1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

GIA TR VAN HOA VA NHNG KHIA CNH TICH

26 7 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 26
Dung lượng 610,92 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Không chỉ từ xa xưa, mà ngay cả trong thời đại ngày nay, thời đại của khoa học – công nghệ, thời đạicủa tri thức và văn minh, những vấn đề của thế giới tâm linh, của đời sống tâm linh vẫ

Trang 1

GIÁ TRỊ VĂN HOÁ VÀ NHỮNG KHÍA CẠNH TÍCH CỰC

TRONG ĐỜI SỐNG TÂM LINH

TS Nguyễn Thái Sơn

(Khoa Giáo dục chính trị, ĐH Vinh)

Đời sống tâm linh là một hình thức đặc biệt của ý thức con người và ý thức xã hội Đã có những khuynh hướng sai lầm về vấn đề này: hoặc là tuyệt đối hoá vai trò của đời sống tâm linh, hoặc là đồng nhất đời sống tâm linh với chủ nghĩa duy tâm, với mê tín dị đoan Theo tác giả, hướng đến thế giới tâm linh dường như là một nhu cầu trong đời sống tinh thần của con người, đồng thời là một trong những cách để con người sống lương thiện hơn, tốt đẹp hơn Có thể nói, lọc bỏ những yếu tố có màu sắc thần bí và mê tín dị đoan, phần tinh tuý, trong sáng của đời sống tâm linh sẽ hiện ra, đó là những giá trị văn hoá đầy bản sắc

và chứa đựng ý nghĩa nhân văn.

Có hay không một thế giới tâm linh huyền bí với những phép nhiệm màu đầy quyến rũ? Điều đó còn cần được nghiên cứu và tranh luận rất nhiều Tuy nhiên, có thể khẳng định một cách chắc chắn rằng, không có bất kỳ một quốc gia, một dân tộc nào trên thế giới lại không có một đời sống tâm linh hết sức phong phú Đối với con người Việt Nam cũng vậy, trải qua bao thế kỷ thăng trầm, đời sống tâm linh của người Việt vẫn ẩn hiện đâu đó với những giá trị diệu kỳ Không chỉ từ xa xưa, mà ngay cả trong thời đại ngày nay, thời đại của khoa học – công nghệ, thời đạicủa tri thức và văn minh, những vấn đề của thế giới tâm linh, của đời sống tâm linh vẫn tiếp tục tồn tại và phát triển, vẫn tiếp tục được đặt ra với không biết bao nhiêu bí ẩn, khêu gợi trí tò mò và cả những thách đố lớn lao đối với khoahọc chân chính

Những lý do nào khiến cho đời sống tâm linh tồn tại một cách lâu dài, bền bỉ như vậy? Chắc chắn là không phải chỉ bởi những hạn chế, những yếu kém trong nhận thức của con người Nếu chỉ vì những lý do đơn giản, tầm thường, thìnhất định niềm tin của con người về thế giới siêu nhiên, về thế giới tâm linh sẽ không thể mãnh liệt và có sức sống lâu bền Chúng ta không thể nhìn nhận đời sống tâm linh của con người một cách đơn giản, ngây thơ, không thể nhìn nhận bằng tư tưởng, quan điểm của chủ nghĩa duy vật tầm thường Nói cách khác, chúng ta phải xem xét vấn

đề này từ góc độ thế giới quan duy vật biện chứng

Dù muốn hay không, chúng ta cũng phải thừa nhận một thực tế hiển nhiên là những vấn đề thuộc về đời sống tâm linh sẽ còn tồn tại rất lâu dài trong đời sống xã hội loài người Đúng như Ph.Ăngghen đã khẳng định: “Vấn đề cơ bản lớn của mọi triết học, đặc biệt là của triết học hiện đại, là vấn đề quan hệ giữa tư duy và tồn tại”(1) Rõ ràng, chừng nào con người còn tư duy, chừng đó mối quan hệ giữa hai thế giới, thế giới vật chất và thế giới tinh thần vẫn còn tồn tại Và, trong mối quan hệ này, những vấn đề thuộc về đời sống tâm linh sẽ không thể bị xóa bỏ một cách đơn giản trong một sớm một chiều bằng những tư tưởng chủ quan duy ý chí Ngoài ra, sức sống của thế giới tâm linh còn xuất phát từ những khía cạnh mang ý nghĩa tích cực nội tại Đó chính là những giá trị văn hoá sâu xa, ẩn chứa sau bức màn tâm linh sâu thẳm Trong bài viết này, chúng tôi muốn tập trung khai thác vấn đề này

Trước hết, cần nói qua một chút về khái niệm đời sống tâm linh Chưa nói đến những người có niềm tin tôn giáo,

những người mà trong tâm thức của họ lúc nào cũng hiển hiện hình ảnh của Chúa, của Phật, mà chỉ nói đến những con người bình thường, chúng ta cũng thấy vô vàn những biểu hiện của đời sống tâm linh Ngày Tết Nguyên đán, dù

đi đâu ở đâu, dù xa xôi cách trở, chắc hẳn ai cũng muốn sum họp với gia đình, với người thân, ai cũng muốn quay vềvới quê hương, cội nguồn để thắp nén hương trên bàn thờ cầu khấn vong linh của các bậc tiên tổ được siêu thoát,

Trang 2

phù hộ độ trì cho con cháu mạnh khoẻ, may mắn, ăn nên làm ra Một người lính lúc lâm trận, xông pha giữa làn bomđạn, được đồng đội hy sinh thân thể để che chắn cho mạng sống của mình, chắc chắn người lính đó sẽ suốt đời nhớ đến hình ảnh thiêng liêng của người đồng đội lúc ngã xuống Bước chân vào một nghĩa trang liệt sỹ, ta không thể không xúc động trước vong linh của những con người đã hy sinh xương máu cho Tổ quốc, cho nhân dân Một cán

bộ lãnh đạo cao cấp hay một người dân bình thường, khi viếng thăm khu di tích Kim Liên, ai cũng muốn dâng một nén hương tưởng niệm công ơn to lớn của Chủ tịch Hồ Chí Minh…

Có thể thấy rằng, tất cả những hiện tượng nêu trên đều là những biểu hiện cụ thể của một đời sống tâm linh vô cùng phong phú Vậy, đời sống tâm linh chính là đời sống hướng về những giá trị tinh thần thuần khiết, thiêng liêng, cao

cả được đúc kết qua lịch sử hàng nghìn năm của dân tộc và nhân loại Đời sống tâm linh chính là một hình thái đặc

biệt của ý thức con người và ý thức xã hội Không thể có đời sống tâm linh, nếu như con người không có ý thức Tuy nhiên, ý thức nói chung của con người hết sức rộng lớn Do đó, không phải bất cứ điều gì thuộc về đời sống ý thức của con người cũng đồng thời thuộc về đời sống tâm linh Có thể thấy rằng, tính chất quan trọng nhất của đời sống tâm linh trước hết là sự thiêng liêng, cao đẹp Thế giới tâm linh phải là một thế giới mà ở đó, chỉ những gì cao

cả, lương thiện, đẹp đẽ mới có thể vươn tới và tồn tại Không biết từ bao giờ, những vấn đề thuộc về đời sống tâm linh đã đồng hành cùng với con người và xã hội loài người

Trong một thời gian khá dài, vấn đề đời sống tâm linh với những khía cạnh văn hoá và những giá trị đích thực của

nó đã được xem xét từ hai khuynh hướng cực đoan, có tính đối lập gay gắt và do đó, đều đưa đến những kết quả sai lầm đáng tiếc Với khuynh hướng thứ nhất, một số người đã thổi phồng, tuyệt đối hóa vai trò và giá trị của đời sống tâm linh, cho rằng thế kỷ XXI sẽ là thế kỷ của thế giới tâm linh đầy huyền bí Những câu chuyện hoang đường về việc chụp được ảnh linh hồn, về thần giao cách cảm, về gọi hồn, lên đồng, nhập hồn, thoát xác… đã xuất hiện từ lâu nay lại được tiếp tục khơi dậy Ở một mức độ nhất định, chúng là cơ sở nuôi dưỡng những tư tưởng mê tín, dị đoan tầm thường và thấp kém Ngay cả trên một số phương tiện thông tin đại chúng, thỉnh thoảng cũng có những mẩu tin giật gân, câu khách đầy màu sắc hoang đường, đến mức khiến ngay cả những đầu óc duy tâm và mê tín nhất cũng phải nghi ngờ tính xác thực của chúng Vậy, đâu là nguyên nhân dẫn đến sự tồn tại của những hiện tượng này? Cái

gì đã khiến người ta tin vào những hiện tượng nhảm nhí như vậy? Theo chúng tôi, quan điểm duy tâm, sự thổi phồng, tuyệt đối hóa giá trị và ý nghĩa của đời sống tâm linh cùng với chủ nghĩa kinh nghiệm, lối tư duy siêu hình

máy móc, sự xa rời phép biện chứng duy vật chính là những nguyên nhân cơ bản Trong tác phẩm Biện chứng của

tự nhiên (Nhà xuất bản Sự thật ấn hành năm 1971) có chương Khoa học tự nhiên trong thế giới của thần linh(2)

