Trong quá trình lao động sản xuất, con người tạo ra rất nhiều vật chất đáp ứng nhu cầu sinh hoạt riêng của mỗi người. Xã hội ngày càng phát triển, con người lao động làm việc càng có năng suất, kéo theo của cải dư thừa. Vì vậy việc định đoạt tài sản của mình trước khi qua đời thông qua việc lập di chúc là một nhu cầu tất yếu và có từ lâu đời; bởi di chúc thể hiện chính xác nhất di nguyện cuối cùng của người để lại tài sản. Thấy được tầm quan trọng của di chúc, Bộ luật Dân sự Việt Nam 2015 dành cả một chương (chương XXII) với 25 Điều (từ Điều 624 đến 648) để nói về thừa kế theo di chúc. Trong đó, hình thức di chúc là một yếu tố quan trọng đảm bảo di chúc hợp pháp theo pháp luật thừa kế ở Việt Nam. Tuy nhiên trên thực tế, vấn đề đảm bảo hình thức di chúc vẫn còn nhiều bất cập, các vụ án về thừa kế theo di chúc vẫn xảy ra thường xuyên. Điều này được nhiều Nhà làm luật, nhà bình luận luật hay các học giả quan tâm. Cá nhân em xét thấy đa số mọi người chỉ quan tâm đến hình thức di chúc nói chung chứ chưa đi sâu vào cụ thể ở các khu vực khác nhau; điển hình là hình thức di chúc ở nông thôn còn rất nhiều vấn đề cần được giải quyết thỏa đáng. Chính vì lẽ đó, em xin lấy đề tài cho bài tiểu luận đó là: “Hình thức của di chúc theo quy định của Bộ luật dân sự năm 2015. Liên hệ thực tiễn vấn đề về hình thức di chúc ở nông thôn Việt Nam”. 2. Đối tượng, phạm vi nghiên cứu − Hình thức của di chúc theo quy định của Bộ luật dân sự năm 2015(BLDS 2015) − Vấn đề về hình thức di chúc ở nông thôn Việt Nam 3. Mục đích nghiên cứu Làm sáng tỏ nội dung cơ bản về hình thức di chúc theo quy định của Bộ luật dân sự năm 2015. Từ đó nghiên cứu thực tiễn vấn đề hình thức di chúc ở nông thôn để tìm ra những bất cập, nguyên nhân cốt lõi, đồng thời tìm ra các giải pháp khắc phục nhằm đảm bảo cho hoạt động thừa kế theo di chúc trở nên hợp pháp. 2 4. Nhiệm vụ nghiên cứu − Khái quát di chúc và thừa kế theo di chúc − Tìm hiểu quá trình phát triển hình thức di chúc qua các thời kì trong lịch sử Việt Nam − Phân tích các hình thức di chúc cụ thể theo Bộ luật dân sự 2015 và vai trò của các hình thức đối với thực hiện pháp luật về thừa kế − Đánh giá thực trạng hình thức di chúc ở nông thôn Việt Nam, tìm ra nguyên nhân và giải pháp khắc phục 5. Phương pháp nghiên cứu Sử dụng phương pháp nghiên cứu phân tích tài liệu là chính, đồng thời kết hợp lý luận và thực tiễn, tham khảo nguồn internet, phân tích số liệu thống kê,.. 6. Tình hình nghiên cứu Tài liệu tham khảo về hình thức di chúc nói chung rất phong phú và đa dạng. Bên cạnh đó chưa có tài liệu đánh giá một cách chuyên sâu về hình thức di chúc ở các vùng nông thôn. Vì vậy vẫn còn nhiều tri thức thực tiễn khác mà bài tiểu luận chưa đề cập đến em mong quý thầy cô thông cảm ạ.
