1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

D tai s 24 bui thu hin hoang nht ph

41 8 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 41
Dung lượng 5,11 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Chương 1: Những vấn đề lí luận về cơ cấu đầu tư côngVì vậy, nên thống nhất quan niệm đầu tư công là việc sử dụng nguồn vốn nhànước để đảm bảo các hoạt động của nhà nước được diễn ra bì

Trang 1

TRƯỜNG ĐẠI HỌC NGOẠI THƯƠNGKHOA TÀI CHÍNH NGÂN HÀNG

- -TIỂU LUẬN LÝ THUYẾT TÀI CHÍNH

ĐỀ TÀI: THỰC TRẠNG VỀ CƠ CẤU ĐẦU TƯ CÔNG CỦA

NƯỚC TA GIAI ĐOẠN 2010-2015 VÀ ĐÁNH GIÁ KẾT QUẢ HẠN CHẾ, NGUYÊN NHÂN

(ĐỀ TÀI SỐ 24)

Nhóm sinh viên thực hiện : Bùi Thu Hiền

Hoàng Nhật Phương Hoàng Hương LyGiáo viên hướng dẫn :TS Nguyễn Thị Lan

Hà Nội, ngày 31 tháng 12 năm 2015

Trang 2

66 1413310080 Hoàng Hương Ly Những vấn đề lí luận chung về cơ cấu

đầu tư công

85 1413310101 Hoàng Nhật Phương Giải pháp hoàn thiện cơ cấu đầu tư

công theo hướng bền vững

Trang 3

MỤC LỤC MUC LUC BIEU D

MỤC LỤC BIỂU ĐỒ 

LỜI MỞ ĐẦU 1

KẾT LUẬN 36

TÀI LIỆU THAM KHẢO 37

Trang 4

MỤC LỤC BẢNG

Bảng 1: Tổng vốn đầu tư xã hội theo thành phần kinh tế giai đoạn 2010-2015 (đơn vị:

tỉ VND) 12Bảng 2 Cơ cấu vốn đầu tư toàn xã hội theo thành phần kinh tế giai đoạn 2010-2015

(đv: %) 12Bảng 3 Cơ cấu nguồn vốn đấu tư công theo giá thực tế từ năm 2010 đến năm 2014

(đv: %) 14Bảng 4 Vốn đầu tư thực hiện của khu vực kinh tế Nhà nước phân theo nguồn vốn 15Bảng 5 Tỷ trọng đầu tư công theo lĩnh vực kinh tế giai đoạn 2010-2015 (đơn vị %),

giá so sánh năm 2010 17Bảng 6 Vốn đầu tư nhà nước cho các ngành kinh tế giai đoạn 2010-2015 (Đv: tỷ

VND, giá so sánh 2010) 19Bảng 7 Phân bổ vốn đầu tư theo trung ương và địa phương (% theo giá thực tế) 24Bảng 8 Hệ số ICOR đầu tư toàn XH và tốc độ tăng trưởng KT của VN giai đoạn năm

2010 đến năm 2015 (tỉ VND, giá so sánh 2010) 30Bảng 9 Hiệu quả đầu tư của khu vực nhà nước giai đoạn 2010 – 2015 theo giá so sánh

2010 31

MỤC LỤC BIỂU ĐỒBiểu đồ 1 Cơ cấu vốn đầu tư toàn xã hội phân theo thành phần kinh tế giai đoạn 2010-

2015 13Biểu đồ 2 Cơ cấu nguồn vốn đấu tư công theo giá thực tế từ năm 2010 đến năm 2014

(đv: %) 15Biểu đồ 3 Vốn đầu tư công theo nguồn vốn, giá so sánh 2010, đơn vị : nghìn tỉ VND16

Biểu đồ 4 Tỷ trọng đầu tư công theo lĩnh vực kinh tế giai đoạn 2010-2015 (đơn vị

%), giá so sánh năm 2010 18

Biểu đồ 5 Tỷ trọng đầu tư công theo lĩnh vực kinh tế giai đoạn 2010-2015 (đơn vị %),

giá so sánh năm 2010 18Biểu đồ 6 Vốn đầu tư nhà nước cho các ngành kinh tế giai đoạn 2010-2015 (Đv: tỷ

VND, giá so sánh 2010) 21Biểu đồ 7 Phân bổ nguồn vốn đầu tư theo trung ương và địa phương ( đv : % theo giá

thực tế) 25Biểu đồ 8 Tương quan hệ số ICOR toàn xã hội, ICOR KVNN và tốc độ tăng trưởng

kinh tế giai đoạn 2010-2015 ( tổng hợp từ 2 bảng trên) 32

Trang 5

LỜI MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài

Trong bối cảnh thế giới hiện nay, các nước không còn chiến tranh vũ trang nữa

mà thay vào đó là cuộc chiến tranh trên lĩnh vực kinh tế Nước nào có nền kinh tếmạnh sẽ có tầm ảnh hưởng lớn trên thế giới Cuộc khủng hoảng tài chính thế giới năm

2008 đã làm cho tình hình kinh tế thế giới rơi vào khủng hoảng sâu sắc Thế giới đãtrải qua những năm mà bức tranh kinh tế vô cùng ảm đảm Thế giới chứng kiến nhiều

sự thay đổi trên bản đồ kinh tế thế giới, đặc biệt là sự lớn mạnh không ngừng củaTrung Quốc Trước những biến động của nền tài chính, kinh tế toàn cầu ấy đòi hỏi tất

cả các quốc gia cần phải tự thiết lập cho mình những chính sách tài chính vững vàng,

