1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

(Luận văn thạc sĩ) tuổi chịu trách nhiệm hình sự trong luật hình sự việt nam (trên cơ sở thực tiễn địa bàn tỉnh hà tĩnh)

117 21 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 117
Dung lượng 1,53 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Tính cấp thiết của việc nghiên cứu đề tài Tội phạm là hành vi nguy hiểm cho xã hội được quy định trong Bộ luật hình sự BLHS, do người có năng lực trách nhiệm hình sự thực hiện một cách

Trang 1

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI

Trang 2

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI

LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC

Người hướng dẫn khoa học: TS ĐẶNG QUANG PHƯƠNG

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan Luận văn là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các kết quả nêu trong Luận văn chưa được công bố trong bất kỳ công trình nào khác Các số liệu, ví dụ và trích dẫn trong Luận văn đảm bảo tính chính xác, tin cậy và trung thực Tôi đã hoàn thành tất cả các môn học và đã thanh toán tất cả các nghĩa vụ tài chính theo quy định của Khoa Luật Đại học Quốc gia Hà Nội

Vậy tôi viết Lời cam đoan này đề nghị Khoa Luật xem xét để tôi

có thể bảo vệ Luận văn

Tôi xin chân thành cảm ơn!

NGƯỜI CAM ĐOAN

Lê Nƣ̃ Ngo ̣c Diê ̣p

Trang 4

MỤC LỤC

Trang

Trang phụ bìa

Lời cam đoan

Mục lục

Danh mục các từ viết tắt

Danh mục các bảng

MỞ ĐẦU 1

Chương 1: MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ TUỔI CHỊU TRÁCH NHIỆM HÌNH SỰ TRONG LUẬT HÌNH SỰ VIỆT NAM 6

1.1 Khái niệm tuổi chịu trách nhiê ̣m hình sự và năng l ực trách nhiê ̣m hình sự 6

1.1.1 Khái niệm tuổi chịu trách nhiê ̣m hình sự 6

1.1.2 Khái niệm năng lực trách nhiê ̣m hình sự 8

1.1.3 Ý nghĩa của tuổi chịu trách nhiê ̣m hình sự 9

1.2 Cơ sở của việc quy định tuổi chịu trách nhiê ̣m hình sự và phân loại tuổi chịu trách nhiê ̣m hình sự 9

1.2.1 Cơ sở của việc quy định tuổi chịu trách nhiê ̣m hình sự 9

1.2.2 Phân loại tuổi chịu trách nhiê ̣m hình sự 13

1.3 Khái quát quy định của pháp luật hình sự một số nước về tuổi chịu trách nhiê ̣m hình sự 18

Kết luận Chương 1 25

Chương 2: QUY ĐỊNH CỦA BỘ LUẬT HÌNH SỰ NĂM 1999 VỀ TUỔI CHỊU TRÁCH NHIỆM HÌNH SỰ VÀ THỰC TIỄN ÁP DỤNG TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH HÀ TĨNH 27

2.1 Quy định của Bộ luật hình sự năm 1999 về tuổi chịu trách nhiê ̣m hình sự 27

2.1.1 Quy định về độ tuổi từ đủ 14 tuổi đến chưa đủ 16 tuổi chịu trách nhiê ̣m hình sự 27

2.1.2 Quy định về độ tuổi từ đủ 16 tuổi trở lên phải chịu trách nhiê ̣m hình sự 32

2.1.3 Quy định về độ tuổi chịu trách nhiê ̣m hình sự trong một số trường hợp cụ thể 33

Trang 5

2.1.4 Quy định xác định độ tuổi trong việc truy cứu trách nhiê ̣m hình sự 38

2.2 Thực tiễn áp dụng quy định của Bộ luật hình sự năm 1999 về tuổi chịu trách nhiê ̣m hình sự trên địa bàn tỉnh Hà Tĩnh 42

2.2.1 Tổng quan kết quả áp d ụng quy định của Bộ luật hình sự năm 1999 về tuổi chịu trách nhiê ̣m hình sự 42

2.2.2 Những vi phạm, sai lầm trong áp dụng quy định của pháp luật hình sự về tuổi chịu trách nhiệm hình sự và nguyên nhân 49

Kết luận Chương 2 64

Chương 3: CÁC YÊU CẦU VÀ GIẢI PHÁP BẢO ĐẢM ÁP DỤNG ĐÚNG QUY ĐỊNH CỦA PHÁP LUẬT VỀ TUỔI CHỊU TRÁCH NHIỆM HÌNH SỰ 65

3.1 Các yêu cầu bảo đảm áp dụng đúng quy định của pháp luật về tuổi chịu trách nhiệm hình sự 65

3.1.1 Yêu cầu pháp chế xã hội chủ nghĩa 65

3.1.2 Bảo đảm quyền con người (đặc biệt người chưa thành niên) 71

3.1.3 Yêu cầu chống và phòng ngừa tội phạm 75

3.2 Các giải pháp bảo đảm áp dụng đúng quy định của pháp luật về tuổi chịu trách nhiệm hình sự 76

3.2.1 Tiếp tục hoàn thiện Bộ luật hình sự năm 2015 76

3.2.2 Tập huấn nghiệp vụ, hướng dẫn thi hành Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017 89

3.2.3 Tăng cường kiểm tra, giám đốc xét xử, xây dựng án lệ 90

3.2.4 Tăng cường năng lực những người tiến hành tố tụng 91

3.2.5 Tăng cường năng lực những người tham gia tố tụng trong việc truy cứu trách nhiệm hình sự 93

Kết luận chương 3 99

KẾT LUẬN 101

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 104

Trang 6

DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT

BCA: Bộ Công an BLHS: Bộ luật hình sự BTP: Bộ tư pháp HĐTP: Hội đồng thẩm phán Người CTN: Người chưa thành niên NLTNHS: Năng lực trách nhiệm hình sự NQ: Nghị quyết

TAND: Tòa án nhân dân TANDTC: Tòa án nhân dân tối cao TNHS: Trách nhiệm hình sự TTLT: Thông tư liên tịch TW: Trung ương VKSNDTC: Viện kiểm sát nhân dân tối cao

Trang 7

DANH MỤC CÁC BẢNG

Bảng 1.1: Bản tổng quan sự hình thành và phát triển nhân cách

Bảng 1.2: Liệt kê độ tuổi chịu trách nhiệm hình sự của một số

Trang 8

MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của việc nghiên cứu đề tài

Tội phạm là hành vi nguy hiểm cho xã hội được quy định trong Bộ luật hình

sự (BLHS), do người có năng lực trách nhiệm hình sự thực hiện một cách cố ý hoặc

vô ý, xâm phạm độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ tổ quốc, xâm phạm chế độ chính trị, chế độ kinh tế, nền văn hoá, quốc phòng, an ninh, trật tự, an toàn xã hội, quyền, lợi ích hợp pháp của tổ chức, xâm phạm tính mạng, sức khỏe, danh dự, nhân phẩm, tự do, tài sản, các quyền, lợi ích hợp pháp khác của công dân, xâm phạm

những lĩnh vực khác của trật tự pháp luật xã hội chủ nghĩa (khoản 1 Điều 8 BLHS)

Một trong các yếu tố cấu thành tội phạm đó là chủ thể của tội phạm và theo

Bô ̣ luâ ̣t hình sự năm 1999 là con người cụ thể có năng lực trách nhiệm hình sự (NLTNHS), đạt độ tuổi luật định và thực hiện hành vi phạm tội, (Bô ̣ luâ ̣t hình sự

năm 2015 quy đi ̣nh chủ thể của tô ̣i pha ̣m còn là pháp nhân thương mại)

Tuổi chịu trách nhiệm hình sự là một vấn đề lớn trong khoa học luật hình sự cũng như trong lập pháp hình sự, thể hiện quan điểm của Nhà nước về cách thức xử

lý người phạm tội, vừa đảm bảo trật tự an toàn cho xã hội nhưng phải vừa đạt được mục đích bảo vệ quyền con người, đặc biệt là quyền của người chưa thành niên, kể

cả khi họ thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội

Hiện nay vẫn còn nhiều ý kiến khác nhau về tuổi chịu trách nhiệm hình sự Tuổi chịu trách nhiệm hình sự là độ tuổi được xác định trong pháp luật hình sự của mỗi quốc gia, mà chỉ đến độ tuổi đó trở về sau, một người thực hiện hành vi phạm tội mới có thể bị truy cứu trách nhiệm hình sự Chính vì vậy, tuổi là một trong những yếu tố có đặc tính xã hội ảnh hưởng nhất định đến hành vi phạm tội và khả

năng nhận thức, giáo dục, cải tạo người phạm tội

Bên cạnh đó, độ tuổi cũng là một trong những căn cứ để làm giảm nhẹ hoặc miễn trách nhiệm hình sự (TNHS) Việc cân nhắc độ tuổi để truy cứu TNHS và quyết định hình phạt là một trong những biểu hiện nhân đạo, công bằng và cá thể hóa hình phạt được thể hiện rõ trong luật hình sự nước ta và được thực tiễn ghi

Trang 9

nhận Chính vì vậy, tuổi chịu trách nhiệm hình sự là yếu tố không thể thiếu trong

quá trình xem xét truy cứu trách nhiệm hình sự đối với một người

Thực tiễn áp dụng quy định của pháp luật hình sự về chủ thể của tội phạm nói chung và tuổi chịu TNHS của chủ thể nói riêng giữa các cơ quan tiến hành tố tụng (THTT), các địa phương có thể còn có sự khác nhau Vì vậy, làm rõ các quy định của pháp luật về tuổi chịu TNHS, cũng như thực tiễn áp dụng các quy định về tuổi chịu TNHS, trên cơ sở đánh giá thực tiễn giải quyết các vụ án liên quan đến tuổi chịu TNHS trên địa bàn tỉnh Hà Tĩnh để có những kiến nghị, giải pháp hoàn thiện các quy định của pháp luật hiện hành là hết sức cần thiết Từ những vấn đề

trên, tôi nhận thấy đề tài “Tuổi chịu trách nhiệm hình sự trong luật hình sự Việt

Nam (trên cơ sở thực tiễn địa bàn tỉnh Hà Tĩnh)” vẫn còn nguyên tính thời sự và

mới mẻ Đó chính là lý do tôi chọn đề tài này làm luận văn Thạc sĩ Luật học

2 Tình hình nghiên cứu đề tài

Là một trong những chế định quan trọng trong BLHS nhưng đến thời điểm này tuổi chịu TNHS vẫn chưa thực sự có một công trình nào nghiên cứu đầy đủ , toàn diện cả về lý luận và thực tiễn Vấn đề này chủ yếu được đề cập đến như một phần nhỏ trong các bài viết, khóa luận, luận văn về tội phạm và cấu thành tội phạm, chủ thể của tội phạm hay nhân thân người phạm tội hoặc trong các công trình nghiên cứu về người chưa thành niên phạm tội Các nghiên cứu khoa học khác cũng rất ít đề cập đến việc nghiên cứu về tuổi hay cách xác định tuổi của con người trong

mối quan hệ với TNHS

Tuy nhiên, cũng có thể kể đến một số công trình nghiên cứu như: 1) Sách

chuyên khảo Sau đại học: Những vấn đề cơ bản trong khoa học Luật hình sự (Phần

chung) của TSKH PGS Lê Văn Cảm, NXB Đại học Quốc gia Hà Nội, 2005; 2) Bình luận khoa học Bộ luật hình sự 1999 – Phần chung, NXB Thành phố Hồ Chí