Chương này được Ph.Ăngghen viết vào nửa đầu hoặc giữa năm 1878 Cho đến nay, đã hơn 100 năm trôi qua, song những vấn đề được ông trình bày trong đó vẫn còn nguyên giá trị Ph.Ăngghen cho rằng, “sẽ không sai lầm khi đi tìm cái cực đoan của ảo tưởng, của tính cả tin và mê tín”(3) không phải chỉ ở triết học duy tâm, mà còn ngay cả ở những người làm công tác khoa học, đặc biệt là ở những nhà kinh nghiệm chủ nghĩa, những người mà theo ông, “chỉdựa vào thực nghiệm nên rất coi khinh tư duy và trong thực tế lại nghèo về tư tưởng hơn”(4) Ph.Ăngghen cũng nhấn mạnh rằng, nếu khinh miệt phép biện chứng thì không thể không bị trừng phạt Sự trừng phạt này thể hiện ở chỗ, “nó đưa một số người thực nghiệm chủ nghĩa tầm thường nhất sa vào chỗ dị đoan ngu xuẩn nhất, sa vào thần linh học”(5)

Tuy nhiên, sai lầm của khuynh hướng thứ hai cũng đáng sợ và nguy hiểm không kém sai lầm của khuynh hướng thứ nhất Một số người, khi giương cao ngọn cờ duy vật nhưng lại bỏ quên tính biện chứng đã vội vàng quy kết rằng, tất

cả những gì thuộc về tâm linh và đời sống tâm linh đều đồng nghĩa với chủ nghĩa duy tâm, đều là sự mê tín, dị đoan

và do đó, đều cần phải xoá bỏ Đã có những thời kỳ người ta rầm rộ đập phá đình, đền, miếu mạo và xem đó là việc làm đồng nghĩa với việc xoá bỏ những tàn tích của chủ nghĩa duy tâm cùng với nạn mê tín, dị đoan của chế độ phong kiến Nhiều di tích lịch sử đã bị tàn phá, nhiều danh lam thắng cảnh đã bị xâm phạm hoặc hủy hoại Nhiều công trình văn hóa có giá trị và ý nghĩa tâm linh sâu sắc đã không còn nữa Hiện nay, không còn bóng dáng của những ngôi đình cổ ở nhiều làng quê đồng bằng Bắc bộ và miền Trung Những ngôi đền, ngôi miếu thờ các vị Thànhhoàng làng cũng đang dần biến mất Những biểu tượng “cây đa, bến nước, sân đình” bây giờ dường như chỉ còn trong hoài niệm Với đà phát triển mạnh mẽ của kinh tế thị trường thiếu nhãn quan văn hóa, với lối sống thực dụng,

Trang 3

chạy đua theo các nhu cầu của đời sống vật chất trước mắt; đặc biệt, với lối tư duy duy vật tầm thường, có lẽ chẳng bao lâu nữa, văn hóa tâm linh, đời sống tâm linh rực rỡ, giàu bản sắc của người Việt trong quá khứ sẽ chỉ còn là những “hoang mạc khô cằn” Đối với quan điểm duy vật tầm thường, đời sống tâm linh hoặc là không hề có giá trị văn hóa, hoặc nếu có cũng chỉ là những giá trị không đáng kể Thực ra, không phải bất kỳ ai cũng có thể dễ dàng nhận ra những giá trị tinh thần có sức mạnh to lớn tiềm ẩn trong tín ngưỡng và trong đời sống tâm linh của con người Đã có những lúc chúng ta không hiểu được rằng, nếu bắn vào quá khứ bằng súng lục sẽ bị tương lai trả lời bằng đại bác… Rõ ràng, nếu nhìn nhận vấn đề tâm linh, tín ngưỡng bằng cặp mắt duy vật tầm thường, bằng lối tư duy siêu hình máy móc, bằng những suy nghĩ giản đơn sẽ đưa đến những sai lầm hết sức nguy hiểm.

Thực ra, tâm linh, đời sống tâm linh, văn hoá tâm linh,… là những vấn đề hết sức tế nhị Cho đến nay, rất nhiều câu hỏi nảy sinh xung quanh những vấn đề đó vẫn chưa có lời giải đáp thực sự khoa học và nghiêm túc Tuy nhiên, nếu soi xét vấn đề dưới lăng kính của thế giới quan duy vật biện chứng, chúng ta có thể thấy những sự thực khá đơn giản Bất kỳ ai cũng dễ nhận thấy rằng, việc hướng về thế giới tâm linh dường như là một nhu cầu tất yếu trong đời sống tinh thần của con người Nhu cầu này giúp con người xoa dịu những nỗi đau trần thế, vượt qua được những khó khăn, những thử thách nghiệt ngã của cuộc đời dù chỉ là về mặt tinh thần Khi gặp những nỗi đau, những điều bất hạnh, bất kỳ ai cũng có nhu cầu được sẻ chia, được an ủi Và, những lúc rơi vào tình huống như vậy, có lẽ rất nhiều người sẽ hướng về thế giới tâm linh để cầu mong một sự che chở, vỗ về, dù họ biết chẳng bao giờ có một phépmàu nào cả Những nỗi đau quá sức chịu đựng của con người nhỏ bé, yếu đuối và mong manh vẫn thường xẩy ra trong cuộc đời ngắn ngủi Một người vợ mất chồng, một người cha mất con trong những tai nạn giao thông phũ phàng chắc chắn sẽ vô cùng đau khổ Họ sẽ làm gì nếu không hướng về thế giới tâm linh để được tiếp thêm nguồn sức mạnh tinh thần, để được an ủi, vỗ về Dù khoa học, công nghệ có tiến bộ đến đâu đi chăng nữa, dù tri thức, hiểu biết của con người có phát triển đến mấy đi chăng nữa thì những tai nạn bất ngờ, những căn bệnh nan y vẫn cứ xảy

ra và cướp đi cuộc sống của những con người vô tội Có lẽ, chừng nào trên trái đất này còn có những khổ đau và bất hạnh thì chừng đó, con người còn có nhu cầu hướng về thế giới tâm linh và do vậy, đời sống tâm linh vẫn tiếp tục tồn tại Đúng như C.Mác đã từng khẳng định, tôn giáo chỉ là “thuốc phiện của nhân dân”, chỉ mang lại sự đền bù có tính hư ảo Tuy nhiên, khi trình độ phát triển của con người còn có những hạn chế, thì sự đền bù đó cũng có giá trị nhất định, dù chỉ là về mặt tinh thần Dĩ nhiên, với thế giới quan duy vật biện chứng, chúng ta không bao giờ được phép đắm mình trong sự an ủi giả tạo của đời sống tâm linh Nhưng với tư duy biện chứng, chúng ta hiểu rằng có một sự đền bù hư ảo dù sao cũng hơn là chẳng có bất cứ một điều gì

