BIỂU TƯỢNG CON NGHÊ TRONG VĂN HÓA VÀ NGHỆ THUẬT TẠO HÌNH VIỆT NAM Nguồn: Tạp chí Kiến trúc số 12/2014 & 1/2015 Đinh Hồng Hải Viện Hàn lâm KHXH Việt Nam https://harvard-yenching.academi
Trang 1BIỂU TƯỢNG CON NGHÊ TRONG VĂN HÓA VÀ NGHỆ
THUẬT TẠO HÌNH VIỆT NAM
(Nguồn: Tạp chí Kiến trúc số 12/2014 & 1/2015)
Đinh Hồng Hải
Viện Hàn lâm KHXH Việt Nam https://harvard-yenching.academia.edu/HaiDinh
Trong văn hóa truyền thống Việt Nam, bên cạnh con rồng đã được rất nhiều nhà nghiên cứu tìm hiểu còn có một vật linh hết sức nổi tiếng với chúng ta nhưng những hiểu biết về nó vẫn còn rất mơ hồ đó là con Nghê.1
Khác với con rồng mang tính cung đình, con Nghê là linh vật dân gian được sử dụng một cách hết sức phổ biến cả trong văn hóa dân gian và trong văn hóa cung đình Điều này dẫn đến một câu hỏi: Vậy con Nghê là linh vật dân gian ảnh hưởng đến văn hóa cung đình hay ngược lại? Để trả lời câu hỏi này chúng ta cần phải truy nguyên nguồn gốc của con Nghê Tuy nhiên, việc này không hề dễ dàng vì con Nghê không phải là một con vật có thực như rùa hay hổ mà cũng không phải là những linh vật “ngoại nhập” như Tì hưu hay sư tử Thậm chí, con Nghê còn “bị” đánh đồng với Lân, Lân mã, Long mã và Li Lân, Lân mã/ Long mã/ Li/ Nghê cũng là những linh vật khá phổ biến trong văn hóa Việt Nam nhưng lại khó nhận dạng vì
sự hình thành của chúng trong văn hóa Việt Nam khá phức tạp và thường bị lẫn lộn giữa loại này với loại khác Chính sự phức tạp đó đã dẫn đến những cách gọi tên “hỗn độn” cho nhóm linh vật này Dưới đây chúng ta cùng tìm hiểu những mối tương đồng và dị biệt giữa những linh vật trong nhóm này với con Nghê trong văn hóa Việt Nam để có thể nhận dạng rõ hơn về linh vật này
1.Nguồn gốc và tên gọi
Trong số các linh vật có nguồn gốc Trung Hoa được nêu tên ở trên thì Lân là một con vật được biết đến nhiều nhất Con Lân trong văn hóa Việt Nam có thể nhìn thấy trong các hội múa
lân - múa rồng (múa tứ linh) Lân xuất hiện ở đình, chùa, đền, miếu và nhiều loại hình kiến trúc
khác Lân được trang trí ở nhiều vi trí khác nhau, vai trò khác nhau với những công năng khác nhau của một “linh vật ngoại nhập.” Trên thực tế, Lân là tên gọi tắt của con Kỳ lân có nguồn gốc
từ văn hóa Trung Hoa với thành ngữ: lân, phụng, quy, long vị chi tứ linh “Theo Thuyết văn giải
tự của Hứa Thận đời Hán, thì Lân là tên gọi chung chỉ cặp đôi Kỳ Lân, trong đó, Kỳ là con đực,
và Lân là con cái Lân được coi là loài thú nhân từ, không dẫm đạp lên cỏ tươi và sinh vật sống Nói chung Lân là vật chỉ điềm lành, và cũng là con vật tưởng tượng không có thật (Kiều Thu Hoạch 2012, tr.26) Khi cặp đôi Kỳ và Lân dung nhập vào văn hóa Việt Nam, người Việt chỉ tiếp nhận con Lân mà “quên đi” con Kỳ Trong khi Lân mã là một linh vật có sự kết hợp Lân - ngựa, còn Long mã là sự kết hợp rồng - ngựa thành một linh vật hư cấu nửa rồng nửa ngựa, thì Li lại là
một cách gọi khác của Lân thường được biết đến trong bộ tứ linh ở Việt Nam: Long - Li - Quy –
Phụng/Phượng.2
Nói tóm lại, Lân/Lân mã/ Long mã/ Li là những tên gọi khác nhau của một linh
1
Trong nghiên cứu này cũng như các nghiên cứu khác có liên quan, chúng tôi thống nhất sử dụng tên không viết hoa với các con vật phổ biến ở mức độ đại chúng như hổ, rồng, hay rùa Trong khi các linh vật đặc biệt như Nghê,
Hổ phù, Kỳ lân hay Kertimukha sẽ dùng tên viết hoa
2
Chúng tôi đang tìm hiểu xem Li có phải là tên gọi tắt của Li vẫn/Xi vẫn (một trong số “chín con của rồng” du nhập vào Việt Nam từ văn hóa Trung Hoa) hay không, nhưng cho tới nay chúng tôi vẫn chưa tìm thấy một nghiên cứu hoặc tư liệu có liên quan nào ở Việt Nam đề cập đến vấn đề này Trong văn hóa phương tây cũng có một con vật linh dạng này gọi là Unicorn, thường được dịch là Kỳ lân
