Chẳng hạn như Cộng đồng chung Châu Âu xác định quyền TCTT môi trường là mỗi cá nhân có quyền được thông tin về tính tương thích môi trường của sản phẩm, quy trình sản xuất và các tác độ
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC LUẬT TP HỒ CHÍ MINH
KHOA LUẬT THƯƠNG MẠI
-o0o -
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP CỬ NHÂN LUẬT
QUYỀN TIẾP CẬN THÔNG TIN THEO QUY ĐỊNH PHÁP LUẬT MÔI TRƯỜNG
SINH VIÊN THỰC HIỆN:
NGUYỄN NGỌC HỒNG PHƯỢNG
KHÓA: 31 MSSV: 3120138
GIẢNG VIÊN HƯỚNG DẪN:
ThS NGUYỄN PHÚC THỦY HIỀN
TP HCM - 2010
Trang 2LỜI MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
Trong bối cảnh hội nhập thế giới ở các lĩnh vực, mong muốn “phát triển bền vững” kết hợp hài hòa giữa phát triển kinh tế _ xã hội _ bảo vệ môi trường, tiếp cận thông tin trở thành nhu cầu tất yếu của người dân Bên cạnh đó, vì phát triển kinh tế làm cho môi trường ngày một ô nhiễm, bị ảnh hưởng nặng nề, gây ra nhiều thiệt hại cho con người nên thông tin về môi trường luôn được mọi quốc gia, tổ chức, cá nhân quan tâm đến
Vì vậy, quyền tiếp cận thông tin môi trường là một công cụ hữu hiệu trong việc tăng cường trách nhiệm cung cấp thông tin của các quốc gia, tổ chức, cá nhân và góp phần bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp cho người dân trong các vấn đề môi trường Quyền tiếp cận thông tin môi trường được ghi nhận từ lâu, trong hầu hết các văn kiện pháp lý quốc
tế về môi trường và trong các văn bản pháp luật môi trường tại nhiều quốc gia Tuy nhiên tại Việt Nam (VN), quyền tiếp cận thông tin môi trường vẫn còn là một khái niệm mới mẻ, khá xa lạ với người dân Các quy định pháp luật đảm bảo thực hiện quyền tiếp cận thông tin ngày một nhiều nhưng chưa đầy đủ, và trong thực tế việc thực thi quyền này còn khó khăn, hạn chế vì nhiều lý do Với mong muốn nghiên cứu, tìm hiểu rõ hơn về quyền tiếp cận thông tin môi trường, tác giả quyết định chọn đề tài
“Quyền tiếp cận thông tin theo quy định pháp luật môi trường”
2 Tình hình nghiên cứu đề tài
Từ cuối năm 2009, đã có nhiều cuộc hội thảo được tổ chức, nhiều bài viết trên các tạp chí bàn về quyền tiếp cận thông tin nói chung, quyền tiếp cận thông tin môi trường nói riêng Ngày 19/8/2009, Hội thảo “Luật Tiếp cận thông tin _ kinh nghiệm của 1 số nước trên thế giới”, tổ chức tại Nha Trang, dưới sự hỗ trợ của Trung tâm Nhân Quyền
Na Uy đã giới thiệu tổng quan về Luật Tiếp cận thông tin ở một số nước trên thế giới
và nhìn nhận sự cần thiết phải ban hành Luật Tiếp cận thông tin nói chung ở nước ta
Trang 3Diễn ra sau đó tại Hà Nội vào ngày 17/12/2009, Hội thảo “Truyền thông và Luật tiếp cận thông tin”, dưới sự hỗ trợ của Liên Hiệp Quốc (LHQ), đề cập chủ yếu đến biện pháp chế tài dành cho các chủ thể có trách nhiệm cung cấp thông tin cho người dân nhưng lại không thực hiện tốt trách nhiệm của mình Bên cạnh đó, cũng có nhiều bài viết trên các tạp chí nghiên cứu khoa học cung cấp những kiến thức chung nhất về vấn
đề này, như Tạp chí Nghiên cứu lập pháp của Văn phòng Quốc hội đã dành một chuyên đề đặc biệt số 17 (154) tháng 9 năm 2009 bàn về vấn đề tiếp cận thông tin ở
VN Hay trên các trang báo điện tử cũng tổ chức những buổi phỏng vấn, trao đổi với những nhà chuyên môn về vấn đề này, như: báo Dân Trí với PGS TS Nguyễn Đăng Dung, giảng viên khoa Luật, Đại học Quốc gia Hà Nội; tạp chí Tia Sáng với bài viết của PGS.TS Phạm Duy Nghĩa…