Trang 1A MỞ ĐẦU .2
1 Lí do chọn đề tài 2
2 Đối tượng, phạm vi nghiên cứu 2
3 Mục đích nghiên cứu 2
4 Nhiệm vụ nghiên cứu 3
5 Phương pháp nghiên cứu 3
6 Tình hình nghiên cứu 3
B NỘI DUNG .4
I Khái quát chung về di chúc và thừa kế theo di chúc .4
1 Khái niệm di chúc và điều kiện để di chúc hợp pháp 4
2 Thừa kế theo di chúc 6
II Hình thức của di chúc theo quy định của Bộ luật dân sự 2015 .7
1 Lịch sử hình thành và phát triển pháp luật về hình thức di chúc ở Việt Nam 7
2 Phân tích hình thức của di chúc theo quy định của Bộ luật dân sự 2015 8
2.1 Di chúc bằng văn bản .8
2.2 Di chúc miệng .12
3 Vai trò của hình thức di chúc đối với việc thực hiện pháp luật về thừa kế 16
III Liên hệ thực tiễn vấn đề về hình thức của di chúc ở nông thôn Việt Nam 17
1 Những vấn đề bất cập 17
2 Nguyên nhân 18
3 Hướng giải quyết 19
C KẾT LUẬN .20
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 21
Trang 2A MỞ ĐẦU
1 Lí do chọn đề tài
Trong quá trình lao động sản xuất, con người tạo ra rất nhiều vật chất đáp ứng nhu cầu sinh hoạt riêng của mỗi người Xã hội ngày càng phát triển, con người lao động làm việc càng có năng suất, kéo theo của cải dư thừa Vì vậy việc định đoạt tài sản của mình trước khi qua đời thông qua việc lập di chúc là một nhu cầu tất yếu và có từ lâu đời; bởi di chúc thể hiện chính xác nhất di nguyện cuối cùng của người để lại tài sản Thấy được tầm quan trọng của di chúc, Bộ luật Dân sự Việt Nam 2015 dành cả một chương (chương XXII) với 25 Điều (từ Điều 624 đến 648) để nói về thừa kế theo
di chúc Trong đó, hình thức di chúc là một yếu tố quan trọng đảm bảo di chúc hợp pháp theo pháp luật thừa kế ở Việt Nam Tuy nhiên trên thực tế, vấn đề đảm bảo hình thức di chúc vẫn còn nhiều bất cập, các vụ án về thừa kế theo di chúc vẫn xảy ra thường xuyên Điều này được nhiều Nhà làm luật, nhà bình luận luật hay các học giả quan tâm Cá nhân em xét thấy đa số mọi người chỉ quan tâm đến hình thức di chúc nói chung chứ chưa đi sâu vào cụ thể ở các khu vực khác nhau; điển hình là hình thức
di chúc ở nông thôn còn rất nhiều vấn đề cần được giải quyết thỏa đáng Chính vì lẽ
đó, em xin lấy đề tài cho bài tiểu luận đó là: “Hình thức của di chúc theo quy định của Bộ luật dân sự năm 2015 Liên hệ thực tiễn vấn đề về hình thức di chúc ở nông thôn Việt Nam”
2 Đối tượng, phạm vi nghiên cứu
− Hình thức của di chúc theo quy định của Bộ luật dân sự năm 2015(BLDS 2015)
− Vấn đề về hình thức di chúc ở nông thôn Việt Nam
3 Mục đích nghiên cứu
Làm sáng tỏ nội dung cơ bản về hình thức di chúc theo quy định của Bộ luật dân sự năm 2015 Từ đó nghiên cứu thực tiễn vấn đề hình thức di chúc ở nông thôn để tìm ra những bất cập, nguyên nhân cốt lõi, đồng thời tìm ra các giải pháp khắc phục nhằm đảm bảo cho hoạt động thừa kế theo di chúc trở nên hợp pháp
Trang 34 Nhiệm vụ nghiên cứu
− Khái quát di chúc và thừa kế theo di chúc
− Tìm hiểu quá trình phát triển hình thức di chúc qua các thời kì trong lịch sử Việt Nam
− Phân tích các hình thức di chúc cụ thể theo Bộ luật dân sự 2015 và vai trò của các hình thức đối với thực hiện pháp luật về thừa kế
− Đánh giá thực trạng hình thức di chúc ở nông thôn Việt Nam, tìm ra nguyên nhân và giải pháp khắc phục
5 Phương pháp nghiên cứu
Sử dụng phương pháp nghiên cứu phân tích tài liệu là chính, đồng thời kết hợp lý luận và thực tiễn, tham khảo nguồn internet, phân tích số liệu thống kê,
6 Tình hình nghiên cứu
Tài liệu tham khảo về hình thức di chúc nói chung rất phong phú và đa dạng Bên cạnh đó chưa có tài liệu đánh giá một cách chuyên sâu về hình thức di chúc ở các vùng nông thôn Vì vậy vẫn còn nhiều tri thức thực tiễn khác mà bài tiểu luận chưa đề cập đến em mong quý thầy cô thông cảm ạ
Trang 4B NỘI DUNG
I Khái quát chung về di chúc và thừa kế theo di chúc
1 Khái niệm di chúc và điều kiện để di chúc hợp pháp
Thuật ngữ di chúc đã xuất hiện rất sớm với những tên gọi khác nhau như: lời dặn, chúc thư, chúc ngôn,…, đồng thời khái niệm di chúc còn được hiểu với nhiều phương diện khác nhau
Về mặt ngữ nghĩa, di chúc được hiểu là ý nguyện của cá nhân khi còn sống muốn người khác thực hiện ý nguyện của mình sau khi chết, đặc biệt là về việc xử lý tài sản của mình sau khi chết
Trong BLDS 2015 khái niệm di chúc đã được khái quát ngắn gọn theo điều 624
“Di chúc là sự thể hiện ý chí của cá nhân nhằm chuyển tài sản của mình cho người khác sau khi chết.”