Hướng về thế giới tâm linh không những là một nhu cầu, mà dường như còn là một cách giúp con người sống lương thiện hơn, tốt đẹp hơn Thế giới tâm linh, đời sống tâm linh chính là sự khát khao của con người về chân lý, về cái hoàn mỹ và hạnh phúc vĩnh hằng Tất cả những người có thế giới quan duy vật biện chứng, có kiến thức khoa học đều hiểu là Thượng Đế, Chúa Trời hay Đức Phật,… không hề tồn tại đích thực Nhưng dù sao, từ trong sâu thẳm tâmhồn, ai cũng khát khao, mong mỏi và đợi chờ những điều tốt đẹp Xã hội sẽ tốt đẹp hơn và con người sẽ hạnh phúc biết bao nhiêu nếu ngay tại cuộc sống trần thế này không còn những rủi ro, bất hạnh Trong khi đời sống hiện thực còn có những khó khăn, còn có những tệ nạn, những bất công thì những mơ ước, khát vọng của con người về một thế giới lý tưởng vẫn tiếp tục được biểu hiện qua những biểu tượng vĩnh hằng thuộc về thế giới tâm linh Trong nhiều câu chuyện thần thoại và cổ tích, phép màu và các sức mạnh siêu nhiên là một phương thức để cái thiện chiến thắng cái ác, cái tốt vượt lên trên cái xấu, cái cao thượng thay thế cho sự thấp hèn Cứ mỗi lần cô Tấm bé nhỏ gặp phải những nỗi đọa đày thì ông Bụt lại hiện ra để thực hiện thiên chức của mình, mang lại sự công bằng xã hội Những nhân vật như Lý Thông, như mẹ con nhà Cám,… cuối cùng đều phải đền tội, đều bị trừng phạt một cách xứng đáng Nếu sự thực luôn diễn ra đúng như vậy thì cái ác, cái xấu sẽ chẳng còn nơi ẩn nấp Trong thực tế, con người không dám làm điều xấu, không dám gây ra tội ác là do sợ bị pháp luật trừng phạt, sợ bị lên án bởi đạo đức, lương tâm, bởi dư luận xã hội và có lẽ, có một phần không nhỏ là do sợ bị trừng phạt bởi thánh thần Rõ ràng, tác dụng ngăn ngừa cái xấu, ngăn cản cái ác, đưa con người đến với cái thiện, cái tốt của đời sống tâm linh là hoàn toàn

có thật Chúng ta đều biết, có nhiều con đường, phương thức để giáo dục và hoàn thiện nhân cách con người, mà một trong số đó, theo chúng tôi là đời sống tâm linh Đây cũng là một khía cạnh tích cực trong các giá trị đích thực của đời sống tâm linh

Trang 4

Ngoài ra, đời sống tâm linh còn tạo ra sự đoàn kết, tạo ra sự kết nối quá khứ – hiện tại – tương lai Đời sống tâm linh

có sức lan truyền mạnh mẽ, tạo ra những cảm xúc, rung động thiêng liêng và do đó, có tác dụng tập hợp, đoàn kết, gắn bó con người một cách có hiệu quả Sự thiêng liêng trong bài thơ “Nam quốc sơn hà” của Lý Thường Kiệt đã khiến kẻ thù run sợ Hòn Vọng Phu bị phá sập đã gây nên sự tiếc nuối trong biết bao trái tim người Việt Hồ Gươm ởthủ đô Hà Nội gắn liền với sự tích Hoàn Kiếm vừa huy hoàng và đẹp đẽ, vừa trang nghiêm, đầy vẻ linh thiêng Đó làmột biểu tượng tuyệt vời của ý chí độc lập tự chủ, kiên cường, thượng võ, song cũng đầy chất lãng mạn của dân tộc

Từ sự tích thần Kim Quy thời An Dương Vương đến truyền thuyết rùa vàng rẽ sóng nhận gươm thời vua Lê Thái Tổ

là cả một hành trình lịch sử đầy sóng gió, trong đó đời sống tâm linh là một trong những cơ sở quan trọng giúp cha ông ta vượt lên trên sự đồng hóa tàn bạo của các thế lực xâm lược ngoại bang Đối với mỗi gia đình, bàn thờ tổ tiên

là biểu tượng hết sức thiêng liêng, có sức mạnh lôi cuốn các thành viên quây quần, đoàn tụ để tưởng nhớ về cội nguồn, duy trì những giá trị truyền thống nhằm chuyển giao cho các thế hệ mai sau Con người là một sinh vật kỳ diệu, có khối óc biết suy nghĩ để phân biệt phải trái, đúng sai; có trái tim biết rung động trước những giá trị văn hóa tinh thần đẹp đẽ, cao cả Từ đó, hình thành nên một đời sống tâm linh sâu thẳm, phong phú và có sức cuốn hút mạnh

mẽ đến kỳ diệu Gạn lọc và bỏ đi những yếu tố có màu sắc mê tín, dị đoan, phần tinh tuý trong sáng trong đời sống tâm linh sẽ hiện ra, đó là những giá trị văn hoá đầy bản sắc và có ý nghĩa nhân văn Có thể khẳng định rằng, những giá trị văn hóa của đời sống tâm linh là bền vững và có những ý nghĩa tích cực nhất định Chúng không những tạo ranhững sức mạnh tinh thần, mà còn có thể tạo ra những sức mạnh có tính vật chất thực sự Đó là những giá trị mà chúng ta phải nhận thức một cách sâu sắc và đầy đủ

Bàn về giá trị văn hóa của đời sống tâm linh là một vấn đề vô cùng phức tạp và tế nhị Những ý kiến trên đây mới chỉ là những suy nghĩ ban đầu còn hết sức đơn giản và mộc mạc Bài viết cũng không có tham vọng giải quyết một cách triệt để tất cả các khía cạnh Chúng tôi chỉ hy vọng gợi mở một phần nào ý nghĩa văn hoá và những giá trị tinh thần đích thực ẩn chứa trong đời sống tâm linh của con người dưới góc nhìn của thế giới quan duy vật biện chứng.Nguồn: vientriethoc.com.vn

(1) C.Mác và Ph.Ăngghen Toàn tập, t.21 Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội, 1995, tr.403.

(2) Chúng tôi sử dụng tác phẩm Biện chứng của tự nhiên được xuất bản từ năm 1971 là vì trong C.Mác và

Ph.Ăngghen Toàn tập, t.20, phần in về Biện chứng của tự nhiên (từ tr.451 đến tr.826) chúng tôi không thấy có

Trang 5

TÓM TẮT

Hệ giá trị truyền thống là một hình thái của ý thức, nó biểu hiện trên hai phương diện giá trị văn hóa vật chất và văn hóa tinh thần Hệ giá trị tinh thần truyền thống Việt Nam do các thế hệ người Việt Nam sáng tạo ra Bài viết này tìm hiểu hệ giá trị tinh thần ấy và xác định những truyền thống nào còn có ý nghĩa trong thời hội nhập.

*

1 Giá trị và hệ giá trị truyền thống người của Việt

Việt Nam đã và đang bước vào thời kỳ phát triển đất nước và hội nhập thế giới trên các phương diện kinh tế, chính trị, văn hóa, khoa học công nghệ… Muốn thực hiện được những mục tiêu cao cả do Đảng và Nhà nước đặt ra thì conngười được xem là nhân tố quan trọng nhất Những thắng lợi mà dân tộc ta đã giành được trong quá trình dựng nước

và giữ nước một phần dựa trên hệ giá trị tinh thần truyền thống Cố Thủ tướng Phạm Văn Đồng đã khẳng định:

“Thắng lợi trong chiến tranh giữ nước, cũng như trong công cuộc xây dựng Chủ nghĩa xã hội chung quy là thắng lợi của con người Việt Nam Đó là sức mạnh của giá trị Việt Nam” Chính vì vậy, cho đến nay, hệ giá trị tinh thần truyền thống của người Việt Nam luôn là vấn đề quan trọng, thu hút sự quan tâm của các nhà nghiên cứu trong và ngoài nước

Có nhiều quan điểm khác nhau về giá trị Theo cách hiểu phổ quát thì giá trị gồm giá trị vật chất và giá trị tinh thần, giá trị tốt và giá trị xấu do con người sáng tạo ra Giá trị tinh thần thường là giá trị khoa học, giá trị đạo đức, giá trị nghệ thuật, giá trị văn hóa, giá trị tôn giáo… Tuy nhiên, giá trị phụ thuộc vào những yếu tố tự nhiên, bối cảnh lịch sử