Tuy nhiên, cho đến hiện nay vẫn chưa có một công trình khoa học cụ thể, chính thức nào nghiên cứu về quyền tiếp cận thông tin trong lĩnh vực môi trường
3 Mục đích nghiên cứu
Tác giả nghiên cứu quyền tiếp cận thông tin môi trường nhằm cung cấp một cái nhìn toàn diện về quyền tiếp cận thông tin trong các điều ước quốc tế môi trường và pháp luật một số quốc gia; nhìn nhận quyền tiếp cận thông tin được quy định trong pháp luật môi trường và áp dụng trong thực tiễn tại VN như thế nào Từ đó đề cao vai trò của quyền tiếp cận thông tin môi trường trong quá trình phát triển, và kiến nghị một
số giải pháp hoàn thiện quyền này ở VN
4 Đối tượng nghiên cứu và phạm vi nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của đề tài là quyền tiếp cận thông tin trong lĩnh vực môi trường Nghiên cứu quyền tiếp cận thông tin môi trường là nghiên cứu các nội dung đảm bảo thực hiện quyền này, gắn liền với nghĩa vụ công khai, cung cấp thông tin môi trường của cơ quan, tổ chức, cá nhân nắm giữ thông tin; và cách thức người dân tiếp cận với thông tin môi trường
Trang 4Tác giả nghiên cứu quyền tiếp cận thông tin trong lĩnh vực môi trường, thông qua việc tìm hiểu, phân tích, viện dẫn các quy định trong các điều ước quốc tế, trong pháp luật về tiếp cận thông tin ở một số quốc gia, và trong các văn bản pháp luật môi trường của VN
5 Phương pháp nghiên cứu
Để hoàn thành đề tài này tác giả sử dụng phương pháp luận của Chủ nghĩa Mác Lênin, kết hợp với phương pháp liệt kê, so sánh, phân tích, và tổng hợp các thông tin
có được để đưa ra những đánh giá, kết luận cho công trình nghiên cứu này
6 Ý nghĩa của đề tài
Tác giả hy vọng đề tài nghiên cứu quyền tiếp cận thông tin môi trường sẽ tạo tiền
đề cho các công trình nghiên cứu khoa học tiếp theo muốn phát triển hơn nữa vấn đề này Và kết quả nghiên cứu của tác giả có thể được sử dụng như tài liệu tham khảo có ích cho các sinh viên, nhà nghiên cứu và những ai quan tâm muốn tìm hiểu quyền tiếp cận thông tin của mình
7 Bố cục của đề tài
Nội dung đề tài được thể hiện qua 2 chương:
-Chương 1: Quyền tiếp cận thông tin trong pháp luật quốc tế về môi trường
-Chương 2: Áp dụng quyền tiếp cận thông tin môi trường ở VN
TP HCM, ngày 25 tháng 7 năm 2010
Trang 5Chương 1: Quyền tiếp cận thông tin trong pháp luật quốc tế về
Năm 1948, Đại hội đồng Liên hiệp quốc (LHQ) thông qua Tuyên ngôn Nhân
quyền thế giới (UDHR), theo đó, quyền tự do tư tưởng và tự do biểu đạt được bảo
đảm tại Điều 19:
Mọi người có quyền tự do tư tưởng và tự do biểu đạt; quyền này bao gồm
tự do phát biểu ý kiến mà không bị can thiệp và tự do tìm kiếm, tiếp nhận
và truyền đạt thông tin và ý tưởng thông qua bất cứ phương tiện truyền thông nào và bất kể biên giới 1
Và ngay sau đó năm 1966 một điều ước có giá trị pháp lý ràng buộc, được Đại hội
đồng LHQ thông qua, Điều 19, Công ước quốc tế về các quyền dân sự và chính trị
(ICCPR) 2 cũng đã đưa ra quy định về việc bảo đảm quyền tự do tư tưởng và tự do biểu
1 ThS Nguyễn Quỳnh Liên (2009), “Quyền tiếp cận thông tin trong các văn kiện quốc tế”, Tạp chí Nghiên cứu
lập pháp (số 154), tr 51
2 Theo Điều 19, Công ước quốc tế về quyền dân sự và chính trị:
“1 Mọi người có quyền tự do tư tưởng
2 Mọi người có quyền tự do biểu đạt; quyền này bao gồm tự do tìm kiếm, tiếp nhận và truyền đạt thông tin dưới mọi hình thức, bất kể biên giới, hoặc truyền miệng, bằng văn bản hoặc in ấn, dưới hình thức nghệ thuật hoặc thông qua bất cứ phương tiện truyền thông nào do người đó lựa chọn