Từ khái niệm trên ta rút ra được đặc trưng của di chúc là:
− Sự thể hiện ý chí đơn phương, tự nguyện của cá nhân
− Mục đích của di chúc phải nhằm dịch chuyển tài sản của người lập di chúc cho người khác sau khi chết
− Về nguyên tắc, di chúc phát sinh hiệu lực pháp luật khi người để lại di sản thừa
kế chết
Để được thừa nhận là di chúc hợp pháp, di chúc phải đáp ứng được những điều kiện
sau đây:
Thứ nhất, người lập di chúc phải có năng lực hành vi dân sự vì vậy người đó phải có
đủ 2 yêu cầu cơ bản đó là:
− Yêu cầu về độ tuổi
Trang 5Chỉ những người từ đủ mười tám tuổi trở lên mới có quyền lập di chúc Đối với những người chưa đủ mười tám tuổi nhưng đã từ đủ mười lăm tuổi, nếu muốn lập di chúc thì phải được sự đồng ý của cha, mẹ hoặc người giám hộ
− Yêu cầu về nhận thức
Bên cạnh yếu tố về độ tuổi, yếu tố nhận thức là một điều kiện không thể thiếu trong việc xác định năng lực hành vi dân sự của người lập di chúc Nếu trong lúc lập di chúc người đó không thể nhận thức, làm chủ được hành vi của mình thì di chúc đó sẽ bị coi
là không hợp pháp
Tại điểm a khoản 1 Điều 630 BLDS 2015 đã quy định:
“Người lập di chúc minh mẫn, sáng suốt trong khi lập di chúc”.
Thứ hai, người lập di chúc phải hoàn toàn tự nguyện
Di chúc sẽ bị coi là không có sự tự nguyện của người lập di chúc nếu:
− Người lập di chúc bị lừa dối
Nghĩa là trong thực tế có thể có sự lừa dối của một người khác đối với người lập di chúc nhưng nếu người lập di chúc vẫn định đoạt theo mình, không suy nghĩ theo sự lừa dối của người đó thì di chúc vẫn được coi là hợp pháp
− Người lập di chúc bị đe dọa
Hành vi đe doạ chỉ được coi là căn cứ để xác định di chúc vô hiệu khi hành vi đó là cố
ý, nhằm đạt được một mục đích nhất định và phải nghiêm trọng đến mức người bị đe dọa buộc phải lập di chúc theo yêu cầu của người đe dọa mà không còn một sự lựa chọn nào khác
Ví dụ: A (là rể của ông C) đe dọa ông C nếu không chia tài sản cho mình thì sẽ làm hại chị B (là con của ông C và là vợ của A) Nếu ông C lập di chúc theo như sự sắp đặt của A chứng tỏ bản di chúc này bị vô hiệu do người lập di chúc bị đe dọa
Trang 6− Người lập di chúc bị cưỡng ép
Nếu sự đe dọa là tác động làm cho người bị đe dọa sợ hãi thi hành vi cưỡng ép thường
là việc dựa vào hoàn cảnh đặc biệt của người để lại di sản để dồn ép người đó phải miễn cưỡng lập di chúc theo mục đích của người cưỡng ép
Thứ ba, nội dung của di chúc không vi phạm điều cấm của luật, không trái đạo đức xã hội
Nội dung của di chúc là tổng hợp các vấn đề mà người lập di chúc đã thể hiện trong di chúc đó Vì vậy, một di chúc chỉ được coi là hợp pháp nếu sự thể hiện trên không vi phạm những điều luật đã cấm và không trái với chuẩn mực ứng xử đang được cộng đồng thừa nhận