Minh, 2000 của ThS Đinh Văn Quế; 3) Tội phạm và cấu thành tội phạm, NXB

Công an nhân dân, Hà Nội, 2006 của GS.TS Nguyễn Ngọc Hòa; 4) Luận văn thạc

sĩ luật học “Chủ thể của tội phạm theo luật hình sự Việt Nam” của tác giả Lê Đăng Doanh, Trường đại học Luật Hà Nội, 1999; Luận văn thạc sĩ luật học “Những vấn

Trang 10

đề lý luận và thực tiễn về tuổi chịu TNHS theo Luật hình sự Việt Nam” của tác giả

Trần Thị Hoàng Lan, Trường Đại học Quốc gia Hà Nội, năm 2012…

Ngoài ra, còn rất nhiều bài viết đăng trên các tạp chí có liên quan đến tuổi

chịu TNHS, ví dụ như: Nhân thân người phạm tội với việc quyết định hình phạt của tác giả Nguyễn Thị Thanh Thuỷ; bài về Xác định tuổi của người chưa thành niên

như thế nào cho đúng? của tác giả Lưu Đình Nghĩa; Nhân thân người phạm tội - Một số vấn đề lý luận cơ bản của TSKH PGS Lê Cảm; Tiếp tục hoàn thiện những quy định của BLHS trước yêu cầu mới của đất nước của tác giả Trịnh Tiến Việt;

v.v… đã được đăng trên Tạp chí Toà án nhân dân và Tạp chí Kiểm sát (xem thêm ở

phần danh mục tài liệu tham khảo)

3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu

3.1 Mục đích nghiên cứu

Đề tài góp phần làm sáng tỏ thêm những vấn đề lý luận về tuổi chịu TNHS, đồng thời làm rõ các quy định của pháp luật hình sự Việt Nam về tuổi chịu TNHS, gắn với thực tiễn trên địa bàn tỉnh Hà Tĩnh để từ đó đưa ra những giải pháp hoàn

thiện quy định của pháp luật về tuổi chịu THNS và bảo đảm áp du ̣ng đúng pháp luâ ̣t

3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu

Từ mu ̣c đích nên trên , với cấp đô ̣ luâ ̣n văn tha ̣c sỹ luâ ̣t ho ̣c , tác giả tập trung

giải quyết các nhiệm vụ sau đây:

Nghiên cứu các quan điểm về tuổi chịu TNHS, ý nghĩa của độ tuổi với TNHS; Nghiên cứu quy đi ̣nh của pháp luâ ̣t hình sự hiê ̣n hành về tuổi chịu TNHS;

Nghiên cứu thực tiễn áp dụng các quy định về tuổi chịu TNHS trên địa bàn tỉnh Hà Tĩnh;

Nghiên cứu pháp luật hình sự một số nước trên thế giới;

4 Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu

4.1 Đối tượng nghiên cứu

Luận văn nghiên cứu các quan điểm, các công trình có liên quan đến tuổi chịu TNHS;

Nghiên cứu quy định của pháp luật Việt Nam về tuổi chịu TNHS;

Trang 11

Nghiên cứu quy định pháp luật một số nước về tuổi chịu TNHS;

Nghiên cứu thực tiễn truy cứu THNS liên quan đến việc xác định tuổi trên địa bàn tỉnh Hà Tĩnh (thực tiễn xét xử tại Tòa án)

4.2 Phạm vi nghiên cứu

Đề tài nghiên cứu các quan điểm trong nước; trong phạm vi Việt Nam và có nghiên cứu pháp luật một số quốc gia; cơ sở th ực tiễn trên địa bàn tỉnh Hà Tĩnh, thời gian trong 05 năm (từ năm 2011 đến năm 2016)

5 Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu

5.1 Phương pháp luận

Đề tài dựa trên cơ sở lý luận của chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, chủ trương chính sách của Đảng và pháp luật của Nhà nước với phương pháp nghiên cứu của chủ nghĩa duy vật lịch sử và phép biện chứng duy vật

5.2 Phương pháp nghiên cứu

Luận văn sử dụng một số phương pháp nghiên cứu đặc thù của khoa học luật hình sự, luật tố tụng hình sự và tội phạm học như: Phương pháp so sánh luật học, phương pháp đối chiếu, phương pháp phân tích - tổng hợp, phương pháp lịch sử, phương pháp thống kê hình sự để tổng hợp các tri thức khoa học luật và những vấn

đề cần nghiên cứu

6 Ý nghĩa của luận văn

Luận văn có ý nghĩa khoa học và thực tiễn quan trọng thể hiện ở chỗ đây là

đề tài đề cập tương đối đầy đủ, hệ thống, logic những vấn đề lý luận và thực tiễn về tuổi chịu TNHS trong luật hình sự Việt Nam ở cấp độ một luận văn thạc sĩ luật học; phân tích, đánh giá tính hiệu quả của pháp luật thực định, quá trình áp dụng trong thực tiễn để thấy rõ giá trị những kiến nghị, giải pháp được đưa ra nhằm hoàn thiện pháp luật hình sự trong tương lai

Bên cạnh đó, luận văn còn phân tích chế định tuổi chịu TNHS trong sự so sánh với quy định của một số nước trên thế giới, sự ảnh hưởng của lịch sử dựa trên các điều kiện phát triển kinh tế - xã hội và đặc điểm tâm sinh lý của con người qua từng thời kỳ; khoa học luật hình sự xác định tuổi phải chịu trách nhiệm hình sự

Trang 12

không chỉ dựa vào tiêu chuẩn về sự phát triển tâm sinh lý của con người mà chủ yếu

là sự phát triển về quá trình nhận thức và yêu cầu đấu tranh phòng chống tội phạm

và bao gồm nhiều nội dung có liên quan khác Đồng thời, đánh giá thực tiễn áp dụng chế định tuổi chịu TNHS; những bất cập, vướng mắc và phân tích chúng qua các vụ án cụ thể Từ đó, luận văn đưa ra giải pháp khắc phục và kiến nghị giải pháp nhằm hoàn thiện chế định tuổi chịu TNHS trong pháp luật hình sự Việt Nam dưới góc độ lập pháp hình sự và thực tiễn áp dụng

Luận văn có giá trị là tư liệu tham khảo cho các nhà lập pháp - hoạch định chính sách, các nhà tâm lý - xã hội học, các nhà khoa học - thực tiễn, sinh viên, học viên cao học và nghiên cứu sinh chuyên ngành luật hình sự

7 Bố cục của luận văn

Ngoài phần Mở đầu, Danh mục tài liệu tham khảo và phần mu ̣c lu ̣c, luận văn gồm có 3 Chương

Chương 1: Mô ̣t số vấn đề lý luận về tuổi chịu trách nhiệm hình sự trong Luật

hình sự Việt Nam

Chương 2: Quy định của Bộ luật hình sự năm 1999 về tuổi chịu trách nhiệm

hình sự và thực tiễn áp dụng trên địa bàn tỉnh Hà Tĩnh

Chương 3: Các yêu cầu và giải pháp bảo đảm áp dụng đúng quy định của

pháp luật về tuổi chịu trách nhiệm hình sự

Trang 13

Chương 1 MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN

VỀ TUỔI CHỊU TRÁCH NHIỆM HÌNH SỰ TRONG LUẬT HÌNH SỰ VIỆT NAM

1.1 Khái niệm tuổi chịu trách nhiê ̣m hình sự và năng l ực trách nhiê ̣m hình sự

1.1.1 Khái niệm tuổi chịu trách nhiê ̣m hình sự

Mă ̣c dù còn có nhiều cách hiểu , cách định nghĩa khác nhau , song nhìn chung

đều cho rằng : Trách nhiệm hình sự là một dạng trách nhiệm pháp lý, là hậu quả

pháp lý bất lợi mà người phạm tội phải gánh chịu trước Nhà nước do việc người đó thực hiện tội phạm và là kết quả của việc áp dụng các quy phạm pháp luật hình sự, được thể hiện ở bản án kết tội của Tòa án có hiệu lực pháp luật, hình phạt và một

số biện pháp cưỡng chế hình sự khác do luật hình sự quy định Chỉ người nào đạt độ tuổi nhất đi ̣nh thì mới phải chi ̣u trách nhiê ̣m hình sự

Tuổi chịu TNHS có các đặc điểm sau đây:

Thứ nhất, tuổi chịu TNHS do luật hình sự quy định

Xét về tính hệ thống, các quy định của ngành luật này trong cùng một hệ thống có thể sử dụng để phân tích làm sáng tỏ nội dung các quy phạm pháp luật của ngành luật khác Tuy nhiên, nhiều nội dung có tính đặc thù, chuyên biệt thì chúng ta cần phải xác định theo quy định của ngành luật đó Vấn đề độ tuổi để xác định tư cách chủ thể là một nội dung có tính chuyên biệt, được xác định theo từng ngành luật Mỗi ngành luật có cách xác định khác nhau về độ tuổi

Chính vì vậy, về nguyên tắc, khi xác định tuổi chịu TNHS, chúng ta cần căn

cứ vào những quy định của luật hình sự mà không viện dẫn các quy định của các ngành luật khác Chỉ trong những trường hợp luật hình sự dẫn chiếu sang quy định của các ngành luật khác thì chúng ta mới sử dụng cách tính tuổi của ngành luật đó

để xác định tuổi chịu TNHS

Thứ hai, tuổi chịu TNHS là tuổi tròn

Mỗi ngành luật đều có cách thức để xác định tuổi của chủ thể tham gia quan

Trang 14

hệ pháp luật do ngành luật mình điều chỉnh Đối với chủ thể của tội phạm, luật hình

sự Việt Nam xác định tuổi là theo tuổi tròn Điều này thể hiện trong các quy định,

cụ thể: Tại điều 12 Bộ luật hình sự 1999 quy định về tuổi chịu TNHS: “người từ đủ

16 tuổi ” và “người từ đủ 14 tuổi…” Tuổi tròn ở đây là ngưỡng để tính tuổi tối thiểu của người phạm tội và tuổi tối đa của người bị hại trong trường hợp tuổi của người bị hại chi phối tới việc xác định TNHS của người phạm tội Cách tính tuổi tròn được xác định bằng cách lấy ngày sinh nhật gần nhất của người đó để tính

Trong một số trường hợp đặc biệt, khi luật hình sự dẫn chiếu sang ngành luật khác thì chúng ta áp dụng cách tính tuổi của ngành luật đó

Thứ ba, tuổi chịu TNHS tính từ thời điểm người đó sinh ra đến thời điểm

người đó thực hiện hành vi phạm tội

Thời điểm đầu để xác định tuổi của người phạm tội là ngày người đó được sinh ra Thời điểm sinh được xác định dựa vào các loại giấy tờ có giá trị pháp lý gắn liền với nhân thân của người đó như giấy chứng sinh, giấy khai sinh, chứng minh thư nhân dân, cá loại văn bằng, chứng chỉ Nhưng trên thực tế, không phải khi nào chúng ta cũng có các loại giấy tờ trên để xác định tuổi Trong nhiều trường hợp, chúng ta không có cơ sở pháp lý vững chắc để xác định ngày sinh của người phạm tội Trong những trường hợp này, chúng ta phải xác định ngày sinh của người phạm tội theo nguyên tắc có lợi cho người thực hiện hành vi phạm tội Thời điểm sau để xác định độ tuổi đó là thời điểm hành vi nguy hiểm cho xã hội được thực hiện Có nghĩa là: Hành vi được thực hiện ngày nào thì ngày đó được sử dụng để tính tuổi của người thực hiện hành vi phạm tội Đối với những trường hợp hành vi phạm tội là hành vi kéo dài hoặc hành vi có tính liên tục mà tuổi của người phạm tội có tính chất “giáp ranh” ảnh hướng để việc xác định trách nhiệm hình sự, ta cần xem xét cụ thể để tách hành vi đó ở các độ tuổi khác nhau để xem xét trách nhiệm hình sự được chính xác