[…] ”
Trang 6đạt của con người tương đồng với quy định tại Điều 19, Tuyên ngôn Nhân quyền
năm 1948 Từ sự ghi nhận vai trò quan trọng, tính cần thiết của quyền tự do thông tin,
năm 2002, báo cáo viên đặc biệt của LHQ cùng Đại diện của Tổ chức An ninh và Hợp tác Châu Âu (OSCE) về Tự do truyền thông, và báo cáo viên đặc biệt của Tổ chức các quốc gia Châu Mỹ (OAS) về Tự do biểu đạt, đã thông qua một bản báo cáo, trong đó nêu rõ:
Quyền tiếp cận thông tin của các cơ quan công quyền là một quyền cơ bản của con người cần được thực hiện ở cấp độ quốc gia thông qua một hệ thống toàn diện các đạo luật (chẳng hạn các đạo luật tự do thông tin) dựa trên nguyên tắc cởi mở tối đa và trên giả định rằng, tất cả thông tin đều phải được tiếp cận chỉ ngoại trừ những ngoại lệ rất hạn hẹp 3
Các tuyên bố và quan điểm về quyền TCTT nêu trên đã được ủng hộ bởi rất nhiều các quy định pháp lý quốc tế khác sau này Đặc biệt trong những năm gần đây, khi xã hội ngày càng phát triển vượt bậc thì vấn đề môi trường, trong đó có thông tin môi trường và phát triển bền vững được đặt ra như những vấn đề cấp bách nhất Điều này
được thể hiện qua Tuyên bố Rio 1992 về Môi trường và Phát triển, Nguyên tắc 10
đã nói lên sự cần thiết và ràng buộc của quyền TCTT môi trường:
Các vấn đề môi trường được giải quyết tốt nhất với sự tham gia của tất cả các công dân quan tâm, ở cấp độ thích hợp Ở cấp độ quốc gia, mỗi cá nhân sẽ có quyền được thông tin thích hợp liên quan đến môi trường do các nhà chức trách nắm giữ, bao gồm thông tin về những nguyên liệu và hoạt động nguy hiểm trong cộng đồng, và có cơ hội tham gia vào quá trình quyết định Các quốc gia phải tạo điều kiện thuận lợi và khuyến khích tuyên truyền và sự tham gia của nhân dân bằng cách phổ biến thông tin
3 ThS Nguyễn Quỳnh Liên, tlđd, tr 52
Trang 7rộng rãi Nhân dân cần được tạo điều kiện tiếp cận hữu hiệu những văn bản hành chính và tố tụng, kể cả các biện pháp khắc phục và bồi thường 4
Như vậy, quyền TCTT được thế giới ghi nhận là một quyền cơ bản, là một phần trong quyền tự do thông tin của con người, trong đó có thông tin môi trường Tuy nhiên, có thể nói, trong các văn kiện pháp lý quốc tế chưa có một định nghĩa chính thức nào về quyền TCTT, quyền TCTT không được nêu riêng biệt mà bao hàm trong quyền tự do biểu đạt bao gồm quyền tìm kiếm, tiếp nhận và truyền đạt thông tin Hầu hết các văn kiện quốc tế đề cập đến quyền TCTT đều nêu lên tầm quan trọng, nội dung của quyền này, những yêu cầu để đảm bảo thực hiện quyền này, nhưng chưa hề đưa ra định nghĩa rõ ràng thế nào là quyền TCTT Theo quan điểm của tác giả, mỗi quốc gia nói chung, và mỗi cá nhân nói riêng đều hiểu quyền TCTT không khác biệt nhau nhiều, tuy việc sử dụng từ ngữ có khác nhau nhưng bản chất của quyền TCTT thì không hề thay đổi Bởi vì, quyền TCTT suy cho cùng là quyền cơ bản của con người, cho nên việc hiểu và định nghĩa quyền này dựa trên tinh thần của những văn kiện quốc tế quan
trọng mà các nước thừa nhận Giáo sư Dinah Shelton trong giáo trình về Luật Môi
trường quốc tế của mình đã đưa ra định nghĩa khái quát nhất về quyền TCTT nói
chung, và TCTT môi trường nói riêng Theo đó,
Quyền TCTT hiểu theo nghĩa hẹp, là sự tự do đối với việc tìm kiếm thông tin, và nếu hiểu rộng hơn, quyền TCTT là quyền tiếp cận với thông tin để có được hay nhận được thông tin đó 5
