Tóm tắt mục đích của công trình – những vấn đề mới không quá 100 từ: Mục đích của đề tài chúng tôi là đưa ra nguồn gốc và những ảnh hưởng của mười hai con giáp đến đời sống thường nhật,
Trang 1ĐOÀN THANH NIÊN CỘNG SẢN HỒ CHÍ MINH BAN CHẤP HÀNH TP HỒ CHÍ MINH
-
CÔNG TRÌNH DỰ THI GIẢI THƯỞNG “KHOA HỌC SINH VIÊN – EURÉKA”
LẦN 9 NĂM 2007
TÊN CÔNG TRÌNH:
Ý NGHĨA VÀ GIÁ TRỊ TÂM LINH CỦA MƯỜI HAI CON GIÁP TRONG VĂN HÓA TRUNG HOA
THUỘC NHÓM NGHÀNH: TRUNG QUỐC HỌC
Mã số công trình:………
Trang 2TRƯỜNG ĐẠI HỌC QUỐC GIA THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH TRƯỜNG ĐH KHOA HỌC XÃ HỘI & NHÂN VĂN
CÔNG TRÌNH DỰ THI GIẢI THƯỞNG “KHOA HỌC SINH VIÊN – EURÉKA”
LẦN 9 NĂM 2007
TÊN CÔNG TRÌNH:
Ý NGHĨA VÀ GIÁ TRỊ TÂM LINH CỦA MƯỜI HAI CON GIÁP TRONG VĂN HÓA TRUNG HOA
THUỘC NHÓM NGÀNH: TRUNG QUỐC HỌC
Nguyễn Thị Thuý Hiền
Lớp: Trung Quốc học Năm thứ/Số năm đào tạo: 3/4
Khoa: Đông Phương
Khóa 2004 – 2008
Trang 3ĐOÀN TNCS HỒ CHÍ MINH
BCH TP HỒ CHÍ MINH
TP Hồ Chí Minh, ngày 11 tháng 9 năm 2007
PHIẾU DỰ GIẢI GIẢI THƯỞNG “KHOA HỌC SINH VIÊN – EURÉKA” LẦN 9 NĂM 2007
1 Tên công trình: Ý NGHĨA VÀ GIÁ TRỊ TÂM LINH CỦA MƯỜI HAI
CON GIÁP TRONG VĂN HÓA TRUNG HOA
Đánh dấu chọn, nếu công trình nghiên cứu từ những vấn đề gợi ý của doanh nghiệp
2 Thuộc nhóm ngành: TRUNG QUỐC HỌC
3 Tóm tắt mục đích của công trình – những vấn đề mới (không quá 100 từ):
Mục đích của đề tài chúng tôi là đưa ra nguồn gốc và những ảnh hưởng của mười hai con giáp đến đời sống thường nhật, đến tư tưởng của người dân Trung Hoa, nêu rõ được những phong tục tín ngưỡng, những nét văn hoá nghệ thuật của
họ đối với mười hai con giáp cũng như việc ứng dụng nó vào trong một số ngành khoa học quan trọng ngày nay
Đồng thời thông qua đó chúng tôi muốn góp cho mọi người một cái nhìn đúng đắn hơn về ý nghĩa và giá trị của mười hai con giáp, hy vọng phần nào hạn chế được việc thần thánh hoá chúng dẫn đến hiện tượng mê tín dị đoan đang phổ biến rộng rãi trong xã hội ngày nay
Hy vọng kết quả của đề tài này sẽ là một tài liệu quan trọng trong nghiên cứu
và học tập các chuyên đề Văn hóa Trung Hoa, Văn hóa Việt Nam v.v của các ngành văn hóa học, Trung Hoa học, Đông phương học v.v
4 Tác giả/ nhóm tác giả (không quá 5 người ) dự thi :
Tác giả 1:
Trang 4Khoa/ trường: Đông Phương học, trường ĐH KHXH & NV
TM Ban tổ chức Eureka cấp trường Người dự giải ký tên
( ký tên, đóng dấu)
Trang 5MỤC LỤC
Trang
PHẦN MỞ ĐẦU 1
CHƯƠNG I 5
MƯỜI HAI CON GIÁP – NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG 5
1.1 Khái niệm Thập nhị Địa chi và Mười hai con giáp 5
1.2 Nguồn gốc ra đời của mười hai con giáp 10
1.3 Mười hai con giáp trong các dân tộc ở Trung Hoa 14
1.4 Mười hai con giáp trong nền văn hóa các nước 18
CHƯƠNG II 25
ĐẶC TRƯNG - Ý NGHĨA CỦA MƯỜI HAI CON GIÁP 25
2.1 Đặc trưng cơ bản của mười hai con giáp 25
2.2 Ý nghĩa biểu trưng của mười hai con giáp trong văn hóa Trung Hoa 28 CHƯƠNG III 37
ỨNG DỤNG CỦA MƯỜI HAI CON GIÁP 37
3.1 Trong đời sống tâm linh (tín ngưỡng – tôn giáo) 37
3.2 Trong phong tục – lễ hội: 42
3.3 Trong lĩnh vực nghệ thuật 46
3.4 Trong ngôn ngữ 52
3.5 Trong lịch pháp 53
3.6 Trong chiêm tinh học 56
3.7 Ứng dụng trong tử vi 63
PHẦN KẾT LUẬN 68
TÀI LIỆU THAM KHẢO 70
Trang 6PHẦN MỞ ĐẦU
I Lý do chọn đề tài
Khi nhắc đến Trung Hoa, ai ai trong chúng ta cũng đều biết đó là một đất nước có nền văn hóa lâu đời và được xem là cái nôi của các nền văn hóa phương Đông Trong nền văn hóa rực rỡ đó nổi bật lên là hệ thống văn hóa mười hai con giáp Văn hóa mười hai con giáp có ảnh hưởng rất sâu rộng trong cuộc sống, trong
tư tưởng của người dân Trung Hoa và cả những nước lân cận, có liên quan trực tiếp đến việc hình thành rất nhiều ngành khoa học quan trọng như ngành chiêm tinh học, thiên văn học, làm lịch pháp - vốn được xem là những ngành khoa học không thể thiếu trong đời sống của con người cả ngày xưa lẫn ngày nay… Chính vì hệ thống văn hóa mười hai con giáp có ảnh hưởng mạnh mẽ đối với người dân Trung Hoa như vậy nên nó cũng tạo ra hiện tượng mê tín dị đoan, đoán tính cách, tài vận của con người thông qua tuổi tương ứng với các con vật trong mười hai con giáp, tạo nên tư tưởng an phận, tin vào số mệnh
Do đó, chúng tôi chọn làm đề tài này với hy vọng góp phần cung cấp thêm tài liệu
về hệ thống văn hóa mười hai con giáp, tạo nên một cách nhìn đúng đắn và toàn diện hơn đối với hệ thống văn hóa này
II Tình hình nghiên cứu đề tài
Đề tài mười hai con giáp là một đề tài được rất nhiều tác giả Trung Hoa, Việt Nam và các nước đề cập đến Có rất nhiều tác phẩm, bài viết liên quan đến văn hóa mười hai con giáp song đa phần chỉ thiên về giải thích nguồn gốc hoặc xem tuổi Cho đến nay vẫn chưa có một công trình nào nghiên cứu vấn đề này một cách có hệ thống và toàn diện
Các tác giả nghiên cứu về nguồn gốc của mười hai con giáp nh ư Dương Lực với
Kinh điển văn hóa 5000 năm Trung Hoa (2002), Đỗ Quốc Bình với Mười hai con giáp những điều lý thú (2003) v.v., nghiên cứu mười hai con giáp trong mối tương quan với lịch pháp có các tác giả Bùi Biên Hoà với Văn hóa phương Đông qua niên lịch 2003-2004 (2002), Hoàng Tuấn với Nguyên lý chọn ngày theo lịch Can chi (2005), Tân Việt - Thiều Phong với Bàn về lịch vạn niên (1995) v.v., nghiên cứu
Trang 7mười hai con giáp ở khía cạnh chiêm tinh học có các trang web như
chinese.astrology.com, www.chungta.com, www.danangpt.vnn.vn, en.wikipedia.org,
www.crystalinks.com, thienvanvietnam.com v.v., nghiên cứu mười hai con giáp ở
khía cạnh tử vi có các tác giả như Kỳ Anh với Ý nghĩa mười hai con giáp trong cuộc đời (2006), Bửu Sơn với Tử vi tướng pháp trọn đời cùng với các trang web như
www.tuviglobal.com, www.thingsasian.com v.v
Nhìn chung, các tác giả trên chỉ nghiên cứu mười hai con giáp ở những khía cạnh riêng lẻ, thiếu tính hệ thống nên chưa tạo nên một cái nhìn toàn diện cho hệ thống văn hóa này Với tình hình như vậy, đề tài “Ý nghĩa và giá trị tâm linh của mười hai con giáp trong văn hóa Trung Hoa” này hoàn toàn không trùng lắp với các công trình nghiên cứu trước đây
III Mục đích và nhiệm vụ của đề tài
Mục đích của đề tài chúng tôi là đưa ra nguồn gốc và những ảnh hưởng của mười hai con giáp đến đời sống thường nhật, đến tư tưởng của người dân Trung Hoa, nêu