Trên cơ sở phân tích về tuổi chịu TNHS như trên, có thể rút ra định nghĩa về

tuổi chịu TNHS như sau: Tuổi chịu trách nhiệm hình sự là độ tuổi được luật hình sự

quy định nhằm xác định khi một người phát triển đến độ tuổi đó mới có thể phải

Trang 15

chịu trách nhiệm hình sự, cũng như mức độ trách nhiệm hình sự phải chịu về hành

vi phạm tội do mình gây ra

1.1.2 Khái niệm năng lực trách nhiê ̣m hình sự

Hiện nay, trong khoa học Luật hình sự và thực tiễn áp dụng mặc nhiên thừa nhận sự tồn tại độc lập của hai dấu hiệu năng lực trách nhiệm hình sự (NLTNHS) và tuổi chịu TNHS Nghĩa là, khi phân tích lý luận về mặt chủ thể của tội phạm trong phần chung, chúng ta đều tách hai tiêu chuẩn của một cá nhân để trở thành chủ thể của tội phạm bao gồm: NLTNHS và tuổi chịu TNHS Trong phần các tội phạm, khi phân tích bốn yếu tố cấu thành tội phạm (CTTP) của từng tội phạm cụ thể, chúng ta cũng luôn nêu cụm từ: "người có NLTNHS và đạt độ tuổi chịu TNHS"

Điều này xuất phát từ thực tế các nhà lập pháp hình sự nước ta đã quy định hai nội dung này ở hai điều luật khác nhau, đó là tình trạng không có NLTNHS (Điều 13 Bộ luật Hình sự) và tuổi chịu TNHS (Điều 12 Bộ luật Hình sự) Do đó, theo nghĩa rộng thì NLTNHS phải bao gồm cả nội dung tuổi chịu TNHS Theo đó:

“ Năng lực trách nhiệm hình sự là khả năng nhận thức được tính nguy hiểm cho xã hội của hành vi một người, khả năng điều khiển được hành vi đó và khả năng gánh lấy những hậu quả pháp lý là trách nhiệm hình sự do hành vi mà chính họ gây ra

Năng lực trách nhiệm hình sự bao gồm khả năng nhận thức, khả năng điều khiển hành vi và tuổi chịu trách nhiệm hình sự”

Còn hiểu theo nghĩa hẹp thì “Năng lực TNHS phải đạt độ tuổi và năng lực của tự ý thức, được hình thành trong quá trình phát triển của cá thể cả về mặt tự nhiên và xã hội”

Một người chưa đủ tuổi chịu TNHS thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội luôn được coi là không có lỗi [6, tr.183] Tương tự như trường hợp khi thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội mà mắc bệnh dẫn đến mất khả năng nhận thức hoặc khả năng điều khiển hành vi Một khi đã có hành vi phạm tội có nghĩa là bốn yếu tố cấu thành tội phạm đã thỏa mãn và TNHS phải được đặt ra vì không thể có tội phạm nào trong Bộ luật hình sự mà không có kèm theo hình phạt (đặc trưng của TNHS) Việc họ được miễn TNHS trong một số trường hợp không thể được coi là "chưa đến

Trang 16

mức bị truy cứu TNHS” hoặc hành vi của họ không phải là tội phạm cũng không thể được coi là "chưa đến mức bị truy cứu TNHS" mà phải coi là họ không có TNHS Do đó, có thể khẳng định một cách chắc chắn rằng người chưa đủ tuổi chịu TNHS thì hành vi của họ không thể bị coi là tội phạm, nghĩa là họ không bao giờ bị coi là "đã phạm tội" và họ không có TNHS

1.1.3 Ý nghĩa của tuổi chịu trách nhiê ̣m hình sự

Tuổi chịu TNHS là một vấn đề không thể thiếu trong pháp luật hình sự của mỗi quốc gia, thể hiện quan điểm của Nhà nước về cách thức xử lý người phạm tội, vừa đảm bảo trật tự an toàn cho xã hội nhưng phải đạt được mục đích bảo vệ quyền con người, đặc biệt là quyền của người chưa thành niên, kể cả khi họ thực hiện hành

vi nguy hiểm cho xã hội Tuổi chịu TNHS mặc dù không được ghi nhận chính thức dưới góc độ lập pháp là một đặc điểm (dấu hiệu) cơ bản của tội phạm trong Điều 8 BLHS Tuy nhiên, dấu hiệu này lại có ý nghĩa rất quan trọng trong việc làm sáng tỏ TNHS của người phạm tội Đây cũng như là dấu hiệu không thể thiếu trong yếu tố chủ thể của tội phạm bên cạnh dấu hiệu “năng lực TNHS” Ngoài ra, độ tuổi chịu TNHS cũng là một vấn đề quan trọng có ý nghĩa quyết định đối với quá trình giải quyết vụ án hình sự Việc cân nhắc tuổi chịu TNHS cùng với các căn cứ khác để quyết định hình phạt là một trong những biểu hiện nhân đạo, công bằng và cá thể hóa hình phạt có ý nghĩa giáo dục, cải tạo và phòng ngừa rất lớn

1.2 Cơ sở của việc quy định tuổi chịu trách nhiê ̣m hình sƣ̣ và phân lo ại tuổi chịu trách nhiê ̣m hình sƣ̣

1.2.1 Cơ sở của việc quy định tuổi chịu trách nhiê ̣m hình sự

1.2.1.1 Cơ sở lý luận

Bất kỳ một ngành luật nào cũng xuất phát từ mục đích điều chỉnh là kết quả trong tương lai mà nhà làm luật mong muốn sẽ đạt được bằng sự điều chỉnh của ngành luật ấy Mục đích của luật hình sự chính là thiết lập lại trật tự của các quan hệ

xã hội đã tồn tại trước khi có việc thực hiện tội phạm mà các quan hệ xã hội đó bị

sự xâm hại của tội phạm gây nên (hoặc đe dọa thực tế gây nên) thiệt hại Đồng thời, trong quá trình thiết lập lại trật tự ấy tất cả các công dân và những người có chức vụ

Trang 17

cũng như các cơ quan nhà nước và các tổ chức xã hội phải có nghĩa vụ tuân thủ nghiêm chỉnh các đòi hỏi của luật hình sự [6, tr.16]

Để thực hiện nhiệm vụ bảo vệ chế độ xã hội, trật tự xã hội, Nhà nước dùng nhiều biện pháp khác nhau vừa có tính thuyết phục vừa có tính cưỡng chế để đấu tranh, ngăn chặn những hành vi vi phạm pháp luật Tùy theo tính chất, mức độ của các vi phạm pháp luật mà nhà nước lựa chọn sử dụng các chế tài thích hợp như: Dân sự, hành chính, kinh tế, hình sự mà trong đó chế tài hình sự là nghiêm khắc nhất nhằm xử lý bất kỳ người nào có hành vi xâm phạm nghiêm trọng các lợi ích của Nhà nước, của xã hội và của công dân

Bộ luật hình sự năm 1999 quy định: “Chỉ người nào phạm một tội đã được

Bộ luật hình sự quy định mới phải chịu trách nhiệm hình sự” [39, Điều 2] Như vậy,

cơ sở của trách nhiệm hình sự là việc một người đã thực hiện một tội được quy định

trong Bộ luật hình sự để xác định xem có một tội phạm quy định trong Bộ luật hình

sự đã được thực hiện hay không Hay nói cách khác, có cơ sở để truy cứu TNHS hay không Trước hết, chúng ta cần phải xem xét các yếu tố khách quan, chủ quan bắt buộc sau đây của tội phạm:

- Trên thực tế có xảy ra hành vi nguy hiểm cho xã hội được mô tả trong cấu

thành các tội phạm cụ thể của Bộ luật hình sự hay không và hành vi đó có nguy hiểm cho xã hội hay không? Đây là yếu tố bắt buộc thuộc mặt khách quan của tội phạm Nếu xác định được không có hành vi nguy hiểm cho xã hội xảy ra hoặc hành

vi đó không có dấu hiệu của tội phạm hoặc thậm chí tuy có dấu hiệu của tội phạm nhưng tính chất nguy hiểm cho xã hội không đáng kể thì cũng không được thực hiện việc truy cứu trách nhiệm hình sự

- Người thực hiện hành vi đó có lỗi hay không Đây là yếu tố bắt buộc thuộc

mặt chủ quan của tội phạm Nếu xác định được người thực hiện hành vi không có lỗi (cố ý hoặc vô ý) thì dù hành vi có nguy hiểm cho xã hội đến mức nào người thực hiện hành vi đó cũng không phải chịu TNHS [6, tr.184] Ví dụ: Người thực hiện hành vi gây hậu quả nguy hại cho xã hội do sự kiện bất ngờ, tức là trong trường hợp không thể thấy trước hoặc không buộc phải thấy trước hậu quả của hành vi đó

Trang 18

- Người thực hiện hành vi đó đã đến tuổi chịu TNHS hay chưa hoặc người đó

có năng lực TNHS hay không Đây là các yếu tố bắt buộc thuộc chủ thể của tội

phạm Nếu xác định được người thực hiện hành vi chưa đến tuổi chịu TNHS hoặc không có năng lực TNHS, thì dù hành vi có nguy hiểm cho xã hội đến mức nào người thực hiện hành vi đó cũng không phải chịu TNHS Ví dụ: Người thực hiện hành vi gây hậu quả nguy hại cho xã hội chưa đủ 14 tuổi hoặc người thực hiện hành

vi nguy hiểm cho xã hội trong tình trạng không có năng lực TNHS, tức là trong khi đang mắc bệnh tâm thần hoặc một bệnh khác làm mất khả năng nhận thức hoặc khả năng điều khiển hành vi của mình

Ngoài ra, còn có những yếu tố khách quan, chủ quan khác không bắt buộc của tội phạm cũng cần được xác định như: Hậu quả của hành vi; mục đích, động cơ thực hiện hành vi; những đặc điểm về nhân thân của người thực hiện hành vi

Chỉ khi xác định được chính xác, đầy đủ các yếu tố khách quan, chủ quan của tội phạm trong đó có độ tuổi thì mới có thể quyết định đúng đắn việc truy cứu TNHS đối với người phạm tội