để đầu tư, hội nhập và tăng trưởng Tuy là một đất nước mới chỉ đang trên đà pháttriển, nhưng trên cơ sở phát huy những tiềm năng vốn có, tích cực cải thiện nhữngđiểm yếu và lỗ hổng trong quản lý kinh tế, Việt Nam đã bước đầu thể hiện được khảnăng, gây chú ý với bạn bè thế giới bằng những bước tiến chắc chắn trong công cuộcđổi mới của mình Có thể nói, một trong những vấn đề quan trọng nhất trong việc xâydựng nền kinh tế mạnh cho mỗi quốc gia, đó là việc làm chủ được đầu tư, đặc biệt làđầu tư công Nghiên cứu những chính sách của Việt Nam những năm trở lại đây,không thể phủ nhận rằng, trong tất cả những con số kinh tế được báo cáo hàng năm, thìnhững kết quả về đầu tư công, luôn luôn nhận được sự quan tâm hàng đầu từ nhữngnhà làm chính sách Tuy nhiên, đi đôi với sự quan tâm đó, đầu tư công vẫn luôn là bàitoán khó cho Việt Nam, khi mà hiệu quả của đầu tư công đem lại cho đất nước trênthực tế không tương xứng với sự chú trọng của nền kinh tế dành cho nó Giải quyết tốtbài toán này không những mang lại lợi ích to lớn cho nền kinh tế của đất nước, mà còngóp phần giúp cho Việt Nam phát triển thuận lợi và vững chắc, xây dựng niềm tin vàthu hút bạn bè quốc tế, hòa mình cùng với sự đi lên của thời đại

Đầu tư công là một vấn đề khó với nhiều khía cạnh phức tạp và sâu rộng Đầu

tư công là gì? Nguồn vốn cho đầu tư công xuất phát từ những nguồn nào? Vai trò củađầu tư công quan trọng đến đâu trong nền kinh tế? Thực trạng của đầu tư công tại ViệtNam đang diễn ra như thế nào? Những hạn chế mà Việt Nam đang mắc phải trongphép giải bài toán về đầu tư công, nguyên nhân của những hạn chế đó nằm ở đâu vàmuốn khắc phục chúng thì cần phải làm những gì? Với những băn khoăn đó, chúngtôi đã lựa chọn đề tài nghiên cứu: “Thực trạng về cơ cấu ĐTC của nước ta trong thờigian 2010-2015 đánh giá kết quả, hạn chế và nguyên nhân” Bài viết này nhằm mụcđích tiếp cận đến những câu trả lời cơ bản nhất cho những băn khoăn kể trên, dựa trênnhững số liệu uy tín thực tế được báo cáo hàng năm và khung lý thuyết nằm trongchương trình học

2 Mục đích nghiên cứu:

Trang 6

Mục đích nghiên cứu của bài viết này nhằm giới thiệu một vài nét chung nhất

về cơ cấu đầu tư công tại Việt Nam và những kết quả, hạn chế, nguyên nhân mà vấn

đề đầu tư công đang gặp phải Dựa trên những lưu ý cơ bản về vấn đề đầu tư công,những cơ sở lý thuyết về tài chính, thực trạng và những nguyên nhân được phân tích,

có thể nhận định được những ưu, nhược điểm, từ đó đề xuất phương hướng giải quyếtcụ thể cho bài toán tái cơ cấu đầu tư công nhằm hoàn thiện hơn hiệu quả của đầu tưcông tại Việt Nam, góp phần giúp cho nền kinh tế đạt được những mục tiêu tích cựctrong tương lai

3 Phạm vi nghiên cứu:

Phạm vi nghiên cứu của bài viết là dựa trên những công trình nghiên cứu củamột số học giả trong nước về đầu tư nói chung và đầu tư công nói riêng, kết hợp vớinhững tính toán theo công thức từ Tổng cục thống kê Việt Nam các số liệu từ nhữngnguồn uy tín của, cùng với những phân tích của các chuyên gia kinh tế trong và ngoàinước về thực trạng đầu tư công giai đoạn những năm từ 2010 trở lại đây, và những dựbáo, đề xuất về đầu tư công của những nhà kinh tế hàng đầu trong thời gian tới

4 Phương pháp nghiên cứu:

Phương pháp nghiên cứu trong bài viết là đi từ những lý thuyết cơ bản về đầu

tư công, cơ cấu đầu tư công đến thực trạng đầu tư công tại Việt Nam thông qua những

số liệu do chúng tôi tự tổng hợp và tính toán từ nguồn của Tổng cục thống kê qua niêngiám các năm và từ những hạn chế thực tế, tìm ra nguyên nhân và đưa ra quan điểmnhận định cũng như hướng giải pháp cho đầu tư công ở tương lai

Trang 7

Chương 1: Những vấn đề lí luận về cơ cấu đầu tư công

CHƯƠNG 1: NHỮNG VẤN ĐỀ LÍ LUẬN CHUNG VỀ CƠ CẤU ĐẦU TƯ CÔNG1.1 Đầu tư công

1.1.1 Khái niệm

Đầu tư và đầu tư công là một khái niệm mở và có nhiều cách hiểu không hoàntoàn giống nhau, cả trong nước, cũng như trên thế giới Trong kinh tế học, khái niệmđầu tư được hiểu là việc sử dụng vốn tư bản vào kinh doanh nhằm thu lợi nhuận vàtăng cường sức sản xuất trong tương lai Còn hiện nay xã hội quan niệm đầu tư là việc

sử dụng vốn dưới mọi hình thức bằng các tài sản hữu hình (tiền, nhà xưởng, máy

hiêu, ) thông qua các công cụ và thương thức đầu tư (trực tiếp hay gián tiếp, doanhnghiệp hay dự án, một mình hay cổ phần, ) để nhằm đạt được lợi ích nào đó trongtương lai theo mục đích đã đặt ra của chủ đầu từ, trong đó ưu tiên các mục tiêu kinh tế,mang lại lợi nhuận cho chủ đầu tư Tùy theo sở hữu nguồn vốn đầu tư mà phân thànhđầu tư công hay đầu tư tư nhân Quản lí vốn đầu tư công thường là thuộc chức năngcủa chính phủ, vì vậy đầu tư công thường được đồng nhất với đầu tư mà các cơ quanchính phủ hoặc doanh nghiệp của chính phủ thực hiện Ở Việt Nam, khái niệm này

“đầu tư công” được sử dụng từ sau khi Đảng và Nhà nước thực hiện công cuộc đổimới, nền kinh tế kế hoạch hóa tập trung được chuyển sang nền kinh tế thị trường Vìvậy, đầu tư công được hiểu là việc sử dụng nguồn vốn nhà nước để đầu tư vào cácchương trình, dự án phục vụ phát triển kinh tế - xã hội, không nhằm mục đích kinhdoanh