Trang 2vật có nguồn gốc Trung Hoa (Kỳ lân) được du nhập vào Việt Nam trong quá khứ và được trang trí trên các thành tố kiến trúc và nghệ thuật của người Việt Trong khi đó, Nghê là linh vật tuy mang nhiều đặc tính bản địa của người Việt nhưng lại là một linh vật “khó hiểu” nhất trong văn hóa Việt Nam mặc dù vai trò và vị trí của nó gần giống như con Lân trong văn hóa Trung Hoa
Về mặt từ nguyên, Nghê là một tên gọi thuần Việt nhưng trong các từ điển sinh học chúng
ta không hề thấy tên của một loài động vật nào có tên gọi là Nghê (trong khi rùa, phượng, hổ, sư
tử, ngựa, voi,… là những sinh vật có thực) Như vậy, có thể khẳng định rằng Nghê là một linh vật hư cấu đã được hình thành trong văn hóa truyền thống Việt Nam Trong các hiện vật khảo cổ trước giai đoạn thuộc Hán (từ thế kỷ thứ I đến thế kỷ thứ IX) được tìm thấy tại Việt Nam không
có linh vật nào là con Nghê Từ đây chúng ta có thể suy đoán rằng, con Nghê là một linh vật được hình thành trong văn hóa Việt Nam, mang đặc tính bản địa của người Việt nhưng có một số đặc điểm chịu ảnh hưởng của văn hóa “ngoại nhập,” đặc biệt là văn hóa Hán Rất có thể, biểu tượng Nghê có liên quan đến Lân/Lân mã/ Long mã/ Li được hình thành trong văn hóa Việt Nam
từ giai đoạn thuộc Hán Khi nhà Lý xây dựng nền độc lập của quốc gia Đại Việt thì biểu tượng Nghê đã được định hình ở các công trình kiến trúc nghệ thuật thời Lý.3
Điều này cũng dễ hiểu vì sau nghìn năm Bắc thuộc trong suốt Thiên niên kỷ thứ I, rất nhiều thành tố văn hóa Trung Hoa
đã thâm nhập và hòa đồng cùng với văn hóa của người Việt Biểu tượng Nghê chỉ là một thành
tố trong vô số thành tố văn hóa mà người Việt đã học hỏi, thêm bớt từ văn hóa Trung Hoa để biến thành sản phẩm văn hóa của riêng họ
Nhưng nếu như Nghê là linh vật có ảnh hưởng từ loại linh vật tương tự trong văn hóa Trung Hoa, vậy tại sao các linh vật trang trí đó lại được gọi là Nghê mà không phải là Lân/Lân mã/ Long mã/ Li? Để trả lời câu hỏi này là một công việc “mò kim đáy bể,” tuy nhiên, chúng tôi
cũng thử đưa ra một cách lý giải về tên gọi này như sau: Xét trong số các “con của rồng” theo
truyền thuyết “long sinh cửu tử” của Trung Hoa đã du nhập vào văn hóa Việt Nam có Toan nghê
là linh vật có nhiều đặc tính giống con Nghê nhất như thân thú, có bờm, Rất có thể Toan nghê4
từ văn hóa Trung Hoa thông qua một tên gọi Hán-Việt có chữ “nghê” đã được Việt hóa thành con Nghê của người Việt.5
“Bản thân chữ Nghê trong tiếng Hán gồm bộ Cẩu (chó) và chữ Nhi (trẻ con) hợp thành” (Trần Hậu Yên Thế 2011, tr.8)
Ngoài ra, chúng ta cũng cần tìm hiểu thêm về sự ảnh hưởng của biểu tượng sư tử trong nghệ thuật Phật giáo đến biểu tượng con Nghê trong văn hóa Việt Nam vì sư tử (Simhamukha) cũng là một linh vật quan trọng trong văn hóa Ấn Độ Biểu tượng sư tử được cho là linh vật có sức mạnh siêu việt trong văn hóa Ấn Độ nên nó đã được sử dụng khá phổ biến từ thời vua A Dục (Asoka) đặt trên đỉnh các cột kinh – thường được gọi là cột đá Asoka6
từ giai đoạn hưng thịnh của vương triều Maurya tại Ấn Độ tạo nên một biểu tượng linh thiêng của Phật giáo và của văn hóa Ấn Độ Tuy nhiên, sư tử không phải là loài vật phổ biến ở Trung Hoa, Việt Nam và các quốc gia ở Đông Nam Á nên trong nghệ thuật tạo hình của người Việt trước khi Phật giáo du nhập vào
3
Nếu coi con Nghê là một dạng biến đổi từ con Lân thì việc con Nghê xuất hiện từ thời Lý là có thể chấp nhận Nhưng chúng ta chưa thể khẳng định một cách chắc chắn rằng các linh vật đó chính là Nghê
