghệ, xây dựng và kiểm tra việc thực hiện pháp luật, các chính sách, thể chế, nghiên cứu xây dựng bộ máy quản lý ngành, chính sách cán bộ , nghĩa là giải quyết những vấn đề lớn, cơ bản, nhằm bảo đảm sự quản lý tập trung, thống nhất trong cả nước đối với quản lý ngành
Việc phân chia địa giới tính đến các yếu tố hợp lý về kinh tế, chính trị, xã hội, dân cư, thành phần và trình độ dân cư Cơ quan quản lý ở địa phương là
Ủy ban nhân dân các cấp, trong đó có các cơ quan chuyên môn
thực hiện chức năng quản lý ngành, Ủy ban nhân dân các cấp quản lý đối với nhiều ngành, nhiều lĩnh vực, liên quan đến nhiều đối tượng Cơ quan chuyên
Trang 18môn thuộc Ủy ban nhân dân thực hiện quản lý hành chính nhà nước theo ngành, lĩnh vực
Trong hoạt động quản lý hành chính nhà nước, quản lý theo ngành luôn được kết hợp chặt chẽ với quản lý theo lãnh thổ Ðây chính là sự phối hợp giữa quản lý theo chiều dọc của các Bộ với quản lý theo chiều ngang của chính quyền địa phương theo sự phân công trách nhiệm và phân cấp quản lý giữa các ngành, các cấp Sự kết hợp này là một nguyên tắc cơ bản trong quản lý hành chính nhà nước, mang tính cần thiết, khách quan
Sự kết hợp quản lý theo ngành và lãnh thổ thể hiện vào những nội dung chủ yếu như sau:
+ Kết hợp trong việc xây dựng quy hoạch và kế hoạch phát triển ngành tại địa phương
+ Kết hợp trong việc xây dựng bộ máy quản lý điều hành lĩnh vực chuyên ngành tại địa phương
+ HCNN phải xây dựng định hướng phát triển trung hạn, dài hạn cho ngành phù hợp với quy hoạch phát triển kinh tế trong phạm vi cả nước/ vùng lãnh thổ + HCNN phải xây dựng khung pháp lý phù hợp vs yêu cầu thực hiện mục tiêu phát triển cả về không gian và thời gian
+ HCNN phải khuyến khích, hỗ trợ phát triển các ngành, lĩnh vực thông qua chính sách, dự án, chương trình, dự án đầu tư phù hợp vs từng vùng, từng đối tượng
+ HCNN phải kết hợp chặt chẽ việc lãnh đạo, điều hành, kiểm tra, giám sát các hoạt động của cơ quan TƯ và địa phương để tạo sự thống nhất, cân đối và hợp
lý giữa các ngành các vùng
+ CQHCNN ở địa phương tổng hợp và toàn diện các mặt KT, CT, VH, XH trong
đó triển khai phát trien KT theo ngành và lãnh thổ là 1 trong những nhiệm vụ quan trọng
Trang 193 Đối tượng điều chỉnh và phương pháp điều chỉnh của Luật hành chính
Đối tượng điều chỉnh
➔ Những quan hệ xã hội mang tính chất chấp hành và điều hành phát sinh trong quá trình CQHCNN thực hiện chức năng QLHCNN
+ những QHXH phát sinh giữa CQHCNN cấp trên vs CQHCNN cấp dưới trong
qá trình các CQHCNN thực hiện chức năng quản lí NN của mình
+ những QHXH phát sinh giữa CQHCNN cùng cấp trong việc phối hợp và phục
vụ lẫn nhau để cùng thực hiện chức năng quản lí Nn của mình
+ những QHXH phát sinh giữa CQHCNN có thẩm quyền vs tổ chức KT, TCXH trong quá trình các CQHCNN thực hiện chức năng quản lí của mình
+ những QHXH phát sinh giữa CQHCNN có thẩm quyền vs cá nhân( công dân,
ng nước ngoài, ng k quốc tịch)
➔ Những quan hệ xã hội mang tính chất chấp hành và điều hành phát sinh trong việc xây dựng và tổ chức nội bộ của các CQHCNN
➔ Những quan hệ xã hội mang tính chất chấp hành và điều hành phát sinh trong hoạt động của CQNN khác và TCXH được nhà nước trao quyền thực hiện hoạt động QLNN
Phương pháp điều chỉnh của luật hành chính
Phương pháp điều chỉnh của một ngành luật là tổng hợp những biện pháp cách thức mà ngành luật đó sử dụng để tác động đến ý chí và thông qua ý chí đến hành
vi của các bên tham gia các quan hệ xã hội do ngành luật đó điều chỉnh
Có 2 phương pháp điều chỉnh trong luật hành chính là pp mệnh lệnh phục tùng
và phương pháp thoả thuận
phương pháp mệnh lệnh phục Tùng là Phương pháp điều chỉnh đặc trưng của
ngành luật hành chính
Trang 20- Vị trí: giữ vai trò chủ đạo
- Cơ sở: Xuất phát từ bản chất mối quan hệ quản lý
➔ Muốn quản lý được thì nhà nước phải trao cho chủ thể quản lý một số quyền lực nhất định, mà quyền lực luôn lấy phục tùng làm tiền đề để tồn tại
➔ Bản chất của quan hệ QLNN là việc xác nhận sự không bình đẳng giữa các bên tham gia quan hệ quản lý
- Biểu hiện:
➔ Trong quan hệ pháp luật hành chính luôn có một bên nhân danh nhà nước
ra các mệnh lệnh chỉ thị đơn phương buộc bên kia phải thi hành nếu không thi hành sẽ chịu sự cưỡng chế của nhà nước
➔ Bên kia có nghĩa vụ thi hành mệnh lệnh chỉ thị đó
➔ Việc khiếu nại tố cáo các QĐHC, HVHC không làm ảnh hưởng đến hiệu lực của thi hành QĐHC và cưỡng chế NN
Phương pháp thỏa thuận chủ yếu áp dụng trong nhóm quan hệ mang tính dịch
vụ công
đầu tiên chúng ta tìm hiểu dịch vụ công là gì
Dịch vụ công là những dịch vụ do nhà nước thực hiện hoặc ủy quyền cơ quan khác thực hiện để phục vụ cộng đồng, nhằm bảo đảm những nhu cầu thiết yếu, cần thiết nhất của con người trong cuộc sống thường ngày
Tại Việt Nam, dịch vụ công được chia thành 03 loại như sau:
- Dịch vụ công trong lĩnh vực sự nghiệp gồm các hoạt động cung cấp phúc lợi xã hội thiết yếu cho người dân như: giáo dục, văn hóa, khoa học, chăm sóc sức khỏe, thể dục thể thao, bảo hiểm, an sinh xã hội,…
- Dịch vụ công trong lĩnh vực công ích là các hoạt động cung cấp hàng hóa, dịch vụ cơ bản, thiết yếu cho người dân và cộng đồng như: vệ sinh môi
Trang 21trường, xử lý rác thải, cấp nước sạch, vận tải công cộng đô thị, phòng chống thiên tai…
- Dịch vụ công trong lĩnh vực hành chính nhà nước hay còn gọi là dịch vụ hành chính công như cấp giấy phép, giấy chứng nhận, đăng ký, công chứng, thị thực, hộ tịch,…
tiếp theo chúng ta sẽ đi sâu tìm hiểu phương pháp thoả thuận
Vị trí: Phương pháp thỏa thuận có xu hướng ngày càng mở rộng khi chuyển từ
hình chín cây chị sang nền hành chính phục vụ
Cơ sở: Quan hệ theo chiều ngang thì các chủ thể có vị trí pháp lý ngang nhau
Ngân hành chính không những có chức năng quản lý cai trị mà còn có chức năng phục vụ đòi hỏi phương pháp điều chỉnh khả năng động và mềm dẻo hơn
Biểu hiện: Thường được áp dụng trong các quan hệ chiều ngan các bên tham gia
quan hệ có quyền bình đẳng nhất định tự do ý chí cùng nhau thỏa thuận để đi
đến quyết định chung được thể hiện trong hợp đồng HC
4 Vai trò của Luật hành chính Việt Nam
LHCVN là một ngành luật về QLNN, đóng một vai trò hết sức quan trọng trong
Về phương diện kinh tế
- Đóng vai trò quan trọng trong việc xây dựng, phát triển nền kinh tế quốc dân;
- Thúc đẩy các lĩnh vực kinh tế phát triển đồng bộ nâng cao đời sống nhân dân
Về phương diện XH
Trang 22- Tăng cường bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của công dân, của tập thể, của nhà nước;
- Hướng tới mục tiêu cao cả nhất của thể chế hành chính, đồng thời cũng là bản chất của chế độ XHCN là phục vụ cho nhân dân và "công bộc" của nhân dân
Phần chung của LHC Việt Nam gồm các nhóm quy phạm quy định:
+ Những nguyên tắc cơ bản của quản lý hành chính nhà nước;
+ Địa vị pháp lý của các cơ quan hành chính nhà
nước, hình thức và phương pháp quản lý cũng như văn bản quản lý;
+ Địa vị pháp lý của cán bộ, công chức và hoạt động công vụ;
+ Quy chế pháp lý hành chính của các tổ chức xã hội;
+ Quy chế pháp lý hành chính của cá nhân;
+ Trách nhiệm hành chính, thủ tục hành chính và tài phán hành chính;
+ Những biện pháp pháp lý bảo đảm pháp chế trong QLHCNN;
- Phần riêng của LHC Việt Nam gồm các nhóm quy phạm quy định về:
+ Hoạt động quản lý chức năng như tài chính, kế hoạch, đầu tư, thống kê, + Hoạt động quản lý ngành như công nghiệp nông nghiệp, GTVT, thương mại, văn hoá, giáo dục, quốc phòng, tư pháp,
6 Luật hành chính trong tương quan với các ngành luật khác thuộc hệ thống pháp luật Việt Nam
Luật HC với luật Dân sự
Trang 23Phương pháp điều chỉnh chủ yếu của lực nhân sự làm bình đẳng hết thuận phương pháp điều chỉnh của luật hành chính là mệnh lệnh đơn phương trong quan hệ pháp luật dân sự các chủ thể bình đẳng về quyền và nghĩa vụ trong quan
hệ pháp luật hành chính Việt Nam các chủ thể không bình đẳng về nghĩa vụ một bên có quyền khai lợi còn bên kia phải có nghĩa vụ phục Tùng
Đối tượng của luật hành chính Việt Nam là các quan hệ xã hội phát sinh trong lĩnh vực chấp hành điều hành; trong một số trường hợp 2 ngành luật này cũng có đối tượng là những quan hệ tài sản.Nhưng ở góc độ khác nhau luật dân sự quy định nội dung về quyền sở hữu những hình thức chuyển nhượng sử dụng định đoạt tài sản, Luật hành chính Việt Nam quy định những vấn đề như thẩm quyền giải quyết và Thủ tục cấp phát thu hồi vốn quy định thẩm quyền giải quyết của các cơ quan hành chính nhà nước đối với việc quản lý nhà vắng chủ trưng dụng trưng mua tài sản quản lý việc cho thuê nhà của nhà nước tổ chức hoặc cá nhân Mặc khác, trong nhiều trường hợp, các cơ quan QLNN cũng tham gia trực tiếp vào quan hệ pháp luật dân sự Nhưng ở đây, các cơ quan đó không hoạt động với
tư cách trực tiếp thực hiện chức năng QLNN, mà tham gia với tư cách là một pháp nhân, do vậy không thuộc đối tượng điều chỉnh của LHC
Luật HC với luật HS
Hai ngành luật này đều có các chế định pháp lý quy định hành vi VPPL và các hình thức xử lý đối với người vi phạm Luật hình sự quy định về tội phạm và hình phạt luật hành chính quy định về các vi phạm hành chính các hình thức xử phạt vi phạm hành chính vào vấn đề có liên quan tới việc xử lý đối với cá nhân
Trang 24vi nêu trên nếu được thực hiện lần đầu với số lượng không lớn thì là vi phạm hành chính, còn nếu với số lượng lớn hoặc đã bị xử lý hành chính mà còn tái phạm thì đó là tội phạm
Ngoài ra 2 ngành luật có sự liên kết với nhau chặt chẽ ở nhiều chỗ như:
● Trong một số trường hợp vi phạm hành chính có thể dẫn tới phải chịu trách nhiệm hình sự
Luật hình sự quy định hành vi nào là tội phạm, hình phạt nào áp dụng cho hành