Việc đầu tư nhằm mục đích kinh doanh của doanh nghiệp thuộc sở hữu nhànước không nằm trong đầu tư công

Việc thiếu một khái niệm đầu tư công thống nhất, có thể bao quát hết các hoạtđộng đầu tư công, đã tạo điều kiện cho các chủ đầu tư “lách luật” theo cách thực chất

là dự án đầu tư công, nhưng lại không chịu sự điều chỉnh của pháp luật về đầu tư công,

mà điều chỉnh bởi pháp luật đầu tư, thương mại, gây thất thoát cho ngân sách nhànước

Trang 8

Chương 1: Những vấn đề lí luận về cơ cấu đầu tư công

Vì vậy, nên thống nhất quan niệm đầu tư công là việc sử dụng nguồn vốn nhànước để đảm bảo các hoạt động của nhà nước được diễn ra bình thường nhằm đáp ứngnhu cầu của công dân, bao gồm:

Ngân sách Nhà Nước lại được hình thành từ nhiều nguồn khác nhau, nhưng tưụchung lại nguồn hình thành Ngân sách Nhà Nước gồm có các khoản từ thu thuế, phí và

lệ phí Khi nhắc đến Ngân sách Nhà Nước, người ta thường nhắc đến thuế, bởi đối vớiphần lớn các quốc gia trên thế giới, nói chung, thuế là khoản thu chiếm tỷ trọng lớnnhất tạo nên Ngân sách Nhà Nước Thuế được thể hiện như là một khoản nộp bắt buộc

mà các thể nhân và pháp nhân có nghĩa vụ phải thực hiện đối với Nhà nước, phát sinhtrên cơ sở các văn bản pháp luật do Nhà nước ban hành, không mang tính chất đối giá

và hoàn trả trực tiếp cho đối tượng nộp thuế Nó được xây dựng dựa trên sự trao đổinghĩa vụ giữa công dân với Nhà Nước của họ Ngoài thuế, Ngân sách Nhà Nước cònđược hình thành từ phí và lệ phí Đây là hai nguồn thu được liệt kê gắn liền với chứcnăng cung cấp hàng hóa công cộng của Nhà Nước Bản chất của phí và lệ phí là việcthể hiện bằng tiền của khoản phải nộp cho Nhà Nước khi sử dụng các hàng hóa côngcộng có thu phí

Vốn đầu tư này thường dành cho các dự án đầu tư không hoàn lại hoặc không

có khả năng thu hồi vốn hoặc thu hồi vốn rất chậm

(2) Vốn tín dụng do nhà nước bảo lãnh và đầu tư phát triển của nhà nước

“Tín dụng” là một tính từ gắn liền với các khoản vay nợ có nghĩa vụ phải trảtrong tương lai

Vốn tín dụng Nhà Nước là khoản nợ phát sinh từ các khoản vay trong nước,nước ngoài, được ký kết, phát hành, nhân danh Nhà Nước, nhân danh Chính phủ hoặccác khoản vay khác do Bộ Tài Chính ký kết, phát hành ủy quyển phát hành theo quyđịnh của pháp luật Nếu hiểu nôm na, có thể hiểu vốn tín dụng Nhà Nước là nhữngkhoản nợ của Nhà Nước từ nhiều nguồn khác nhau, và có cam kết trả trong tương lai

Vốn đầu tư vay trong nước có nguồn từ trái phiếu chính phủ, Nhà Nước vay củanhân dân để thực hiện các mục tiêu phát triển nhất định, và sẽ hoản trả lại sau mộtkhoảng thời gian có cam kết

Trang 9

Chương 1: Những vấn đề lí luận về cơ cấu đầu tư công

Vốn đầu tư vay ngoài nước là các nguồn vốn mà chính phủ vay nợ từ nhữngkênh bên ngoài thông qua ODA

ODA là cụm từ viết tắt của Official Development Assistance, có nghĩa là hỗ trợphát triển chính thức ODA được hiểu là một hình thức đầu tư nước ngoài Gọi là “hỗtrợ” bởi vì các khoản đầu tư này thường là các khoản cho vay không lãi suất hoặc lãisuất thấp với thời gian vay dài Đôi khi còn gọi là viện trợ Gọi là “phát triển” vì mụctiêu danh nghĩa của các khoản đầu tư này là phát triển kinh tế và nâng cao phúc lợi ởnước được đầu tư Gọi là “chính thức”, vì nó thường là cho Nhà nước vay

ODA thường được cung cấp bởi các cơ quan chính thức của chính phủ hoặc các

tổ chức liên chính phủ, phi chính phủ tài trợ cho các nước đang hoặc kém phát triển

Việt Nam là một quốc gia đang phát triển, vậy nên nguồn vốn ODA tài trợ choViệt Nam thường ở mức cao và thường xuyên

Vốn tín dụng Nhà Nước (bao gồm trong nước và nước ngoài sử dụng cho đầutư) là một nguồn hiệu quả trong đầu tư công, bởi vì những khoản vay tín dụng của NhàNước ở hiện tại để đầu tư cho những mục đích của đầu tư công khi mà Ngân sách NhàNước không đủ khả năng để thực hiện những mục đích đó, sẽ tạo ra những hiệu quả tolớn và kịp thời cho nền kinh tế

(3) Vốn đầu tư sản xuất của các doanh nghiệp nhà nước và các vốn khác donhà nước quản lí

Những doanh nghiệp do Nhà Nước chiếm phần lớn vốn (nguồn vốn của doanhnghiệp chủ yếu được hình thành từ Ngân sách Nhà Nước) hoặc vốn của doanh nghiệpđược vay dưới sự bảo lãnh uy tín của Chính phủ

Những doanh nghiệp này cũng góp phần tạo nên nguồn vốn của đầu tư công,tuy chiếm tỷ trọng nhỏ nhưng nó cũng là một trong những nguồn quan trọng và khôngthể bỏ qua

Trong luật Đầu tư công ban hành ngày 18/6/2014 và có hiệu lực từ 1/1/2015 chỉ

rõ khái niệm Đầu tư công là hoạt động đầu tư của Nhà nước vào các chương trình, dự