4 Toan nghê hay kim nhê (theo thuyết “long sinh cửu tử” trong văn hóa Trung Hoa) là linh vật có mình sư tử, đầu
rồng, thích sự tĩnh lặng và ngắm cảnh hương khói, vì vậy, Toan nghê được đúc làm vật trang trí trên các lò đốt trầm hương
5 Hình thức Việt hóa ngôn ngữ ngoại nhập bằng những từ tiếng Việt ngắn gọn hơn là một đặc tính khá phổ biến
trong văn hóa Việt Nam Chẳng hạn, vải chế từ sợi ni-lon (nilon) đựoc gọi là vải lon; Từ ki-ốt (kios – cửa hàng) biến thành ốt trong tiếng Việt; Ngành học về phân tích tâm lý (cả 4 từ này đều là gốc Hán) biến thành phân tâm trong tiếng Việt,… Điều này có thể xảy ra giống như trường hợp Rahu – La hầu biến thành Hổ phù Xem phần Hổ phù
trong cuốn sách này
6 Loại cột kinh này cũng được tìm thấy trong văn hóa Việt Nam từ giai đoạn Đinh – Tiền Lê
Trang 3Việt Nam hoàn toàn không có biểu tượng sư tử Phải chăng do không có nguyên mẫu sư tử ở Đại Việt nên các nghệ nhân đã sáng tạo nên một loại linh vật “ngô nghê” mang đặc tính dân gian nên
từ đó xuất hiện tên gọi Nghê? Trên đây chỉ là một vài giả thuyết mang tính gợi mở của chúng tôi dưới góc độ văn hóa dân gian và sự suy luận dưới góc nhìn của nghệ thuật tạo hình, vấn đề này cần được tìm hiểu thêm bằng các phương pháp tiếp cận từ các chuyên ngành khác
2 Những biểu hiện của con Nghê trong nghệ thuật tạo hình của người Việt
Khác với rồng là linh vật có vô số huyền thoại liên quan đến lịch sử hình thành dân tộc hoặc liên quan đến các bậc đế vương, Nghê là một linh vật hết sức giản dị tồn tại trong văn hóa dân gian của đại chúng Vì vậy mà khi tìm hiểu về biểu tượng Nghê, chúng tôi không phân tích bằng các huyền thoại như đối với rồng mà tìm hiểu trên cơ sở đặc thù văn hóa Việt Nam, đặc biệt là nghệ thuật tạo hình dân gian của người Việt
Xét về mặt tạo hình, Nghê là con vật có bốn chân, “có kỳ mà không có sừng, mình thon nhỏ, dáng thanh, trông rõ ràng dáng chó chứ không tròn mập như dáng như sư tử” (Bùi Ngọc Tuấn, 2011) Do đây là một linh vật hư cấu nên nó không có hình dáng cố định như hổ hay sư tử
mà luôn có sự biến đổi “thiên biến vạn hóa.” Trong các tư liệu lịch sử của Việt Nam chúng tôi chưa tìm thấy bất cứ một quy định nào của triều đình về thể thức tạo hình của con Nghê (giống như những quy định về thể thức tạo hình của triều đình Trung Hoa đối với các linh vật có tính cung đình) Vì vậy, chúng ta có thể đặt giả thuyết con Nghê là một linh vật được hình thành trên nền tảng văn hóa dân gian Việt Nam với các đặc trưng văn hóa bản địa có sự kết hợp với các biểu tượng được du nhập từ Trung Hoa và Ấn Độ Tuy nhiên, do được hình thành trong văn hóa Việt Nam nên biểu tượng con Nghê mang đặc trưng văn hóa của người Việt Chính yếu tố này đã kiến tạo nên một biểu tượng văn hóa mới của người Việt khác Hoa và khác Ấn
Nếu Nghê là một linh vật hư cấu được sản sinh trong nền văn hóa của người Việt, không phải là một con vật có trong tự nhiên mà cũng không phải là một “linh vật hoàn toàn nhập ngoại” vậy Nghê là linh vật được kết hợp bởi những đặc điểm của những con vật nào? Theo chúng tôi, trong văn hóa dân gian Việt Nam có một loài vật đã được thiêng hóa từ lâu đời là con chó và chó
cũng được tạc thành tượng đặt ở cửa, cổng của nhiều công trình kiến trúc gọi là chó đá Thậm
chí ở một số nơi còn lập ban thờ, miếu thờ dành cho chó Phải chăng, biểu tượng chó đá của người Việt đã kết hợp với biểu tượng Toan nghê để biến thành con Nghê trong nghệ thuật tạo hình dân gian của người Việt?