- xã hội, phương thức sản xuất, điều kiện kinh tế và những nhu cầu con người C.Mác và Ăngghen cho rằng “bản chất con người không phải là một cái gì trừu tượng cố hữu của cá nhân riêng biệt Trong tính hiện thực của nó, bản chất con người là tổng hòa những quan hệ xã hội” [3, tr.11] Giá trị cũng như tính cách dân tộc và tâm lý dân tộc là sản phẩm của quá trình tư duy và sáng tạo Những giá trị tinh thần của người Việt Nam được tịch lũy qua quá trình lịch sử, được coi là “hạt nhân” cơ bản của văn hóa dân tộc và bản sắc văn hóa Theo Hà Văn Tấn: “Tâm lý dân tộc biểu hiện trong phong cách tư duy, lối ứng xử (hay hành vi), đồng thời biểu hiện ra trong tình cảm của dân tộc Nó

bị ức chế bởi các điều kiện tự nhiên mà trong đó cộng đồng đang tồn tại, điều kiện xã hội và điều kiện lịch sử” [9, tr.14] Hệ giá trị tinh thần truyền thống Việt Nam được sáng tạo, hun đúc trong tiến trình lịch sử của dân tộc Phạm Minh Hạc cho rằng: “Hệ giá trị là các giá trị của một tập hợp người như dân tộc, thế giới, vùng, gia đình, bản thân” [6, tr.30] Hệ giá trị truyền thống là một hình thái của ý thức, của tinh thần, phản ánh, biểu hiện trên hai phương diệngiá trị văn hóa vật chất và văn hóa tinh thần của người Việt Nam Hệ giá trị tinh thần truyền thống do nhiều thế hệ người Việt Nam sáng tạo ra và con người Việt Nam là giá trị quan trọng nhất Hệ giá trị tinh thần tốt của người Việt Nam được kế thừa, phát huy và góp phần mang lại những thành tựu trong các lĩnh vực của đời sống trong thời kỳ đổi mới Ngược lại, có những thói hư tật xấu của người Việt Nam đang cản trở và tác động xấu đối với sự phát triển

xã hội Theo Trần Trọng Kim: “Về đằng trí tuệ và tính tình, thì người Việt Nam có cả các tính tốt và các tính xấu” [7, tr.18] Hệ giá trị tinh thần truyền thống của người Việt đã được các nhà nghiên cứu trong nước tiếp cận ở các góc

độ khác nhau Tuy vậy, có một điểm chung, đa số các nhà nghiên cứu chủ yếu ca ngợi, đề cập đến những giá trị tốt,

mà ít chú ý những thói hư tật xấu Điều này chúng ta cũng dễ bắt gặp trong các công trình nghiên cứu về lịch sử Người làm sử phần lớn ca ngợi và tôn vinh những chiến công của dân tộc mà ít chú ý phân tích những thất bại khi chống lại kẻ thù Đây là một trong những nguyên nhân làm cho thế hệ trẻ chỉ được nghe những cái hay, cái tốt mà ít thấy thất bại Vì thế, phần lớn họ chưa hiểu rõ nguyên nhân của các mặt hạn chế trong hệ giá trị tinh thần truyền thống của dân tộc

Chúng ta có thể tạm chia hệ giá trị tinh thần truyền thống Việt Nam thành hai hệ thống: hệ thống giá trị tinh thần tốt

và các thói hư tật xấu của người Việt Nam mang tính phản giá trị

Thứ nhất, với hệ giá trị tinh thần truyền thống tốt của người Việt Nam, Trần Trọng Kim cho rằng: “(…) trí tuệ minh mẫn, học chóng hiểu, khéo chân tay, sáng dạ, nhớ lâu, hiếu học, trọng học thức, quý sự lễ phép, trọng đạo đức, yêu

Trang 6

hòa bình, can đảm, kỷ luật, sùng lễ bái, thương người, nhớ ơn Người Việt Nam từ Bắc chí Nam theo một phong tục,nói một thứ tiếng, cùng giữ một kỷ niệm, thật là cái tính đồng nhất của một dân tộc từ đầu đến cuối” [7, tr.18] Phan

Kế Bính cũng viết về người Việt: “(…) trọng luân thường, cần kiệm, an phận làm ăn, tuân giữ phép nước, coi trọng gia đình, thích yên ổn, trọng sự học hành, trọng lễ nghĩa, thật thà, cẩn thận, trung hậu, hòa nhã, trầm tĩnh, khẳng khái, ngạnh trực, can đảm, quả quyết, kính bậc đạo đức, nhớ người ân nghĩa, trọng đường công nghiệp, giữ cái danh giá, có nghĩa khí, khoan dung, nhân đức, nhẫn nại, kiên cường, trọng ái tình…” [2, tr.417] Đào Duy Anh cho rằng:

“Người Việt thông minh, giàu trí nghệ thuật, trực giác, ham học, thích văn chương, giỏi chịu đựng, hy sinh vì đại nghĩa, dung hòa, trọng lễ giáo và chuộng hòa bình” [1, tr.24] Pierre Huard và Maurice Durand đã nhận định về người Việt: “(…) tuân phục thiên nhiên và tuân phục vũ trụ, trọng vương đạo và bá đạo, chấp nhận tất cả các giá trị cảm xúc, các phức cảm đạo đức và thẩm mĩ, logíc, trung thành, tuân thủ lễ nghi trong gia đình, trọng ân nhân” [8, tr.133] Trần Văn Giàu đã hệ thống thành bảy giá trị tinh thần truyền thống người Việt: “yêu nước, cần cù, anh hùng,sáng tạo, lạc quan, thương người, vì nghĩa” [4, tr.266] Trong nghị quyết TW 5 khóa VIII của Đảng đã nêu lên 12 giá trị: “lòng yêu nước nồng nàn, ý chí tự cường dân tộc; tinh thần đoàn kết; ý thức cộng đồng gắn kết cá nhân - gia đình - làng xã - Tổ quốc; lòng nhân ái; lòng khoan dung; trọng nghĩa tình; trọng đạo lý; đức tính cần cù; sự sáng tạo trong lao động; sự tinh tế trong ứng xử; tính giản dị trong lối sống” [4, tr.265] Một viện nghiên cứu xã hội Mỹ cũng đưa ra bảng giá trị của người Việt: “cần cù lao động, thông minh, sáng tạo, khéo léo, thực tế, ham học có khả năng tiếp thu nhanh, xởi lởi, chiều khách song không bền, tiết kiệm, có tinh thần đoàn kết trong những hoàn cảnh khó khăn, yêu hòa bình, nhẫn nhịn” [5, tr.112]

Thứ hai, với những thói hư tật xấu của người Việt nhìn từ góc độ phản giá trị Chúng tôi xin lược trích một số quan điểm của người nước ngoài, các nhà nghiên cứu trong nước về thói hư tật xấu của người Việt Lý Tiên Căn, nhà nghiên cứu người Trung Quốc đã nhận xét về người Giao Chỉ thời Bắc thuộc: “Dân Giao Chỉ cũng có học, biết chữ,