án xây dựng kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội và đầu tư vào các chương trình, dự ánphục vụ phát triển kinh tế - xã hội

Lĩnh vực đầu tư công bao gồm:

 Đầu tư chương trình, dự án kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội

 Đầu tư phục vụ hoạt động của cơ quan nhà nước, đơn vị sự nghiệp, tổchức chính trị, tổ chức chính trị - xã hội

 Đầu tư và hỗ trợ hoạt động cung cấp sản phẩm, dịch vụ công ích

 Đầu tư của Nhà nước tham gia thực hiện dự án theo hình thức đối táccông tư

Trang 10

Chương 1: Những vấn đề lí luận về cơ cấu đầu tư công

1.1.2 Đặc điểm

(1) Đầu tư công là hoạt động của Nhà nước

(2) Nguồn vốn đầu tư cho hoạt động đầu tư công là từ Nhà nước

(3) Mục tiêu của hoạt động đầu tư công là các chương trình, dự án xây dựngkết cấu hạ tầng và phát triển kinh tế - xã hội, trong đó chủ yếu là theođuổi các mục tiêu của chính sách công

1.1.3 Vai trò của đầu tư công

Với mục đích rõ ràng là để cải thiện, xây dựng, phát triển các dự án, chươngtrình nhằm phục vụ phát triển kinh tế – xã hội, vai trò của đầu tư công được thể hiệncụ thể và chính xác, gắn liền với vai trò của kinh tế Nhà nước, là một công cụ hữu hiệu

để đảm bảo xã hội phát triển bền vững và hòa chung được với xu thế của thế giới.Bằng việc cung cấp, đầu tư cho các dự án nhằm mục đích phục vụ cho cộng đồng xãhội, đầu tư công củng cố lòng tin của cộng đồng dân cư đối với Nhà Nước, củng cố vịthế thống trị chắc chắn của Nhà Nước, đem lại những lợi ích căn bản phục vụ cho quátrình phát triển của mỗi quốc gia Vai trò to lớn của đầu tư công được thể hiện qua cáckhía cạnh tiêu biểu sau

(1) Vai trò đối với quá trình công nghiệp hóa – hiện đại hóa đất nước

Với nhiệm vụ của mình, đầu tư công hoàn thành các dự án thúc đẩy quá trìnhphát triển kinh tế, ổn định xã hội, vai trò của đầu tư công đặc biệt to lớn trong cáctrường hợp nền kinh tế gặp phải khủng hoảng, nền kinh tế cần thực hiện những mụctiêu nhất định trong thời gian giới hạn Quá trình công nghiệp hóa – hiện đại hóa gắnliền với sự chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng tích cực và phù hợp, nên đầu tưcông góp phần trong quá trình chuyển dịch ấy, làm cho nó hiệu quả với tốc độ nhanhhơn

Dễ thấy với sự đầu tư của Nhà Nước cho các mục tiêu kinh tế – xã hội, mà điểnhình là đầu tư cơ sở hạ tầng, định hướng đầu tư các ngành công nghiệp – dịch vụ mũinhọn trên cơ sở hoàn thiện hóa nông nghiệp nông thôn, con đường đến với mục tiêucông nghiệp hóa – hiện đại hóa của Việt Nam đã được giúp đỡ rất nhiều, nhận được sựnhìn nhận của đông đảo bạn bè thế giới

Những năm nền kinh tế đối diện với khủng hoảng, bằng việc điều chỉnh đầu tưcông với những gói kích cầu, điều chỉnh chi tiêu của chính phủ thông qua kênh đầu tưcông, nền kinh tế Việt Nam, tuy không thoát được sự chao đảo cùng với xu hướngchung, nhưng cũng đã không lún sâu cùng với sự khủng hoảng, vẫn chậm chạp bước

đi những bước chắc chắn thay vì tụt lùi do ảnh hưởng sâu của khủng hoảng Có thểnói, đầu tư công đã góp phần rất lớn cho những thành công đó

Trang 11

Chương 1: Những vấn đề lí luận về cơ cấu đầu tư công

(2) Góp phần định hình phát triển cơ sở hạ tầng kinh tế – xã hội

Những dự án mà đầu tư công góp mặt và đóng vai trò chủ đạo gồm có những

dự án đầu tư cho phát triển cơ sở hạ tầng kinh tế – xã hội, mà vẫn được hiểu nôm na

đó là những công trình công Đó là những công trình có giá trị lớn với vốn đầu tư cao,mang tầm quan trọng trong việc phát triển chung của đất nước, phục vụ cho toàn thểcộng đồng Với việc yêu cầu nguồn vốn lớn như vây, những cơ sở hạ tầng kinh tế – xãhội của quốc gia không thể được đầu tư bởi các nhà thầu tư nhân lẻ tẻ và rời rạc Sựtập trung vốn để đầu tư cho các công trình như thế, Nhà Nước đã đảm bảo được vấn đềphát triển chung của toàn bộ xã hội bằng việc cung cấp thống nhất và hiệu quả cáccông trình công, định hình nhất quán và có quy hoạch rõ ràng cho các vấn đề mangtầm vĩ mô, đặt nền móng cho vấn đề phát triển lâu dài của quốc gia

(3) Đầu tư công là một kênh hiệu quả trong việc điều chỉnh tổng cầu củatoàn nền kinh tế

Tổng cầu của nền kinh tế bao gồm chi tiêu của Chính phủ, đầu tư, tiêu dùng củacác hộ gia đình và xuất khẩu ròng Vậy nên, bằng việc tác động trực tiếp đến phần chitiêu chính phủ trong tổng cầu, đầu tư công được coi là một công cụ hiệu quả trong việcđiều chỉnh tổng cầu nói chung

Chi tiêu chính phủ gồm nhiều loại chi khác nhau, nhưng trong đó đầu tư côngchiếm tỷ trọng lớn bởi nó đảm bảo việc thực hiện chức năng của Nhà Nước nói chung

và đảm bảo sự phát triển kinh tế – xã hội, vấn đề ảnh hưởng trực tiếp đến hiệu quả vàdanh tiếng của Nhà Nước, nên khi điều chỉnh đầu tư công, sẽ dẫn đến chi tiêu chínhphủ thay đổi theo, và cũng đồng thời bởi vì tổng cầu được hình thành bởi tỷ trọngkhông hề nhỏ của chi tiêu chính phủ, nên vô hình chung tổng cầu sẽ được điều chỉnhbởi sự điều chỉnh đầu tư công