rõ được những phong tục tín ngưỡng, những nét văn hoá nghệ thuật của họ đối với mười hai con giáp cũng như việc ứng dụng nó vào trong một số ngành khoa học quan trọng ngày nay Đồng thời thông qua đó chúng tôi muốn góp cho mọi người một cái nhìn đúng đắn hơn về ý nghĩa và giá trị của mười hai con giáp, hy vọng phần nào hạn chế được việc thần thánh hoá chúng dẫn đến hiện tượng mê tín dị đoan đang phổ biến rộng rãi trong xã hội ngày nay
IV Đối tượng, phạm vi nghiên cứu
a Đối tượng nghiên cứu của đề tài là tất cả các sự kiện - hiện tượng, các ảnh
hưởng của văn hóa mười hai con giáp đối với các lĩnh vực văn hóa, nghệ thuật, tư tưởng của người dân Trung Hoa
b Phạm vi nghiên cứu Đề tài tập trung quan sát lĩnh vực văn hóa nhận thức của các dân tộc Trung Hoa trên phương diện lịch pháp học, cu thể là Hệ Thập nhị Địa chi Về mặt chủ thể, ngoài dân tộc Hán, đề tài này còn mở rộng tìm hiểu so sánh mười hai con giáp, ý nghĩa và ảnh hưởng ảnh của chúng đối với các dân tộc thiểu số khác, làm nền tảng để so sánh và rút ra các quy luật
Trang 8V Phương pháp nghiên cứu
Đề tài này sẽ được triển khai bằng các phương pháp chính sau:
VI Đóng góp mới của đề tài
Thông qua đề tài chúng tôi mong muốn góp thêm một cách nhìn văn hóa về giá trị và ý nghĩa của mười hai con giáp truyền thống trong văn hóa tinh thần Trung Hoa, làm cơ sở cho những nhận định, đánh giá các hiện tượng văn hóa (hoặc phi văn hóa) xuất phát từ việc sử dụng ý nghĩa của mười hai con giáp trong đời sống đương đại
VII Ý nghĩa khoa học và thực tiễn
Đề tài này sẽ góp phần làm sáng tỏ một số vấn đề văn hóa mười hai con giáp như nguồn gốc của mười hai con giáp, ý nghĩa và ảnh hưởng của nó đối với nền văn hóa Trung Hoa, việc ứng dụng nó vào các ngành khoa học như chiêm tinh học, làm lịch… Đồng thời đề tài này còn góp phần hạn chế tư tưởng mê tín dị đoan đã ăn sâu trong tâm thức của người dân
Kết quả của đề tài này sẽ là một tài liệu quan trọng trong nghiên cứu và học tập các chuyên đề Văn hóa Trung Hoa, Văn hóa Việt Nam v.v của các ngành văn hóa học, Trung Hoa học, Đông phương học v.v
VIII Kết cấu của đề tài
PHẦN MỞ ĐẦU
PHẦN NỘI DUNG
Chương 1 MƯỜI HAI CON GIÁP – NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG
Trang 91 Thập nhị địa chi trong hệ đếm Can chi
2 Mười hai con giáp
3 Mối quan hệ của mười hai con giáp và thập nhị Địa chi
2 Nguồn gốc ra đời của mười hai con giáp
1 Nguồn gốc theo truyền thuyết
2 Nguồn gốc theo phân tích suy đoán
3 Mười hai con giáp trong các dân tộc ở Trung Hoa
4 Mười hai con giáp trong nền văn hóa các nước
Chương 2 ĐẶC TRƯNG VÀ Ý NGHĨA CỦA M ƯỜI HAI CON GIÁP
1 Đặc trưng cơ bản của mười hai con giáp
2 Ý nghĩa biểu trưng của mười hai con giáp trong văn hóa Trung Hoa Chương 3.ỨNG DỤNG CỦA MƯỜI HAI CON GIÁP
1 Trong đời sống tâm linh (tín ngưỡng – tôn giáo)
2 Trong phong tục – lễ hội:
Trang 10CHƯƠNG I MƯỜI HAI CON GIÁP – NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG
1.1 Khái niệm Thập nhị Địa chi và Mười hai con giáp
1.1.1 Thập nhị Địa chi trong hệ đếm Can chi
Can chi làm thành một hệ thống tên gọi được hoạt hóa theo triết lý của Dịch học
cổ, có kết cấu rất chặt chẽ và hợp lý Khi nói đến hệ Can chi thì cho đến bây giờ vẫn chưa ai có thể khẳng định một cách rõ ràng về nguồn gốc của nó Việc chia thời gian (tháng, năm) theo Can chi cũng là một thành tựu đặc biệt của khoa thiên văn lịch pháp Á Đông Quá tình tồn tại hệ thống Can chi gắn liền với nền văn hóa chữ viết của người Trung Hoa, bởi chữ Hán đã được sử dụng tương đối rộng rãi ở một số quốc gia Đông Á cho mãi đến cuối thế kỉ XIX Các học giả Trung Hoa cũng không
rõ nguồn gốc hệ Can chi đã sản sinh tại Trung Hoa hay được du nhập vào từ bao giờ
và được người Trung Hoa chấp nhận như thế nào Theo sách “Nguyên lý chọn ngày theo lịch Can chi” của tác giả Hoàng Tuấn [trang 13-14] thì hệ Can chi (tức hệ đếm
10 và 12) vốn xuất phát từ hệ đếm theo cơ số 5 và 6 Số 5 là số cuối của năm số
“sinh” (1,2,3,4,5) trong Hà đồ, là số lẻ (dương) thuộc Trời, nhân đôi lên thì thành thập Thiên can của Thiên Số 6 là số đầu của năm số “thành” (6,7,8,9,10), là số chẵn (âm) thuộc Đất, nhân đôi lên thì thành thập nhị Địa chi của Địa Số “5” và “6” nhân đôi lên là do dựa trên lý luận phân cực “âm dương” của tạo hóa Khi cần dùng những số đếm có chu kỳ lớn hơn, người xưa nhân đôi cặp số “5-6” hoặc nhân hai số
đó với nhau thành số 30 rồi 60, 90, 120… Chính sự nhân đôi hai số “5” và “6” đã tạo nên hệ Thiên can và Địa chi
Trang 11Ghi chú: ký hiệu +: tính dương; ký hiệu -: tính âm
Trật tự can, chi như trên là cố định Tính chất “âm, dương” vốn có của chúng
là dựa vào thứ tự chúng mang: thứ tự lẻ thuộc dương, thứ tự chẵn thuộc âm Đó là quan niệm “phân cực” hay “từ hóa” của vũ trụ trong Kinh Dịch Hệ Can chi dùng để
đo thời gian của người xưa cũng mang quy ước theo triết lý ấy Mười hai Địa chi trong Hệ Can chi miêu tả mười hai giai đoạn thuộc phần âm của cây cỏ, từ khi hạt giống được gieo xuống đất cho đến khi nảy mầm, trở thành cây mới, cho đến khi nhờ đất mà ra hoa, kết quả, rồi huỷ diệt trở về đất để tái sinh:
Trang 12Bảng 3: Mười hai Địa chi trong hệ Can chi miêu tả mười hai giai đoạn thuộc phần
âm của cây cỏ
Tý giai đoạn hạt giống hút nước trong đất để nảy mầm
Sửu giai đoạn mầm cong queo, đội đất mà lên
Dần giai đoạn mầm vươn lên cao, dương khí đang thịnh
Mão giai đoạn cây cỏ phát triển mạnh mẽ
Thìn giai đoạn cây cỏ trưởng thành, cây nhánh xum xuê
Tỵ giai đoạn dương khí cực thịnh, âm khí suy, cây cỏ cứng cáp
Ngọ giai đoạn cây cỏ phát triển hết mức đã dừng lại
Mùi giai đoạn cây cỏ hương sắc tràn nay, ra hoa kết quả
Thân giai đoạn cây cỏ thành thục, quả chín, hạt già
Dậu giai đoạn thoái lui, cây cỏ suy tàn, dương suy âm thịnh
Tuất giai đoạn suy tàn rõ, cây cỏ khô héo, âm khí cực thịnh
Hợi giai đoạn huỷ diệt, dương khí hết, âm khí cực thịnh, cây cỏ chết, trở về
đất để cho quả hạt nảy mầm, bước sang một chu kỳ mới
[Nguồn: Hoàng Tuấn 2005: 107-110]
Bên cạnh đó, nguồn gốc Thập nhị Địa chi còn được giải thích một cách khác là
do ngũ hành kết hợp với âm dương Trong đó Ngũ hành gồm năm hành (Kim, Mộc, Thủy, Hỏa, Thổ), trong đó hành Thổ có bản chất vừa âm vừa dương nên có thể phân
ra thành sáu hành Sáu hành này kết hợp với âm dương (tức 6 x 2) tạo thành Thập nhị địa chi trong hệ đếm Can chi [Trần Ngọc Thêm 2006: 158]
Trang 131.1.2 Mười hai con giáp