Đây là một câu hỏi không dễ trả lời, tuy nhiên chúng tôi xin được đưa ra một cách lý giải riêng như sau: Biểu tượng con chó trong nghệ thuật dân gian của người Việt vốn giản dị và có phần “thấp kém”7
hơn về địa vị nếu so sánh với các linh vật khác như Kỳ lân, rồng, Khi văn hóa Khổng – Nho từ Trung Hoa ảnh hưởng đến văn hóa Việt Nam thì con vật canh cửa giản dị
đó cần được “nâng cấp” cho tương xứng với những vai trò và vị trí mới Rất có thể các nghệ nhân dân gian xưa đã thêm vào nhiều đặc tính “mới” từ Lân/Lân mã/ Long mã/ Li để “sang hóa” những linh vật canh cửa của mình Khi con Nghê đã được định hình trong văn hóa Việt Nam, nó được lấy thêm nhiều đặc điểm của các linh vật khác như hổ, sư tử, rồng, lân,… thậm chí là khỉ, tương ứng với những dáng, thế khác nhau tùy thuộc vào vai trò và vị trí của mỗi biểu tượng Tuy nhiên, đặc tính của con vật “canh cửa” vẫn là một đặc điểm nổi trội nhất của con Nghê Có lẽ vì
vậy mà từ “chầu” trong thành ngữ “phượng múa Nghê chầu” đã trở thành một đặc tính quan
trọng để nhận dạng con Nghê trong văn hóa Việt Nam Đây cũng là cách thức để chúng ta có thể
7 Trong tiếng Hán có hai chữ chỉ chó, một là cẩu, hai là khuyển Những thành ngữ có từ cẩu và khuyển đại bộ phận
có ý nghĩa rất tệ hại (theo Trần Hậu Yên Thế, tldd tr13)
Trang 4phân biệt con Nghê trong nghệ thuật tạo hình dân gian của người Việt với các linh vật “ngoại nhập” như sư tử từ văn hóa Trung Hoa và Ấn Độ đã và đang hiện hữu trong văn hóa Việt Nam
Nói tóm lại, cho dù biểu tượng con Nghê được hình thành từ những loài vật nào thì chúng
ta vẫn có thể khẳng định rằng đặc tính dân gian của con Nghê đã biến nó thành một đối tượng thể hiện có tính hư cấu cao trong nghệ thuật tạo hình của người Việt Có lẽ vì vậy mà Nghê trở nên một linh vật giàu ngôn ngữ biểu tượng trong nghệ thuật tạo hình dân gian, bên cạnh con rồng là một dạng linh vật đã được “thể thức hóa” từ văn hóa cung đình Có điều đó là do sự kết hợp đặc tính của con vật hư cấu cộng thêm tính dân gian của biểu tượng Nghê khiến cho các nghệ nhân dân gian có thể phát huy được tối đa khả năng sáng tạo/hư cấu của mình Sức sáng tạo đó đã góp phần đưa biểu tượng con Nghê trong văn hóa Việt Nam Nghê lên tầm của một linh vật biểu tượng đặc sắc mang tâm hồn Việt Nam, bản sắc Việt Nam Đây chính là một trong những thành
tố văn hóa tiêu biểu nhất của nền văn hóa Việt Nam được sáng tạo bởi các nghệ nhân dân gian trong lịch sử văn hóa Việt Nam
Mặc dù biểu tượng con Nghê có sự ảnh hưởng của các linh vật ngoại nhập từ Trung Hoa hoặc Ấn Độ nhưng chúng ta có thể khẳng định rằng Nghê là một linh vật có tên gọi thuần Việt
và có nhiều nét văn hóa bản địa đặc trưng của người Việt Sự hình thành biểu tượng con Nghê trong văn hóa Việt Nam là một sáng tạo tuyệt vời của cha ông ta trong việc tiếp thu và biến đổi các yếu tố văn hóa du nhập trên cơ tầng văn hóa bản địa để hình thành nên những thành tố văn hóa của riêng mình Chính điều này đã góp phần tạo nên những nét đặc trưng trong văn hóa Việt Nam và đó cũng chính là một nét bản sắc văn hóa của người Việt khác Hoa và khác Ấn Hơn thế, biểu tượng Nghê không hình thành từ những huyền thoại mà ra đời và phát triển thông qua quá trình lao động, chế tác của các nghệ nhân Chính vì lý do đó mà biểu tượng Nghê lại trở nên gần gũi mà sống động với vô vàn hình dáng khác nhau, vô vàn kiểu thức khác nhau khiến cho ngôn ngữ tạo hình của linh vật này trở nên hết sức phong phú và đa dạng Sự đa dạng của biểu tượng Nghê trong văn hóa Việt Nam rộng tới mức chúng ta không thể không làm công việc phân loại, nếu không chúng ta sẽ khó có thể gọi đúng tên linh vật này
3 Phân loại biểu tượng nghê trong văn hóa Việt Nam
Bên cạnh sự phân biệt con Nghê với các “linh vật ngoại nhập” thì chúng ta cũng cần có