1.2.1.2 Cơ sở thực tiễn

Thực tiễn đấu tranh phòng chống tội phạm là cơ sở thực tiễn để xác định và quy định độ tuổi chịu TNHS Ở mỗi quốc gia, cơ cấu các độ tuổi phạm tội phụ thuộc vào chính sách hình sự và khách thể bảo vệ của luật hình sự Ở một mức độ nào đó, độ tuổi chịu TNHS cũng mang tính lịch sử Ở thời kỳ phong kiến, mặc dù

có những quy định về độ tuổi chịu TNHS nhưng trong đó có những tội danh mà bất

kỳ lứa tuổi nào cũng phải chịu đó là tội mưu phản, mưu loạn, mưu đại nghịch sẽ bị tru di tam tộc Điều nay thể hiện chính sách hình sự của chế độ quân chủ chuyên chế là phải tận diệt mọi mầm họa ảnh hưởng đến sự tồn vong của triều đình, bảo vệ các bậc quân vương Ở nước ta, trong các giai đoạn phát triển khác nhau, cũng xuất phát từ chính sách hình sự và xác định khách thể bảo vệ khác nhau mà tuổi chịu TNHS cũng khác nhau

Trong giai đoạn hiện nay, để bảo vệ chế độ xã hội chủ nghĩa, quyền làm chủ của nhân dân, bảo vệ quyền bình đẳng giữa đồng bào các dân tộc, bảo vệ lợi ích của Nhà nước, quyền, lợi ích hợp pháp của công dân, tổ chức, bảo vệ trật tự pháp luật

Trang 19

xã hội chủ nghĩa, chống mọi hành vi phạm tội, Nhà nước đã xác định cụ thể khách thể bảo vệ của luật hình sự Từ thực tiễn đấu tranh đối với những hành vi xâm phạm khách thể được luật hình sự bảo vệ cho thấy, người từ dưới 14 tuổi thực hiện hành

vi xâm phạm vào quan hệ xã hội được luật hình sự bảo vệ là rất ít Hơn nữa, nghiên cứu những trường hợp khách thể bảo vệ của luật hình sự bị những người ở lứa tuổi này xâm hại cho thấy, việc họ thực hiện hành vi đó phần lớn mang tính bột phát và cảm tính ở những điều kiện hoàn cảnh cụ thể, mà khi rơi vào hoàn cảnh đó, bất kỳ

ai ở lứa tuổi đó cũng sẽ thực hiện như vậy Vì vậy, hành vi nguy hiểm của họ không xuất phát hoàn toàn từ bản chất con người họ Hơn nữa nhận thức và tri thức của lứa tuổi này còn rất hạn chế, vì vậy việc trừng trị họ bằng các chế tài hình sự là chưa cần thiết mà cần có các biện pháp khác để tiếp tục nuôi dưỡng giáo dục họ hình thành nhân cách Từ thực tiễn đó luật hình sự Việt Nam hiện hành xác định người dưới 14 tuổi không phải chịu TNHS về bất kỳ hành vi nguy hiểm nào do họ gây ra

Lứa tuổi từ đủ 14 đến dưới 16 tuổi là lứa tuổi đã hình thành cơ bản về nhân cách, các xử sự của họ đã thể hiện tính độc lập cao hơn rất nhiều so với lứa tuổi dưới 14 Tuy nhiên hoạt động của họ vẫn đang nằm dưới sự giám sát của gia đình, nhà trường và xã hội Vì vậy, tỉ lệ lứa tuổi này xâm phạm vào các quan hệ được luật hình sự bảo vệ vẫn còn chưa nhiều Hoạt động của họ vẫn chứa đựng nhiều yếu tố cảm tính, trước những điều kiện hoàn cảnh cụ thể [23, tr.95] Người

từ đủ 14 tuổi trở lên nhưng chưa đủ 16 tuổi được coi là người chưa có năng lực TNHS đầy đủ Do đó họ cũng chỉ phải chịu TNHS về một số tội phạm theo quy định của pháp luật chứ không chịu TNHS về tất cả các tội phạm Theo luật hình

sự nước ta thì người từ đủ 14 tuổi trở nên nhưng chưa đủ 16 tuổi chỉ phải chịu trách nhiệm hình sự về những tội phạm rất nghiêm trọng do cố ý hoặc tội phạm đặc biệt nghiêm trọng do cố ý (khoản 2 Điều 12 Bộ luật hình sự) Nhưng thực tiễn cũng đã cho thấy một số trường hợp, hành vi của những người ở lứa tuổi này cũng đã gây ra cho xã hội những thiệt hại rất lớn và để lại những hậu quả rất nghiêm trọng thậm chí đặc biệt nghiêm trọng Vì vậy, TNHS đối với lứa tuổi này cũng chỉ được xác định trong những trường hợp nhất định

Thực tiễn đấu tranh phòng chống tội phạm cũng cho thấy những người từ 16

Trang 20

tuổi trở lên là lứa tuổi phổ biến nhất thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội xâm phạm các quan hệ xã hội được luật hình sự bảo vệ Thực tiễn cũng cho thấy, bắt đầu

từ 16 tuổi trở lên, hầu như các hành động của cá nhân trong quá trình giao tiếp xã hội đều do họ tự quyết định Đây cũng là lứa tuổi đang trong quá trình hình thành, hoàn thiện nhân cách Họ luôn có những thay đổi về tâm, sinh lý đặc biệt là trong

độ tuổi dậy thì (từ 15 đến 18 tuổi) Nhận thức, quan điểm, lối sống lý tưởng của họ còn nhiều hạn chế và thiếu ổn định Sự tác động từ môi trường trong gia đình, ngoài

xã hội, từ phía nhà trường đã tác động trực tiếp đến nhận thức và hành động của lứa tuổi này Vì vậy, pháp luật hình sự nước ta mới xác định từ lứa tuổi này trở lên họ phải chịu TNHS về mọi tội phạm do họ gây ra

Cũng trên cơ sở thực tiễn, hiện nay đang có nhiều ý kiến cho rằng tỉ lệ người già phạm tội là rất ít, đặc biệt là các tội phạm đặc biệt nghiêm trọng Vì vậy, luật hình sự cần quy định không áp dụng hình phạt tử hình đối với người già phạm tội

Tóm lại, để xác định các vấn đề liên quan đến tuổi chịu TNHS trong luật hình sự, các nhà làm luật cần phải căn cứ vào cả hai yếu tố là cơ sở tâm sinh lý học

và cơ sở thực tiễn công tác đấu tranh phòng chống tội phạm để đưa ra những quy chuẩn phù hợp, đúng đắn

1.2.2 Phân loại tuổi chịu trách nhiê ̣m hình sự

Con người từ khi sinh ra đã có ý thức nhưng không phải có ý thức là có năng lực TNHS mà phải qua một quá trình phát triển về tâm, sinh lý trong điều kiện xã hội nhất định thì năng lực đó mới hình thành Chúng ta đã biết, năng lực TNHS là năng lực tự nhận thức về tính nguy hiểm của hành vi và khả năng điều khiển hành

vi của con người

Mỗi người có sự phát triển bình thường về tâm, sinh lý đến một giai đoạn nhất định trong đời sống sẽ hoàn thiện năng lực này và khi đó họ được coi là chủ thể của tội phạm Giai đoạn hoàn chỉnh này trong đời sống của mỗi cá nhân được luật hình sự mỗi nước trên thế giới quy định không giống nhau Việc làm này phù hợp với sự phát triển tâm, sinh lý (thể chất, trí tuệ) của con người ở mỗi quốc gia vào từng giai đoạn lịch sử cụ thể

Trang 21

BLHS 1999 quy định:

Tuổi chịu trách nhiệm hình sự: 1 Người từ đủ 16 tuổi trở lên phải chịu trách nhiệm hình sự về mọi tội phạm 2 Người từ đủ 14 tuổi trở lên, nhưng chưa đủ 16 tuổi phải chịu trách nhiệm hình sự về tội phạm rất nghiêm trọng do cố ý hoặc tội phạm đặc biệt nghiêm trọng [39, Điều 12]

Bộ luật hình sự 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017 quy định:

1 Người từ đủ 16 tuổi trở lên phải chịu trách nhiệm hình sự về mọi tội phạm, trừ những tội phạm mà Bộ luật này có quy định khác 2 Người

từ đủ 14 tuổi đến dưới 16 tuổi phải chịu trách nhiệm hình sự về tội phạm rất nghiêm trọng, tội phạm đặc biệt nghiêm trọng quy định tại một trong các điều 123, 134, 141, 142, 143, 144, 150, 151, 168, 169, 170, 171, 173,

178, 248, 249, 250, 251, 252, 265, 266, 286, 287, 289, 290, 299, 303 và

304 của Bộ luật này [44, Điều 1, Khoản 3]

Quy định trên đây của luật hình sự Việt nam dựa trên những khảo sát về tâm, sinh lý của người Việt Nam Đồng thời, nó cũng xuất phát từ yêu cầu của chính sách hình sự nước ta và yêu cầu đấu tranh phòng chống tội phạm ở tuổi vị thành niên, chính sách xử lý đối với người chưa thành niên phạm tội

Theo quy định này, người từ chưa đủ 14 tuổi trở xuống sẽ được xem là không có năng lực TNHS và không phải chịu TNHS Người từ đủ 14 tuổi đến dưới

16 tuổi được xem là năng lực TNHS còn hạn chế và chỉ phải chịu TNHS trong những trường hợp nhất định (tội phạm rất nghiêm trọng do cố ý hoặc tội phạm đặc biệt nghiêm trọng) Người từ đủ 16 tuổi trở lên được xem là người có năng lực TNHS đầy đủ và phải chịu trách nhiệm hình sự về mọi tội phạm

1.2.2.1 Tuổi không phải chịu trách nhiê ̣m hình sự

Từ thực tiễn cho thấy, người từ dưới 14 tuổi thực hiện hành vi xâm phạm vào quan hệ xã hội được luật hình sự bảo vệ là rất ít Hơn nữa, nhận thức pháp luật và kiến thức xã hội còn rất hạn chế Vì vậy, việc trừng trị họ bằng các chế tài hình sự là

Trang 22

chưa thực sự cần thiết mà nên và cần có các biện pháp khác để vừa giáo dục họ nhận thức được sai phạm, vừa tiếp tục nuôi dưỡng giáo dục họ hình thành nhân cách Từ thực tiễn đó cho nên luật hình sự Việt Nam hiện hành xác định người dưới

14 tuổi không phải chịu TNHS về bất kỳ hành vi nguy hiểm nào do họ gây ra là đúng đắn và phù hợp

1.2.2.2 Tuổi bắt đầu có năng lực trách nhiệm hình sự

Nhiều công trình nghiên cứu về sự phát triển tâm lý con người đã đưa ra kết qủa về quá trình hình thành, phát triển nhân cách con người như sau:

Bảng 1.1: Bản tổng quan sự hình thành và phát triển nhân cách con người

Lứa tuổi

Hoạt động chủ đạo Đặc trƣng tâm lý

Nét “trội” trong mục tiêu cần chú

- Lĩnh hội nền tảng của tri thức và phương pháp, công cụ nhận thức;

- Ham tìm tòi, khám phá;

- Hiếu động

- Phương pháp học tập và phẩm chất trí tuệ;

- Sử dụng công cụ nhận thức phổ thông

- Dậy thì;

- Quan hệ tâm tình bè bạn;

- “Cải tổ” nhân cách và định hình bản ngã;

- Muốn được đối xử như người lớn

- Mất thăng bằng tâm lý;

- Xây dựng nhóm bạn bè tốt

- Hoàn thành thế giới quan;

- Định hướng chuẩn bị nghề nghiệp;

- Ham hoạt động xã hội;

- Tình bạn thân và mối tình đầu

- Ý thức công dân;