Nhược điểm của vai trò này chính là độ trễ trong việc thực hiện các chính sách,từ điều chỉnh đầu tư công, đến hiệu quả của nó đến chi tiêu chính phủ, và từ ảnh hưởngcủa chi tiêu chính phủ đến tổng cầu nói chung Trong nhiều trường hợp, khi hoàn cảnhkinh tế và bối cảnh thế giới thay đổi, độ trễ này làm cho vai trò quan trọng này của đầu

tư công dường như bị vô hiệu hóa phần nào

(4) Đầu tư công làm tăng tổng cung và năng lực kinh tế

Đầu tư công giúp cho năng lực sản xuất vật chất cho xã hội tăng, từ đó làm chotổng cung nói chung tăng và sản lượng tăng, khi sản lượng tăng làm cho giá giảmxuống, sẽ kích thích tiêu dùng tăng lên Việc tăng tiêu dùng lại là một điều tốt đẹp cho

sự phát triển của kinh tế và xã hội nói chung

Tất cả các quốc gia trên thế giới đều hướng đến một mục đích chung đó là pháttriển kinh tế và xã hội, Tất cả các Nhà Nước trên thế giới đều có một mong muốnchung, đó là người dân của họ được tiêu dùng hàng hóa vật chất rộng rãi phong phúvới giá cả phải chăng Đầu tư công, bằng những tác động của mình giúp cho nhữngmong muốn ấy được thực hiện

Trang 12

Chương 1: Những vấn đề lí luận về cơ cấu đầu tư công

(5) Tạo cú huých và duy trì động lực tăng trưởng

Với việc đầu tư khoản vốn lớn vào mục tiêu phát triển kinh tế – xã hội, đầu tưcông tạo niềm tin và động lực cho các nguồn đầu tư khác vào trong nước, góp phầntăng trưởng kinh tế

Vai trò của đầu tư công còn được thể hiện ở việc nó khẳng định được tọa độ củanền kinh tế trong khu vực và với bạn bè quốc tế, có vai trò như là một khoản đầu tưban đầu, tạo cú huých và duy trì động lực tăng trưởng

(6) Những vai trò khác

Với sự kết hợp của những vai trò đã nêu ở trên, đầu tư công mang lại những tácđộng tích cực cho nền kinh tế nếu như Nhà Nước biết sử dụng công cụ này một cáchhiệu quả Cũng bởi vì mục tiêu của mình, mà đầu tư công đã góp phần giảm thiểuđược tỷ lệ thất nghiệp nhờ vào việc đầu tư đúng đắn, định hướng đúng, giúp cho nềnkinh tế phát triển, tạo ra thu nhập cho xã hội nhờ vào vai trò giải quyết được việc làmcủa nó

1.2 Cơ cấu đầu tư công

1.2.1 Khái niệm

Cơ cấu hay kết cấu là một phạm trù triết học phản ánh cấu trúc bên trong củamột đối tượng nào đó, kể cả số lượng và chất lượng, là tập hợp những mối quan hệ cơbản, tương đối ổn định giữa các yếu tố cấu thành nên đối tượng đó, trong một thời giannhất định Cơ cấu của một đối tượng được thể hiện bằng hai đặc trưng chính Đó là các

bộ phận cấu thành nên đối tượng và mối quan hệ giũa các bộ phận cấu thành đó

Cơ cấu của một đối tượng quyết định tính chất hay năng lực của nó nhằm thựchiện một chức năng hay mục tiêu nào đó mà đối tượng cần đạt đến Với cơ cấu xácđịnh, thì đối tượng có những tính chất nhất định hay có một năng lực và hạn chế nhấtđịnh Hay nói một cách khác, cấu trúc của đối tượng xác định tính chất và năng lực của

nó Để khắc phục những khuyết tật do cơ cấu hay tạo ra một năng lực mới và tính chấtmới của đối tượng bắt buộc phải thay đổi cấu trúc của nó

Cơ cấu đầu tư là cơ cấu các yếu tố cấu thành đầu tư như cơ cấu về vốn, nguồnvốn, cơ cấu huy động và sử dụng vốn .quan hệ hữu cơ, tương tác qua lại giữa các

bộ phận trong không gian và thời gian, vận động theo hướng hình thành một cơ cấuđầu tư hợp lý và tạo ra những tiềm lực lớn hơn về mọi mặt kinh tế-xã hội

1.2.2 Phân loại

Đầu tư công là một đối tượng phức tạp và có rất nhiều cách tiếp cận khác nhau.Đầu tư công là một phần của đầu tư toàn xã hội Người ta thường nghiên cứu về cơcấu của đầu tư toàn xã hội theo thành phần kinh tế (gồm có Kinh tế Nhà Nước, Kinh tếngoài Nhà Nước và khu vực có vốn đầu tư nước ngoài)

Hiện nay ở nước ta có các cách phân loại đầu tư công như sau:

 Theo nguồn vốn gồm có: vốn Ngân sách Nhà Nước, vốn vay, vốn củacác doanh nghiệp Nhà nước

Trang 13

Chương 1: Những vấn đề lí luận về cơ cấu đầu tư công

 Theo ngành gồm có ba đại diện ngành chính là quản lý nhà nước, xã hội

và kinh tế

 Theo cấp quản lý gồm có: Trung ương và địa phương

Mỗi cách phân loại đều phản ánh nên những thực trạng đáng lưu tâm của đầu tưcông tại Việt Nam

1.2.3 Các nhân tố tác động đến cơ cấu đầu tư công

Cơ cấu đầu tư chịu sự ảnh hưởng của nhiều nhân tố, có nhân tố thuộc nội tạinền kinh tế, có nhân tố tác động từ bên ngoài, có nhân tố tích cực thúc đẩy phát triển,song cũng có nhân tố kìm hãm, hạn chế sự phát triển