sự phân loại biểu tượng này trong văn hóa Việt Nam Có thể nói, với những biểu hiện vô cùng phong phú của con Nghê trong nghệ thuật tạo hình của người Việt thì việc phân loại biểu tượng Nghê là một công việc không hề dễ dàng Do con Nghê không có các huyền thoại đi kèm như rồng hay Kỳ lân nên việc phân loại Nghê theo nguồn gốc (tên gọi, huyền thoại) là bất khả thi Vì vậy, chúng ta chỉ có thể phân loại linh vật biểu tượng này dựa trên các tiêu chí phân loại sau:
- Phân loại theo hình thức biểu hiện
- Phân loại theo vị trí đặt
- Phân loại theo chức năng sử dụng
- Phân loại theo giai đoạn lịch sử
- Phân loại theo khu vực địa lý
Phân loại theo hình thức biểu hiện
Đây là biện pháp phân loại đơn giản nhất vì chúng ta có thể dựa vào trực quan của mình
để quan sát và xếp loại các biểu tượng Nghê cho phù hợp với hình thức biểu hiện của chúng Chẳng hạn, Nghê có sừng hay không có sừng; Nghê có bờm và không có bờm; Nghê có vảy với Nghê có lông xoắn; Nghê có móng guốc và Nghê có vuốt;… Thậm chí, chúng ta có thể phân loại Nghê theo hình dáng tổng thể như Nghê dáng chó hay Nghê dáng sư tử Mặc dù cách phân loại
Trang 5đơn giản và tiện lợi này có thể áp dụng được cho nhiều người (cho dù họ có ít hiểu biết về Nghê)
nhưng với hình thức biểu hiện đa dạng như con Nghê, chúng ta không thể phân làm quá nhiều
loại khác nhau dựa vào những biểu hiện bên ngoài của chúng Chính vì vậy mà một phương
pháp phân loại theo vị trí sẽ giúp chúng ta dể xác định được đâu là Nghê còn đâu là những linh vật khác
Nghê có vảy
Nghê có bờm và tai Nghê có vân (lông) xoắn Phân loại theo hình thức biểu hiện
Phân loại theo vị trí đặt
Dựa vào các đặc tính dân gian đã được định hình trong văn hóa Việt Nam như “phượng múa Nghê chầu” chúng ta có thể xác định được vị trí của con Nghê là ở những nơi canh cổng,
canh cửa, hầu hạ Theo Từ điển tiếng Việt8
thì “chầu” là động từ có nghĩa “hầu trong cung đình
để chờ nghe lệnh vua, chúa.” Ngoài ra, còn có các từ liên quan như “chầu chực” là “1 Ở bên cạnh để chờ đợi sự sai khiến và 2 Chờ đợi mất nhiều thời giờ để đạt một yêu cầu gì” (tr.140) Như vậy, vị trí “ngồi chầu” của con Nghê đã xác định rõ vị trí “kẻ hầu người hạ” của nó trong văn hóa truyền thống Việt Nam Khi văn hóa Trung Hoa có tác động mạnh mẽ vào văn hóa dân gian của người Việt thì vị trí này có biến đổi chút ít nhưng vẫn chủ yếu là “chầu.” Con nghê có thể chầu ở hai bên trụ cổng, chầu ở tả vu hữu vu của các ngôi đình, ở dưới cánh cửa trong vai trò của “con cộ” – cộ cửa,… Nhưng đôi khi chúng ta cũng có thể thấy Nghê ngồi trên mái, trên bệ
uy nghi như…sư tử nhưng ngôn ngữ tạo hình lại cho thấy rõ đó là con Nghê Để phân biệt được Nghê hay sư tử khi chúng “ngồi nhầm vị trí” chúng ta cần xét đến chức năng của các linh vật này
8 Hoàng Phê chủ biên, Nxb Đà Nẵng và Trung tâm từ điển học xuất bản năm 1998
Trang 6Nghê trang trí
Nghê cộ cửa
Nghê chầu Phân loại theo vị trí đặt
Phân loại theo chức năng sử dụng
Trong văn hóa Ấn Độ, sư tử (simhamukha) là linh vật đại điện cho sức mạnh của tự nhiên
có mặt trong các huyền thoại và biểu hiện của nghệ thuật tạo hình Hindu từ hàng nghìn năm trước khi được vua Asoka (A Dục đế - triều Maurya) đưa vào làm biểu tượng trọng tâm của “cột kinh Asoka.” Khi Phật giáo truyền bá sang Trung Hoa biểu tượng này trở thành một biểu tượng sức mạnh trong Phật giáo Trung Hoa bên cạnh vai trò là một con vật “bảo vệ” (guardian) trong nghệ thuật lăng mộ Trung Hoa Sự uy nghi và đầy vẻ “nạt nộ” này là một nét đặc trưng của sư tử trong văn hóa Trung Hoa để thể hiện sức mạnh của nó “Ở thời điểm hoàng kim nhất của Phật giáo ở Trung Hoa, những tượng sư tử đá to lớn không phải ở các chùa chiền, đền tháp mà chủ yếu ở các lăng mộ hoàng gia Theo thống kê của nhà nghiên cứu Li Zhigang (2011) trong cuốn
Nghệ thuật điêu khắc sư tử đá Trung Hoa (中华石狮雕刻艺术,百花文艺出版社), tại 21 lăng
miếu hoàng gia từ thời Sơ Đường cho đến Vãn Đường còn lưu giữ đến nay có tổng cộng 76 bức tượng sư tử đá.”9
Trong khi đó, biểu tượng Nghê hầu như chỉ mang chức năng trang trí và hoàn toàn không có “hình thức dữ dằn, gân guốc với dáng vẻ đe dọa.”10 Những con Nghê chầu vào nhau không có vẻ quyền uy, dọa nạt mà tạo nên vẻ thân thiện, gần gũi, đúng như chức năng