vi phạm tội, điều kiện, thủ tục áp dụng Để xác định hành vi nào thuộc đối tượng điều chỉnh của luật hình sự cần phải xem xét các yếu tố cấu thành của tội phạm về mặt chủ quan, khách quan, chủ thể, khách thể Thêm nữa, luật hình sự phân biệt với luật hành chính ở tính chất hành vi có tính chất nguy hiểm cao, mức độ thiệt hại lớn hơn Thiệt hại đề cập ở đây bao gồm cả thiệt hại về vật chất hoặc thiệt hại phi vật chất Còn luật hành chính lại quy định về các hành vi
vi phạm hành chính, các hình thức
xử lý vi phạm hành chính và các vấn đề khác liên quan đến việc xử lý đối với
cá nhân, tổ chức vi phạm hành chính Sự khác nhau giữa hai ngành luật này là
ở tính chất, mức độ của hành vi vi phạm
Cũng cần nhấn mạnh thêm rằng, các hình thức xử phạt vi phạm hành chính không phải là hình phạt vi phạm hành chính mà là chế tài đối với vi phạm hành chính Trong hệ thống pháp luật Việt Nam, “tội phạm” và “hình phạt” chỉ được quy định và áp dụng duy nhất trong luật hình sự
Trang 25Luật HC với luật HP
Hiến pháp điều chỉnh những quan hệ xã hội quan trọng gắn liền với việc xác định chế độ chính trị kinh tế văn hóa xã hội chính sách đối ngoại và an ninh quốc phòng, địa vị pháp lý của công dân, tổ chức và hoạt động của bộ máy nhà nước Như vậy phạm vi điều chỉnh của luật hiến pháp rộng hơn điều phạm vi điều chỉnh của luật hành chính Việt Nam
Là cơ sở ban hành các quy phạm hành chính, có nhiều quan hệ xã hội đồng thời được điều chỉnh bởi các quy phạm luật hiến pháp và các quy phạm luật hành chính Các quy phạm luật hiến pháp quy định những vấn đề chung và
cơ bản còn vi phạm luật hành chính Việt Nam cụ thể hóa quy phạm luật hiến pháp để điều chỉnh các quan hệ xã hội phát sinh trong quá trình hoạt động chấp hành điều hành của nhà nước
Nói cách khác , các quy phạm luật hiến pháp quy định về tổ chức và hoạt động của bộ máy nhà nước trong trạng thái tĩnh , còn các quy phạm luật hành chính quy định về tổ chức và hoạt động của bộ máy nhà nước trong trạng thái động
Trang 26Hiệu lực Có hiệu lực pháp lý khác nhau
Thường nằm trong các văn bản dưới luật Và sẽ không có hiệu lực nếu trái với hiến pháp, văn bản cơ quan cấp trên
Có hiệu lực pháp lý cao hơn Chủ yếu nằm trong văn bản luật
Đối tượng
điều chỉnh
Những quan hệ xã hội phát sinh trong quá trình quản lý hành chính nhà nước theo phương pháp mệnh lênh đơn phương
Những quan hệ xã hội
cơ bản nhất trong nhiều lĩnh vực
Nội dung Xác định thẩm quyền quản lý hành
chính nhà nước Quy định các quyền
và nghĩa vụ pháp lý hành chính của đối tượng quản lý hành chính nhà nước
Quy định cơ cấu tổ chức, mối quan hệ công tác của các cơ quan, tổ chức cá nhân trong quá trình thực hiện quản lý hành chính nhà nước Quy định thủ tục hành chính Quy định vi phạm hành chính Quy định các biện pháp khen thưởng và cưỡng chế hành chính
Xác lập những nguyên tắc pháp lý mang tính quyền lực nhà nước, mang tính chung chung, không xác định quyền và nghĩa vụ cụ thể cho chủ thể quan hệ pháp luật hiến pháp
Luật HC với luật Tố tụng hành chính
Luật Hành chính Việt Nam quy định thẩm quyền và thủ tục giải quyết các khiếu nại hành chính Thủ tục giải quyết các khiếu nại hành chính do Luật Hành chính Việt Nam quy định là thủ tục hành chính Luật Tố tụng hành chính quy định thẩm quyền và thủ tục giải quyết một số loại khiếu kiện hành chính Thủ tục giải quyết khiếu kiện hành chính do Luật Tố tụng hành chính quy định
là thủ tục tố tụng
Trang 277 Khái niệm, đặc điểm quy phạm pháp luật hành chính
QPPLHC là 1 dạng cụ thể của QPPL, được ban hành để điều chỉnh các quan hệ
xã hội phát sinh trong quá trình QLHCNN Gồm chủ thể có thẩm quyền QLHCNN và cơ quan, cá nhân, tổ chức trong xã hội
Cá nhân, CQNN ban hành cụ thể là:
Quốc hội => Luật, nghị quyết
Ủy ban thưởng vụ quốc hội => pháp lệnh, nghị quyết
Ủy ban nd các cấp => quyết định
Nội dung điều chỉnh: các QHXH phát sinh trong quá trình QLHCNN
➔ Thẩm quyền của các chủ thể như UBND các cấp, bộ trưởng
➔ Địa vị pháp lý của các chủ thể như quyền và nghĩa vụ của chủ tịch UBND cấp huyện và cá nhân
➔ Thủ tục hành chính cần thiết cho việc thực hiện quyền và nghĩa vụ pháp
lý của các bên trong quan hệ HCNN như thủ tục cấp giấy đăng ký kết hôn, thủ tục khiếu nại tố cáo
➔ Các biện pháp khen thưởng và cưỡng chế đối với các đối tượng QLHCNN như cảnh cáo, phạt tiền, giấy khen bằng khen,
Đặc điểm:
➔ Tính bắt buộc chung
Trang 28Giống như các quy phạm pháp luật khác, quy phạm pháp luật hành chính có hiệu lực bắt buộc thi hành đối với các đối tượng có liên quan và được bảo đảm thực hiện bằng sự cưỡng chế nhà nước Những quy phạm này xác định hành vi của các đối tượng có liên quan: được làm gì, không được làm gì và làm như thế nào Các quy tắc xử sự này được ban hành theo thủ tục, trình tự chặt chẽ theo pháp luật Khi có một quan hệ pháp luật hành chính cụ thể tương ứng phát sinh, quy tắc xử sự chung trên sẽ là căn cứ để ra văn bản áp dụng Tuy vậy, dù có hay chưa
có văn bản áp dụng, quy phạm pháp luật trên vẫn tồn tại và không mất đi giá trị pháp lý trừ khi hết hiệu lực
➔ Áp dụng nhiều lần