ưa thích những điều quái dị Không có thầy trao truyền về việc học, họ học nhưng không biết quán thông, ham chuộng việc quỷ thần, tính đồng cốt, không theo hai đạo, họ cho người nào có tài mồm mép, nói khoe là có công” [4, tr.259] Những điểm hạn chế của người Việt cũng được người phương Tây nhận xét khi đến giao thương và và truyền giáo Vào thế kỷ XVII, người Anh đã nhận xét: “Một dân chúng hay nài xin quấy rầy vào bậc nhất thế giới Muốn gặp phải có quà Tục lệ của xứ này là không đến viếng thăm tay không Tay không thì giàu nghèo gì đi chăng nữa cũng chẳng đến được bất kỳ bậc quan trên nào Hàng hóa muốn gì lấy nấy, không trả tiền Hàng hóa muốn định giá thế nào tùy ý Trả tiền chậm, khó khăn” [4, tr.260] Phan Kế Bính cho rằng: “tính hồ đồ, ngờ vực, nhút nhát, lười biếng, ghen ghét, khoe khoang, hợm hĩnh, khép nép, câu nệ, sợ đầu, sợ đuôi, nghĩ quanh nghĩ quẩn, ham cờ bạc rượu chè, thích sự quấy rầy ăn uống, gió chiều nào che chiều ấy, gian giảo, kiêu ngạo, tham lam, thô tục, hay xóc móc, hay kiện cáo, hay tranh giành, hay nịnh hót người quyền thế, khinh bỉ người hiền lành, hay sinh sự, hay thù hằn, ăn trộm, ăn cướp, anh hùng rơm, vong ân bội nghĩa, phản bạn lừa thầy…” [2, tr.418] Chủ tịch Hồ Chí Minh đã phê phán những đồng chí trẻ trong lớp đào tạo cán bộ cách mạng ở Quảng Châu về những thói tệ “tính sĩ diện, giấu dốt, thích làm quan” [5, tr.113] Trần Trọng Kim cũng nêu những thói xấu của người Việt: “ (…) tinh vặt, quỷ quyệt, bài bác, nhạo chế Tâm địa thì nông nổi, làm liều, không kiên nhẫn, hay khoe khoang, ưa trương hoàng bề ngoài, hiếu danh vọng, thích chơi bời, mê cờ bạc Tin ma quỷ, không nhiệt tín tôn giáo nào cả, kiêu ngạo, nói khoác” [7, tr.18] Đào Duy Anh khi nói về những thói xấu của người Việt cho rằng: “(…) chậm chạp, nông nổi, không bền chí, hay thất vọng, hay khoe khoang, trang hoàng bề ngoài, ưa hư danh, thích chơi cờ bạc, nhút nhát, tinh vặt, bài bác chế nhạo” [1, tr.25] Thi sĩ Tản Đà đã từng viết về người Việt “Dân hai lăm triệu ai người lớn/ Nước bốn ngàn năm vẫn trẻ con” [5, tr.20] Người Việt đã tự nhận xét về mình qua câu ca dao: “Ra đi gặp vịt cũng lùa/ Gặp duyên cũng kết, gặp chùa cũng tu” Hai tác giả người Pháp là Pier Huard và Maurice Durand nhận xét về hạn chế của tư duy người Việt và giá trị tinh thần của người Việt cổ truyền: “(…) thiếu công cụ tư duy (từ vựng chính xác, từ vựng kỹ thuật) và các khung ngôn ngữ cần thiết để trình bày các sự việc một cách chính xác, tính thời gian bằng kinh nghiệm, thói quen nói ngược ý, sự thiếu vắng các biểu hiện trìu mến” [8, tr.135] Theo kết quả khảo sát của một việnnghiên cứu xã hội Mỹ về hạn chế của người Việt: “(…) dễ thỏa mãn, tâm lý thích hưởng thụ, có tính đối phó trong công việc, thiếu tầm tư duy dài hạn, không chủ động, không kiên trì đến cùng, ít khi học đến đầu đến đuôi nên kiến thức không hệ thống, mất cơ bản Học tập không còn mục tiêu tự thân mà vì gia đình, vì sĩ diện, để kiếm công ăn việc làm, ít vì chí khí, không phải do đam mê, hoang phí vì sĩ diện, khoe khoang, thích hơn đời, hiếu chiến, hiếu

Trang 7

thắng vì tự ái vặt, thích tụ tập, thiếu tính liên kết để tạo ra sức mạnh (cùng một việc, một người làm thì tốt, ba người làm thì kém, bảy người làm thì hỏng)” [5, tr.21].

2 Hệ giá trị tinh thần truyền thống của người Việt trong thời hội nhập

Hệ giá trị tinh thần truyền thống tốt của người Việt đã được khẳng định, được kế thừa, phát huy và mang lại nhiều thành tựu nổi bật Chúng ta đã được thế giới biết đến là một dân tộc giàu truyền thống yêu nước, có bề dày về lịch

sử, có bản sắc văn hóa dân tộc Những phẩm chất tốt đẹp như lòng yêu nước, lòng tự hào dân tộc, ý chí tự cường, cần cù, thông minh, sáng tạo… đã được chứng minh trong quá trình đấu tranh chống lại nhiều kẻ thù Các giá trị tinhthần tốt đẹp của người Việt trở thành nền tảng vững chắc cho dân tộc trong thời kỳ đổi mới và hội nhập quốc tế Điều đó đã được khẳng định sau 20 năm đổi mới, với sự lãnh đạo sáng suốt, tài tình và linh hoạt của Đảng Cộng SảnViệt Nam, đất nước ta có những bước phát triển thần kỳ cả trên phương diện kinh tế, chính trị, văn hóa, giáo dục, ngoại giao từng bước nâng cao vị thế của Việt Nam trong khu vực cũng như trên trường quốc tế

Như đã đề cập, ngoài hệ giá trị tinh thần truyền thống tốt, người Việt cũng có những thói hư tật xấu mang tính phản giá trị: sự vụ lợi, hám tiền, tò mò, cá nhân, giả dối, sính ngoại, sĩ diện, tự ti, tham vặt, thực dụng, cậy thế, vô kỷ luật, thờ ơ, lười biềng, thích hưởng thụ, tính thụ động… Những thói hự tật xấu của người Việt phần lớn là do từ xưa truyền lại hoặc hiện nay mới xuất hiện Những thói quen vốn hình thành trong văn hóa làng xã cổ truyền, lối sản xuất nông nghiệp lúa nước đã được người Việt đã mang theo vào thời hội nhập và lối sống thành thị Chúng ta bắt gặp những thói hư tật xấu của người Việt trong thời hội nhập nơi nhiều phương diện của đời sống xã hội Việt Nam như chính trị, giáo dục, y tế, văn hóa nghệ thuật, khoa học, giao thông Nơi lĩnh vực chính trị, chúng ta bắt gặp những hiện tượng mà xã hội đang lên án như đạo đức giả, nói một đằng làm một nẻo, trù úm, bè phái, làm thì láo báo cáo thì hay (sáng tác văn bản, báo cáo thành tích), cục bộ địa phương… quan hệ xã hội thì hình thức Trong hoạtđộng kinh tế, vì hám lợi mà người Việt sẽ tìm mọi cách để gian lận, lừa đảo, trốn thuế, chiếm dụng vốn, chặt chém

du khách (kinh doanh xăng dầu, tài chính ngân hàng, kinh doanh du lịch, kinh doanh vận chuyển khách, kinh doanh xuất bản phẩm)… Không những vậy, thói hư tật xấu của người Việt còn len lỏi vào cả trong môi trường giáo dục và

y tế: sự gian lận về bằng cấp và thành tích trong giáo dục, sự xuống cấp của y đức Đối với hoạt động nghiên cứu khoa học, một lĩnh vực được xã hội đánh giá là sự nghiêm túc, khách quan và chính xác, thì cũng xuất hiện những vấn đề đạo văn, đạo số liệu Gia đình người Việt đang đối diện với những vấn đề xuống cấp về đạo đức: con cái đối

xử bạc với cha mẹ, ông bà; lối sống ích kỷ, tệ nạn mại dâm, ma túy… Thể thao Việt Nam cũng đã diễn ra nhiều vấn

đề gây bức xúc cho xã hội như: nạn bán độ, cá độ, sự vô kỷ luật, đánh đuổi trọng tài Với lĩnh vực sáng tác và biểu diễn âm nhạc đó là những tác phẩm âm nhạc chạy theo thị trường, quay lưng lại với âm nhạc truyền thống, vi phạm

về thuần phong mĩ tục trong biểu diễn Còn trong lễ hội dân gian Việt Nam cũng đang nổi lên những hiện tượng chen lấn, xô đẩy, cướp đoạt, buôn thần bán thánh, mê tín dị đoan và thương mại hóa trong các lễ hội Như vậy, trong cuộc sống thường ngày chúng ta có thể bắt gặp rất nhiều thói hư tật xấu của người Việt Nam mang tính phản giá trị

3 Những giải pháp cho hệ giá trị tinh thần truyền thống của người Việt

Như vậy, có thể khẳng định rằng hệ giá trị tinh thần truyền thống Việt Nam là “hạt nhân” để hình thành bản sắc văn hóa Việt Nam Hệ giá trị tinh thần truyền thống Việt Nam (cả giá trị và phi giá trị) cũng thay đổi theo thời gian và theo xu thế của thời đại Hệ giá trị đó vừa mang tính dân tộc và tính hiện đại, hai yếu tố đóng vai trò nền tảng, động lực thúc đẩy sự phát triển xã hội theo hướng công nghiệp hóa và hiện đại hóa; đồng thời những thói hư tư tật xấu củangười Việt là một trong những nguyên nhân tạo nên rào cản cho cho sự phát triển xã hội thời hội nhập

Cần kiên trì bảo tồn, phát huy hệ giá trị tinh thần truyền thống tốt của người Việt trên các phương diện chính trị, kinh tế, văn hóa, an ninh, ngoại giao, giáo dục và quân sự Ngoài ra, cần phải chủ động, tích cực, bản lĩnh trong hội nhập và giao lưu quốc tế; phê phán, lên án và loại bỏ dần những thói hư tật xấu của người Việt Từ thực tế, chúng tôixin đề xuất một số giải pháp sau:

Trang 8

Thứ nhất, phải tuyên truyền, giáo dục để nâng cao nhận thức về hệ giá trị tinh thần truyền thống cho người dân Qua

đó, giá trị tinh thần truyền thống tốt cần được bảo tồn, phát huy trong quá trình hội nhập và phát triển Người Việt Nam phải nhận thức rõ, nhìn lại và suy ngẫm những thói quen xấu của mình để tự điều chỉnh, tự phê phán, loại bỏ chúng ra khỏi cộng đồng Thông qua tuyên truyền, giáo dục để nâng cao nhận thức của người Việt Nam về hệ giá trị tinh thần tốt và những thói hư tật xấu mang tính phản giá trị có ý nghĩa quan trọng hàng đầu Cần bắt đầu từ việc giáo dục trong gia đình cùng với nhà trường và xã hội Gia đình là tế bào của xã hội, môi trường giáo dục quan trọngđầu tiên cho mỗi con người Việt Nam về hành vi, ứng xử, nếp sống tốt thông qua vai trò của cha mẹ, ông bà và những người thân Đây chính là giải pháp mang tính căn cơ để hệ giá trị tinh thần truyền thống Việt Nam được bảo tồn, phát huy và sàng lọc, loại bỏ những thói xấu Muốn vậy, những bậc làm cha mẹ, ông bà và những người lớn tuổitrong gia đình phải là những người gương mẫu, tiên phong điều chỉnh những hành vi của mình để con cháu noi theo.Thứ hai, sử dụng pháp luật và các chính sách tạo nền tảng pháp lý cho việc xử lý nghiêm minh đối với những thói

hư tật xấu của người Việt trong các hoạt động kinh doanh, dịch vụ Trong hoạt động kinh doanh du lịch hiện nay, ngoài phạt tiền, tước giấy phép kinh doanh, thông báo trên các phương tiện truyền thông… chúng ta có thể áp dụng thêm những biên pháp cứng rắn hơn: nếu địa phương nào để xảy ra những vấn nạn chặt chém, lừa đảo, đeo đuổi khách du lịch… thì bị cấm tổ chức các hoạt động du lịch như festival, hội chợ thương mại, không được đăng cai năm du lịch quốc gia, không được đầu tư về cơ sở hạ tầng và quảng bá xúc tiến du lịch

Thứ ba, khẳng định lại vai trò của cộng đồng, với tư cách là chủ thể trong việc bảo tồn, phát huy hệ giá trị tinh thần tốt, cùng lên án và cương quyết loại bỏ dần những thói hư tật xấu của người Việt trong thời hội nhập Sức mạnh và vai trò của người Việt đã được chứng minh và khẳng định trong truyền thống đấu tranh và giải phóng dân tộc Do vậy, muốn bảo tồn, phát huy những giá trị tốt và loại bỏ dần những thói quen xấu thì người dân, cộng đồng phải đóng vai trò quan trọng, là chủ thể của sự nghiệp này Bên cạnh đường lối, chủ trương, chính sách, sự đầu tư và quantâm của Đảng và Nhà nước, thì người dân cũng cần nhận thức rõ về vai trò, trách nhiệm của mình Điều này không chỉ đúng với hoạt động kinh doanh du lịch, hay hoạt động kinh doanh xăng dầu mà trong nhiều mặt của đời sống xã hội Muốn thực hiện được những mục tiêu trên, chúng ta phải để người dân thể hiện vai trò là chủ thể chính trong việc bảo tồn, phát huy hệ giá trị tinh thần truyền thống tốt và chủ thể tuyên truyền, cổ động từ bỏ những thói quen vàhình vi xấu làm ảnh hưởng đến hình ảnh địa phương, quê hương, vùng miền và quốc gia mình Các tổ chức chính quyền từ trung ương đến địa phương phải động viên khen thưởng, tạo môi trường lành mạnh, thuận lợi nhất để họ phát huy, bảo vệ những quyền lợi chính đáng cho người dân và cộng đồng Các ban ngành phải từng bước xây dựng chung những thiết chế trong văn hóa ứng xử, văn hóa kinh doanh, văn hóa phục vụ đến từng cộng đồng và toàn bộ người dân Việt Nam Mỗi người dân Việt Nam hãy luôn là người thông thái để lựa chọn, để quyết định những hành

vi tốt và kiên quyết loại bỏ những thói quen và hành vi xấu trong chính bản thân mình Đồng thời, người Việt cũng cần xác định đây là những việc làm thường xuyên, lâu dài và phải thật sự kiên trì Có như vậy, hệ giá trị tinh thần truyền thống của người Việt trở thành bản sắc văn hóa, là nền tảng vững chắc cho Việt Nam hội nhập và phát triển bền vững

Tài liệu tham khảo

1 Đào Duy Anh (1998), Việt Nam văn hóa sử cương, tái bản, Nxb Đồng Tháp.

2 Phan Kế Bính (2005), Việt Nam phong tục, tái bản, Nxb Văn hóa Thông tin, Hà Nội.

3 C.Mác và Ph.Ăngghen (1995), Toàn tập, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội.

4 Nguyễn Tấn Đắc (2005), Văn hóa Đông Nam Á, Nxb Đại học Quốc gia TP Hồ Chí Minh.

5 Nhiều tác giả (2008), Người Việt phẩm chất và thói hư - tật - xấu, Nxb Thanh niên, Hà Nội.

Trang 9

6 Phạm Minh Hạc (2012), Giá trị học, Nxb Dân trí, Hà Nội.

7 Trần Trọng Kim (2008), Việt Nam sử lược, tái bản, Nxb Văn hóa Thông tin, Hà Nội.

8 Pier Huard và Maurice Durand (1993), Hiểu biết về Việt Nam, Nxb Khoa học Xã hội, Hà Nội.

9 Trần Quốc Vượng (cb) (2010), Cơ sở văn hóa Việt Nam, Nxb Giáo dục, Hà Nội.

GIÁ TRỊ VÀ SỰ CHUYỂN ĐỔI

HỆ GIÁ TRỊ VĂN HOÁ TRUYỀN THỐNG VIỆT NAM

Trang 10

1 Giá trị và giá trị văn hoá

Trong các ngôn ngữ phương Tây, thuật ngữ “giá trị” (A value, F valeur; tương đương với ценностьcủa tiếng

Nga, 价价 / 价价 của tiếng Hoa), bắt nguồn từ valere của tiếng La-tinh có nghĩa là ‘khỏe mạnh, tốt, đáng giá’, ban đầu được dùng để chỉ việc một thứ gì đó đáng giá, trước hết là theo nghĩa giá trị trao đổi của kinh tế học mà nhà kinh tế

học chính trị Adam Smith đã nói đến trong tác phẩm nổi tiếng của mình nhan đề: Tìm hiểu về bản chất và nguồn gốc của cải của các quốc gia (Inquiry into the Nature and Causes of the Wealth of Nations) xuất bản năm 1776 Theo Đại bách khoa toàn thư Xô-viết (30 tập), giá trị (ценность) là thuật ngữ được sử dụng rộng rãi trong các tài

liệu triết học và xã hội học để chỉ ý nghĩa con người, xã hội và văn hoá của những hiện tượng thực tế nhất định [Дробницкий О.Г 1978]

Là một thuật ngữ được sử dụng rất rộng rãi, song ở khái niệm “giá trị” còn tồn đọng rất nhiều vấn đề lý luận chưa được giải quyết thấu đáo

1.1 Giá trị và văn hoá

Các tài liệu nghiên cứu, các từ điển bách khoa lâu nay thường phân biệt giá trị đạo đức (ethical values), giá trị kinh

tế (economic value), giá trị văn hoá (cultural value), giá trị xã hội (social value), giá trị pháp lý (law’s value), giá trị

ký hiệu học (semiotic value), giá trị toán học (mathematical value), v.v.

Trang 11

Đây là một cách nhìn rất truyền thống, nó ra đời có lẽ chỉ sau thời Adam Smith (tk 18) mà thôi Chính vì ra đời trước khi có khoa học văn hoá học, nên văn hoá chỉ được hiểu theo nghĩa hẹp (= văn hoá tinh hoa), và do vậy

mà giá trị văn hoá mới được đặt ngang hàng bên cạnh các loại giá trị khác.