Mười hai con giáp là hệ thống kí hiệu dùng để ghi năm, về phương pháp không khác gì phương pháp ghi năm theo Can chi Mười hai con giáp khởi nguồn từ thời tiên Tần, dần dần hình thành và xác lập vào thời Hán Mười hai con giáp đã lưu truyền rộng rãi trong dân gian 2000 năm và có ảnh hưởng nhất định đến phương pháp ghi năm trong giai cấp thống trị của một vài dân tộc thiểu số ở Trung Hoa
Hệ thống ký hiệu dùng ghi năm của mười hai con giáp có vòng tuần hoàn mười hai năm lấy động vật làm nền tảng Mười hai con giáp này đối xứng với thập nhị Địa chi, thập nhị Địa chi kết hợp với thập Thiên can tạo thành Lục thập hoa giáp
tử với vòng tuần hoàn 60 năm Cách ghi năm này tránh được sự trùng lặp khi lấy niện hiệu của các vị đế vương Trung Hoa Với chiều dài lịch sử tồn tại như vậy, mười hai con giáp đã đi sâu vào đời sống tâm linh của người dân Trung Hoa và được phản ánh cụ thể trong các phong tục tập quán truyền thống
Người xưa cho rằng mười hai con giáp là mười hai loài cầm thú, chim muông,
con vật, thần linh v.v Con giáp trong tiếng Hán – Việt là “sheng xiao” (生肖) [sinh tiêu], trong đó, “sheng” (生) chỉ năm sinh của con người, “xiao” (肖) chỉ sự giống nhau, tương tự Về mặt ngữ nghĩa, “sheng xiao”(生肖)chỉ mối liên hệ đồng dạng, tương tự giữa con người và con vật [Nguồn: Hoàng Tuấn 2005: 107-110]
Tại Trung Hoa, nói đến mười hai con giáp hay mười hai con giống thì hầu như không ai không biết Là văn hóa phong tục độc đáo của Trung Hoa, mười hai con giáp được lưu truyền từ đời này qua đời khác và đã trở thành một phần không thể thiếu được trong đời sống thường nhật
1.1.3 Mối quan hệ của mười hai con giáp và thập nhị Địa chi
Người xưa quan niệm Thiên là căn bản gốc, Địa là ngọn ngành Lập ra Thiên can người xưa lấy số Dương của Hà đồ (số lẻ) là 1, 3, 5, 7, 9, lấy số 5 ở giữa gấp đôi lên để bao hàm cả Âm can (Ất, Đinh, Kỷ, Tân, Quý) và cả Dương can (Giáp, Bính, Mậu, Canh, Nhâm) Tất cả mười can theo thứ tự Giáp, Ất, Bính, Đinh, Mậu, Kỷ, Canh, Tân, Nhâm, Quý Địa chi lấy số âm (số chẵn) là 2, 4, 6, 8, 10 Theo đó, lấy số
Trang 14Mùi, Thân, Dậu, Tuất, Hợi bao gồm cả Dương chi (Tý, Dần, Thìn, Ngọ, Thân, Tuất)
và Âm chi (Sửu, Mão, Tỵ, Mùi, Dậu, Hợi)
Thập can và Thập nhị chi phối hợp với nhau để sinh ra Lục thập hoa giáp (chu kỳ
60 năm gọi là Nguyên) Lịch Can chỉ ở ba đời Hạ, Thương, Chu (Trung Hoa) không giống nhau Hiện nay dùng lịch pháp đời Hạ, tức lấy tháng Dần làm khởi đầu của
năm, gọi là lịch kiến Dần
Bảng 4: Việc tính giờ theo Can chi cũng phần nào liên quan đến tập tính của các con vật
Chi Thời gian
quy đổi
Cách diễn giải
Tý 23 - 1 giờ Lúc chuột đang hoạt động mạnh
Sửu 1 - 3 giờ Lúc trâu đang nhai lại, chuẩn bị đi cày
Dần 3 - 5 giờ Lúc hổ hung hãn nhất
Mão 5 - 7 giờ Việt Nam gọi mèo, nhưng Trung Hoa gọi là thỏ, lúc trăng
(thỏ ngọc) vẫn còn chiếu sáng
Thìn 7 - 9 giờ Lúc đàn rồng quây mưa (quần long hành vũ) Rồng chỉ là
con vật do con người tưởng tượng ra, chứ không có thực
Tỵ 9 - 11 giờ Lúc rắn ít hại người
Ngọ 11 - 13 giờ Ngựa thể hiện nét dương tính cao
Mùi 13 - 15 giờ Lúc dê ăn cỏ không ảnh hưởng tới việc cây cỏ mọc lại
Thân 15 - 17 giờ Lúc khỉ thích hú
Dậu 17 - 19 giờ Lúc gà bắt đầu lên chuồng
Tuất 19 - 21 giờ Lúc chó phải tỉnh táo để trong nhà
Trang 15Hợi 21 - 23 giờ Lúc lợn ngủ say nhất
Chính việc dựa vào những tập tính của những con vật như vậy mà người xưa
đã chọn cách gắn mười hai con giáp vào thập nhị Địa chi tương ứng:
Bảng 5: Cách gắn mười hai con giáp vào thập nhị Địa chi tương ứng:
Tý Sửu Dần Mão Thìn Tị Ngọ Mùi Thân Dậu Tuất Hợi
Chuột Bò/Trâu Hổ Thỏ Rồng Rắn Ngựa Dê/Cừu Khỉ Gà Chó Lợn
1.2 Nguồn gốc ra đời của mười hai con giáp
Sự ra đời mười hai con giáp cho đến nay vẫn còn là một câu hỏi, một hiện tượng mơ hồ Người xưa chưa để lại cho chúng ta một đáp án rõ ràng về vấn đề này Nhưng qua nhiều cuộc khảo chứng qua các tài liệu lịch sử được ghi dưới dạng văn
tự sớm nhất là thẻ tre đời nhà Tần đã chứng minh được thời đại mà mười hai con giáp hình thành tối thiểu vào thời Chiến Quốc Có những cách giải thích dựa vào đời sống của người dân, cũng có cách giải thích bằng cách gán ghép sự ra đời của mười hai con giáp với những truyền thuyết mang màu sắc thần thoại
1.2.1 Nguồn gốc theo truyền thuyết
“Tương truyền trong thời hỗn độn, Ngọc Hoàng Đại Đế muốn chọn mười hai con vật để canh gác Thiên cung Thiên hạ nhiều động vật như vậy, biết chọn thế
nào? Thôi thế này nhé, hãy định sẵn thời gian, nếu ai đến trước thì được chọn Mèo
và Chuột hẹn nhau cùng đi Mèo nói với Chuột rằng: "Canh năm ngày mai đi ứng tuyển, mình sợ ngủ quá say không tỉnh được, nhờ cậu đến giờ đánh thức mình nhé!" Chuột nhanh nhẹn nhận lời Nhưng sáng hôm sau, Chuột lại lén lút đi trước
Trên đường đi, Chuột gặp con Trâu đang mải miết trên đường Chuột chạy chậm hơn Trâu, nhưng nhanh trí nghĩ ra một kế và nói: "Anh Trâu này, em hát một bài cho anh nghe nhé!" Trâu nói: "Còn gì bằng, Chuột hát đi!" Thế nhưng mãi
không thấy Chuột hát Chuột nói: "Tiếng em nhỏ quá, Anh nghe không thấy, để em
Trang 16và hát một mạch tới Thiên Cung Tới đích, thấy chưa có con vật nào đến, Trâu mừng
rỡ nói: "Ta đến trước nhất!" Nhưng Chuột từ lưng Trâu nhảy xuống và đi thêm mấy bước vượt lên phía trước Trâu Rút cuộc, Chuột đến nhất Nên Chuột đứng đầu và Trâu xếp thứ nhì trong mười hai con giáp Còn chú Mèo ngủ quá giấc, đổ tội cho Chuột và từ đó coi Chuột là kẻ thù không đội trời chung.” [www.tuviglobal.com]
Trên thực tế có rất nhiều các câu chuyện dân gian tương tự như vậy Người xưa có nhiều cách giải thích về nguồn gốc các con giáp, song phần lớn đó là những lời phụ họa của hậu thế Thực ra, trong không khí sùng bái tôtem (vật tổ) thời
thượng cổ, con người chưa có nhận thức tinh tế đối với các con vật được chọn Nhưng hơn 4000 năm trước, người nguyên thủy đã bắt đầu nuôi lợn, chó, trâu, dê,
gà và ngựa, sau này gọi là Lục súc (tức 6 loại gia súc), còn rồng, hổ, rắn v.v từng là vật tổ của một số thị tộc Các con vật này trở thành đối tượng được chọn làm mười hai con giống đầu tiên Trong quá trình hình thành con giáp, những con vật này và thứ tự của chúng có sự thay đổi, cho tới thời Đông Hán [20-220] mới ổn định
1.2.2 Nguồn gốc theo phân tích, suy đoán
Cho đến nay chưa có một quan điểm nào khẳng định rõ ràng Người đời sau
đã tiến hành làm nhiều cuộc khảo chứng qua các tài liệu lịch sử Về nơi xuất xứ của mười hai con giáp, các cuộc tranh luận vẫn chưa kết thúc