quy phạm pháp luật HC được thực hiện nhiều lần trong thực tế đời sống, được
áp dụng khi có sự kiện pháp lý xảy ra; được tất cả thành viên xã hội hoặc cá nhân, cơ quan nhà nước, tổ chức có liên quan thực hiện nhiều lần cho tới khi nó
bị đình chỉ hoặc bị sửa đổi hoặc bị bãi bỏ một phần hay toàn bộ bởi cơ quan nhà nước có thẩm quyền
Ví dụ: Anh C điều khiển xe mô tô khi tham gia giao thông nhưng không đội mũ bảo hiểm Hành vi của anh C là hành vi vi phạm hành chính trong lĩnh vực giao thông đường bộ và sẽ bị phạt tiền căn cứ theo luật giao thông
➔ Nội dung điều chỉnh là các quan hệ pháp luật trong lĩnh vực QLHCNN
➔ QPPLHC được ban hành bởi cơ quan nhà nước, cá nhân có thẩm quyền theo trình tự thủ tục do luật định
Ví dụ: Pháp lệnh xử lý vi phạm hành chính được Uớy ban thường vụ Quốc hội thông qua ngày 6/7/1995 quy định một cách chung nhất về vấn đề xử lý vi phạm hành chính Dựa trên những quy định chung này, Chính phủ ban hành một loạt các văn bản quy phạm pháp luật hành chính quy định cụ thể về xử lý vi phạm hành chính trong từng lĩnh vực khác nhau, đó là các Nghị định số 87, 88/CP ngày 12/12/1995 quy định về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực văn hóa-xã hội; Nghị định số 01/CP ngày 3/1/1996 quy định về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực thương mại v.v
Trang 29➔ QPPLHC có số lượng nhiều và phạm vi điều chỉnh rất rộng Cuất phát từ những lý do sau:
- Lĩnh vực điều chỉnh của quy phạm pháp luật hành chính là rất đa dạng toàn diện trong hoạt động QLHCNN
- do việc điều chỉnh quan hệ pháp luật hành chính thường xuyên thay đổi theo thực tế khách quan của lĩnh vực hành chính nên đòi hỏi sự điều chỉnh kịp thời đảm bảo tính liên tục trong hoạt động hành chính nhà nước do đó đó QPPLHC thường xuyên sửa đổi
bổ sung hoặc ban hành mới tạo nên số lượng QPPLHC rất lớn
8 Vai trò của quy phạm pháp luật hành chính
- Quy phạm pháp luật hành chính là phương tiện tác động lên nhận thức - hành
vi của đối tượng quản lý QPPLHC đặt ra chuẩn mực, giới hạn của hành vi xử
sự, đặt ra các quy định ngăn cấm, cho phép, trao quyền để giáo dục, để mọi người tự giác thực hiện Mặt khác, quy phạm pháp luật hành chính dự kiến các chế tài có thể áp dụng đối với các cơ quan, tổ chức và cá nhân có liên quan Quy phạm pháp luật hành chính là cơ sở pháp lý để các cơ quan nhà nước có thẩm quyền xác định trách nhiệm của các chủ thể tham gia quy phạm pháp luật hành chính
- QPPLHC tạo thành nền tảng pháp lý cho việc tổ chức và hoạt động của hệ thống hành chính nhà nước cũng như cho quá trình thực thi công vụ của cán
bộ, công chức, viên chức nhà nước Đó cũng là cơ sở để xem xét, đánh giá về tính hợp pháp trong quá trình hoạt động của các chủ thể này Quy phạm pháp luật hành chính là phương tiện quan trọng nhất để cơ quan hành chính nhà nước, cán bộ, công chức nhà nước có thẩm quyền tiến hành các hình thức và phương pháp quản lý phù hợp
Quản lý nhà nước là một loại hoạt động mang tính chủ động, sáng tạo và cũng
là hoạt động đa dạng, phức tạp diễn ra trên mọi lĩnh vực của đời sống xã hội, liên quan đến việc thực hiện quyền, nghĩa vụ hành chính của mọi tổ chức, cá nhân Quy phạm pháp luật hành chính đã góp phần vào việc đảm bảo cho hoạt động đó
Trang 30diễn ra bình thường, nhịp nhàng, có sự phối hợp chặt chẽ giữa các chủ thể quản
lý nhà nước Đối với đời sống xã hội, quy phạm pháp luật hành chính đóng vai trò quan trọng trong việc duy trì trật tự quản lý nhà nước, góp phần tích cực vào việc tăng cường hiệu lực quản lý nhà nước
- Đối với cá nhân, quy phạm pháp luật hành chính cũng chính là cơ sở pháp lý
để tham gia vào quản lý nhà nước với những hình thức ngày càng phong phú, như trực tiếp thực hiện các quyền và nghĩa vụ công dân hoặc thông qua các tổ chức xã hội với tư cách là thành viên của tổ chức đó; hoặc tham gia các phong trào quần chúng ở cơ sở Quy phạm pháp luật hành chính định ra những cơ chế
để đảm bảo cho các quyền tự do dân chủ của nhân dân trong quản lý nhà nước được thực hiện tốt trên thực tế
Từ những phân tích trên, có thể kết luận rằng: hệ thống quy phạm pháp luật hành chính là cơ sở để giải quyết đúng đắn các mối quan hệ giữa cơ quan hành chính nhà nước với các cơ quan nhà nước khác; giữa các cơ quan hành chính nhà nước với nhau; giữa cơ quan hành chính nhà nước với tổ chức, cá nhân; đồng thời góp phần ngăn chặn các hành vi vi phạm pháp luật từ phía các cơ quan nhà nước, tổ chức và cá nhân
9 Cơ cấu của quy phạm pháp luật hành chính
- giả định là những hoàn cảnh, điều kiện có thể xảy ra trong đời sống xã hội mà quy phạm pháp luật HC sẽ tác động đối với những chủ thể nhất định
Xuất phát từ đặc điểm của quản lý hành chính nhà nước là hoạt động đa dạng, phức tạp, phát sinh trên mọi lĩnh vực của đời sống xã hội và là hoạt động mang tính chủ động sáng tạo, nên trong nhiều trường hợp, bộ phận giả định chỉ mang tính xác định tương đối Nếu quy định cụ thể, chi tiết về các chủ thể, điều kiện, hoàn cảnh thì đó sẽ là yếu tố làm hạn chế tính chủ động, sáng tạo trong công tác quản lý điều hành