- Ý thức nghề nghiệp;

- Hoài bão xã hội;

- Tình bạn, tình yêu

(Nguồn: Phạm Minh Hạc (1992), Tâm lý học, Nxb Giáo dục, Hà Nội)

Trang 23

Với kết quả nghiên cứu về tâm, sinh lý tuổi trên đây, tuổi 14 là độ tuổi bắt đầu của thời kỳ thanh xuân, đã có những hoạt động xã hội nhất định như hoạt động đội thiếu niên, giao lưu bạn bè trong lớp… Ở tuổi 14, bước đầu đã hình thành thế giới quan như cách nhìn nhận về gia đình, xã hội và những quan niệm của cá nhân

về những vấn đề xung quanh… Ở độ tuổi này, đã bắt đầu có ý thức về nghề nghiệp,

ý thức về chính bản thân họ và ý thức về trách nhiệm và nghĩa vụ Họ có thể hiểu một số vấn đề mà pháp luật ngăn cấm, pháp luật cho phép… song ở độ tuổi đủ 14 đến 15 tuổi mức độ nhận thức còn rất hạn chế Đến độ tuổi từ 15 đến dưới 16 con người đã có một số hoạt động mang tính nghề nghiệp, có nhận thức nhất định về các chuẩn mực đạo đức xã hội, có thể hiểu được một số quyền của xã hội như quyền, nghĩa vụ của mình trong tập thể, trong trường học… đặc biệt là sự nhận thức về bản thân họ, về hành vi mà họ đã thực hiện Tuy vậy, hoạt động tâm lý trong thời kỳ này vẫn đang trong thời kỳ dần dần hoàn thiện Cho nên đặc điểm tâm lý trong thời kỳ này dễ biến động, dễ bị ảnh hưởng bởi các yếu tố khách quan, tính chủ động thấp,

dễ bị kích động, rủ rê, lôi kéo của bạn bè Vì vậy, việc nhận thức, đánh giá các chuẩn mực đạo đức, các chuẩn mực của hành vi dễ bị thay đổi, dễ lẫn lộn giữa đúng

và sai… Chính vì đặc điểm tâm lý này mà có ảnh hưởng đến năng lực TNHS, ảnh hưởng đến mức độ lỗi Cho nên, luật hình sự Việt Nam chỉ buộc người từ đủ 14 tuổi đến dưới 16 tuổi phải chịu TNHS trong những trường hợp phạm tội nhất định

Việc xác định độ tuổi bắt đầu phải chịu TNHS từ đủ 14 tuổi theo luật hình sự quy định hiện nay là có cơ sở khoa học và phù hợp với tâm lý lứa tuổi của người Việt Nam, phù hợp với quan niệm về năng lực TNHS trong pháp luật hình sự Việt Nam hiện nay [33, tr.15]

1.2.2.3 Tuổi bắt đầu có năng lực trách nhiê ̣m hình sự đ ầy đủ (trừ trường hợp đặc biê ̣t)

Thực tiễn đấu tranh phòng chống tội phạm cũng cho thấy những người từ 16 tuổi trở lên là lứa tuổi phổ biến nhất thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội xâm phạm và các quan hệ xã hội được luật hình sự bảo vệ Thực tiễn cũng cho thấy, bắt đầu từ 16 tuổi trở lên, hầu như các hành động của cá nhân trong quá trình giao tiếp

xã hội đều do họ tự quyết định Họ đã có nhận thức tương đối đầy đủ về hành vi của

Trang 24

mình; tự đưa ra quyết định và có ý thức tự chịu trách nhiệm về quyết định đó Bên cạnh đó, hiện nay, tình hình tội phạm lứa tuổi này có chiều hướng ngày càng gia tăng và tính chất ngày càng nghiêm trọng Chỉ tính từ năm 2011 đến 2016, số vụ án hình sự Tòa án xét xử có chiều hướng giảm xuống tuy nhiên người phạm tội từ đủ

16 tuổi đến dưới 18 tuổi tăng lên 2,1 lần Vì vậy pháp luật hình sự nước ta quy định người từ đủ 16 tuổi trở lên là người có năng lực TNHS đầy đủ là phù hợp với tình hình thực tế

1.2.2.4 Tuổi có năng lực trách nhiê ̣m hình sự với mọi tội phạm

Luật hình sự Việt Nam quy định người từ đủ 16 tuổi trở lên phải chịu TNHS với mọi tội phạm

Đối với tội “giao cấu với người dưới 16 tuổi” luâ ̣t quy đi ̣nh phải từ đủ 18 tuổi trở lên

1.2.2.5 Tuổi làm giảm nhẹ trách nhiệm hình sự

Tại điểm m khoản 1 Điều 46 BLHS quy định: Người phạm tội là người già là một trong những tình tiết được giảm nhẹ TNHS

Khi con người đến một độ tuổi nhất định thì các hoạt động của cơ thể đều bị giảm sút, thiếu năng động Pháp luật quy định giảm nhẹ hình phạt của người già không phải vì hành vi của họ ít nguy hiểm hơn người trẻ mà chủ yếu xuất phát từ tinh thần nhân đạo xã hội chủ nghĩa Mặt khác, bắt một người già chịu một hình phạt nghiêm khắc là không cần thiết nữa

Căn cứ để xác định người phạm tội là già hay trẻ là độ tuổi, tuyệt nhiên không được căn cứ vào tình trạng sức khỏe Theo các tài liệu về y sinh học quốc tế quy định thì người từ 60 tuổi đến 74 tuổi là người có tuổi; từ 75 tuổi đến 89 tuổi là người già, từ 90 tuổi trở lên là người già sống lâu Tất nhiên, đó chỉ là quy định về y sinh học, còn về pháp luật, thực tiễn các Tòa án đã coi người từ 70 tuổi trở lên phạm tội là người già và họ được giảm nhẹ khi quyết định hình phạt

Bộ luật hình sự không phân biệt người già phạm tội nào thì được giảm nhẹ trách nhiệm hình sự hơn tội nào nhưng thực tiễn xét xử cho thấy, người già phạm các tội mà tội đó bị ảnh hưởng trực tiếp đến tuổi già thì được giảm nhẹ trách nhiệm hơn những tội không liên quan gì đến tuổi già

Trang 25

Mức độ giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của tình tiết này phụ thuộc vào độ tuổi Tuổi càng cao thì mức giảm càng nhiều Tuy căn cứ để xác định tình tiết này là độ tuổi nhưng mức độ giảm nhẹ trách nhiệm còn tùy thuộc vào sức khỏe của từng người Sức khỏe càng yếu mức giảm càng nhiều Nếu tình trạng sức khỏe của người già lại thuộc trường hợp là “Người có bệnh bị hạn chế khả năng nhận thức hoặc khả năng điều khiển hành vi của mình” thì họ được coi là phạm tội có cả hai tình tiết giảm nhẹ

Thực tiễn áp dụng pháp luật quy định tại khoản 2 Điều 46 BLHS – Khi quyết định hình phạt, Toà án còn có thể coi các tình tiết khác là tình tiết giảm nhẹ nhưng phải ghi rõ trong bản án Tại Tòa án, khi lượng hình phạt thì vấn đề tuổi chịu TNHS rất được cân nhắc, đặc biệt là tuổi vị thành niên Mặc dù, đây không phải là một trong các tình tiết được luật hình sự quy định tại khoản 1 Điều 46 hay một số văn bản dưới luật của Tòa án nhân dân tối cao nhưng khi quyết định hình phạt, Tòa án vẫn lập luận rất cụ thể trong bản án để ra phán quyết tương xứng [21, tr.97]

1.3 Khái quát quy định của pháp luật hình sự một số nước về tuổi chịu trách nhiệm hình sự

Với sự phát triển của xã hội, các quyền cơ bản của con người ngày càng được đề cao, hầu hết các quốc gia đều hạn chế tác động vào các quyền cơ bản đó Cùng với đó trẻ em ngày càng được quan tâm bảo vệ, đặc biệt là từ khi Công ước bảo vệ quyền trẻ em ra đời, trong đó xác định trẻ em là từ dưới 18 tuổi nên xu hướng của pháp luật các nước đều nâng độ tuổi chịu TNHS cao hơn so với trước đây Trong pháp luật hình sự hiện hành, phần lớn các quốc gia trên thế giới đều quy định tuổi chịu TNHS trong Bộ luật hình sự

Tại Mỹ, độ tuổi chịu trách nhiệm hình sự được thiết lập theo quy định của pháp luật liên bang và cả các tiểu bang Hầu hết các bang dựa vào pháp luật chung, từ 7 tuổi đến 14 tuổi, trẻ em không có thể được coi là chịu trách nhiệm nhưng có thể được tổ chức chịu trách nhiệm Chỉ có 13 tiểu bang đã thiết lập độ tuổi tối thiểu, khoảng từ 6 đến 12 tuổi (tiểu bang quy định độ tuổi thấp nhất là Bắc Crollina, 6 tuổi) [12, tr.35] Một số quốc gia quy định tuổi chịu trách nhiệm hình

sự thấp như Nepal, Anh, Ukraina là 10 tuổi, Hàn Quốc, Uganda là 12 tuổi Tại

Trang 26

Nhật Bản, tuổi chịu trách nhiệm hình sự là 14, người phạm tội dưới 20 tuổi được xét xử tại một tòa án gia đình, chứ không phải là trong hệ thống tòa án hình sự Trong tất cả các nước Bắc Âu, tuổi trách nhiệm hình sự là 15 và thanh thiếu niên dưới 18 tuổi có thể đến một hệ thống tư pháp là hướng chủ yếu đối với các dịch vụ

xã hội, giam giữ như là phương sách cuối cùng Ở Trung Quốc, Nga, Đức, Italia tuổi chịu TNHS là từ đủ 14 tuổi trở lên Ở Trung Quốc trẻ em từ đủ 14 đến dưới

18 tuổi được xử lý bằng hệ thống tư pháp vị thành niên và có thể bị kết án tù chung thân đối với tội đặc biệt nghiêm trọng

Trong hầu hết các nước châu Mỹ La tinh, các cải cách của pháp luật về công

lý trẻ vị thành niên đang được tiến hành Kết quả là, trách nhiệm hình sự đã được nâng lên đến 18 tuổi ở Brazil, Colombia và Peru, còn ở Argentina là 16 tuổi

Bảng 1.2: Liệt kê độ tuổi chịu trách nhiệm hình sự của một số quốc gia trên thế giới

Trang 27

Tên quốc gia Độ tuổi chịu TNHS

Vương quốc Anh (xứ Wales) 10

Tuy nhiên, đó là vấn đề của giới khoa học và các nhà xây dựng pháp luật đứng trên sự vận động thuận chiều của xã hội Còn đối với các nhà thực tiễn, trực tiếp quản lý an ninh chính trị và trật tự an toàn xã hội lại có quan điểm khác Thực

tế xã hội cho thấy, ở lứa tuổi mà theo quy định của pháp luật hiện hành chưa phải chịu TNHS, hành vi của một số người đã thực sự nguy hiểm cho xã hội, gây ra

Trang 28

những hậu quả lớn, rất lớn và thậm chí đặc biệt lớn cho xã hội Việc không truy cứu THNS đối với họ đã để lại những hậu quả không tốt cho xã hội, kích động những người trong lứa tuổi này thực hiện hành vi nguy hiểm, nhiều trường hợp họ lấy việc