“trông nhà” và “hầu chủ” của chó Đây cũng là lý do để các nhà nghiên cứu ở Việt Nam đặt mối liên hệ giữa Nghê và chó dựa trên chức năng căn bản của chúng hơn là những ảnh hưởng từ một linh vật ngoại nhập như sư tử
9
Trần Hậu Yên Thế, “Vị thế của hình tượng sư tử trong Mỹ thuật Đại Việt.” Tạp chí Mỹ thuật Nhiếp ảnh số tháng
5/2014
10 Mỹ Trà, “Kiên quyết loại bỏ yếu tố ngoại lai ra khỏi di tích Việt,” trong VOV online ngày 9/12/2013
http://vov.vn/van-hoa/kien-quyet-loai-bo-yeu-to-ngoai-lai-ra-khoi-di-tich-viet-296001.vov
Trang 7Nghê cõng tòa sen
Nghê chầu cửa đền
Nghê vờn cầu
Phân loại theo chức năng sử dụng
Phân loại theo giai đoạn lịch sử
Đây là một trong những cách thức phân loại phổ biến trong nghệ thuật tạo hình Việt Nam dựa trên một cách thức phân loại định sẵn theo lịch đại: thời Lý, thời Trần, thời Lê, thời Nguyễn,… Cách phân loại này đã được sử dụng một cách khá “triệt để” đối với con rồng, tuy nhiên, với biểu tượng Nghê thì cách phân loại này dễ dẫn đến những sự nhầm lẫn Do Nghê là một linh vật mang đặc tính dân gian nên tính thống nhất về mặt tạo hình của mỗi thời kỳ (Lý, Trần, Lê, Nguyễn) không cao như với biểu tượng rồng, chưa kể đến sự ngẫu hứng trong sáng tạo nghệ thuật của nghệ nhân dân gian Họ không chịu sự ràng buộc nào về mặt thể thức tạo hình từ triều đình (hoặc một thể chế nào tương tự) nên họ hoàn toàn tự do trong việc sáng tác nên các hình mẫu của con Nghê tùy thuộc vào cảm hứng nghệ thuật của chính họ Đây là một trong những đặc điểm sáng tạo riêng của người Việt, chúng tôi sẽ trở lại vấn đề này trong chuyên mục sau Để tránh sự “áp đặt” về thể thức tạo hình của biểu tượng Nghê qua các giai đoạn lịch sử, chúng ta cần có thêm một cách thức phân loại khác dựa vào đồng đại (thay vì lịch đại) và dựa vào không gian (thay vì thời gian) đối với biểu tượng Nghê tại nơi nó được chế tác: Làng nghề
Nghê thời @ Phân loại theo giai đoạn lịch sử
Phân loại theo khu vực địa lý
Trang 8Một trong những đặc trưng của các tác phẩm nghệ thuật dân gian của người Việt là chúng mang dấu ấn của làng nghề: nơi sản xuất, chế tác Chúng ta thường nghe đến nghề đúc đồng Ngũ
Xã (Hà Nội), nghề chạm bạc Đồng Xâm (Thái Bình), nghề tạc tượng gỗ Sơn Đồng (Hà Tây cũ), nghề làm gốm Bát Tràng (Hà Nội),… Những địa danh gắn với các nghề truyền thống nêu trên chính là “thương hiệu” của sản phẩm và cũng chính là một cách phân loại tự nhiên theo khu vực địa lý Biểu tượng Nghê được chế tác tại làng nghề này sẽ không giống biểu tượng Nghê của làng nghề khác Mục đích chế tác, cách sử dụng nguyên liệu, cách tạo tác mẫu, thậm chí cách sử dụng công cụ lao động khác nhau chính là những nét riêng biệt trong nghệ thuật chế tác biểu tượng Nghê ở mỗi làng nghề Vì vậy mà chúng ta cũng có thể phân loại biểu tượng Nghê Bát Tràng, Nghê Bình Dương, Nghê Phù Lãng,… khác nhau như thế nào Cách phân loại này nếu được kết hợp với chất liệu tạo tác sẽ cho chúng ta một cái nhìn cụ thể nhất đối với biểu tượng Nghê trong văn hóa Việt Nam
Nghê Chu Đậu
Nghê Bát Tràng
Nghê đá ở Huế
Phân loại theo khu vực địa lý
Trên đây là một số phương pháp phân loại biểu tượng Nghê trong văn hóa Việt Nam mà chúng tôi đã áp dụng trong nghiên cứu này Tuy nhiên, trên thực tế, chúng ta vẫn cần thêm những cách phân loại khác để đạt tới mục tiêu cuối cùng là xác định một cách rõ ràng nhất, cụ thể nhất đối với biểu tượng Nghê Chẳng hạn một con Nghê đất nung, đời Lê, được sản xuất ở Bát Tràng, có đặc trưng lông xoắn và được đặt ở ban thờ là những tiêu chí cần tìm Nhưng vì biểu hiện của Nghê vô cùng phong phú và đa dạng nên rất khó để chúng ta có thể hội đủ các thông tin trong mỗi hiện vật Vì vậy, mỗi cách phân loại nêu trên có thể đáp ứng được một tiêu chí mà chúng ta mong muốn Để đạt được đủ các tiêu chí trong việc xác định biểu tượng Nghê trong văn hóa dân gian Việt Nam chúng ta cần kết hợp nhiều phương pháp phân loại với nhau