Ví dụ: "Trường hợp vi phạm hành chính về an toàn thực phẩm; chất lượng sản phẩm, hàng hóa; dược; khám bệnh, chữa bệnh; lao động; xây dựng; bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế; bảo vệ môi trường; thuế; chứng khoán; sở hữu trí tuệ; đo
Trang 31lường; sản xuất, buôn bán hàng giả mà gây hậu quả lớn hoặc gây ảnh hưởng xấu
về dư luận xã hội thì " (Khoản 1 Điều 72 Luật xử lý vi phạm hành chính năm 2012)
- Quy định là một bộ phận của quy phạm pháp luật HC nêu lên những quy tắc
xử sự mà các chủ thể có thể hoặc buộc phải tuân theo khi ở vào điều kiện, hoàn cảnh đã nêu ra trong phần giả định của QPPLHC
Quy định là bộ phận đặc trưng nhất thể hiện ý chí của Nhà nước trong việc tác động đến nhận thức, hành vi của các chủ thể trong quan hệ pháp luật hành chính Nếu thiếu bộ phận quy định thì các tổ chức, cá nhân không thể hình dung được mình phải xử sự như thế nào mới phù hợp với ý chí của Nhà nước Đặc trưng của nội dung quy phạm pháp luật hành chính là tính mệnh lệnh, điều này thể hiện
rõ nét trong quy định của quy phạm pháp luật hành chính
Ví dụ: "Người có thẩm quyền xử phạt vi phạm hành chính phải ra
quyết định xử phạt vi phạm hành chính trong thời hạn 07 ngày, kể từ ngày lập biên bản vi phạm hành chính " (Khoản 1 Điều 66 Luật xử lý vi phạm hành chính 2012)
- chế tài là những hậu quả bất lợi mà cá nhân, tổ chức phải gánh chịu do không thực hiện đúng phần quy định của quy phạm pháp luật hành chính
Trong đa số các trường hợp, chế tài quy phạm pháp luật hành chính mang tính xác định tương đối, tức là quy phạm pháp luật hành chính đặt ra giới hạn tối thiểu và tối đa đối với mỗi hành vi vi phạm hành chính cụ thể Trong một số ít trường hợp, chế tài quy phạm pháp luật hành chính mang tính xác định Đó là trường hợp vi phạm hành chính, theo quy định, chỉ bị áp dụng hình thức xử lý xác định
10 Hiệu lực của quy phạm pháp luật hành chính
- Về không gian là nói đến phạm vi lãnh thổ mà văn bản đó tác động tới
Nguyên tắc chung quy phạm pháp luật hành chính do các cơ quan nhà nước ở Trung ương ban hành thì có hiệu lực trong phạm vi toàn quốc, quy phạm
Trang 32pháp luật hành chính do cơ quan nhà nước ở địa phương ban hành có hiệu lực trong phạm vi địa phương trên cơ sở địa giới hành chính Hiệu lực về không gian của quy phạm pháp luật hành chính có thể được xác định trong từng văn bản cụ thể, giới hạn phạm vi hiệu lực áp dụng riêng cho văn bản đó
- về thời gian: Là thời điểm phát sinh thời điểm bị đình chỉ thi hành và thời điểm
chấm dứt hiệu lực của quy phạm pháp luật hành chính hiệu lực của văn bản thường quy định ở chương cuối cùng của Văn bản đó
Việc quy định thời điểm có hiệu lực của văn bản in phải đảm bảo đủ thời gian để công chúng có điều kiện tiếp cận văn bản các đối tượng khi hàng có điều kiện chuẩn bị thi hành văn bản hiệu lực của văn bản sẽ được quy định tại luật ban hành văn bản QPPL năm 2008 và luật ban hành văn bản của HĐND, UNND năm 2004
Trong trường hợp quy phạm pháp luật hành chính bị đình chỉ thi hành thì quy phạm pháp luật hành chính đó sẽ ngừng hiệu lực thi hành sau đó văn bản tiếp tục có hiệu lực Nếu không bị hủy bỏ hoặc hết hiệu lực khi bị hủy bỏ bỏ trong Thời Gian Ngừng hiệu lực không áp dụng các quy phạm pháp luật đã bị đình chỉ thi hành để giải quyết các quan hệ xã hội nằm trong phạm vi điều chỉnh của văn bản đó việc chấm dứt hiệu lực của quy phạm pháp luật hành chính hiện nay tuân theo quy định tại điều 81 luật ban hành VBQPPL năm 2008 và Điều
53 luật ban hành VBQPPL của HĐND và UBND năm 2004
- về đối tượng áp dụng là phạm vi các cơ quan nhà nước, tổ chức và cá nhân có
trách nhiệm thi hành văn bản đó
Có những văn bản trong đó chứa đựng quy phạm pháp luật hành chính có hiệu lực đối với mọi đối tượng kể cả cá nhân và tổ chức, với công dân Việt Nam
và cả người nước ngoài (ví dụ quy định về quản lý hành chính trong lĩnh vực an toàn giao thông đường bộ, an ninh trật tự, an toàn xã hội, y tế, môi trường ) Cũng có những quy định chỉ áp dụng đối với một nhóm đối tượng nhất định như Luật cán bộ, công chức; Luật viên chức; Luật sĩ quan quân đội nhân dân Việt
Trang 33Nam Thông thường, các văn bản quy phạm pháp luật hành chính sẽ ghi rõ đối tượng tác động điều chỉnh ở những điều đầu tiên của văn bản
11 Hệ thống hóa nguồn của luật hành chính
Tình hình trên dẫn đến thực tế thường gặp phải là các văn bản nguồn của luật hành chính chồng chéo nhau, mâu thuẫn, hoặc nhiều vấn đề không được điều chỉnh Điều này cản trở sự thi hành, áp dụng các quy phạm pháp luật hành chính, gây ra những hạn chế không nhỏ trong việc bảo đảm pháp chế xã hội chủ nghĩa và kỷ luật trong quản lý nhà nước Vì vậy, việc hệ thống hóa các quy định của luật hành chính là việc vô cùng cấp thiết Hệ thống hóa được thực hiện theo hai cách chính: tập hợp hóa và pháp điển hoá