Do vậy điều kiện nội dung của di chúc không vi phạm điều cấm của luật cần hiểu theo hướng điều khoản tổng hợp ý chí của người lập di chúc không rơi vào các trường hợp cấm được liệt kê trong các văn bản luật cụ thể Việc quy định nội dung của di chúc không vi phạm điều cấm của luật là điểm mới của BLDS 2015
Thứ tư, hình thức của di chúc không trái quy định của luật
Di chúc của người từ đủ mười lăm tuổi đến chưa đủ mười tám tuổi phải được lập thành văn bản Di chúc miệng phải được người làm chứng ghi lại thành văn bản và phải được công chứng hoặc chứng thực chậm nhất là sau năm ngày, kể từ ngày người lập di chúc miệng thể hiện ý chí cuối cùng Di chúc không có chứng thực, công chứng, xác nhận chỉ được coi là hợp pháp nếu do người lập di chúc tự tay viết
Trang 7theo pháp luật Mặc khác, nếu việc dịch chuyển này được thực hiện trên ý chí tự nguyện của người đã chết thể hiện trong di chúc mà họ để lại thì việc chuyển dịch này theo phương thức thừa kế theo di chúc Do đó đối tượng được hưởng thừa kế theo di chúc không chỉ có thể là cá nhân mà còn có thể là cơ quan, tổ chức
II Hình thức của di chúc theo quy định của Bộ luật dân sự 2015
1 Lịch sử hình thành và phát triển pháp luật về hình thức di chúc ở Việt Nam
Hình thức di chúc trong bộ luật Hồng Đức
Pháp luật dưới thời Lê có thừa nhận hai hình thức thừa kế là thừa kế theo di chúc và thừa kế theo pháp luật Theo Điều 390 Quốc triều hình luật thì cha mẹ nhiều tuổi về già phải có trách nhiệm lo làm chúc thư để lại tài sản cho con cái Di chúc được viết dưới dạng văn bản được gọi là chúc thư
Hình thức di chúc trong bộ luật Gia Long
So với thời Lê, thời Nguyễn mà cụ thể là trong bộ Hoàng Việt luật lệ có rất ít các chế định liên quan đến thừa kế Đối với hình thức thừa kế theo di chúc thì trong Hoàng việt luật lệ không quy định mà chỉ quy định về người thừa kế theo di chúc có quyền hưởng di sản sau khi cha mẹ chết (Mục 10 quyển 6 Hộ luật)
Hình thức di chúc dưới thời Pháp thuộc
Pháp luật thời kì này công nhận hai hình thức chia thừa kế là chia theo di chúc và chia theo pháp luật
Hình thức di chức từ 1945 đến nay
Vấn đề hình thức của di chúc chưa được đề cập nhiều trong pháp luật giai đoạn 1945 đến thời kì đổi mới Trong Thông tư số 81 hướng dẫn giải quyết tranh chấp về thừa kế ban hành ngày 24/ 7/1981; Pháp lệnh thừa kế ngày 30/8/1990; trong BLDS 1995 , BLDS 2005 và trong cả BLDS 2015 đều quy định về hình thức di chúc; có 2 hình thức
di chúc đó là di chúc miệng và di chúc bằng văn bản
Trang 82 Phân tích hình thức của di chúc theo quy định của Bộ luật dân sự 2015