Vì vậy, việc phân loại biểu tượng Nghê càng kỹ lưỡng càng giúp chúng ta xác định được các giá trị đặc sắc của con Nghê trong nền văn hóa Việt Nam
4 Giá trị của biểu tượng Nghê trong văn hóa Việt Nam
Năm 2003, khi Giải vô địch bóng đá các quốc gia Đông Nam Á lần thứ 22 (SEAGAME-22) lần đầu tiên được tổ chức tại Việt Nam, các quan chức cao cấp ngành thể thao đã phải “mất
Trang 9ăn mất ngủ” vì mất nhiều tháng không tìm được “linh vật biểu tượng” của Việt Nam dành cho sự
kiện này Cuối cùng, Ban tổ chức đã chọn con Trâu vàng với những hình “đầu trâu” làm linh vật
biểu tượng cho SEAGAME-22 Sự kiện đó qua đi, nhưng nhiều người vẫn không hài lòng với việc chọn “đầu trâu” làm logo in trên các sản phẩm đại diện cho quốc gia, vì trong văn hóa Việt Nam, thành ngữ “đầu trâu mặt ngựa” chỉ những kẻ vô lại, đầu trộm, đuôi cướp,… Thiết nghĩ, nếu Ban tổ chức lập một hội đồng tư vấn có các nhà chuyên môn, các chuyên gia nghiên cứu về lịch
sử, văn hóa, xã hội và nghệ thuật thì việc chọn lựa sẽ dễ dàng hơn và không xảy ra những vấn đề đáng tiếc Theo chúng tôi, nếu một sự kiện tương tự trong tương lai được tổ chức ở Việt Nam và chúng ta cần chọn một linh vật biểu tượng của Việt Nam thì con Nghê hoàn toàn có thể là một ứng viên phù hợp với các tiêu chí đặt ra bên cạnh gà trống Gaulois của Pháp, sư tử Anh hay tê tê Fuelco của Brazil, Các tiêu chí quan trọng nhất cần đặt ra như lịch sử, văn hóa, nghệ thuật gắn với những giá trị đặc sắc nhất của linh vật đều có thể tìm thấy qua biểu tượng con Nghê trong văn hóa Việt Nam
Giá trị lịch sử
Khi tìm hiểu về các linh vật trong văn hóa truyền thống Việt Nam chúng ta thường nghe nói tới giao long, thuồng luồng, chim lạc,11 hay một linh vật có sừng (như di vết ở hang Đồng Nội) như là những linh vật truyền thống của người Việt có từ thời Đông Sơn, thậm chí là “vật tổ” của người Việt từ thời tiền sử Những linh vật này được nhiều nhà nghiên cứu coi như những biểu tượng đặc trưng của nền văn minh Việt trước giai đoạn thuộc Hán vẫn còn tồn tại đến ngày hôm nay mà chưa bị người Hán đồng hóa Tuy nhiên, những di vật nói trên, tuy là những hiện vật vô cùng quý giá (được bảo quản cẩn thận trong bảo tàng, được công nhận là bảo vật quốc gia,…) nhưng chúng lại là những hiện vật “chết.” Những hiện vật này, trên thực tế, chỉ là các hiện vật khảo cổ được phát hiện trong không gian cư trú của người Việt Nam hiện nay còn chúng đóng vai trò gì và được sử dụng như thế nào trong đời sống văn hóa của người Việt cổ thời Đông Sơn lại là một vấn đề đang “trên đường tìm hiểu.” Còn trong cuộc sống của chúng ta hiện nay, chúng đã không còn tồn tại.12
Trong khi đó, một linh vật tồn tại liên tục trong suốt dòng chảy văn hóa Việt hàng nghìn năm qua lại hầu như không được nghiên cứu tới, đó là con Nghê Con Nghê hiện hữu trên các kiến trúc cung đình thời Lý – Trần, trên đình chùa thời Lê, trên ban thờ tư gia của nhiều gia đình người Việt ngay trong giai đoạn hiện tại Điều đó cho thấy, Nghê là một hiện vật “sống” trong đời sống tinh thần của người Việt Tìm hiểu sự tồn tại và phát triển của biểu tượng Nghê qua mỗi thời kỳ lịch sử sẽ cho chúng ta một góc nhìn mới đối với kinh tế, xã hội, văn hóa và nghệ thuật của các giai đoạn lịch sử đó Công việc này đã được các nhà nghiên cứu thực hiện khá thành công đối với biểu tượng con rồng trong văn hóa Việt Nam từ thời Lý đến thời Nguyễn.13
Không hiểu sao cách làm này không được áp dụng đối với con Nghê? Phải chăng Nghê không phải là một linh vật cung đình nên không được triều đình quan tâm? Phải chăng Nghê là con vật tầm thường, thấp kém, không đáng để tìm hiểu? Với các câu hỏi này, chúng ta cần hướng sự chú ý tới các giá trị văn hóa của biểu tượng Nghê
11
Về tên gọi chim lạc cũng có nhiều vấn đề đang tranh cãi, chúng tôi sẽ trở lại vấn đề này trong một chuyên khảo dành riêng cho Hạc trong văn hóa Việt Nam