Quan niệm trình bày trong “Bách khoa toàn thư văn hoá học tk XX” của Nga xuất bản năm 1998 coi “giá trị là những thành tố quan trọng nhất của văn hoá con người bên cạnh các chuẩn mực và các lý tưởng”[1] [Губман Б.Л 1998] thì lại thu hẹp nội hàm của khái niệm “giá trị”, văn hoá không phải là hệ thống giá trị, mà là hệ thống của giá trị và nhiều thứ khác

Như vậy, nếu hiểu “văn hoá” và “giá trị” theo nghĩa rộng, chấp nhận quan niệm coi văn hoá là hệ thống giá trị do

con người sáng tạo ra thì khái niệm “văn hoá” trong cụm từ “giá trị văn hoá” phải được hiểu là ‘do con người sáng tạo ra’ Giá trị văn hoá đối lập với giá trị tự nhiên và bao gồm tất cả các loạigiá trị đạo đức, giá trị kinh tế, giá trị

pháp lý, giá trị ký hiệu học, giá trị toán học, v.v., vì mọi giá trị và hệ giá trị do con người sáng tạo ra đều thuộc văn hoá cả rồi

1.2 Giá trị văn hoá và tính tinh thần, đạo đức

Nhiều người đồng nhất giá trị (văn hoá) với giá trị tinh thần

Điều này không đúng Bên cạnh giá trị tinh thần còn có giá trị vật chất Nếu hiểu khái niệm “tinh thần” theo nghĩa hẹp thì người ta còn có thể phân biệt ba loại giá trị: giá trị vật chất, giá trị xã hội - chính trị vàgiá trị tinh thần

[Ценности БЭC 1999-2000] Nhà triết học Đức Max Scheler (1874-1928) trong tác phẩm kinh điển “Chủ nghĩa hình thức trong đạo đức học và đạo đức học phi chính thống về các giá trị”[2] xuất bản lần đầu năm 1913 phân biệt

tới bốn loại giá trị: giá trị tinh thần (như chân, thiện, mỹ); giá trị thiêng (niềm tin tôn giáo); giá trị cảm xúc hay khoái

Trang 12

lạc; và giá trị đời sống (như sức khỏe) [Axiology - New World Encyclopedia], trong đó thực ra giá trị thiêng chính

là một loại giá trị tinh thần, giá trị đời sống chính là giá trị vật chất, chỉ có giá trị cảm giác là phi vật chất nhưng chưa hẳn là tinh thần

Tuy nhiên, đúng là trong tất cả các loại ấy thì giá trị tinh thần là loại giá trị quan trọng nhất, chi phối các loại giá trị khác Phẩm chất tinh thần là phẩm chất quan trọng nhất, là hạt nhân cốt lõi của khái niệm “giá trị” Vì vậy

khoa giá trị học (Axiology, từ tiếng Hy-Lạp áξίā, axiā là ‘giá trị, đáng giá’ và -λογία, -logia) chỉ nghiên cứu các giá

trị tinh thần thuộc về đạo đức học và mỹ học [Axiology]

Thực ra, việc coi loại giá trị nào quan trọng hơn loại giá trị nào phụ thuộc vào tiêu chí đánh giá

Max Scheler khẳng định rằng trong bốn loại giá trị thì giá trị cảm xúc mới là loại nằm ở vị trí cao nhất trong bậc

thang cấp hệ giá trị: Giá trị cảm xúc > Giá trị đời sống > Giá trị tinh thần > Giá trị thiêng[Axiology - New World

Encyclopedia] Quan niệm của Scheler là do hoàn cảnh lịch sử chi phối Trước Max Scheler, Immanuel Kant

(1724-1804) đã đưa ra thuyết giá trị đạo đức để thay thế cho các giá trị thần học đã thống trị suốt thời trung cổ Đến lượt mình, Max Scheler thay thế giá trị đạo đức của I Kant bằng giá trị cảm xúc (feeling values) Theo Max Scheler, giá

trị là đối tượng chủ tâm của cảm xúc cũng giống như màu sắc là đối tượng chủ tâm của thị giác: con người có khả năng nhìn thấy màu vàng cũng giống như con người có khả năng cảm nhận được lòng tốt Giá trị được cụ thể hóa qua các đối tượng vật chất nhưng tự thân nó không phải là đối tượng vật chất Trong khi hàng hóa kiểu như bức tranh là đối tượng thực nghiệm thì giá trị mang bản chất tiên nghiệm (a priori), tồn tại không lệ thuộc vào hàng hóa

mà qua đó nó được cụ thể hóa [Axiology - New World Encyclopedia]

Vị trí mà Max Scheler dành cho giá trị cảm xúc chỉ đúng khi ta đánh giá theo xúc cảm vô thức - sinh học: đúng là

trong vô thức, ta thường cho rằng không khoái cảm nào lớn hơn, mạnh hơn được khoái cảm do hoạt động tình dục mang lại Trong khi thực ra khoái cảm tình dục chỉ mạnh trong chốc lát, sức khỏe như giá trị vật chất mới là cái mạnh lâu dài: không ăn không uống thì chỉ có chết, lấy đâu sức khỏe mà làm tình? Do vậy, từ góc độ quan điểm duy vật, thì giá trị vật chất mới là quan trọng Song quan niệm như vậy là mới dừng lại ở một thứ duy vật thô thiển Con người khác động vật duy vật chất ở chỗ có văn hoá và biết phát huy các giá trị tinh thần ẩn tàng trong đó Ai cũng biết khả năng nhịn ăn nhịn uống siêu việt của các nhà yoga Ấn Độ Đối với con người, các giá trị vật chất luôn chứa đựng giá trị tinh thần như một bộ phận quan trọng không thể thiếu, nhưng không đồng nhất với nó

Trong các tài liệu không chỉ tồn tại quan niệm hẹp về “giá trị văn hoá” mà còn phổ biến quan niệm đồng nhất “giá trị văn hoá” với “giá trị đạo đức”, coi “giá trị văn hoá” thuộc lĩnh vực đạo đức Từ điển Wikipedia tiếng Anh định nghĩa “giá trị văn hoá là giá trị đạo đức tương đối” [Value (personal and cultural)] Sự đồng nhất này lại càng sai, vì văn hoá rộng hơn đạo đức, đạo đức chỉ là một thành tố của văn hoá, của hệ giá trị Hệ giá trị văn hoá bao gồm cả giátrị vật chất lẫn giá trị tinh thần Giá trị tinh thần bao gồm cả giá trị ứng xử và các giá trị tinh thần khác Đạo đức chỉ liên quan đến giá trị văn hoá ứng xử

1.3 Giá trị văn hoá và chuẩn mực

Nhiều người đồng nhất, hoặc gần như đồng nhất, giá trị với chuẩn mực Chẳng hạn, Cyde Kluckhohn(1951) cho

rằng “Giá trị là quan niệm về điều mong muốn đặc trưng hiện hay ẩn cho một cá nhân hay một nhóm và ảnh hưởng

tới việc chọn các phương thức, phương tiện hoặc mục tiêu của hành động” [Endruweit G và Trommsdorff G 2002: 156] Trên cơ sở định nghĩa của Kluckhohn, F.Chzel định nghĩa lạigiá trị là “những tiêu chuẩn về cái có thể ao ước được, chúng xác định các mục đích chung của hành động”, còn Đoàn Văn Chúc thì định nghĩa “giá trị là cái khả ao ước trong đời sống của một cộng đồng xã hội, một nhóm hay một cá nhân” [Đoàn Văn Chúc 2008: 117][3] Cũng

theo hướng này, Phạm Minh Hạc và các cộng sự định nghĩa “giá trị là cái quy định mục đích của hoạt động” [Phạm

Minh Hạc (cb) 2007: 106]

Trang 13

Giá trị là một khái niệm rộng, trong đó chỉ có các giá trị định hướng mới gần với chuẩn mực Còn giá trị văn hoá vàchuẩn mực là hai khái niệm giao nhau, chúng phân biệt với nhau theo tiêu chí thời gian Giá trị văn hoá bao gồm các giá trị do con người sáng tạo ra trong quá khứ và hiện tại (có tính lịch sử) Chuẩn mực (thường là về đạo

đức: core values, code of ethics) là những giá trị mà con người hướng tới trong hiện tại và tương lai.