Về nơi phát nguồn của mười hai con giáp, Quách Mạt Nhược (郭沫若) từng suy đoán, mười hai con giáp bắt nguồn từ văn minh Babylone cổ đại và được truyền vào Trung Hoa khi Hán Vũ Đế khơi thông Tây Vực Song việc khai quật Thẻ Tre của đời Nhà Tần đã bác bỏ suy đoán này [Nguồn: Hoàng Tuấn 2005: 108-110] Mười hai con giáp của người Ấn Độ giống hệt như ở Trung Hoa, chỉ có con
hổ trong mười hai con giáp của Ấn Độ được thay là con sư tử, nên có người cho rằng cùng với sự truyền bá Phật giáo, con giáp cũng đã từ Ấn Độ truyền vào Trung Hoa Tuy nhiên, theo sử sách Phật giáo truyền vào Trung Hoa vào cuối đời Tây Hán đầu đời Đông Hán, lúc đó mười hai con giáp đã phổ biến sâu rộng tại Trung Hoa Thuyết cội nguồn mười hai con giáp đến từ dân tộc Tây Khương thời cổ cho rằng: Vào thời Thượng cổ con cháu người vượn Nguyên Mưu di rời đến Cam Túc, Thanh Hải ở miền Tây Bắc, sau được gọi là Khương Nhung Một dòng họ người
Trang 17Khương đã thành lập Triều đình Nhà Hạ, và biết tính ngày bằng mười hai con giáp Người Di cùng với Phục Hy, Viêm Đế, Hoàng Đế, Hạ Vũ v.v., có cùng một tổ tiên với người Khương (姜族) Người Di (彝族)sinh sống tại nơi xưa của người vượn Nguyên Mưu, người Di đã bảo tồn hoàn hảo văn hóa con giáp, cho nên mười hai con giáp bắt nguồn từ Tây Khương [Đỗ Quốc Bình 2003: 78-79]
Ngày nay, mười hai con giáp được lưu truyền sâu rộng tại khu vực người Hán tại Trung Hoa Một số dân tộc thiểu số cũng sử dụng nhóm mười hai con giáp,song cũng có nhiều điểm khác biệt với người Hán Chẳng hạn như mười hai con giáp của người Duy Ngô Nhĩ (维吾尔族) cũng có cá nhưng không có rồng; người Mông lấy
hổ làm đầu; người Lê (黎族) lấy gà làm đầu; người Di có nơi lấy hổ làm đầu, có nơi lấy rồng làm đầu, thậm chí lấy bọ, thịt, người, phượng hoàng, chim sẻ, tê tê làm con giáp v.v
Bên cạnh những cách giải thích trên thì mười hai con giáp còn có rất nhiều nguốn gốc khác Chẳng hạn theo sự phân tích của người xưa, mười hai con vật được tuyển chọn bao gồm cả vật nuôi lẫn thú vật hoang dã, vừa có thật vừa tưởng tượng, đều đáp ứng nguyên tắc âm dương, chẵn lẻ Ở đây cũng cần nói thêm về dương cơ,
âm ngẫu, cơ là số lẻ, ngẫu là số chẵn Các con vật được chọn đều có phẩm chất chẵn
lẻ mang đặc trưng loài của chúng, thể hiện qua số ngón chân của chúng Cụ thể là :
Trang 18Bảng 6: Thể hịên qua số ngón chân của chúng của mười hai con giáp
Tý: con chuột = 5 ngón = lẻ = dương
Sửu: con bò = 2 ngón = chẵn = âm
Ngọ: con ngựa = một ngón = lẻ = dương
Mùi: con dê = hai ngón = chẵn = âm
Thân: con khỉ = năm ngón = lẻ = dương
Dậu: con gà = bốn ngón = chẵn = âm
Tuất: con chó = năm ngón = lẻ = dương
Hợi: con lợn = bốn ngón = chẵn = âm
Trang 19Như vậy, số ngón tối đa là 5, tối thiểu là 1, còn lại là 2 và 4 Tuyệt nhiên không có số 3
Điều đó cho ta thấy rằng, tiêu chuẩn số chẵn-lẻ của ngón chân đã giúp các loài vật được chọn làm mười hai con giáp Nhưng số ngón chẵn lẻ cũng như cái tên chuột, mèo, rồng, rắn của chúng chưa đủ để đưa chúng vào vũ trụ Nếu dựa vào các nguyên tắc chọn móng như trên để tuyển các con vật vào mười hai con giáp như vậy thì nghe có vẻ không hợp lý lắm, vì nếu chọn theo cách này thì rắn, rồng sẽ tính như thế nào vì rắn là một động vật không chân còn rồng chỉ là loài vật xuất hiện trong trí tưởng tượng Ngoài ra, cũng còn rất nhiều động vật có thể đáp ứng được những nguyên tắc trên tại sao không được chọn?
Dù mỗi cách giải thích đều khác nhau nhưng nhìn chung đều được nhân dân Trung Hoa chấp nhận và truyền miệng nhau từ đời này sang đời khác, làm cho mười hai con giáp không những phổ biến trong dân gian mà còn làm tăng thêm nét uyên thâm, đặc sắc cho nền văn hóa Trung Hoa
1.3 Mười hai con giáp trong các dân tộc ở Trung Hoa
Trung Hoa là một quốc gia đa dân tộc, đa dạng về văn hóa Mười hai con giáp không chỉ là sản phẩm độc quyền của riêng dân tộc Hán (dân tộc Hán chiếm 95% dân số và diện tích sinh sống), mà còn có rất nhiều dân tộc thiểu số sử dụng mười hai con giáp để ghi năm như:
1.3.1 Mười hai con giáp của dân tộc Di ở Lương Sơn
Mười hai con vật phổ biến nhất trong lịch sử dân tộc Di còn gọi là mười hai cầm tinh, trong lịch sử thơ ca và trong các lễ hội dân gian của dân tộc Di có những truyền thuyết có liên quan đến nguồn gốc của mười hai con vật này Dân tộc Di sống ở khu vực Lương Sơn tỉnh Tứ Xuyên đều sử dụng chuột, trâu, hổ, thỏ, rồng, rắn, ngựa, dê, khỉ, gà, chó, lợn để đặt tên cho ngày, tháng, năm
Trang 20Mỗi con thú tượng trưng cho một năm, một chu kỳ tổng cộng có mười hai năm Cũng áp dụng cách đặt tên này cho tháng, một năm có mười hai tháng, phân thành tháng chuột, tháng trâu, tháng hổ, tháng thỏ v.v., tháng đủ có ba mươi ngày, tháng thiếu có hai mươi chín ngày
Nhưng cách sắp xếp tên tháng của mỗi vùng không giống nhau Có nơi chọn tháng ngựa là tháng giêng, có nơi chọn tháng dê là tháng giêng Cách ghi ngày cũng dung mười hai con vật này, một chu kỳ có mười hai ngày Ngoài ra dân tộc
Di còn sử dụng mười hai cầm tinh để quyết định chuyện hôn nhân, vì họ cho rằng giữa hai người nam và nữ sinh vào năm nào quyết định rất quan trọng đối với chuyện hôn nhân Trong dân gian có bài vè rằng: “thỏ, heo, dê tương hợp, trâu, rắn,
gà tương khắc, điều kiêng kị nhất là người tuổi hổ phối hôn với người tuổi dê và tuổi gà vì cho rằng “hổ ăn thịt gà và dê”
Theo quan điểm của tác giả Trương Công Cẩn trong cuốn Văn hóa tộc Thái
[1986] thì cho rằng mười hai con giáp của dân tộc Thái được du nhập từ dân tộc Hán vào thời Hán Nhưng khi truyền vào dân tộc Thái thì có sự biến đổi theo từng vùng
Ví dụ như: mười hai con giáp của người Thái ở khu vực Đức Hồng (Vân Nam) hoàn toàn giống với truyền thống mười hai con giáp của người Hán Nhưng ở khu vực Tây Song Bản Nạp (Cảnh Hồng, Vân Nam) thì đổi con “heo” thành con “voi”, con “rồng” thành “con trăn-rắn lớn” hoặc con “thuồng luồng” Trên thực tế, vùng Tây Song Bản Nạp có nhiều cánh rừng rậm nhiệt đới, có voi Voi đi vào cuộc sống thường nhật của con người như người bạn thật sự Còn thuồng luồng là con vật thần được các dân tộc Đông Nam Á (kể cả người Thái Vân Nam) cho là biểu
tượng của dòng Mê Kông hùng vĩ
Ở vùng Tây Song Bản Nạp người ta phối hợp giữa mười hai con giáp và Địa chi không chỉ để ghi năm mà còn dùng để ghi tháng và ghi ngày Ví dụ như: năm
Trang 21tý là cốt chuột Trong lịch của người Thái chữ cốt (骨) có nghĩa là năm, chữ huyết
(血)là tháng, chữ bì(皮)là ngày Như cốt hổ huyết ngựa bì gà là năm dần
tháng ngọ ngày dậu Cho đến nay, mười hai con giáp vẫn còn được sử dụng phổ