Nhóm thứ nhất, gồm những nhân tố trong nội bộ nền kinh tế, bao gồm: nhân tốthị trường và nhu cầu tiêu dùng của xã hội, trình độ phát triển của lực lượng sản xuất,quan điểm chiến lược, mục tiêu phát triển kinh tế- xã hội của đất nước trong mỗi giaiđoạn nhất định, cơ chế quản lý có thể ảnh hưởng đến việc hình thành cơ cấu đầu tư

Nhóm thứ hai, là nhóm nhân tố tác động từ bên ngoài như xu thế chính trị, xãhội, và kinh tế của khu vực và thế giới Mỗi quốc gia đều có những ưu thế riêng vềchính trị, xã hội, điều kiện địa lý, tài nguyên thiên nhiên, lao động, vốn tạo điềukiện thuận lợi cho quá trình đầu tư sản xuất Sự khác nhau đó đòi hỏi bất cứ nền kinh

tế nào cũng phải có sự trao đổi với bên ngoài ở mức độ và phạm vi khác nhau Sựtham gia vào thị trường thế giới dưới nhiều hình thức sẽ gia tăng sự thích ứng và phùhợp về cơ cấu của đầu tư với bên ngoài Trong xu thế quốc tế hóa lực lượng sản xuất

và thời đại bùng nổ thông tin, các thành tựu của cách mạng khoa học kỹ thuật chophép các nhà đầu tư nắm bắt nhanh nhạy thông tin, tìm hiểu thị trường và xác địnhchiến lược cơ cấu đầu tư hợp lý để nâng cao năng lực cạnh tranh nhằm chủ động hộinhập ở nền kinh tế của những nước nhỏ, khả năng đa dạng hóa đầu tư và phức tạp hóa

cơ cấu đầu tư có hạn, vì vậy mức độ phụ thuộc bên ngoài của các nước nay có cao hơn

so với các nước lớn

Tóm lại, các nhân tố tác động đến cơ cấu đầu tư tạo thành một hệ thống phứctạp, đòi hỏi khi phân tích phải có một quan điểm tổng hợp, đồng bộ Những điều nêutrên chỉ là một phần nhỏ nói lên mức độ và cơ chế tác động khác nhau của các nhân tốđối với cơ cấu kinh tế Sự ảnh hưởng của các nhân tố chỉ thể hiện đối với các loại hình

cơ cấu kinh tế cụ thể, và tùy thuộc vào từng loại hình cơ cấu mà các tác động củanhững nhân tố này cũng khác nhau

Trang 14

CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG VÀ CƠ CẤU ĐẦU TƯ CÔNG TẠI VIỆT NAM GIAIĐOẠN NĂM 2010-2015

2.1 Khái quát thực trạng đầu tư công giai đoạn từ 2010 đến 2015

Trong giai đoạn từ năm 2010 đến nay, mặc dù bối cảnh nền kinh tế trong nước

và thế giới có nhiều biến động phức tạp, song Việt Nam vẫn giành được những thànhtựu quan trọng về phát triển kinh tế – xã hội Xét trong giai đoạn từ năm 2010 đến năm

2015, tốc độ tăng trưởng GDP bình quân đạt 6% Nếu so tốc độ tăng trường này vớinhững nước trong khu vực như Thái Lan, Myanma, Singapore thì con số này không hềthua kém, thậm chí còn cao hơn Một trong những yếu tố giúp cho Việt Nam đạt đượcmức tăng trưởng đó chính là việc sử dụng nguồn lực tài chính đầu tư cho việc pháttriển đất nước nói chung và nền kinh tế nói riêng, hoàn thành một số mục tiêu của giaiđoạn

Có thể nhìn nhận mức độ tăng trưởng của tổng GDP và tỷ trọng vốn đầu tư toàn

xã hội so với GDP trong giai đoạn 2010 đến 2015 qua bảng sau:

2011 đến 2013 Tốc độ tăng trưởng GDP đạt mức cao nhất là 6.78% vào năm 2010 vàcũng trong năm 2010, tỷ trọng vốn đầu tư toàn xã hội so với GDP đạt mức cao nhất là38.5% Tương ứng với đó, tốc độ tăng trưởng GDP đạt mức thấp nhất vào năm 2012

và trong năm 2013, tỷ trọng vốn đầu tư toàn xã hội so với GDP đạt mức thấp nhất là30.4%

Trang 15

11Từ những nhận xét trên ta thấy rằng sự quan tâm của Nhà Nước cho vốn đầu tưtoàn xã hội là rất lớn Vốn đầu tư xã hội được quan tâm đều đặn và cùng chiều so với

sự tăng trưởng của GDP, bằng chứng đó là khi tốc độ tăng GDP ở mức thấp, kéo theo

đó là tỷ trọng vốn đầu tư cho toàn xã hội so với GDP cũng ở mức thấp tương tự Trongvòng 6 năm kể từ năm 2010, tuy tình hình kinh tế thế giới có nhiều biến đổi theohướng tiêu cực và phức tạp, nhưng vốn đầu tư cho toàn xã hội luôn ở mức cao, chiếmhơn 30% GDP và luôn ổn định

Nếu đặt trong bối cảnh mục tiêu của Việt Nam là hội nhập, phát triển kinh tế,công nghiệp hóa – hiện đại hóa, thì con số tăng trưởng của GDP cùng với tỷ trọng vốnđầu tư toàn xã hội trên GDP được thống kê trên kia thực sự là những con số đầy hivọng Nó chứng tỏ sự chú trọng của Nhà Nước đến sự phát triển kinh tế – xã hội, sựquan tâm của đất nước đến những vấn đề đầu tư công cho những mục tiêu lâu dài

2.2 Thực trạng nguồn vốn đầu tư công ở Việt Nam giai đoạn từ 2010 đến2015

Đầu tư công ở Việt Nam hiện được hiểu là đầu tư từ nguồn vốn của Nhà nước,bao gồm đầu tư phát triển từ NSNN, trái phiếu chính phủ, tín dụng nhà nước, vốn việntrợ phát triển chính thức, đầu tư phát triển của các DNNN và các nguồn vốn khác củaNhà nước Nhìn chung, hoạt động đầu tư vốn nhà nước trong những năm vừa qua cómột vị trí, vai trò rất quan trọng, giữ vai trò chủ đạo và góp phần thu hút được nhiềunguồn lực trong nước và ngoài nước cho đầu tư phát triển, góp phần tạo nên nhữngthành tựu phát triển kinh tế, được thế giới đánh giá cao và tin tưởng vào sự phát triển,từ đó nâng cao vị thế của Việt Nam trên trường quốc tế