đó để khẳng định mình Với tình trạng các hành vi này không còn là cá biệt nữa, nó

đã đặt các quan hệ xã hội được luật hình sự bảo vệ vào tình thế nguy hiểm, có thể bị xâm hại bất cứ lúc nào mà luật hình sự không thể xử lý được

Xuất phát từ thực tiễn đó, một số quốc gia đang có những đề xuất giảm độ tuổi chịu TNHS xuống so với hiện tại Một số nước khác đang xem xét việc hạ thấp

độ tuổi, bao gồm Argentina, Brazil, Pháp, Hungary, Hàn Quốc, Mexico, Peru, Liên bang Nga, Tây Ban Nha và Phillipin Như ở Nga, sau khi xảy ra một loạt vụ án do người dưới 14 tuổi thực hiện, để lại những hậu quả nặng nề cho xã hội, đã có một

dự luật được soạn thảo và sẽ đưa ra bản thảo trước Đu ma trong thời gian tới Theo

đó, độ tuổi chịu TNHS dự kiến hạ xuống mức 12 tuổi Hay ở Philipin, trước tình hình gia tăng tình trạng người chưa thành niên phạm pháp, đề xuất hạ tuổi chịu TNHS từ 15 tuổi xuống 9 tuổi đã được trình ra trước nghị viện Ở Anh, trước năm

1993 độ tuổi chịu TNHS là 14 tuổi nhưng sau một vụ giết người tàn bạo của cậu bé

10 tuổi đối với một em bé hai tuổi mới chập chững tập đi, tuổi chịu TNHS đã bị hạ xuống 10 tuổi là độ tuổi thấp nhất ở các nước Tây Âu

Về xu thế áp dụng các loại chế tài hình sự, các nước trên thế giới đang có xu hướng giảm thiểu tiến tới loại bỏ hình phạt tử hình, vì họ cho rằng, quyền được sống là quyền thiêng liêng nhất của con người do tạo hóa sinh ra nên không thể tước

bỏ Tuy nhiên, do tính răn đe có hiệu quả rất lớn của loại hình phạt này nên nhiều nước vẫn áp dụng Thậm chí, có một số quốc gia, sau một thời gian loại bỏ nhưng đứng trước sự gia tăng của tội phạm đã phải phục hồi áp dụng hình phạt tử hình Tuy nhiên, hầu hết các nước không áp dụng hình phạt này đối với người chưa thành niên, thậm chí đối với người từ 20 tuổi trở xuống Bên cạnh đó, một số nước đã quy định không áp dụng hình phạt này đối với người già phạm tội từ 70 tuổi trở lên

Nhìn chung, trên thế giới đang có sự xung đột giữa vấn đề nhân quyền và vấn để đảm bảo thực tiễn trật tự xã hội nên vẫn đang có hai xu hướng là tăng tuổi chịu TNHS và giảm tuổi chịu TNHS

Trang 29

Công ước của Liên Hợp Quốc về Quyền trẻ em quy định: “Trong phạm vi của Công ước này trẻ em có nghĩa là người dưới 18 tuổi, trừ trường hợp pháp luật

áp dụng với trẻ em đó có quyết định tuổi vị thành niên sớm hơn” hoặc những quy tắc tối thiểu phổ biến của Liên Hợp Quốc về bảo vệ người chưa thành niên bị tước quyền tự do có quy định: “Những người chưa thành niên là người dưới 18 tuổi” Như vậy, hiểu theo tinh thần của Liên Hợp Quốc thuật ngữ người chưa thành niên

sẽ bị chi phối bởi độ tuổi Cụ thể, Liên Hợp Quốc quy định tuổi của người chưa thành niên là dưới 18 tuổi và ở độ tuổi dưới 18 này khi có hành vi vi phạm pháp luật

sẽ có một cơ chế giải quyết riêng

Vấn đề ở đây là TNHS đặt ra đối với người chưa thành niên phạm tội (tức là người dưới 18 tuổi) nhưng độ tuổi tối thiểu phải chịu TNHS là bao nhiêu? Điều này

đã được nêu ra trong Quy tắc tối thiểu phổ biến của Liên Hợp Quốc về bảo vệ người chưa thành niên bị tước quyền tự do: “Người chưa thành niên là người dưới 18 tuổi, giới hạn tuổi dưới mức này cần phải được pháp luật quốc gia xác định” Đây là vấn

đề mà không phải mọi quốc gia đều có chung một quan điểm Mỗi quốc gia đều lựa chọn cho mình một độ tuổi thích hợp để áp dụng, tùy thuộc vào hoàn cảnh, tính chất, vị trí địa lý, tình hình kinh tế, chính trị, xã hội, phong tục, tập quán, văn hóa BLHS Việt Nam quy định tuổi chịu TNHS của người chưa thành niên là từ đủ 14 tuổi đến dưới 18 tuổi Mức tuổi tối thiểu phải chịu TNHS của người chưa thành niên ở nước ta là đủ 14 tuổi Đây cũng là quy định tương đồng với một số nước trên thế giới như: Nhật Bản, Liên bang Nga, Rumani, Italia Chẳng hạn: BLHS Nhật Bản

quy định: “Hành vi của người dưới 14 tuổi không bị xử phạt” [24, Điều 41]; Điều

88 BLHS Liên bang Nga quy định: “Người chưa thành niên là lúc thực hiện tội

phạm đã đủ 14 tuổi nhưng chưa đủ 18 tuổi”; Ruwada xác định tuổi chịu TNHS là

14 tuổi nhưng người từ 14 tuổi đến dưới 18 tuổi chỉ chịu TNHS hạn chế; BLHS của Italia cũng quy định tuổi chịu TNHS là 14 tuổi Như vậy, có thể thấy các quốc gia

có thể lựa chọn độ tuổi chịu TNHS trong khuôn khổ mà Liên Hợp Quốc cho phép

Và trên một phương diện nào đó, các quốc gia có sự tương đồng trong lựa cho ̣n độ tuổi chịu TNHS

Trang 30

Tuy nhiên, cũng có một số quốc gia lựa chọn độ tuổi chịu TNHS khác với quy định trong pháp luật hình sự Việt Nam Cụ thể: Singapo, Nigieria, Sip, Gana xác định tuổi chịu TNHS là 07 tuổi; Indonexia, Mianma, Scotlen lựa chọn tuổi chịu TNHS là 08 tuổi; Anh, Neepan, Ucraina xác định tuổi chịu TNHS là 10 tuổi; Trung Quốc, Canada, Jamaica xác định tuổi chịu TNHS là 12 tuổi; Pháp, Ba lan xác định tuổi chịu TNHS là 13 tuổi Đây là những quốc gia xác định độ tuổi chịu TNHS thấp hơn so với Việt Nam (dưới 14 tuổi) Có những quốc gia quy định độ tuổi rất thấp (07 tuổi) Điều này cho thấy sự khác biệt rất lớn trong quy định về tuổi chịu TNHS của người chưa thành niên phạm tội của các quốc gia trên thế giới

Một số quốc gia quy định độ tuổi tối thiểu chịu TNHS cao hơn so với Việt Nam (trên 14 tuổi) bao gồm: Thụy Điển, Na uy, Lào xác định tuổi chịu TNHS là 15 tuổi Cụ thể: Điều 6 Chương 1 BLHS Thụy Điển quy định: “Không áp dụng hình phạt đối với người phạm tội chưa đủ 15 tuổi” Điều 17 BLHS Lào quy định: “Người chưa đủ 15 tuổi tại thời điểm thực hiện hành vi phạm tội thì không phải chịu TNHS”; Cu ba, Bồ Đào Nha, Achentina xác định tuổi chịu TNHS là 16 tuổi; Braxin, Colombia, Peru xác định tuổi chịu TNHS là 18 tuổi

Sở dĩ có sự khác nhau như vậy là do mỗi quốc gia có truyền thống lịch sử, văn hóa, quan niệm về đạo đức, phong tục, tập quán khác nhau Mặt khác, còn do

sự phát triển không đồng đều về kinh tế, chính trị, xã hội, sự khác biệt về đặc điểm sinh học của từng chủng người cũng như chính sách hình sự và yêu cầu của thực tiễn đấu tranh phòng, chống tội phạm ở mỗi quốc gia Quy tắc tối thiểu về việc áp dụng pháp luật với người chưa thành niên quy định: “Trong hệ thống pháp luật thừa nhận khái niệm độ tuổi chịu TNHS của người chưa thành niên thì không được quy định quá thấp độ tuổi bắt đầu phải chịu TNHS, có tính đến thực tế của

độ tuổi trưởng thành về trí tuệ, tinh thần và tình cảm” Như vậy, các quốc gia có quyền lựa chọn độ tuổi tối thiểu chịu TNHS Tuy nhiên, Liên Hợp Quốc vẫn nhấn mạnh việc khuyến khích các nước áp dụng tuổi chịu TNHS quá thấp theo hướng nâng cao độ tuổi đó lên nhằm phát huy tinh thần nhân đạo trong xử lý người chưa thành niên phạm tội

Trang 31

Pháp luật hình sự Việt Nam đã kế thừa và phát huy nhiều thành tựu của pháp luật các quốc gia trên thế giới về quy định độ tuổi chịu trách nhiệm hình sự Đó là tham gia Công ước quốc tế về quyền trẻ em; hướng tới hạn chế áp dụng hình phạt

tử hình; hạn chế áp dụng hình phạt tù, mở rộng áp dụng các biện pháp tư pháp; đổi mới phương pháp tư duy tội phạm từ hình sự hóa sang phi hình sự hóa… Đặc biệt là quy định về độ tuổi chịu trách nhiệm hình sự, một số nước trên thế giới quy định tuổi bắt đầu chịu trách nhiệm hình sự là 07 tuổi, một số nước khác là 8, 9, 11 đến 18 tuổi thì Việt Nam trên cơ sở nghiên cứu, phân tích, đánh giá cả về mặt thực tiễn tình hình tội phạm, đánh giá tâm sinh lý, điều kiện phát triển về thể chất và tư duy, nhận thức của lứa tuổi vị thành niên nước ta nên đã cân nhắc quy định tuổi chịu trách nhiệm hình sự trong pháp luật hình sự Việt Nam là đủ 14 tuổi Quy định này được đánh giá là mức trung bình, cân bằng giữa hai luồng quan điểm cho rằng cần phải nâng cao độ tuổi chịu trách nhiệm hình sự còn quan điểm ngược lại thì cho rằng cần phải hạ thấp tuổi phải chịu trách nhiệm hình sự Đây được coi là “lối tư duy mở” về phương thức xây dựng pháp luật hình sự nói riêng và hệ thống pháp luật nói chung của pháp luật Việt Nam, góp phần quan trọng trong tiến trình cải cách, hội nhập nền hành chính tư pháp với các quốc gia trên thế giới

Trang 32

- Phân tích làm rõ cơ sở khoa học về sự phát triển tâm sinh lý của con người

và cơ sở thực tiễn của công tác đấu tranh phòng chống tội phạm Phân tích sự phát triển tâm sinh lý cho thấy, từ 6 tuổi con người bắt đầu nhận thức được và có sự đánh giá về hành vi của mình Từ 11 tuổi bắt đầu có tính tự quyết định và lựa cho chọn hành vi trước các tình huống của xã hội Tuy nhiên, do sự phát triển thiếu cân đối giữa các hệ của cơ thể nên trong xử sự của họ vẫn còn nhiều yếu tố cảm tính và mang tính bột phát Từ 15 tuổi, con người nhân thức đầy đủ hơn về giá trị của các hành vi của mình Họ có thể đánh giá được sự tác động của xử sự do mình thực hiện đến các yếu tố xung quanh, tự chủ trong quyết định thực hiện hành vi