biến và trở thành một bộ phận quan trọng trong lịch pháp của dân tộc Thái [dẫn nguồn]
1.3.3 Mười hai con giáp trong dân tộc Tạng
Theo quan niệm truyền thống của dân tộc Tạng (藏族) thì cách sử dụng mười hai con giáp để ghi năm có nguồn gốc từ thời Đường thế kỉ bảy sau công nguyên khi Văn Thành Công Chúa (文成公主) được gả cho vua Tùng Tán Cán Bố
(松赞干布) Theo cách ghi năm của người Tạng thì sáu mươi năm được gọi là một giáp, trong tiếng Tạng gọi là “hồi đăng”(回登), được tính bắt đầu từ năm mộc tý,
nó tương đương với cách tính năm của người Hán Cách dùng mười hai con giáp
để ghi năm trong lịch sử dân tộc Tạng có sự phối hợp giữa âm dương, ngũ hành, hình ảnh con vật Do đó mà có cách gọi “năm âm hỏa thỏ”, “năm duơng kim khỉ” Ngoài ra trong lịch người Tạng còn dùng kí hiệu nam nữ để thay thế âm dương, như “năm âm kim trâu” còn gọi là “năm nữ kim trâu”, “năm dương thuỷ hổ” thì gọi là “năm nam thủy hổ” [www.nongli.com]
1.3.4 Mười hai con giáp trong tộc Bản Tây
Tộc người Nạp Tây (纳西族) là một dân tộc thiểu số cư trú chủ yếu ở tỉnh Vân Nam là một nhánh của người Khương cổ đại Người Nạp Tây cũng sử dụng mười hai con giáp để ghi năm Họ phân một năm thành mười hai tháng có tháng thiếu tháng đủ, mỗi tháng có ba mươi ngày ngày đầu tiên của một tháng là ngày khỉ sau
đó được sắp theo thứ tự là gà, chó, heo, chuột, trâu, hổ, thỏ, rồng, rắn, ngựa, dê… Tổng hợp hệ thống 12 con giáp của một số tộc người tại Trung Hoa:
Trang 22Bảng 7: Bảng thống kê về mười hai con giáp của một số dân tộc thiểu số
Tộc
người
Tý Sửu Dần Mão Thìn Tỵ Ngọ Mùi Thân Dậu Tuất Hợi
Hán chuột trâu hổ thỏ rồng rắn ngựa dê khỉ gà chó heo
Di rồng phụng ngựa kiến người gà chó heo công trâu hổ rắn
Lê gà chó heo chuột trâu trùng thỏ rồng rắn ngựa dê khỉ
Thái chuột bò hổ thỏ trăn rắn ngựa dê
núi khỉ gà chó voi
Choang chuột trâu hổ thỏ rồng rắn ngựa dê khỉ gà chó heo
Uây oa chuột trâu hổ thỏ cá rắn ngựa dê khỉ gà chó heo
Kiếc-ghi-di
chuột trâu hổ thỏ cá rắn ngựa dê hồ li gà chó heo
Di chuột trâu hổ thỏ rồng rắn ngựa dê khỉ gà chó heo
Từ bảng thống kê trên cho thấy có một số tộc người (dân tộc) thiểu số như: Choang, Di- v.v…có nhiều nét tương đồng trong văn hóa mười hai con giáp với dân tộc Hán Có ý kiến cho rằng các dân tộc này tiếp nhận từ dân tộc Hán Theo
đó, cũng có những dân tộc do điều kiện hoàn cảnh, phong tục tập quán mà sau khi tiếp nhận nền văn hóa mười hai con giáp từ dân tộc Hán vào thì có những thay đổi cho phù hợp với nền văn hóa của dân tộc mình
Như trong trật tự mười hai con giáp của dân tộc Di có sự thay đổi vị trí của con
rồng, tộc Kiếc-ghi-đi ở Tân Cương thì chọn con cá thay cho con rồng, hồ ly thay cho khỉ Còn trong cách ghi ngày của tộc Lê ở Hải Nam thì có sự thay đổi về trật
Trang 23tự họ chọn con gà khởi đầu con khỉ ở vị trí cuối cùng Trong tộc Thái ở khu vực Tây Song Bản Nạp chọn con bò thay cho con trâu, con dê núi thay cho con dê nhà,
ở vị trí chi hợi không phải lợn mà là gà
Từ những thay đổi đó có thể thấy rằng, sự khác nhau về mười hai con giáp của mỗi dân tộc là do sự khác nhau về hoàn cảnh sinh tồn không giống nhau, con vật không giống nhau, phong tục tập quán và loại hình kinh tế - văn hóa khác nhau Chẳng hạn người Thái Vân Nam làm nông nghiệp lúa nước nên con trâu trở nên quan trọng hơn con bò
Mỗi dân tộc hầu như đều chọn những con vật gần gũi thân thuộc nhất để làm mười hai con giáp từ đó mà trong văn hóa mười hai con giáp có sự khác biệt
Không chỉ có sự khác biệt về cách lựa chọn, mỗi dân tộc còn có cách ghi năm ghi tháng ghi ngày khác nhau, đồng thời còn cho ra đời nhiều phong tục tập quán có liên quan đến mười hai con giáp làm cho nền văn hóa của dân tộc Trung Hoa càng thêm phong phú càng thêm đa dạng [www.nongli.com]
1.4 Mười hai con giáp trong nền văn hóa các nước
Sự ra đời của mười hai con giáp là một bước ngoặc quan trọng trong nền văn minh Trung Hoa Nó không chỉ ảnh hưởng đến đời sống sinh hoạt của người dân Trung Hoa mà còn ảnh hưởng đến những quốc gia lân cận như Triều Tiên, Nhật Bản, Việt Nam v.v… thông qua con đường giao lưu văn hóa có từ ngàn xưa
Vì vậy mà mười hai con giáp giữa một số nước như Trung Hoa, Nhật Bản, Hàn Quốc, Việt Nam có những nét tương đồng với nhau như:
Là nền tảng cơ sở của ngành chiêm tinh học
Ứng dụng vào trong lịch pháp để phục vụ cho nông nghiệp
Và phục vụ nhu cầu đời sống tâm linh của người dân: chọn tuổi kị, hợp cho việc kết hôn, xem ngày tốt xấu…
Trang 24 Là những con vật gần gũi, thân thuộc với người dân, phổ biến rộng trong
quần chúng
Từng được người dân tôn thờ và thần thánh hóa
Có vị trí sắp xếp gần giống nhau
Mỗi năm các quốc gia này đều cho in tem mười hai con giáp và cho trưng bày
Nhưng do hoàn cảnh văn hóa khác nhau mà mười hai con giáp ở mỗi quốc
gia cũng có một số nét riêng biệt như:
Ở Trung Hoa, Nhật Bản, Hàn Quốc con giáp thứ tư là Thỏ thì ở Việt Nam là
Mèo
Con giáp thứ hai của Nhật Bản, Hàn Quốc là Bò thì ở Việt Nam là Trâu, gắn
với nông nghiệp lúa nước
Con giáp thứ tám của Trung Hoa, Việt Nam là Dê thì ở Nhật Bản, Hàn Quốc là
Cừu, về sau mới đổi thành dê
Con vật thứ 10, ở Trung Hoa, Triều Tiên, Việt Nam là Lợn nhà, ở Nhật Bản là
Lợn rừng
Ở Ấn Độ con vật thứ ba là sư tử và con vật thứ mười là chim cánh vàng trong
khi các nước Việt Nam, Trung Hoa, Hàn Quốc, Nhật Bản là hổ và gà
Bảng 9: Hệ thống mười hai con giáp ở các nước phương Đông
Trang 25chó lợn
Nhìn chung, các vị trí thay đổi đều là cùng loài, không có gì khác biệt lớn
Vậy từ đâu có những khác biệt này, mỗi quốc gia mỗi dân tộc trên thế giới dù
lớn hay nhỏ, giàu hay nghèo, phát triển hay chậm phát triển đều tồn tại một nền
văn hóa riêng của dân tộc mình Do đó, dù có chịu ảnh hưởng hay bị đồng hóa bởi
một nền văn hóa khác mạnh hơn vào dân tộc, thì nền văn hóa gốc của dân tộc
không những không bị mất đi mà vẫn tồn tại và hoà nhập với nền văn hóa của dân
tộc khác, để rồi cho ra một nền văn hóa mới đặc sắc mà vẫn thể hiện được bản sắc
của dân tộc mình Chẳng hạn như tại sao người Trung Hoa lại chọn con thỏ trong
hệ thống mười hai con giáp trong khi người Việt Nam chúng ta lại chọn con mèo
mà không phải là con thỏ hay bất kì con vật khác Vì mèo rất gần gũi với người
nông dân Việt Nam, cần thiết để giết chuột, bảo vệ mùa màng, lương thực (Việt
Nam là một nước có hơn 70% dân số làm nông nghiệp) Ta có thể thấy được điều
này qua những câu tục ngữ, thành ngữ, ca dao như: “mèo con bắt chuột cống”,