Đầu tư công là một đối tượng phức tạp và có rất nhiều cách tiếp cận khác nhau.Đầu tư công là một phần của đầu tư toàn xã hội Người ta thường nghiên cứu về cơcấu của đầu tư toàn xã hội theo thành phần kinh tế (gồm có Kinh tế Nhà Nước, Kinh tếngoài Nhà Nước và khu vực có vốn đầu tư nước ngoài)

Đầu tư công phân theo nguồn vốn gồm có vốn Ngân sách Nhà Nước, vốn vay,vốn của các doanh nghiệp Nhà nước, phân theo ngành gồm có ba đại diện ngành chính

là quản lý nhà nước, xã hội và kinh tế, phân theo cấp quản lý từ Trung ương đến địaphương Mỗi cách nhìn nhận đều phản ánh nên những thực trạng đáng lưu tâm của đầu

ng của vốn đầu tư công trong tổng số vốn đầu tư của xã hội cho thấy sự chútrọng của Nhà Nước đối với đầu tư công có phần giảm Mặc dù vậy, số lượng đầu tưcông vẫn tăng lên hằng năm Hơn nữa, Nhà nước phải có những chính sách thích hợp

và tăng đầu tư công để khuyến khích và tạo thuận lợi cho nền kinh tế đất nước tăngtrưởng và phát triển bền vững Ngoài sự tăng lên của cơ cấu đầu tư công, cũng phải kểđến sự chuyển dịch theo hướng tăng lên của khu vực kinh tế ngoài Nhà Nước Sựchuyển dịch này đối với đầu tư công mà nói thì khá hợp lý trong bối cảnh hiện nay.Nhà Nước tích cực khuyến khích cho các doanh nghiệp thuộc khối ngoài Nhà Nướcphát triển và đầu tư, chỉ chú trọng đầu tư công ở những khu vực thật hiệu quả, tránhviệc lãng phí trong quá trình đầu tư công

Trang 16

122.2.1 Cơ cấu đầu tư công phân theo nguồn vốn

Nguồn vốn hình thành nên đầu tư công bao gồm vốn từ Ngân sách Nhà Nước,vốn vay, vốn của các doanh nghiệp Nhà Nước và vốn khác

Theo số liệu thống kê về cơ cấu nguồn vốn đấu tư công theo giá thực tế từ năm

2010 đến năm 2015, đơn vị phần trăm, thực trạng đầu tư công hiện lên sắc nét và rõràng

Bảng 1 Cơ cấu nguồn vốn đấu tư công theo giá thực tế từ năm 2010 đến năm 2014 (đv: %)

Vốn Ngân sách Nhà nước

Nhìn từ biểu đồ có thể thấy rất rõ cơ cầu đầu tư công được cấu thành phần lớntừ vốn ngân sách Nhà nước, tiếp đó đến vốn vay và cuối cùng mới đến vốn của cácdoanh nghiệp Nhà nước Nghiên cứu số liệu, vốn ngân sách Nhà Nước thường chiếmtừ 43% đến 52% trong tổng số vốn đầu tư, vốn vay chiếm từ 33,4% đến 40,7% và đầu

tư của các doanh nghiệp Nhà nước và nguồn vốn khác chiếm khoảng từ 12,8% đến18,6%

Trang 17

Tỷ trọng của đầu tư công có nguồn gốc từ vốn ngân sách Nhà Nước có xuhướng tăng giảm không ổn định trong vòng 6 năm kể từ năm 2010, tỷ trọng của vốnvay lại có xu hướng tăng lên đáng kể, trong khi đó vốn của các doanh nghiệp Nhànước lại giảm Đặc biệt trong bối cảnh nền kinh tế có nhiều xu hướng biến động hiệnnay, thì việc sử dụng nguồn vốn vay như một kênh hiệu quả cho đầu tư công là mộtđiều dễ hiểu Vốn

asdf

vay ở đây bao gồm vốn vay trong và ngoài nước

Xét riêng từng nguồn, vốn ngân sách Nhà Nước giảm 2.1% từ 44.8% vào năm

2010 xuống còn 42.7% vào năm 2015, tương ứng với giảm 1.05 lần Vốn vay tăng4.1% từ 36.6% vào năm 2010 lên đến 40.7% vào năm 2015, tương ứng với tăng 1.1lần Vốn của các doa

nh nghiệp Nhà nước và nguồn vốn khác giảm 2% từ 18.6% vào năm 2010xuống còn 16.6% vào năm 2015, tương ứng với giảm 1.12 lần

Bảng 2 Vốn đầu tư thực hiện của khu vực kinh tế Nhà nước phân theo nguồn vốn

5

287.24 2

325.91 8

351.00 5

379.71 2

9

150.21 4

163.90 3

164.00 4

160.89 8

Vốn vay 115.864 95.823 120.01

7

129.21 2

155.01 3

Vốn của doanh nghiệp

Trang 18

Việc tăng lên của nguồn vốn vay một cách nhanh chóng và mạnh mẽ cho thấyảnh hưởng phần nào sự thay đổi cơ cấu nền kinh tế đến đầu tư công Tuy nhiên, tỷtrọng vốn đầu tư trực tiếp của Ngân sách Nhà Nước lại có xu hướng ổn định Nguồnvốn này tăng liên tục từ năm 2010 đến 2013, Nhà Nước đã đưa ra các gói kích cầu nềnkinh tế, sử dụng dưới kênh đầu tư công Nhưng sau năm 2013, nguồn vốn đầu tư từngân sách Nhà Nước lại tiếp tục ổn định (có giảm nhẹ vào 2014), sự tăng lên của đầu

tư công nói chung có thể thấy là do ảnh hưởng lớn của sự tăng lên về nguồn vốn vay