Hình thức di chúc là phương thức biểu hiện ý chí của người lập di chúc; là căn
cứ pháp lí làm phát sinh quan hệ thừa kế theo di chúc, là chứng cứ để bảo vệ quyền lợi cho người được chỉ định trong di chúc Đây là mối quan hệ dân sự phát sinh liên quan đến tài sản; vì thế BLDS 2015 chia rõ di chúc có 2 hình thức: một là hình thức văn bản, hai là hình thức miệng
Dù thể hiện trong hình thức nào thì di trong di chúc phải có đủ các nội dung chính sau:
− Ngày, tháng, năm lập di chúc;
− Họ, tên và nơi cư trú của người lập di chúc;
− Họ, tên người, cơ quan, tổ chức được hưởng di sản;
− Di sản để lại và nơi có di sản
Di chúc không được viết tắt hoặc viết bằng ký hiệu, nếu di chúc gồm nhiều trang thì mỗi trang phải được ghi số thứ tự và có chữ ký hoặc điểm chỉ của người lập di chúc Trường hợp di chúc có sự tẩy xóa, sửa chữa thì người tự viết di chúc hoặc người làm chứng di chúc phải ký tên bên cạnh chỗ tẩy xóa, sửa chữa
2.1 Di chúc bằng văn bản
Đây là loại di chúc được thể hiện dưới dạng chữ viết (có thể viết tay, đánh máy hoặc in), được chứng nhận hoặc không có chứng nhận của cơ quan nhà nước có thẩm quyền tùy vào những trường hợp cụ thể mà BLDS 2015 quy định
Theo Điều 628 BLDS 2015 di chúc bằng văn bản gồm:
− Di chúc bằng văn bản không có người làm chứng
Trang 9Điều 633 BLDS 2015 quy định người lập di chúc phải tự viết và ký vào bản di chúc Theo đó, điều kiện có hiệu lực của di chúc được xác định như sau:
− Di chúc phải là di chúc viết tay;
− Di chúc phải do chính người lập di chúc tự tay viết;
− Người lập di chúc tự tay ký vào bản di chúc
Di chúc tự tay người để lại di sản viết và ký tên vào là hình thức thể hiện đúng nhất tâm nguyện của người để lại di sản thừa kế Bởi trong trong trường hợp này, nội dung
di chúc là sự phản ánh trực tiếp suy nghĩ, ý chí của người lập di chúc mà không qua một cá nhân trung gian nào khác Khi người lập di chúc tự tay viết cũng chứng minh được rằng khi đó họ vẫn khoẻ mạnh và minh mẫn trong quá trình viết di chúc Vì vậy
nó đáp ứng đủ các điều kiện để một di chúc hợp pháp
b) Di chúc bằng văn bản có người làm chứng
Theo quy định tại Điều 634 Bộ luật dân sự năm 2015 quy định: “Trường hợp người lập di chúc không tự mình viết bản di chúc thì có thể tự mình đánh máy hoặc nhờ người khác viết hoặc đánh máy bản di chúc, nhưng phải có ít nhất là hai người làm chứng Người lập di chúc phải ký hoặc điểm chỉ vào bản di chúc trước mặt những người làm chứng, những người làm chứng xác nhận chữ ký, điểm chỉ của người lập di chúc và ký vào bản di chúc” Đồng thời việc lập di chúc bằng văn bản có người làm chứng phải tuân theo quy định tại Điều 631 và Điều 632 của Bộ luật này.