“con mèo mà trèo cây cao, hỏi thăm chú chuột đi đâu vắng nhà…”, “con mèo con
mẻo con meo - muốn ăn thịt chuột phải leo xà nhà”… Mèo còn xuất hiện trong thơ
ca “ra tuồng mèo mã gà đồng”(câu 1737) trong tác phẩm Truyện Kiều của nhà thơ
Nguyễn Du Ngoài ra còn sử dụng từ mèo để chỉ người tình “mèo mỡ”, “ mèo
thấy mỡ’ v.v… điều này không thấy (hoặc ít thấy) sử dụng trong ngôn ngữ Trung
Trang 26So với cách dùng mèo trong văn hóa Trung Hoa, ta thấy trong vốn từ bây
giờ có chữ miêu Hán Việt, māo/máo Bắc Kinh - giọng Quảng Đông là miu, mau
Tương phản với văn hóa Việt, miêu ít thấy dùng trong các thành ngữ hay ca dao tục ngữ Trung Hoa - chỉ vài ba câu như: ‘Miêu khốc lão thử giả từ bi’(mèo khóc khi chuột chết, ý nói sự đạo đức giả) Nếu hình ảnh con mèo rất hiếm thấy trong văn hóa Trung Hoa thì ngược lại, chúng ta thường gặp hình ảnh con thỏ hơn - một loài vật hình dạng giống như mèo nhưng hai tai rất lớn Vậy đâu là nguyên nhân nào dẫn đến việc người Trung Hoa chọn thỏ làm con vật trong hệ thống mười hai con giáp? Nguyên nhân thứ nhất xuất phát từ những truyền thuyết, thỏ rất được quý trọng Trong văn hóa dân gian Việt Nam có câu chuyện chú cuội ngồi gốc cây
đa, khác hẳn với truyền thuyết Trung Hoa về con thỏ trên mặt trăng nên mặt trăng còn được gọi là ngọc thố, bóng thỏ (bóng trăng) v.v… Nguyên nhân thứ hai, thỏ là loài vật chịu được nhiệt độ thấp, có thể sống ở miền lạnh cùng với dân du mục ở phương bắc Còn loài mèo có thể chịu được nhiệt độ cao sống ở miền nam (ấm hơn) vùng đất nông nghiệp Nguyên nhân thứ ba là người Trung Quốc còn sử dụng lông thỏ làm bút viết chữ hán Chính vì thế, nhiều thành ngữ Hán Việt có sử dụng rất nhiều từ thỏ, một vài thành ngữ như ‘thỏ giỡn trăng’, ‘thỏ thoát’ (thoát đi như thỏ) … Ví dụ:
‘Thố tử cẩu phanh’
(hễ thỏ chết thì đến lượt chó bị làm thịt, hết dùng được thì ăn đi)
- Giảo thố tam quật’
(thỏ khôn có ba hang, khôn có nhiều lối thoát)
- ‘Thố ti yến mạch’
(chỉ có hư danh thôi, ‘có tiếng mà không có miếng’)
Thật ra, thỏ đã hiện diện ngay trong Kinh Thi qua tựa một thiên là Thố Thủ (đầu thỏ):
“Hữu thố tư thủ, bào chi táo chi”
Trang 27(có đầu thỏ để quay để nướng, ý nói vật nhỏ cũng có công dụng …)
Các thí dụ trên cho thấy hai nền văn hóa Việt Nam và Trung Hoa phát triển rất khác nhau qua hình ảnh mèo và thỏ Mèo và thỏ còn thể hiện hai nền văn hóa riêng biệt của hai dân tộc Trung Hoa (thiên về gốc du mục ) và Việt Nam (thuần nông nghiệp) Đó chính là nền văn hóa gốc, nền văn hóa đậm đà bản sắc dân tộc, rất đặc sắc rất riêng không bị nhầm lẫn trong vô vàn nền văn hóa khác là tài sản vô cùng quý giá của hai dân tộc
[F:\khoa hoc@doi song-12 con giap (4) meo.htm]
Mao-Không chỉ giữa hệ thống mười hai con giáp của Việt Nam và Trung Hoa mà giữa Trung Hoa, Việt Nam với Ấn Độ, Nhật Bản, Triều Tiên cũng có những khác biệt cơ bản Đó là chi Sửu thay vì ở Việt Nam, Ấn Độ đại diện là trâu thì ở Trung Hoa, Nhật Bản và Triều Tiên là bò Tuy giữa bò và trâu không có sự khác biệt lớn song sự khác biệt trong cách lựa chọn con vật trong mười hai con giáp khác nhau như vậy cũng có những nguyên do của nó Nhưng nguyên nhân chính và dễ dàng nhận thấy nhất đó là vì Việt Nam và Ấn Độ đều là những nước có nền nông nhiệp lúa nước, nên việc chọn con trâu vào hệ thống mười hai con giáp cũng là điều dễ hiểu Còn ở Trung Hoa, Nhật Bản và Triều Tiên thì hình ảnh của con trâu không được xem trọng mà thay vào đó là con bò
Một sự khác biệt nữa trong các nước phương Đông đó là trong hệ thống mười hai con giáp của Ấn Độ không phải là con gà như các nước khác mà là chim cánh vàng Ở Ấn Độ, hình ảnh con chim cánh vàng hoặc những con chim ưng (garuda) trong tôn giáo là biểu tượng của sức mạnh, của sự uy nghi nên thường được
người dân sùng bái Người Ấn Độ chọn chim cánh vàng đưa vào 12 con giáp Ngoài những khác biệt trên về mười hai con giáp giữa Trung Hoa với các nước ở phương Đông, mà còn có sự khác biệt rất lớn đối với các nước phươngTây
Do hệ thống văn hóa khác nhau mà mười hai con giáp của phương Tây khác xa
Trang 28với mười hai con giáp ở phương Đông Mười hai con giáp ở phương Tây không dựa theo Can chi, tiết khí mà lại dựa theo những chòm sao nằm trên đường Hoàng đới và vòng Hoàng đạo
Mỗi con giáp phương Tây nằm trên một cung tượng trưng cho một chòm sao, mỗi chòm sao ứng với một tháng trong năm, cũng ứng với ngày, tháng, năm sinh, đều có tên riêng và một kí hiệu ghi bằng mẫu tự Hy Lạp được gọi là kí hiệu Hoàng đới [Hồng Phương : 21]
Bảng 10: Tên mười hai cung Hoàng đạo phương Tây
1 Bạch dương : con cừu
2 Kim ngưu : con trâu
3 Song tử : sinh đôi
4 Cự giải : con cua
10 Hải dương : con dê
11 Đảo bình : người mang nước, cái bình
12 Song ngư : đôi cá
[Nguồn:
http://en.wikipedia.org]
Trang 29Bảng 11: Tên mười hai con giáp ở một số dân tộc Bắc Phi, Trung Đông – phương Tây
trâu đực
chim cắt
khỉ hạc
đỏ
cá sấu
khỉ lừa cua rắn chó mèo cá
khỉ lừa cua rắn chó mèo cá
họ đều có con lừa Ở Ai Cập, Hy Lạp và Babylon đều là những nền văn hóa chịu ảnh hưởng của sa mạc hay thảo nguyên nên ngay từ xa xưa, phương tiện vận chuyển (giao thương) chủ yếu là lừa và lạc đà Người Babylon tuy sống ở vùng đồng bằng song họ chịu ảnh hưởng của những thương nhân xuôi ngược từ Địa Trung Hải sang vịnh Ba Tư có dùng lừa Văn hóa Hy Lạp cổ chịu ảnh hưởng mạnh mẽ từ văn hóa Ai Cập và Babylon, nên dấu ấn của con lừa vẫn tiếp tục tồn tại trong nền văn hóa của họ Chính sự phổ biến này mà nó được coi trọng, và được chọn vào mười hai con giáp
Cũng giống như vậy, nếu ở Á Đông người ta xem hổ là con vật linh thiên và quyền uy đầy sức mạnh thì ở Tây Á, Bắc phi và phương Tây con sư tử lại được xem trọng Điều này có thể thấy rõ trong văn hóa Ai Cập khi nói đến Kim tự tháp
và tượng nhân sư Sphinx danh tiếng
Trang 30CHƯƠNG II ĐẶC TRƯNG - Ý NGHĨA CỦA MƯỜI HAI CON GIÁP
2.1 Đặc trưng cơ bản của mười hai con giáp
Hình ảnh mười hai con giáp rất thân thuộc đối với người dân Trung Hoa Người Trung Hoa dùng mười hai con giáp kết hợp với hệ thập nhị Địa chi để làm lịch, tính thời gian… Đồng thời, qua hình ảnh mười hai con giáp cũng phản ánh được đời sống hằng ngày và ước mơ, nguyện vọng của người dân Chúng được thể hiện qua bốn đặc trưng cơ bản sau:
và cả dưới nước (rồng, rắn) Chính nhờ sự tổng hợp này mà mười hai con giáp trở nên gần gũi quen thuộc với hầu hết các thành phần trong xã hội ở hầu hết các vùng trong cả nước