Trang 19

15Vốn vay là nguồn vốn có sự hoán đổi về ích lợi trong tương lai, nghĩa là trongtương lai, Nhà nước phải trả lại khoản vốn đã vay, dù cho đó là nguồn vốn không tínhlãi với ưu đãi lớn thì đó hẳn vẫn là một gánh nặng của nền kinh tế Tỷ trọng và khốilượng vốn vay có xu hướng tăng lên là một dấu hiệu vừa có lợi và vừa có hại Cái lợi ởđây, đó là đi cùng với sự tăng về khối lượng vốn vay, là sự tăng về khối lượng đầu tưcông cho các mục tiêu kinh tế – xã hội, điều này chứng tỏ sự chú trọng của Nhà nướcđến đầu tư công Cái hại ở đây chính là nếu đầu tư nguồn vốn vay này không hiệu quảchính là việc dần dần tự tạo cho mình những áp lực kinh tế không nên có trong tươnglai Điều này thể hiện ở những khoản vay lãng phí Thực tế đã có một ví dụ rõ nét chovấn đề sử dụng nguồn vốn vay không hiệu quả, đó là việc ví dụ của Vinashin Kết luậncủa thanh tra Chính Phủ vào năm 2011 đã chỉ rõ, chỉ trong thời gian từ cuối năm 2005đến hết tháng 6/2010, Vinashin đã huy động một khối lượng vốn rất lớn từ các nguồntrong và ngoài nước dưới các hình thức vay của các tổ chức tín dụng, vay nguồn tráiphiếu quốc tế của Chính phủ, phát hành trái phiếu doanh nghiệp và các hình thức kháclên đến 72 nghìn tỷ đồng Quá trình huy động, quản lý và sử dụng vốn đều đã bị buônglỏng quản lý, tùy tiện và vi phạm quy định của pháp luật Đây là minh chứng rõ nétnhất cho việc cảnh tỉnh việc sử dụng nguồn vốn vay trong đầu tư công sao cho có hiệuquả.

2.2.2 Cơ cấu đầu tư công phân theo ngành và lĩnh vực

Trong giai đoạn từ 2010 đến năm 2015, cơ cấu đầu tư công được định hướngtập trung vào việc nâng cấp cơ sở hạ tầng, hướng đến các mục tiêu kinh tế – xã hộinhư bảo vệ môi trường, cải thiện chất lượng xac hội, trích ra một phần để khuyếnkhích các doanh nghiệp Nhà Nước, tạo điều kiện để nền kinh tế phát triển theo đúngquỹ đạo và xu hướng chung của thế giới, tránh việc nghiêng về phát triển và đầu tưthái quá cho các doanh nghiệp Nhà nước dẫn đến không hiệu quả Xu hướng này củaNhà nước rất phù hợp với tình trạng đất nước ta còn đang phát triển, vẫn còn chậpchững bước đi trên con đường hội nhập với bạn bè năm châu, chúng ta đang rất cầnnhững khoản đầu tư thiết thực cho cơ sở hạ tầng và những thứ liên quan khác để pháttriển và tạo động lực chạm đến các mục tiêu trong tương lai Tuy nhiên, việc địnhhướng này trên quá trình thực hiện vẫn còn khá chậm chạp và không hiệu quả

Nếu xét theo lĩnh vực thì đầu tư công được chia làm ba lĩnh vực chính gồm cókinh tế, xã hội và quản lý Nhà Nước

Biểu đồ và bảng sau đây sẽ cho thấy cái nhìn khái quát nhất và rõ ràng nhất vềthực trạng cơ cấu đầu tư công phân theo lĩnh vực (giá so sánh 2010)

Bảng 3 Tỷ trọng đầu tư công theo lĩnh vực kinh tế giai đoạn 2010-2015 (đơn vị %), giá so

Trang 20

16Nguồn: Tổng cục Thống kê, Niên giám thống kê năm 2014, mục Đầu tư

Biểu đồ 3 Tỷ trọng đầu tư công theo lĩnh vực kinh tế giai đoạn 2010-2015 (đơn

Nếu xét theo lĩnh vực, đầu tư công phân cho các ngành thuộc lĩnh vực kinh tếchiếm từ 74,3% đến 76.0% vốn đầu tư công, và khá ổn định qua các năm từ 2010 đến

2015 Tỷ trọng của đầu tư công vào khu vực kinh tế có xu hướng tăng qua các năm,tăng từ 74.3% vào năm 2010 đến 76.0% vào năm 2015 Đầu tư vào lĩnh vực xã hội baogồm những dự án, mục tiêu liên quan đến vấn đề phát triển xã hội nói chung, gồm vănhóa, thể thao, y tế, giáo dục tăng rất ít qua các năm, từ 15.1% vào năm 2010 và tăngchỉ 0.1% để đạt 15.2% vào năm 2015 Vốn đầu tư cho lĩnh vực quản lý Nhà Nướcgiảm rõ rệt từ 10.6% vào năm 2010 xuống còn 8.8% vào năm 2015

Nghiên cứu về các con số của cơ cấu đầu tư công của các lĩnh vực bao gồm cókinh tế, xã hội và quản lý Nhà nước có thể thấy rõ ràng sự chú trọng về giảm thiểunguồn vốn đầu tư công đổ vào lĩnh vực quản lý Nhà nước (giảm thiểu sự lãng phíkhông cần thiết) Thay vì đó là sự đầu tư cho phát triển kinh tế và đi kèm là sự giảmđầu tư cho xã hội Điều này thể hiện sự không hiệu quả của các chính sách đầu tưcông Bởi vì đi kèm với sự tăng lên của mức sống, sự phát triển của kinh tế, thì nhữngvấn đề về xã hội như chăm sóc sức khỏe con người, công nghệ, khoa học và y tế cầnphải sự đầu tư tương xứng để phát triển nguồn lực con người đồng thời với sự pháttriển kinh tế ấy Việt Nam lại chỉ chú trọng đầu tư cho lĩnh vực kinh tế mà rút bớt điphần đầu tư cho xã hội, đó có thể coi là một trong những sai lầm không nên có trongviệc tăng hiệu quả của đầu tư công

Ngày đăng: 21/01/2022, 19:27

w