13 phẩm chất mà Tổng thống Benjamin Franklin đề ra cho mình năm 1776 và cho rằng mỗi người Mỹ cần phải theo

(chừng mực, nói đủ, ngăn nắp, kiên quyết, tiết kiệm, tính công nghiệp, chân thành, công lý, trung dung, yên bình, thuần khiết, khiêm tốn) chứa đựng cả những giá trị mà người Mỹ đã và đang có (như kiên quyết, tính công nghiệp, công lý, v.v.) và cả những giá trị trái ngược với tính cách Mỹ (nhưchừng mực, trung dung, v.v.) Đó là chuẩn mực

chứ không phải là giá trị văn hoá Mỹ

“Năm quan điểm chung về giá trị văn hoá đạo đức của Singapor” mà mọi người dân cần noi theo: (1)Quốc gia trên hết, xã hội đầu tiên; (2) Gia đình là gốc, xã hội là thân; (3) Quan tâm giống nhau, đồng cam cộng khổ; (4) Tìm cái đồng, gạt cái bất đồng, hiệp thương cùng hiểu biết; (5) Chủng tộc hài hòa, tôn giáo khoan dung [Singapore 1997:

157] cũng là chuẩn mực đạo đức mà người Singapre hướng tới chứ không phải là giá trị văn hoá

Chỉ khi nào trong quá trình hướng tới ấy, chuẩn mực đạo đức đi vào đời sống thì nó mới dần dần trở thành giá trị văn hoá (nhưng rất có thể khi đó lại xã hội lại đã đề ra một chuẩn đạo đức mới!)

1.4 Giá trị văn hoá và tính chủ quan, tương đối

Giá trị văn hoá có tính chủ quan và tính tương đối

Từ điển Wikipedia tiếng Anh coi “giá trị văn hoá là giá trị đạo đức tương đối” và cho rằng giá trị mangtính chủ quan, chúng khác biệt giữa các dân tộc và các nền văn hoá và trên nhiều phương diện, chúng phụ thuộc vào niềm tin

và các hệ thống tín ngưỡng tôn giáo [Value (personal and cultural)]

Đại từ điển Bách khoa của Nga định nghĩa: “Giá trị (ценность) là ý nghĩa (значимость) tích cực hoặc tiêu cực của

các đối tượng thuộc thế giới bao quanh con người, của nhóm xã hội, của xã hội nói chung, được xác định không phải

do các tính chất tự thân của chúng, mà là do chúng được lôi kéo vào lĩnh vực hoạt động đời sống, các mối quan tâm, các nhu cầu, và các quan hệ xã hội của con người” Sự lôi kéo này tạo ra tính chủ quan “Giá trị còn là những tiêu

chí và phương pháp đánh giá ý nghĩa ấy, thể hiện qua các nguyên tắc và chuẩn mực, lý tưởng, phương hướng, mục tiêu đạo đức” [Ценности БЭC 1999-2000] Những tiêu chí và phương pháp đánh giá này tạo ra tính tương đối.Giá trị bao giờ cũng là kết quả của sự so sánh và đánh giá

Phạm trù “giá trị” hình thành trong nhận thức của con người bằng con đường so sánh các hiện tượng khác nhau So

sánh từ góc nhìn của con người và theo tiêu chí do con người đặt ra tạo nên tính chủ quan của giá trị

Trong quá trình tồn tại, tìm hiểu và chiêm nghiệm thế giới, con người không chỉ so sánh mà cònđánh giá để đi đến

quyết định rằng đối với mình, cái gì là quan trọng trong cuộc đời, cái gì không Kết quả là mọi thứ của thế giới xung

quanh đều được con người nhìn qua lăng kính độ quan trọng và độ hữu ích của chúng đối với cuộc sống của mình;

từ đó mỗi hiện tượng sự vật sẽ nhận được một giá trị do con người gán cho Sự đánh giá trên cơ sở so sánh như vậy tất mang lại cho giá trị tính tương đối.

Tuy nhiên, bên cạnh mặt chủ quan và tương đối, ở một mức độ nhất định, giá trị văn hoá cũng cótính khách quan của nó Trong học thuyết ký hiệu học của nhà ngôn ngữ học Thụy Sĩ Ferdinand de Saussure, quan hệ nối

kết theo chiều đứng giữa cái biểu đạt (signifier) và cái được biểu đạt (signified) tạo nên ký hiệu, còn quan hệ so sánh theo chiều ngang giữa các ký hiệu với nhau tạo nên giá trị (valeur, x hình 1) [Saussure, F de 1973].

Ngày đăng: 20/12/2021, 10:21

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
3. Đảng CSVN 1998: Văn kiện Hội nghị lần thứ năm Ban chấp hành Trung ương khóa VIII. – H.: Nxb. Chính trị Quốc gia Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện Hội nghị lần thứ năm Ban chấp hành Trung ương khóa VIII
Nhà XB: Nxb. Chính trị Quốc gia
4. Đào Duy Anh 1938/1998: Việt Nam văn hoá sử cương. – NXB Tổng hợp Đồng Tháp Sách, tạp chí
Tiêu đề: Việt Nam văn hoá sử cương
Nhà XB: NXB Tổng hợp Đồng Tháp
5. Đoàn Văn Chúc 2008: Giá trị xã hội (social value). – Trong cuốn: Bùi Quang Thắng (cb). 30 thuật ngữ nghiên cứu văn hoá. – H.: NXB KHXH, tr. 117-136 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giá trị xã hội (social value)". – Trong cuốn: Bùi Quang Thắng (cb). "30 thuật ngữ nghiên cứu văn hoá
Nhà XB: NXB KHXH
6. Endruweit G. và Trommsdorff G. 2002: Từ điển xã hội học (Nguyễn Hữu Tâm và Nguyễn Hoài Bão dịch từ tiếng Đức). – H.: NXB Thế giới Sách, tạp chí
Tiêu đề: Từ điển xã hội học
Nhà XB: NXB Thế giới
7. Hồ Sĩ Quý 1999/2006: Về giá trị và giá trị châu Á. - H.: NXB Chính trị Quốc gia Sách, tạp chí
Tiêu đề: Về giá trị và giá trị châu Á
Nhà XB: NXB Chính trị Quốc gia
9. Palazzoli Claude 1981: Le Vietnam entre deux mythes. – Paris: Economica Sách, tạp chí
Tiêu đề: Le Vietnam entre deux mythes
10. Phạm Minh Hạc (cb) 2007: Nghiên cứu giá trị nhân cách theo phương pháp NEO PI-R cải biên. – H.: NXB Khoa học xã hội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghiên cứu giá trị nhân cách theo phương pháp NEO PI-R cải biên
Nhà XB: NXB Khoa học xã hội
11. Saussure, F. de 1973: Giáo trình Ngôn ngữ học Đại cương (Cours de linguistique génerale). – H.: NXB KHXH Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình Ngôn ngữ học Đại cương
Nhà XB: NXB KHXH
12. Singapore 1997: Văn minh tinh thần Singapo. – NXB Chính trị Quốc gia Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn minh tinh thần Singapo
Nhà XB: NXB Chính trị Quốc gia
13. Trần Văn Giàu 1980: Giá trị tinh thần truyền thống của dân tộc Việt Nam. – H.: Nxb KHXH Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giá trị tinh thần truyền thống của dân tộc Việt Nam
Nhà XB: Nxb KHXH
14. Value (personal and cultural). - http://en.wikipedia.org/wiki/Value_(personal_and_cultural)15. Дробницкий О.Г. 1978: Ценности. - B кн.: “Большая советская энциклопедия”, 3-е издание, том29. - Москва: Изд. Советская Энциклопедия Sách, tạp chí
Tiêu đề: Ценности". - B кн.: “Большая советская энциклопедия
16. Губман Б.Л. 1998: Губман Б.Л. Ценности. - B кн.: “Культурология ХХ в. Энциклопедия”, Т.2. –СПб.: Университетская книга + “Алетейя”, 1998. Mục từ “”, c. 341-342 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Ценности". - B кн.: “Культурология ХХ в. Энциклопедия”, Т.2. –СПб.: Университетская книга + “Алетейя”, 1998. Mục từ “
17. Ценности БЭC 1999-2000. - B кн.: Большой энциклопедический словарь. - Москва: Изд. ôБольшая Российская энциклопедияằ, 1999-2000 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Большой энциклопедический словарь
2. Axiology. - New World Encyclopedia. http://www.newworldencyclopedia.org/entry/Axiology Link

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w