Tập hợp hóa
Ở nước ta, “Công báo” là ấn phẩm chính thức công bố tất cả các cơ quan nhà nước cấp trung ương, ra theo định kỳ phù hợp với thời gian ban hành văn bản Theo luật ban hành văn bản quy phạm pháp luật 2008, văn bản của trung ương (ngoại trừ trong trường hợp khẩn cấp) phải được đăng công báo Ngoại trừ trường hợp khẩn cấp hặc thuộc bí mật nhà nước,
các văn bản của trung ương nếu không được đăng công báo thì không có hiệu lực thi hành (Điều 78, Luật ban hành văn bản QPPL 2008) Ở địa phương, hội đồng nhân dân và Ủy ban nhân dân mỗi tỉnh cũng có ấn phẩm riêng chính thức
để công bố theo định kỳ các văn bản của mình Riêng văn bản cấp huyện, xã thì phải được công khai niêm yết
Tuy nhiên, ấn phẩm “công báo” là hình thức công bố chính thức văn bản pháp luật, không phải là kết quả công tác tập hợp hóa Hiện tại, công tác tập hợp hoá nguồn của luật hành chính nếu có là những tập sách: “Quản lý nhà nước trong lĩnh vực xây dựng”, “Quản lý nhà nước trong lĩnh vực quy hoạch”; “Xử lý vi phạm hành chính” Dù đã có xuất bản đa
dạng và có một số sách khá công phu, song đây là sự tập hợp hoá không chính thức Từ đó cho thấy, công tác tập hợp hoá vẫn chưa được quan tâm đúng mức
Trang 34Vì vậy, các quy phạm luật hành chính phải luôn thay đổi, phát triển và hoàn thiện Với lý do đó, trên thực tế, ta chỉ có thể thấy việc pháp điển hóa được tiến hành đối với từng vấn đề, từng loại chế định hoặc từng lĩnh vực Ví dụ, Pháp lệnh xử lý vi phạm hành chính 2002, Luật giao thông đường bộ vv
Nhìn chung, đối với ngành luật hành chính, công tác pháp điển hóa ở nước ta còn chậm, chưa đồng bộ Trong khi đó, nhiều nước trên thế giới đã có bộ luật về trách nhiệm hành chính, bộ luật về thủ tục hành chính
Ví dụ: Luật Hành chính Hà lan (Awb- General Administrative Law Act) được pháp điển hoá từ năm 1994 và được sửa đổi, bổ sung năm 1998 Trong đó, có một số nội dung có tính chất nguyên tắc như: thẩm quyền hành chính nhà nước, phân cấp, phân quyền, tản quyền ; thủ tục hành chính, chế định cưỡng chế; quyền được phản kháng quyết định hành chính và được bảo vệ bằng các chế định pháp lý Trong đó, có một điểm nổi bật đáng bàn luận là Toà hành chính (Council
of State) là cơ quan độc lập với cơ quan quản lý nhà nước (độc lập với nội các, Chính phủ) và trên thực tế giải quyết được hầu hết các khiếu kiện của nhân dân
và có tác động tích cực trong quản lý hành chính nhà nước
12 Thực hiện quy phạm pháp luật hành chính
Là việc các cơ quan, cá nhân, tổ chức thực hiện các quyền và nghĩa vụ của mình trên cơ sở các QPPLHC
Trang 35- Chấp hành QPPLHC: là việc cơ quan tổ chức, cá nhân làm theo đúng những quy tắc hành vi hoặc nghĩa vụ đã được QPPLHC xác định Có 3 TH
➢ Cơ quan tổ chức, cá nhân làm theo đúng các QPPLHC cho phép, lựa chọn, trao quyền hoặc khuyến khích
➢ Cơ quan tổ chức, cá nhân làm theo đúng những quy định QPPLHC yêu cầu bắt buộc phải làm
➢ Cơ quan tổ chức, cá nhân không thực hiện những hành vi mà QPPLHC cấm
Ví dụ: Thực hiện nghĩa vụ đăng ký tạm trú, tạm vắng theo quy định của pháp luật
- Áp dụng QPPLHC: là việc Cơ quan tổ chức, cá nhân có thẩm quyền căn cứ vào các quy định của pháp luật giải quyết các công việc cụ thể phát sinh trong quá trình QLHCNN
Khi áp dụng quy phạm pháp luật hành chính, các chủ thể quản lý hành chính nhà nước đơn phương ban hành các quyết định hành chính hay thực hiện các hành vi hành chính để tổ chức việc thực hiện pháp luật một cách trực tiếp đối với các đối tượng quản lý thuộc quyền Do đó, áp dụng quy phạm pháp luật hành chính là
sự kiện pháp lý trực tiếp làm phát sinh, thay đổi hay chấm dứt một số quan hệ pháp luật cụ thể
Việc áp dụng quy phạm pháp luật hành chính phải đáp ứng những yêu cầu pháp
lý nhất định để đảm bảo hiệu lực quản lý của nhà nước và các quyền, lợi ích hợp pháp của các cơ quan, tổ chức, cá nhân Những yêu cầu đó là
➢ Đúng nội dung mục đích
➢ Đúng thẩm quyền
➢ Đúng trình tự thủ tục
➢ Đảm bảo nhanh chóng kịp thời, công bằng, công khai
13 Khái niệm, đặc điểm quan hệ pháp luật hành chính
Trang 36QHPLHC là những quan hệ XH phát sinh trong lĩnh vực QLHCNN, được điều chỉnh bởi các QPPLHC giữa 2 chủ thể có quyền và nghĩa vụ đối nhau theo quy định của PLHCVN
➢ Một bên chủ thể trong QHPLHC được sử dụng quyền lực NN
VD: Trong quan hệ cấp giấy đăng ký xe máy, chủ thể đặc biệt là công an quận/huyện, chủ thể thường là người đi xin cấp giấy đăng ký xe; Trong quan hệ giữa Bộ Giáo dục và bộ Tư pháp về việc tuyển sinh trong năm học mới, Bộ Giáo dục là chủ thể đặc biệt, Bộ Tư pháp là chủ thể thường (Bộ Tư pháp phải xin ý kiến bộ Giáo dục về chỉ tiêu tuyển sinh)
➢ Có thể phát sinh do yêu cầu hợp pháp của một bên
VD: Quan hệ về kiểm tra giữa cơ quan hành chính nhà nước cấp trên với cơ quan hành chính nhà nước cấp dưới quan hệ giải quyết khiếu nại quan hệ áp dụng cưỡng chế hành chính,