Thứ hai, mười hai con giáp là sự tổng hợp của những con vật có thật và
tưởng tượng Trong hệ thống mười hai con giáp gồm: chuột, trâu, hổ, thỏ, rồng,
rắn, ngựa, dê, khỉ, gà, chó, lợn thì những con vật được gắn cho chúng hầu hết là những con vật có thật, gần gũi với đời sống hàng ngày của người dân Chúng là những con vật nuôi trong nhà (trâu, ngựa, dê, gà, chó, heo) hoặc là những con vật từng là vật tổ của các thị tộc xưa (vật tổ của dân tộc Chu là rồng, chó, hổ, chim, rùa; của dân tộc Nạp Tây là hổ, báo, khỉ, rắn, dê cái, lợn; của dân tộc Di là hổ, trâu nước, rồng, rắn, khỉ, chuột v.v [Đỗ Quốc Bình 2003: 10 – 11] …) Riêng rồng
Trang 31vốn chỉ là con vật tưởng tượng, không có thật trong đời sống thực tế nhưng vẫn là con vật thần quen thuộc trong đời sống tinh thần của con người Rồng là hình ảnh tượng trưng cho quyền lực của vua chúa, cho ước vọng thăng tiến và cho những gì thiêng liêng nhất, là con vật được tôn thờ Người dân đã tổng hợp cả hai loại có thật và tưởng tượng này để tạo nên hệ thống mười hai con giáp
Thứ ba, mười hai con giáp còn là sự kết hợp hài ha giữa âm và dương Có thể chia mười hai con giáp ra thành hai cực:
Bảng 12: Chia mười hai con giáp ra thành hai cực
Thứ tư, mười hai con giáp còn là sự tổng hợp của những con vật ở phương Bắc và phương Nam Đó là kết quả của sự hoà hợp về văn hóa vủa các dân tộc Trung Hoa: văn hóa nông nghiệp ở phương Nam (với con vật điển hình là Trâu)
và văn hóa du mục phương Bắc (con vật điển hình cho nền văn hóa này là Ngựa) Quá trình giao lưu qua lại giữa các dân tộc thiểu số Tây Bắc và dân tộc Hoa Hạ đã tạo nên hệ thống mười hai con giáp gồm những con vật đặc trưng cho cả phương Bắc và phương Nam
Bên cạnh tính tổng hợp, mười hai con giáp còn mang những đặc trưng khác, như:
Trang 322.1.2 Tính biểu trưng
Mười hai con giáp là hình ảnh thể hiện ước vọng của người dân Thông qua mười hai con giáp, người dân Trung Hoa đã gửi gắm những tâm tư nguyện vọng, những ước mơ về một cuộc sống đầy đủ no ấm và hạnh phúc Cụ thể là các ước vọng sau:
Ước vọng phồn thực
Ước vọng may mắn
Ước vọng sung túc, thịnh vượng, phú quý
Ước vọng thăng tiến [xem mục II.2]
Không ai có thể bắt buộc rằng các dân tộc khác nhau ở Á Đông phải dùng chung một hệ thống mười hai con giáp Môi trường sống, điều kiện sống khác nhau dẫn đến sự khác biệt về kinh tế, văn hóa Xuất phát từ sự khác biệt trong sở thích, phong tục, niềm tin, các con vật được chọn làm mười hai con giáp cũng khác nhau Ngay ở một dân tộc cũng có sự khác biệt này Người Thái ở Đức Hồng chọn lợn và rồng, trong khi người Thái vùng Cảnh Hồng chọn voi và thuồng luồng Người Hán ở những điều kiện không gian và thời gian khác nhau cũng có sự lựa chọn khác biệt giữa dê và cừu Chính tính phiếm định này tạo nên sự phong phú trong bản sắc văn hóa Á Đông, đồng thời phản ánh được sức mạnh nội tại của các dân tộc phi Hán trong quá trình chống lại sự đồng hóa từ nền văn hóa chiếc nôi của nhân loại – Trung Hoa
Tính bình dân cũng là một trong bốn đặc trưng cơ bản của hệ thống mười hai con giáp Biểu hiện của nó là hình ảnh của mười hai con vật trong mười hai con giáp rất gần gũi với cuộc sống hàng ngày của nhân dân lao động Chúng xuất hiện thường xuyên trong cuộc sống, lao động, sinh hoạt và trong tâm trí của con người,
Trang 33cùng sinh sống, cùng làm việc với con người Chúng gần gũi đấn mức người ta dùng tên chúng để gọi tên cho các năm thay vì dùng những con số (như: năm Tí – năm con chuột; năm Hợi – năm con lợn …)
Nhờ tính bình dân mà văn hóa mười hai con giáp có thể lan rộng, phổ biến ở nhiều khu vực, quốc gia
2.2 Ý nghĩa biểu trưng của mười hai con giáp trong văn hóa Trung Hoa
Trong tâm tưởng của người dân Trung Hoa, mười hai con giáp không chỉ dùng để ghi năm, tháng, để đánh dấu thời gian mà qua đó còn thể hiện những ước
mơ, nguyện vọng của người dân Mười hai con vật được chọn lựa trong hệ thống mười hai con giáp, mỗi loài đều có những đặc trưng riêng, do đó người dân cũng
có thể thông qua những đặc trưng khác nhau của mỗi loài mà gửi gắm nhiều ước
mơ, nguyện vọng khác nhau, như những ước mơ về một cuộc sống giàu sang sung túc, những mong ước may mắn, thành đạt, ước vọng thăng tiến, con đàn cháu đống…
2.2.1 Biểu trưng may mắn
Mỗi con người trong cuộc sống, trong công việc hàng ngày, để đạt đến thành công, bên cạnh khả năng, sự quyết tâm, chăm chỉ và kinh nghiệm trong công việc còn cần phải có may mắn Khi bắt đầu một công việc nào đó, người ta luôn chúc nhau may mắn cát tường Do đó, yếu tố may mắn là một yếu tố luôn tồn tại trong tâm tưởng của con người, luôn được mọi người nhớ đến và mong đợi Vì vậy, các con vật được chọn lựa trong hệ thống mười hai con giáp cũng phải thể hiện được yếu tố may mắn này
May mắn là một nội dung vô cùng quan trọng trong nền văn hóa Trung Hoa Mục đích của nó là truy tìm cái thiện, cái mỹ và hạnh phúc Các con vật biểu trưng cho sự may mắn trong mười hai con giáp vì vậy cũng phải mang những đặc trưng của cái thiện, cái mỹ và hạnh phúc
Trang 34Con vật thể hiện sự may mắn trong mười hai con giáp đầu tiên phải kể đến
là con dê Trong nền văn hóa Trung Hoa, dê là con vật thể hiện điềm lành, may
mắn và triển vọng Dê biểu hiện cho tính cách nho nhã, ôn hoà, được nhiều người yêu thích Trong tiếng Hán, chữ “mỹ” (cái đẹp) vốn là do chữ “dương” (con dê) và chữ “đại” (to lớn) kết hợp mà thành Trong tiếng Hán cổ, chữ “cát tường” (吉祥: may mắn) đôi khi còn được viết là “cát dương”(吉羊 ) Điều nay cho thấy trong tư tưởng của người Trung Hoa, chữ “tường” (điềm lành, may mắn) và chữ “dương” (hình ảnh của con dê) là đồng nhất Bản thân con dê cũng là một con vật cát tường Ngoài ra, chữ “dương” (羊: con dê) cũng có âm đọc giống với chữ “dương” (阳: mặt trời), là hình ảnh biểu trưng cho sự sống, cho điềm lành và tương lai tươi sáng, chỉ sự mở đầu cho một năm mới Do đó, hình ảnh của những chú dê thường được xuất hiện trong những bức tranh vẽ vào ngày đầu năm mới kèm với dòng chữ “阴
阳 开泰” (Âm dương khai thái), thể hiện mong ước một năm mới may mắn, hưng thịnh và phát đạt như được ánh sáng Mặt trời chiếu rọi Thành Quãng Châu –
Trung Hoa còn có tên gọi khác là Dương Thành ở đấy có một bức tượng rất nổi tiếng của năm chú dê quây quần bên nhau Bức tượng này được xem là biểu tượng của thành Quãng Châu
Trang 35Hình 1: Tượng năm chú dê ở thành Quảng Châu