Như vậy, theo quy định này thì người lập di chúc có thể tự đánh máy hoặc có thể nhờ người khác viết hộ, đánh máy hộ di chúc Tuy nhiên, di chúc do người lập di chúc tự đánh máy hoặc nhờ người khác viết hộ, đánh máy hộ chỉ có giá trị pháp lý khi đáp ứng đầy đủ các điều kiện sau:
− Phải là ý chí của người để lại di sản và được thể hiện dưới dạng văn bản
− Di chúc phải có ít nhất hai người làm chứng mới được coi là hợp lệ BLDS
2015 không quy định rõ người làm chứng phải làm chứng những gì nhưng có
Trang 10thể hiểu người làm chứng phải làm chứng đúng những hành vi của người lập di chúc (người để lại di sản) và người viết hộ di chúc Việc quy định 2 người làm chứng góp phần hạn chế những ý muốn chủ quan của một cá nhân nào đó nhằm làm sai đi ý nguyện của người lập di chúc Đây là một điểm rất hợp lí được các nhà làm luật đúc kết ra
− Di chúc phải được người lập di chúc ký tên hoặc điểm chỉ trước mặt những người làm chứng Điều này thể hiện tính công khai, rõ ràng minh bạch trong di chúc; là căn cứ xác nhận di chúc được viết ra như đúng ý nguyện của người để lại di sản
− Những người làm chứng xác nhận làm chứng việc lập di chúc và ký tên vào bản
di chúc Khi đó người làm chứng phải có trách nhiệm liên quan đến các vấn đề phát sinh về xác thực tính chính xác của bản di chúc
➢ Từ đó có thể rút ra di chúc bằng văn bản có người làm chứng có 3 giai đoạn Một là người lập di chúc tuyên bố ý chí
Hai là người lập di chúc và người viết hộ soạn thảo nội dung di chúc
Ba là người lập di chúc cùng 2 người làm chứng ký tên hoặc điểm chỉ vào bản
di chúc
c) Di chúc bằng văn bản có công chứng hoặc chứng thực
Sau khi lập di chúc người lập di chúc tự mình đem bản di chúc đó đến tổ chức hành nghề công chứng, yêu cầu công chứng viên chứng nhận vào bản di chúc của mình hoặc đến Ủy ban nhân dân cấp xã yêu cầu người có thẩm quyền chứng thực vào bản di chúc của mình Như vậy mới được gọi là di chúc bằng văn bản có công chứng hoặc chứng thực
Di chúc chỉ bắt buộc phải công chứng nếu đó là di chúc của người bị hạn chế về thể chất hoặc của người không biết chữ Đối với các trường hợp khác, di chúc không bắt buộc phải công chứng hay chứng thực Miễn là đáp ứng đủ các điều kiện về chủ thể, nội dung… đều được coi là hợp pháp Tuy nhiên, việc công chứng di chúc thể hiện tính pháp lý cao nhất của di chúc so với các trường hợp lập di chúc bằng văn bản khác
Trang 11Vì vậy mà pháp luật dân sự cho phép người lập di chúc có thể yêu cầu công chứng
hoặc chứng thực bản di chúc theo Điều 635 BLDS 2015
Theo đó, người lập di chúc có thể chọn một trong hai cách sau đây để công chứng chứng thực bản di chúc của mình
− Di chúc bằng văn bản được lập tại tổ chức hành nghề công chứng hoặc Ủy ban
nhân dân cấp xã quy định phải tuân theo thủ tục của Điều 636 BLDS 2015
Một là, đối với thể thức thông thường, người lập di chúc tuyên bố nội dung của
di chúc trước công chứng viên hoặc người có thẩm quyền chứng thực của Ủy ban nhân dân cấp xã Công chứng viên hoặc người có thẩm quyền chứng thực của Ủy ban nhân dân cấp xã phải ghi chép lại nội dung mà người lập di chúc đã tuyên bố Người lập di chúc ký hoặc điểm chỉ vào bản di chúc sau khi xác nhận bản di chúc đã được ghi chép chính xác và thể hiện đúng ý chí của mình Công chứng viên hoặc người có thẩm quyền chứng thực của Ủy ban nhân dân cấp xã ký vào bản di chúc
Hai là, đối với thể thức đặc biệt được áp dụng trong trường hợp người lập di
chúc không đọc được hoặc không nghe được bản di chúc, không ký hoặc không điểm chỉ được thì phải nhờ người làm chứng và người này phải ký xác nhận trước mặt công chứng viên hoặc người có thẩm quyền chứng thực của Ủy ban nhân dân cấp xã Công chứng viên hoặc người có thẩm quyền chứng thực của Ủy ban nhân dân cấp xã chứng nhận bản di chúc trước mặt người lập di chúc và người làm chứng
− Di chúc bằng văn bản do công chứng viên lập tại chỗ được quy định tại khoản 1 Điều 639 BLDS 2015: “Người lập di chúc có thể yêu cầu công chứng viên tới
chỗ ở của mình để lập di chúc”
Tuy nhiên, cần lưu ý chỉ trong một số trường hợp nhất định, công chứng viên mới có thể đến chỗ ở của người để lại di sản để lập di chúc (xem khoản 2 Điều 44 Luật công chứng năm 2014) Về cách thức, thủ tục lập di chúc dưới thể thức này tương tự như cách thức, thủ tục lập di chúc bằng văn bản tại tổ chức hành nghề công chứng hoặc Ủy ban nhân dân cấp xã