➢ Phần lớn tranh chấp phát sinh được giải quyết theo thủ tục hành chính Cũng như các công việc khác trong lĩnh vực quản lí hành chính nhà nước, các tranh chấp phát sinh trong quan hệ pháp luật hành chính cần phải được giải quyết theo thủ tục hành chính Tuy nhiên, do tính chất và yêu cầu giải quyết một số tranh chấp phát sinh trong quan hệ pháp luật hành chính mà việc giải quyết chúng còn có thể được thực hiện theo thủ tục tố trước Nhà nước Tất nhiên, không phải trong mọi trường hợp chủ thể vi phạm yêu cầu của pháp luật hành chính đều phải chịu cùng một loại trạch nhiệm pháp lí trước Nhà nước Tuỳ thuộc vào việc hành
vi trái pháp luật hành chính cấu thành loại vi phạm pháp luật nào mà Nhà nước
Trang 37sẽ truy cứu trách nhiệm hình sự, hành chính, kỉ luật nhà nước đối với người vi phạm, nếu gây thiệt hại thì phải bồi thường
➢ Cả 2 bên chủ thể khi vi phạm yêu cầu của PLHC phải chịu trách nhiệm pháp lý trước NN chứ không phải bên kia
VD: Khi xử phạt vi phạm hành chính, nếu cảnh sát giao thông xử phạt sai quy định sẽ phải chịu trách nhiệm trước pháp lý về hành vi của mình Còn nếu người
bị xử phạt không chấp hành đúng thì cũng bị cưỡng chế thực hiện hoặc xử lý
tương ứng
14 Cơ cấu quan hệ pháp luật hành chính
Cũng giống như mọi quan hệ pháp luật khác, quan hệ PLHC bao gồm ba yếu tố: chủ thể, khách thể và nội dung quan hệ
a) Chủ thể quan hệ pháp luật hành chính
Là các bên tham gia vào quan hệ có năng lực chủ thể, mang quyền và nghĩa vụ đối với nhau theo quy định của pháp luật hành chính Bao gồm: các cơ quan nhà nước, các tổ chức và cá nhân
Để trở thành chủ thể của quan hệ pháp luật hành chính, cơ quan nhà nước, tổ chức và cá nhân tham gia quan hệ phải có năng lực chủ thể, bao gồm: năng lực pháp luật hành chính và năng lực hành vi hành chính
+ Năng lực pháp luật hành chính là khả năng mà Nhà nước thừa nhận cho
các cơ quan nhà nước, tổ chức cá nhân có quyền và nghĩa vụ pháp lý hành chính Đối với cá nhân, năng lực pháp luật hành chính là khả năng cá nhân được hưởng quyền và phải thực hiện nghĩa vụ trong quản lý hành chính nhà nước do pháp luật hành chính quy định
+ Năng lực hành vi hành chính là khả năng của các cơ quan nhà nước, tổ
chức và cá nhân được Nhà nước thừa nhận bằng hành vi của mình thực hiện các quyền và nghĩa vụ pháp lý của chủ thể Đối với cá nhân, cá nhân chỉ được coi là có năng lực hành vi nếu trước hết họ là người bình thường
về sức khỏe (Không mắc bệnh tâm thần hoặc những bệnh làm mất khả năng nhận thức và điều khiển hành vi), tiếp đến là họ đạt được đến một
độ tuổi nhất định Tuy nhiên , năng lực hành vi hành chính của các cá nhân là khác nhau, tuỳ thuộc và các quan hệ pháp luật hành chính nhất định
Đối với cơ quan nhà nước, tổ chức , năng lực chủ thể được xác định từ thời điểm cơ quan, tổ chức được thành lập hoặc thừa nhận hợp pháp Năng lực hành
Trang 38vi của cơ quan, tổ chức được thể hiện thông qua năng lực của người đứng đầu, người đại diện
c) Nội dung quan hệ pháp luật hành chính
Nội dung quan hệ pháp luật hành chính bao gồm: quyền và nghĩa vụ của các chủ thể tham gia quan hệ pháp luật hành chính
+ Quyền chủ thể là khả năng của các chủ thể được xử sự theo cách thức
nhất định mà pháp luật hành chính cho phép, bao gồm: được làm, phải làm hoặc có thể không làm những công việc, những hành vi mà pháp luật hành chính cho phép
+ Nghĩa vụ pháp lý của chủ thể quan hệ pháp luật hành chính thông
thường là bắt buộc phải làm các công việc, thực hiện các hành vi mà pháp luật hành chính yêu cầu
Câu 15: Căn cứ phát sinh, thay đổi, chấm dứt quan hệ pháp luật hành chính
Cơ sở làm phát sinh, thay đổi, hoặc chấm dứt quan hệ pháp luật hành chính bao gồm: Quy phạm pháp luật hành chính, sự xuất hiện của chủ thể tương ứng
là cơ quan, tổ chức, cá nhân có liên quan và sự kiện pháp lý
1.Sự tồn tại của quy phạm pháp luật hành chính:
Quy phạm pháp luật hành chính: là những quy tắc , xử sự mang tính bắt buộc
do nhà nước đặt ra hoặc thừa nhận nhằm điều chỉnh các quan hệ xã hội nảy sinh trong lĩnh vực quản lý hành chính nhà nước theo mục tiêu và định hướng cụ thể Đây được xem là điều kiện tiên quyết có tính chất làm phát sinh, thay đổi, chấm dứt một quan hệ pháp luật hành chính Bởi:
+ Một quan hệ xã hội muốn trở thành quan hệ pháp luật thì trước tiên nó phải được quy phạm phạm luật điều chỉnh
+ Trong lĩnh vực quản lý hành chính nhà nước, một quan hệ xã hội muốn trở thành một quan hệ pháp luật hành chính thì trước hết, nó phải được sự điều chỉnh của quy phạm pháp luật hành chính Nói cách khác,quy phạm pháp luật hành chính tạo cơ sở pháp lý cho tổ chức và hoạt động của cơ quan hành chính nhà nước, cho quá trình thực thi công vụ của cán bộ , công chức nhà nước , là cơ sở để xem xét đánh giá về tính hợp pháp trong quá trình hoạt động của các chủ thể của quan hệ pháp luật hành chính Bên cạnh đó còn là cơ chế để đảm bảo các quyền và lợi ích của công dân