[www.travelchinaguide.com]
Con vật được xem là may mắn thứ hai là rồng Trong tư tưởng của người Trung Hoa, rồng được xem là một con vật tượng trưng cho sự may mắn với đầy đủ những năng lực thần kỳ, được nhiều người tôn kính Rồng là con vật biểu tượng của sức mạnh, quyền uy và những năng lực kỳ diệu Nó còn là biểu tượng của phú quý, vinh hoa, là hình ảnh gắn liền với bậc vua chúa Nói chung, rồng tượng trưng cho tất cả những điều mà con người mong muốn có được, đạt được Chính vì vậy
mà rồng luôn được con người kính trọng, tôn thờ và được xem là con vật của sự may mắn, cát tường Người Trung Hoa còn tự cho mình là truyền nhân của rồng
Bên cạnh rồng, gà cũng được coi là con vật biểu trưng cho sự may mắn trong mười hai con giáp Cửu gia dịch viết: đối mặt với gió bão Gió tùy theo tiết
mà biến đổi, thay đổi mà không mất đi tiết của nó Giờ dậu gà gáy lên cùng với
Trang 36thuận hô cương thị dĩ tiểu hưởng” Trong quan niệm của người xưa, gà được xem
là con vật có ngũ đức, gồm: văn đức, võ đức, dũng đức, nhân đức và tính đức Trên đầu gà có mào, đó là văn đức; chân gà có cựa là võ đức; dám liều với kẻ địch
là dũng đức; có thức ăn không ăn một mình mà gọi cho đồng loại là nhân đức; gác đêm và báo thức đúng giờ là tín đức Trong dân gian, gà được xem là con vật may mắn, có thể trừ tà, có thể ăn các loại sâu trùng có hại, giúp ích cho bà con nông dân Vì vậy, vào ngày đầu năm mới người ta thường dùng giấy đỏ cắt thành hình
gà dán ở cửa sổ, ngày này cũng được gọi là ngày gà Vào ngày này, người ta cắt dán giấy hình gà để tượng trưng cho ngày gà Người xưa cũng đặt một cây đào trước cửa, thêm vào đó một vào sợi lông gà trống để tượng trưng cho ngày gà Sau này cây đào được đổi thành câu đối ngày tết, tục cắm thêm lông gà vào cây đào cũng được chuyển thành tục cắt giấy hình gà dán ở cửa sổ Phong tục này đến nay vẫn còn rất phổ biến ở vùng nông thôn Những bức tranh giấy cắt hình gà dán ở cửa sổ đã trở thành biểu tượng may mắn của người dân vùng nông thôn vào ngày đầu năm mới Ngoài ra trong dân gian cũng truyền rất nhiều những câu nói cát tường liên quan đến gà, như: “kim kê báo hiểu” (kim kê báo thức); “Kim kê minh hưng thịnh, tử yến vũ tân xuân” (kim kê kêu hưng thịnh, yến tiệc múa mừng xuân)
ở vùng Côn Minh – Vân Nam còn có một cửa khẩu quan trọng có tên là cửa khẩu Bích Kê
Lợn cũng là con vật tượng trưng cho sự may mắn trong số mười hai con giáp Lợn được xem là “sứ giả của vận may”, có thể mang đến sự giàu sang phú quý Hình ảnh chú lợn thồ vàng ngọc ngày tết là biểu tượng cho một năm mới vui
vẻ, may mắn và đầy tài lộc
Ngoài ra, đối với người Trung Hoa, khỉ cũng có thể xem là một con vật
may mắn trong số mười hai con giáp vì trong tiếng Hán, khỉ (猴: hòu) có âm đọc giống với chữ “hậu” (后: hòu), có nghĩa là “có hậu”, “có tương lai tốt đẹp”
Trang 372.2.2 Biểu trưng thăng tiến
Trong cuộc sống, bất cứ người nào cũng đều có ước vọng thăng tiến, thăng tiến trong học tập, trong công việc Đó là một ước vọng chính đáng của tất cả mọi người, là động lực thúc đẩy con người tiến bộ, xã hội đi lên Và ước vọng này cũng được thể hiện thông qua hình ảnh của những con vật trong hệ thống mười hai con giáp
Nói đến con vật tượng trưng cho ước vọng thăng tiến trong số mười hai con giáp không thể không nhắc tới rồng Tuy rồng không phải là con vật có thật, chỉ là sản phẩm của sự tưởng tượng, hư cấu của con người nhưng nó lại có ảnh hưởng rất lớn đến tư tưởng, suy nghĩ của con người Đối với người Trung Hoa, rồng là thể hiện của quyền lực thần linh, là tượng trưng cho thế lực siêu nhiên, là hình tượng nghệ thuật cao nhất của điềm lành, đứng đầu trong vạn vật Theo truyền thuyết, rồng có thể là bóng tối, cũng có thể là ánh sáng, có thể nhỏ, có thể lớn, có thể ngắn cũng có thể dài (能幽能明, 能小能大, 能短能长), là tinh tố của thần linh, đứng đầu trong tứ linh, tứ thần, là biểu tượng của vương giả Rồng còn là con vật
có thể hô mưa gọi gió, làm những việc tốt giúp ích cho nhân dân nên được nhân dân tôn kính, sùng bái Nói rồng là biểu trưng của ước vọng thăng tiến vì rồng luôn đứng trên đỉnh cao nhất của mọi ước vọng trong trí tưởng tượng của con người Trong các quẻ bói của Dịch học Trung Hoa, quẻ thuần Càn được xem là quẻ bói may mắn, được mong đợi nhất Trong quẻ thuần Càn, cả sáu hào của nó đều được giải thích trong mối tương quan với hình ảnh của rồng tương ứng với suốt cuộc đời của một con người:
Hào 1: sơ cửu: tiềm long vật dụng (潜龙勿用 người tài nhưng chưa thể hiện được khả năng thì không dùng đến)
Hào 2: cửu nhị: quần long vô thủ (群龙无首 bầy rồng không đầu: có tài nhưng chưa có người dẫn dắt)
Trang 38 Hào 3: cửu tam: kiến long tại điền (见 龙在田 gặp rồng ngoài ruộng: gặp quý nhân phù trợ, dễ thăng tiến)
Hào 4: cửu tứ: hoặc diệu tại uyên (或跃在渊 rồng nhảy vực sâu: người thông minh phải có kế hoạch tiến thủ cho phù hợp tình hình)
Hào 5: cửu ngũ: phi long thăng thiên (飞 龙升天 rồng bay lên trời: đây là lúc người đang ở vị trí cao nhất Ngôi cửu ngũ được xem là biểu tượng của ngôi vua, là hình ảnh được mọi người ao ước nhất và là biểu tượng cao nhất của ước vọng thăng tiến)
Hào 6: thượng cửu: kháng long hữu hối (亢龙有悔 người đang ở vị trí cao phải chuẩn bị cho bước thoái lui của mình)
Qua quẻ thuần Càn của Dịch học Trung Hoa, ta có thể thấy được ảnh hưởng của sâu rộng của rồng đối với người dân Trung Hoa, là hình ảnh tượng trưng cho những ước mơ của con người và là biểu tượng cao nhất của ước vọng thăng tiến
Trong mười hai con giáp, ngoài rồng ra, ngựa cũng là con vật biểu trưng cho ước vọng thăng tiến Ngựa giữ một vai trò rất quan trọng trong đời sống của người dân Trung Hoa, là lực lượng cung cấp sức lao động chủ yếu trong sản xuất nông nghiệp, trong giao thông và quân sự Vì những đóng góp to lớn như vậy mà ngựa được xem là con vật thiêng, được tô vẽ thành “thiên mã”, sống trên mây cao (天马步青云: thiên mã bộ thanh vân) Ngoài ra, khi nhắc đến ngựa, người ta hay nghĩ đến sự không lùi bước, luôn tiến về trước và thành công Chính vì vậy mà ngựa được xem là con vật biểu trưng cho ước vọng thăng tiến Trong các gia đình làm thương nghiệp, chúng ta hay bắt gặp những bức tranh vẽ hình những chú ngựa đang phi nước đại, bên dưới là câu thành ngữ “mã đáo thành công” (马到成功) hoặc những bức tranh hình chú ngựa chở nhữ ng thỏi vàng với câu “mã lai tài đáo” (马 来 财到) thể hiện ước vọng thành công, thăng tiến trong công việc