Tuy nhiên do chưa phát triển hoàn thiện về cả thể chất và tinh thần, nên họ vẫn chưa hoàn toàn nhận thức đầy đủ và quyết định chính xác hành vi của mình, đặc biệt là nhận thức về tính nguy hiểm của hành vi Từ 18 tuổi trở lên, con người phát triển bình thường có thể hoàn toàn tự chủ trong việc thực hiện hành vi cả về lý trí, ý chí lẫn xử sự trên thực tế

Thực tiễn đấu tranh phòng, chống tội phạm cho thấy, lứa tuổi từ đủ 14 đến dưới 16 tuổi vẫn đang nằm dưới sự giám sát của gia đình, nhà trường và xã hội Vì vậy, tỉ lệ lứa tuổi này xâm phạm vào các quan hệ được luật hình sự bảo vệ vẫn còn rất ít Hoạt động của họ vẫn chứa đựng nhiều yếu tố cảm tính trước những điều kiện hoàn cảnh cụ thể Nhưng thực tiễn cũng đã cho thấy một số trường hợp, hành vi của những người ở lứa tuổi này cũng đã gây ra cho xã hội những thiệt hại rất lớn và để lại những hậu quả rất nghiêm trọng thậm chí đặc biệt nghiêm trọng

Trang 33

- Trong bộ luật hình sự hiện hành vấn đề tuổi chịu trách nhiệm hình sự được quy định cả ở phần Chung và phần các tội phạm cụ thể Nhìn chung, các quy định này đã giúp chúng ta nhận thức tương đối đầy đủ về tuổi chịu trách nhiệm hình sự Giữa quy định của phần Chung và phần các tội phạm vẫn chưa thật sự thống nhất với nhau, bên cạnh đó có nhiều thuật ngữ liên quan đến xác định độ tuổi nhưng không giải thích cụ thể dẫn đến việc áp dụng không thống nhất, gây khó khăn trong thực tiễn giải quyết vụ án

- Quy định về độ tuổi phải chịu TNHS của các quốc gia trên thế giới có sự khác nhau, không thống nhất Nguyên do là sự khác biệt về điều kiện phát triển kinh

tế - xã hội, tình hình an ninh trật tự và đặc điểm tâm sinh lý của con người ở mỗi quốc gia là không giống nhau Tuy nhiên, pháp luật hiện hành ở mỗi quốc gia đều hướng đến phát huy tinh thần nhân đạo trong việc quy định tuổi chịu TNHS trong

đó khuyến khích việc nâng cao độ tuổi phải chịu TNHS và đường lối xử lý ít nghiêm khác hơn đối với người chưa đủ 18 tuổi thực hiện hành vi phạm tội

Trang 34

Chương 2 QUY ĐỊNH CỦA BỘ LUẬT HÌNH SỰ NĂM 1999 VỀ TUỔI

CHỊU TRÁCH NHIỆM HÌNH SỰ VÀ THỰC TIỄN

ÁP DỤNG TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH HÀ TĨNH

2.1 Quy định của Bộ luật hình sự năm 1999 về tuổi chịu trách nhiê ̣m hình sự

BLHS 1999 được Quốc hội khóa X kỳ họp thứ 6 thông qua ngày 21/12/1999

có hiệu lực từ ngày 01/7/2000 (được sửa đổi, bổ sung theo luật sửa đổi, bổ sung một

số điều Bộ luật hình sự số 37/QH XII ngày 19 tháng 6 năm 2009) bao gồm 353 điều luật trong đó chia làm 24 Chương với 77 Điều, trong phần chung chia làm 10 Chương và 276 Điều, trong phần riêng (272 Điều quy định về tội phạm cụ thể và 4 điều luật khác) quy định trong 14 Chương So với BLHS 1985, BLHS 1999 đã được sửa đổi toàn diện, thể hiện chính sách hình sự mới của Nhà nước ta đối với tội phạm nói chung, liên quan đến tuổi chịu TNHS trong phần Chung cũng như trong phần các tội phạm cụ thể nói riêng

2.1.1 Quy định về độ tuổi từ đủ 14 tuổi đến chưa đủ 16 tuổi chịu trách nhiê ̣m hình sự

Bộ luật hình sự năm 1999 đã đưa nội dung Điều 58 của Bộ luật hình sự năm 1985 quy định về độ tuổi chịu trách nhiệm hình sự lên Điều 12 của Chương III: Tội phạm

Tuổi chịu trách nhiệm hình sự không chỉ liên quan đến người chưa thành niên phạm tội mà còn có ý nghĩa trong việc xác định năng lực trách nhiệm hình

sự của tội phạm, là một trong những vấn đề đầu tiên cần phải xác định khi làm rõ các vấn đề liên quan đến người thực hiện tội phạm Tiếp tục kế thừa, hoàn thiện

và bổ sung những quy định trong BLHS 1985 kết hợp với thực tiễn công tác đấu tranh phòng, chống tội phạm, theo đó tại BLHS 1999 quy định tuổi chịu trách nhiệm hình sự như sau:

“1 Người từ đủ 16 tuổi trở lên phải chịu trách nhiệm hình sự về mọi tội phạm; 2 Người từ đủ 14 tuổi trở lên nhưng chưa đủ 16 tuổi phải chịu trách nhiệm hình sự về tội phạm rất nghiêm trọng do cố ý hoặc tội phạm đặc biệt nghiêm trọng” [39, Điều 12]

Trang 35

Như vậy, quy định về tuổi chịu trách nhiệm hình sự đối với người từ đủ 16 trở lên, về cơ bản vẫn được giữ nguyên như quy định tại Điều 58 của BLHS 1985

Đó là người từ đủ 16 tuổi trở lên phải chịu trách nhiệm hình sự về mọi tội phạm Tuy nhiên về kỹ thuật lập pháp đã có sự chuẩn hóa, thể hiện bằng việc xác định đây

là lứa tuổi cơ bản chịu trách nhiệm hình sự nên đã quy định tại khoản 1

Trách nhiệm hình sự đối với người từ đủ 14 tuổi đến dưới 16 tuổi so với BLHS năm 1985 thì có điểm sửa đổi cơ bản là thay đổi phạm vi xử lý hình sự với người chưa thành niên từ đủ 14 tuổi đến dưới 16 tuổi về những hành vi nguy hiểm cho xã hội Trước đây, theo Điều 58 BLHS năm 1985, quy định người từ đủ 14 tuổi trở lên nhưng chưa đủ 16 tuổi chỉ phải chịu trách nhiệm hình sự về những tội phạm nghiêm trọng do cố ý Điều đó cũng có nghĩa là những người ở lứa tuổi trên không phải chịu trách nhiệm hình sự về những tội phạm ít nghiêm trọng (cả cố ý và vô ý)

và những tội phạm nghiêm trọng do vô ý [33, tr.16]

Việc phân loại tội phạm, theo quy định tại Khoản 2 Điều 8 BLHS năm 1985 thì tội phạm nghiêm trọng là tội phạm gây nguy hại lớn cho xã hội mà mức cao nhất của khung hình phạt đối với tội ấy là trên 5 năm tù, tù chung thân hoặc tử hình Những tội phạm khác là tội phạm ít nghiêm trọng

Trách nhiệm hình sự của những người từ đủ 14 tuổi trở lên nhưng chưa đủ 16 tuổi được quy định tại khoản 2 Điều 12 BLHS năm 1999 như trên với nội dung họ phải chịu trách nhiệm hình sự về các tội rất nghiêm trọng do cố ý hoặc tội phạm đặc biệt nghiêm trọng (không phụ thuộc nó được thực hiện bởi lỗi cố ý hay vô ý) Theo quy định tại Khoản 2 và Khoản 3 Điều 8 trong BLHS năm 1999 thì việc phân loại tội phạm đã có sự thay đổi so với BLHS năm 1985, tội phạm được phân chia 4 loại: tội phạm ít nghiêm trọng, tội phạm nghiêm trọng, tội phạm rất nghiêm trọng và tội phạm đặc biệt nghiêm trọng

Tội phạm ít nghiêm trọng là tội phạm gây nguy hại không lớn cho xã hội mà mức cao nhất của khung hình phạt đối với tội ấy được quy định là đến ba năm tù; tội phạm nghiêm trọng là tội phạm gây nguy hại lớn cho xã hội mà mức cao nhất của khung hình phạt đối với tội ấy được quy định là đến bảy năm tù; tội phạm rất

Trang 36

nghiêm trọng là tội phạm gây nguy hại rất lớn cho xã hội mà mức cao nhất của khung hình phạt đối với tội ấy được quy định là đến mười lăm năm tù; tội phạm đặc biệt nghiêm trọng là tội phạm gây nguy hại đặc biệt lớn cho xã hội mà mức cao nhất của khung hình phạt đối với tội ấy được quy định là trên mười lăm năm tù, tù chung thân hoặc tử hình

So sánh hai quy định trên đây thì thấy luật hình sự hiện hành đã mở rộng phạm

vi áp dụng trách nhiệm hình sự đối với người chưa thành niên phạm tội ở lứa tuổi từ đủ

14 tuổi trở lên nhưng chưa đủ 16 tuổi về hình thức lỗi Sau khi BLHS năm 1999 có hiệu lực pháp luật, nếu một người từ đủ 14 tuổi trở lên nhưng chưa đủ 16 tuổi thực hiện một tội phạm đặc biệt nghiêm trọng mặc dù với lỗi vô ý vẫn không được loại trừ trách nhiệm hình sự và họ vẫn bị áp dụng hình phạt cao nhất tới 15 năm (nếu là tổng hợp hình phạt thay vì 12 năm như quy định của BLHS năm 1985)

Đồng thời, so sánh về khung hình phạt thì BLHS năm 1999 lại thu hẹp phạm

vi xử lý, trong BLHS năm 1985 người từ đủ 14 tuổi đến dưới 16 tuổi phải chịu trách nhiệm hình sự đối với tội phạm mà mức cao nhất của khung hình phạt đối với tội ấy

là trên 05 năm tù, tù chung thân hoặc tử hình còn trong BLHS năm 1999 người từ

đủ 14 tuổi đến dưới 16 tuổi chỉ phải chịu trách nhiệm hình sự khi mức cao nhất của khung hình phạt đối với tội ấy là trên 7 năm tù, tù chung thân hoặc tử hình Khi quyết định hình phạt đối với người chưa thành niên phạm tội phải tuân thủ theo Điều 74 Bộ luật hình sự, cụ thể như sau:

2 Đối với người từ đủ 14 tuổi đến dưới 16 tuổi khi phạm tội, nếu điều luật được áp dụng quy định hình phạt tù chung thân hoặc tử hình, thì mức hình phạt cao nhất được áp dụng không quá mười hai năm tù; nếu là tù có thời hạn thì mức hình phạt cao nhất được áp dụng không quá một phần hai mức phạt tù mà điều luật quy định [39, Điều 74]