Trang 39trong quá trình tham gia vào hoạt động chấp hành trong quản lý hành chính nhà nước
+ Quy phạm pháp luật hành chính là phương tiện tác động lên nhận thức - hành vi của đối tượng quản lý bằng cách đặt ra những chuẩn mực, giới hạn của hành vi xử sự, đặt ra các quy định ngăn cấm, cho phép, trao quyền Nội dung của quy phạm xác định rõ phạm vi của sự điều chỉnh, tác động Mỗi quy phạm pháp luật có ba bộ phận cơ bản: bộ phận giả định,
bộ phận quy định và bộ phận chế tài
+ Quản lý hành chính nhà nước được thực hiện bởi nhiều phương thức, dựa trên những công cụ, phương tiện khác nhau, đặc biệt là việc tạo ra các quy phạm pháp luật hành chính là phương tiện để điều chỉnh các quan hệ quản
lý hành chính nhà nước, là căn cứ pháp lý để các chủ thể quản lý hành chính nhà nước giải quyết các công việc cụ thể trong quá trình thực hiện chức năng chấp hành và điều hành Qua đó có thể thấy rằng: quan hệ pháp luật hành chính có tầm quan trọng đặc biệt đối với việc điều chỉnh các quan hệ xã hội phát sinh trong lĩnh vực quản lý hành chính nhà nước
2.Sự xuất hiện của chủ thể cụ thể, tương ứng với chủ thể mà quy phạm pháp luật hành chính đặt ra
Chủ thể của quan hệ pháp luật hành chính là các bên tham gia quan hệ pháp luật hành chính , gồm chủ thể quản lý và đối tượng quản lý
+ Chủ thể quản lý hay còn gọi là chủ thể bắt buộc, chủ thể mang thẩm quyền, mang quyền lực nhà nước Đó là các cơ quan hành chính nhà nước, các
cơ quan, tổ chức , cá nhân có thẩm quyền hay được uỷ quyền quản lý hành chính
+ Đối tượng quản lý thông thường là các cá nhân, tổ chức khác không mang quyền lực nhà nước, tham gia vào quan hệ pháp luật hành chính khi có sự
vi phạm pháp luật hành chính hay có những hành vi nhằm thực hiện quyền
và lợi ích của chính mình
Tuy nhiên, không phải bất cứ cơ quan quản lý hành chính, tổ chức, cá nhân nào cũng có thể là chủ thể tham gia vào quan hệ pháp luật hành chính Muốn thế,trước hết chủ thể phải có đủ năng lực pháp luật hành chính và năng lực hành
vi hành chính
+ Năng lực pháp luật hành chính là khả năng mà Nhà nước thừa nhận cho
các cơ quan nhà nước, tổ chức cá nhân có quyền và nghĩa vụ pháp lý hành chính Đối với cá nhân, năng lực pháp luật hành chính là khả năng cá nhân được hưởng quyền và phải thực hiện nghĩa vụ trong quản lý hành chính nhà nước do pháp luật hành chính quy định
+ Năng lực hành vi hành chính là khả năng của các cơ quan nhà nước, tổ
chức và cá nhân được Nhà nước thừa nhận bằng hành vi của mình thực
Trang 40hiện các quyền và nghĩa vụ pháp lý của chủ thể
Đối với cá nhân, cá nhân chỉ được coi là có năng lực hành vi nếu trước hết họ
là người bình thường về sức khỏe (Không mắc bệnh tâm thần hoặc những bệnh làm mất khả năng nhận thức và điều khiển hành vi), tiếp đến là họ đạt đƣợc đến một độ tuổi nhất định Tuy nhiên , năng lực hành vi hành chính của các cá nhân
là khác nhau, tuỳ thuộc và các quan hệ pháp luật hành chính nhất định
Đối với cơ quan nhà nước, tổ chức , năng lực chủ thể được xác định từ thời điểm cơ quan, tổ chức được thành lập hoặc thừa nhận hợp pháp Năng lực hành
vi của cơ quan, tổ chức được thể hiện thông qua năng lực của người đứng đầu, người đại diện
3.Sự xuất hiện của sự kiện pháp lý hành chính: (quan trọng nhất)
Sự kiện pháp lý hành chính là những sự kiện thực tế trong lĩnh vực quản lý hành chính nhà nước mà sự xuất hiện hay mất đi của nó được pháp luật gắn với việc phát sinh, thay đổi hoặc chấm dứt quan hệ pháp luật
Để có quan hệ pháp luật hành chính nảy sinh trong thực tế, các quyền và nghĩa
vụ pháp lý của chủ thể trở thành xử sự thực tế thì cần phải có các sự kiện pháp
lý hành chính Sự kiện pháp lý hành chính bao gồm: sự kiện thể hiện ý chí (hành vi) và sự kiện phi ý chí (sự biến)
Sự kiện thể hiện ý chí (hành vi) là những sự kiện xảy ra phụ thuộc vào nhận
thức và sự điều khiển hành vi con người (hành động hoặc không hành động) Hành vi của con người được coi là sự kiện pháp lý bao gồm hành vi hợp pháp và hành vi bất hợp pháp
+ Hành vi hợp pháp là hành vi phù hợp với quy định của pháp luật
hành chính
+Hành vi bất hợp pháp là hành vi trái với quy định của pháp luật hành chính.Những hành vi hành chính bất hợp pháp sẽ là căn cứ làm
phát sinh quan hệ pháp luật hành chính về xử lý vi phạm hành chính
Sự kiện phi ý chí (sự biến) là những sự kiện pháp lý xảy ra không phụ thuộc
vào ý chí của con người như thiên tai, dịch bệnh Từ những sự kiện trên mà các chủ thể pháp luật hành chính cần phải tác động hoặc điều chỉnh vì lợi ích công hoặc để đảm bảo trật tự quản lý thì khi đó mới phát sinh , thay đổi hay chấm dứt quan hệ pháp luật hành chính
Các quan hệ pháp luật hành chính có thể phát sinh, thay đổi, chấm dứt khi có một sự kiện pháp lý hành chính độc lập Điển hình là những quan hệ pháp luật hành chính phát sinh do sáng kiến, ý chí của tổ chức, cá nhân
Các quan hệ pháp luật hành chính có thể phát sinh trên cơ sở nhiều sự kiện