12 Vì vậy mà nhiều nhà nghiên cứu đã gán giao long hay thuồng luồng như là “thủy tổ” của con rồng hiện tại và linh
vật có sừng ở hang Đồng Nội là “vật tổ” của người Việt Xem thêm: Đinh Hồng Hải, Biểu tượng người có sừng ở
hang Đồng Nội…
13 Các cuốn sánh trong bộ sách viết về mỹ thuật từ thời Lý đến thời Nguyễn hầu như không đề cập đến con Nghê, trong khi con rồng được phân tích, mô tả hết sức kỹ lưỡng
Trang 10Giá trị văn hóa
Con Nghê được coi như một linh vật tiêu biểu cho tính thuần Việt và mang bản sắc văn hóa Việt Nam nhưng trong tư liệu thành văn của Đại Việt – Việt Nam hầu như không có tài liệu
nào đề cập đến linh vật này Trong khi đó, biểu tượng Xi vẫn – một linh vật thuộc “chín con của
rồng” có nguồn gốc Trung Hoa – lại được đưa vào những áng thơ văn kinh điển, chẳng hạn:
鴟 吻 倒 眠 方 鏡 冷
塔 光 雙 峙 玉 尖 寒
Xi vẫn đảo miên phương kính lãnh Tháp quang song trĩ ngọc tiêm hàn
(Hình xi vẫn ngủ ngược trên gương nước lạnh
Đôi bóng tháp thon vút như ngón tay ngọc giá băng) 14 Điều đó cho thấy quan điểm “nhất bên trọng, nhất bên khinh” của quan lại và các bậc trí giả Nho học xưa đối với các biểu tượng cung đình và bình dân Nhưng dường như sự “thiếu quan tâm” đó lại giúp cho biểu tượng con Nghê của Đại Việt phát triển một cách tự do trong vô vàn sự ràng buộc khắt khe của thể chế phong kiến Khổng – Nho suốt hàng nghìn năm qua với các biểu tượng văn hóa Biểu tượng Nghê có mặt hầu khắp mọi nơi, từ thành thị đến nông thôn, từ người sang đến kẻ hèn, từ các bậc thức giả đến người không biết chữ,… con Nghê với vai trò “người hầu kẻ hạ” hiện diện ở mọi tầng lớp trong xã hội và đi vào đời sống của dân gian một cách hết sức tự nhiên như chính tâm hồn của người Việt và văn hóa của người Việt
Sự „thấm nhuần” đặc tính dân gian của con Nghê khiến cho nó trở nên một “con vật” gần gũi, thân thương hơn là một linh vật đáng sợ hãi, nể trọng và tôn thờ Đặc tính này đi thẳng vào lòng người dân thuộc mọi tầng lớp trong xã hội như tình cảm đối với mái đình – cây đa – bến nước hay “canh rau muống, cà dầm tương” đã bao đời ăn sâu vào trong tâm trí của người Việt
Có lẽ đặc tính văn hóa này của người Việt qua biểu tượng con Nghê đã “ngấm” vào trong dòng suy nghĩ của các nghệ nhân dân gian – những người nghệ sĩ sáng tạo nên biểu tượng Nghê – để rồi chúng lại được tái hiện lại ở mọi lúc mọi nơi thông qua đôi bàn tay tài hoa của họ bằng những kiệt tác của nghệ thuật tạo hình dân gian trong suốt hàng nghìn năm qua
Giá trị nghệ thuật
Khi nói đến nghệ thuật thì “tự do” là một trong những yếu tố quan trọng nhất Điều này không chỉ đúng với nghệ thuật hiện đại ngày hôm nay mà còn đúng với nghệ thuật dân gian của cha ông ta ngày xưa Đơn cử con rồng, ở thời Lý, ngay sau nghìn năm Bắc thuộc, người dân Đại Việt được hưởng tự do, độc lập Trong bối cảnh đó con rồng thời Lý ra đời và đã khẳng định được giá trị nghệ thuật vượt lên mọi đồ án rồng khác, trở thành một kiệt tác nghệ thuật của Đại Việt Vẫn là con rồng, nhưng đến giai đoạn cuối nhà Nguyễn bị áp chế mọi bề của triều đình nhà Thanh, con rồng thời kỳ này trở nên gò ép, gai góc, lệ thuộc và thiếu sáng tạo
Vì vậy, có thể nói rằng, yếu tố tự do được thể hiện qua nghệ thuật tạo hình con Nghê trong các triều đại phong kiến ở Việt Nam là sự tự do về nghệ thuật gần như tuyệt đối Ngoài sự
tự do về ý tưởng (không bị áp đặt về tư tưởng của triều đình), các nghệ nhân dân gian còn được
tự do hư cấu (vì Nghê là một con vật hư cấu) và đặc biệt là tự do sáng tạo Với sự tự do tuyệt đối
về quy mô và kiểu thức sáng tạo, các nghệ nhân dân gian có thể tùy ý tạo nên những con Nghê
14 Trích trong Diên Hựu Tự (延祐寺) của Trúc Lâm đệ tam tổ- Thiền sư Huyền Quang Lý Đạo Tái (1254 -1334),
xem: Trần Trọng Dương, “Xi vẫn - Xi vỹ: những xu hướng biến đổi hình tượng trong văn hóa Việt Nam và Đông
Á,” bản thảo thuộc đề tài: Biểu tượng rồng Việt Nam trên cơ tầng văn hóa châu Á Mã số: VIII.1.3-2012.01 Do Quỹ
phát triển khoa học công nghệ quốc gia (NAFOSTED) tài trợ năm 2014