Điểm sửa đổi này trong chính sách hình sự mới đối với người chưa thành niên có ý nghĩa cực kỳ to lớn thể hiện chính sách nhân đạo của Nhà nước ta Chính

vì vậy mà trong Nghị quyết số 32/1999/QH10 ngày 21/12/1999 về việc thi hành Bộ luật hình sự của Quốc hội đã quy định:

Trang 37

Không xử lý về hình sự đối với người chưa thành niên từ đủ 14 tuổi đến dưới 16 tuổi về tội phạm có mức cao nhất của khung hình phạt đến bảy năm tù; nếu vụ án đang được điều tra, truy tố, xét xử thì phải đình chỉ; trong trường hợp người đó đã bị kết án và đang chấp hành hình phạt hoặc đang được tạm đình chỉ thi hành án, thì họ được miễn chấp hành phần hình phạt còn lại; nếu người bị kết án chưa chấp hành hình phạt hoặc đang được hoãn thi hành án, thì được miễn chấp hành toàn bộ hình phạt [40]

Nội dung trên cũng được hướng dẫn tại Nghị quyết của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội số 229/2000/NQ-UBTVQH10 ngày 28/01/2000 về việc triển khai thực hiện mục 3 Nghị quyết số 32/1999/QH10 của Quốc hội "Về việc thi hành Bộ luật hình sự": “Tuỳ từng giai đoạn tố tụng mà Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát, Toà án phải áp dụng điểm c hoặc điểm d Mục 3 Nghị quyết số 32 và các điều tương ứng của Bộ luật tố tụng hình sự để quyết định đình chỉ điều tra vụ án hoặc đình chỉ vụ

án đối với những người sau đây:

a Người thực hiện hành vi mà Bộ luật hình sự trước đây quy định là tội phạm nhưng Bộ luật hình sự năm 1999 không quy định là tội phạm;

b Người chưa thành niên từ đủ 14 tuổi đến dưới 16 tuổi khi phạm tội, nếu Bộ luật hình sự năm 1999 quy định mức cao nhất của khung hình phạt là đến 7 năm tù đối với tội phạm mà người đó đã thực hiện

4 Việc miễn chấp hành hình phạt đối với người bị kết án trước ngày công bố

Bộ luật hình sự năm 1999 về hành vi mà Bộ luật hình sự trước đây quy định là tội phạm nhưng Bộ luật hình sự năm 1999 không quy định là tội phạm và đối với người chưa thành niên từ đủ 14 tuổi đến dưới 16 tuổi khi phạm tội bị kết án trước ngày công bố Bộ luật hình sự năm 1999 về những tội mà Bộ luật hình sự này quy định mức cao nhất của khung hình phạt là đến 7 năm tù, được thực hiện như sau:

Đối với người đang chấp hành hình phạt tù, hình phạt cải tạo ở đơn vị kỷ luật của quân đội, thì cơ quan thi hành án phạt tù hoặc cơ quan thi hành hình phạt cải tạo

ở đơn vị kỷ luật của quân đội đề nghị và Chánh án Toà án nhân dân cấp tỉnh, Chánh

Trang 38

án Toà án quân sự cấp quân khu nơi người đó chấp hành hình phạt ra quyết định miễn chấp hành phần hình phạt còn lại;

b Đối với người đang chấp hành hình phạt cải tạo không giam giữ, thì cơ quan, tổ chức hoặc chính quyền địa phương được giao trách nhiệm trực tiếp giám sát, giáo dục đề nghị và Chánh án Toà án nhân dân cấp huyện nơi người đó chấp hành hình phạt ra quyết định miễn chấp hành phần hình phạt còn lại;

c Đối với người đang chấp hành hình phạt cấm cư trú hoặc quản chế, thì chính quyền địa phương nơi người đó chấp hành hình phạt đề nghị và Chánh án Toà án nhân dân cấp huyện, Chánh án Toà án quân sự khu vực nơi người đó chấp hành hình phạt ra quyết định miễn chấp hành thời hạn cấm cư trú hoặc thời hạn quản chế còn lại;

d Đối với người đang chấp hành hình phạt cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định, tước một số quyền công dân, thì Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân cấp huyện, Viện trưởng Viện kiểm sát quân sự khu vực nơi người đó cư trú hoặc làm việc đề nghị và Chánh án Toà án nhân dân cấp huyện, Chánh án Toà án quân sự khu vực nơi người đó cư trú hoặc làm việc ra quyết định miễn chấp hành thời hạn cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định, thời hạn tước một số quyền công dân còn lại;

đ Đối với người bị xử phạt tù, xử phạt cải tạo ở đơn vị kỷ luật của quân đội đang được tạm đình chỉ chấp hành hình phạt, đang được hoãn chấp hành hình phạt hoặc chưa chấp hành hình phạt, thì Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân cấp tỉnh, Viện trưởng Viện kiểm sát quân sự cấp quân khu nơi người đó cư trú hoặc làm việc

đề nghị và Chánh án Toà án nhân dân cấp tỉnh, Chánh án Toà án quân sự cấp quân khu nơi người đó cư trú hoặc làm việc ra quyết định miễn chấp hành phần hình phạt còn lại hoặc miễn chấp hành toàn bộ hình phạt;

e Đối với người bị xử phạt bằng các hình phạt khác đang được tạm đình chỉ chấp hành hình phạt, đang được hoãn chấp hành hình phạt hoặc chưa chấp hành hình phạt, thì Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân cấp huyện, Viện trưởng Viện kiểm sát quân sự khu vực nơi người đó cư trú hoặc làm việc đề nghị và Chánh án Toà án nhân dân cấp huyện, Chánh án Toà án quân sự khu vực nơi người đó cư trú

Trang 39

hoặc làm việc ra quyết định miễn chấp hành phần hình phạt còn lại hoặc miễn hành toàn bộ hình phạt

5 Người được nêu tại Mục 4 Nghị quyết này đã chấp hành xong hình phạt hoặc được miễn chấp hành phần hình phạt còn lại hoặc được miễn chấp hành toàn

bộ hình phạt, thì đương nhiên được xoá án tích; nếu họ có yêu cầu, thì Chánh án Toà án đã xét xử sơ thẩm vụ án đối với họ cấp giấy chứng nhận xoá án tích cho họ

2.1.2 Quy định về độ tuổi từ đủ 16 tuổi trở lên phải chịu trách nhiê ̣m hình sự

BLHS năm 1999 quy định tuổi chịu TNHS như sau:

1 Người từ đủ 16 tuổi trở lên phải chịu trách nhiệm hình sự về mọi tội phạm [39, Điều 12]

Khi quyết định hình phạt đối với người chưa thành niên phạm tội phải tuân thủ theo Điều 74 Bộ luật hình sự, cụ thể như sau:

1 Đối với người từ đủ 16 tuổi đến dưới 18 tuổi khi phạm tội, nếu điều luật được áp dụng quy định hình phạt tù chung thân hoặc tử hình, thì mức hình phạt cao nhất được áp dụng không quá mười tám năm tù; nếu là tù có thời hạn thì mức hình phạt cao nhất được áp dụng không quá

ba phần tư mức phạt tù mà điều luật quy định [39, Điều 74 ];

Quy định này mới chỉ thể hiện được nguyên tắc chung của việc áp dụng TNHS đối với người từ đủ 16 tuổi trở lên mà không đặt trong mối liên hệ với quy định về các tội phạm cụ thể trong BLHS Theo chính sách hình sự của Nhà nước, một số tội phạm không đặt ra vấn đề xử lý hình sự đối với người chưa thành niên,

kể cả đối tượng người từ đủ 16 tuổi đến dưới 18 tuổi Ví dụ như tội giao cấu với trẻ

em (Điều 115 BLHS); tội dâm ô với trẻ em (Điều 116 BLHS); tội dụ dỗ, ép buộc hoặc chứa chấp người chưa thành niên phạm pháp (Điều 252 BLHS); tội mua dâm người chưa thành niên (Điều 256 BLHS)

Để bảo đảm tính thống nhất giữa quy định chung về tuổi chịu TNHS và quy định về tuổi của chủ thể của các tội phạm cụ thể, BLHS năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017 quy định về trách nhiệm hình sự đối với người từ đủ 16 tuổi trở lên với

nội dung: “Người từ đủ 16 tuổi trở lên phải chịu trách nhiệm hình sự về mọi tội

Trang 40

phạm, trừ những tội phạm mà Bộ luật này có quy định khác” BLHS năm 2015, vẫn

áp dụng chính sách đặc biệt không xử lý hình sự các đối tượng dưới 18 tuổi thực hiện hành vi ở một số tội phạm cụ thể Ngoài các tội danh tương ứng ở trên, BLHS còn bổ sung tội danh mới cũng quy định chủ thể đặc biệt là người từ đủ 18 tuổi trở lên như tội sử dụng người dưới 16 tuổi vào mục đích khiêu dâm (Điều 147 BLHS)

2.1.3 Quy định về độ tuổi chịu trách nhiê ̣m hình sự trong m ột số trường hợp cụ thể

Phần tội phạm cụ thể trong BLHS năm 1999 bao gồm 276 điều luật với 272 điều luật quy định về các tội phạm và 4 điều luật khác (Điều 92, Điều 277, Điều

292, Điều 315) Phần lớn các điều luật đều không quy định tuổi chịu TNHS cụ thể, tức là chỉ cần đạt độ tuổi theo quy định tại phần Chung, cụ thể tại điều 12: Người từ

đủ 16 tuổi trở lên phải chịu trách nhiệm hình sự về mọi tội phạm và người từ đủ 14 tuổi trở lên phải chịu trách nhiệm hình sự về tội phạm rất nghiêm trọng do cố ý hoặc tội phạm đặc biệt nghiêm trọng

Trong các tội phạm cụ thể thì điều luật thường không quy định tội phạm nào

là tội phạm rất nghiêm trọng hoặc đặc biệt nghiêm trọng mà căn cứ vào mức cao nhất của các khung hình phạt trong các điều luật để xác định tội phạm thuộc loại nào từ đó xem xét có đủ tuổi chịu trách nhiệm hình sự hay không

Ví dụ: Trong tội trộm cắp tài sản quy định tại Điều 138 thì Khoản 1, Khoản 2 quy định khung hình phạt cao nhất là đến 7 năm tù Như vậy, tội phạm theo Khoản 1, Khoản 2 Điều 138 là tội phạm ít nghiêm trọng, tội phạm nghiêm trọng Do đó, người

từ đủ 14 tuổi đến dưới 16 tuổi không phải chịu trách nhiệm hình sự Nhưng tại Khoản

3, Khoản 4 Điều 138 lại quy định mức cao nhất của khung hình phạt lên đến 15 năm

tù, 20 năm tù, tù chung thân Do đó, Khoản 3, Khoản 4 Điều 138 là tội phạm rất nghiêm trọng, tội phạm đặc biệt nghiêm trọng; tội trộm cắp tài sản được thực hiện với hình thức lỗi cố ý Vậy người từ đủ 14 trở lên phải chịu trách nhiệm hình sự nếu thực hiện hành vi được quy định trong Khoản 3, Khoản 4 Điều 138 BLHS

Trong BLHS năm 1999 có 104/272 điều luật quy định tội phạm cụ thể mà chủ thể chỉ có thể là người từ đủ 16 tuổi trở lên: tội giết con mới đẻ (Điều 94),

Ngày đăng: 04/12/2020, 16:14

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w