Định nghĩa này đưa ra cách hiểu chung nhất, cơ bản nhất về quyền TCTT, không
cụ thể hóa quyền này trong từng lĩnh vực hay hoàn cảnh nào Tác giả cho rằng định nghĩa như trên là phù hợp và phản ánh đúng bản chất của quyền TCTT Sở dĩ tác giả
4 Trần Đình Nghiêm (1998), Các quy định pháp luật về bảo vệ môi trường và tài nguyên, NXB Chính trị quốc
gia, Hà Nội, tr 20
5 Tác giả dịc từ bản Tiếng Anh, Professor Dinah Shelton, Public Participation, Course 3 “Techniques and
Procedures in International Environmental Law” (UNITAR Programme of training for the Application of
Environmental Law), tr 65
(Giáo sư Dinah Shelton, Sự tham gia của công chúng, Khóa 3 “Những kỹ thuật và thủ tục trong Luật môi trường
quốc tế”, UNITAR Chương trình đào tạo ứng dụng Luật Môi trường)
Trang 8nhận định như vậy vì định nghĩa của giáo sư Dinah Shelton khái quát quyền này ở khía cạnh đó là quyền cơ bản của con người, chứ không đi sâu vào khía cạnh pháp lý thực hiện quyền này như thế nào
Theo định nghĩa trên, quyền TCTT môi trường là sự tự do của con người đối với thông tin môi trường mà mình muốn có, biểu hiện bằng việc tìm kiếm và nhận được thông tin đó Thế nhưng, “tự do thông tin” không có nghĩa là tất cả thông tin môi trường tìm kiếm đều được tìm thấy, như vậy sẽ dẫn đến hệ quả gây ảnh hưởng nghiêm trọng đến một cá nhân, tổ chức hay một Nhà nước Trên cơ sở những thông tin môi trường nào cần thiết phục vụ cho cả xã hội mà thông tin đó sẽ được hoặc buộc phải công khai, cung cấp cho người dân Do đó, định nghĩa “thông tin môi trường” được nêu trong hầu hết các điều ước quốc tế về môi trường, xác định thông tin môi trường
có thể tiếp cận Điều 3 Chỉ thị thông tin môi trường của Cộng đồng Châu Âu năm
1990 định nghĩa:
Thông tin môi trường là bất kỳ thông tin có sẵn dưới hình thức văn bản, hình ảnh, âm thanh, hoặc cơ sở dữ liệu khác về tình trạng của nước, không khí, đất, động vật, thực vật, đất đai và những hình thái tự nhiên, về hoạt động (bao gồm cả những hoạt động gây phiền hà như tiếng ồn) hoặc các biện pháp được đặt ra để bảo vệ những nhân tố tự nhiên, bao gồm cả biện pháp hành chính và các chương trình quản lý môi trường 6
Sau đó, Công ước Aarhus năm 1998 của LHQ về tiếp cận thông tin, sự tham
gia của công chúng và tiếp cận tư pháp trong các vấn đề môi trường _ một văn
kiện quốc tế quan trọng về thông tin môi trường cũng đưa ra một định nghĩa tương tự như Chỉ thị nêu trên:
6 Tác giả dịc từ bản Tiếng Anh, Philippe Sands (1995), Principles of International Environmental Law, Volume I:
Frameworks, Standards, and Implementation, tr 618
(Philippe Sands (1995), Những nguyên tắc của Luật Môi trường Quốc tế, Tập I: Những khuôn khổ, tiêu chuẩn và
cách thức thực hiện, tr 618)
Trang 9Thông tin môi trường là các thông tin chi tiết về tình trạng của môi trường, các yếu tố ảnh hưởng đến tình trạng môi trường, tình trạng an toàn và sức khỏe của con người, điều kiện của đời sống con người, các khu vực văn hóa, các công trình bị ảnh hưởng bởi môi trường 7
Theo định nghĩa thông tin môi trường nêu trên thì những thông tin có tính chất quan trọng, ảnh hưởng lớn đến cuộc sống con người đều cho phép tiếp cận Vì vậy, khẳng định quyền TCTT là quyền tự do cơ bản của con người đối với thông tin là hoàn toàn đúng đắn, sự giới hạn thông tin chỉ trong một chừng mực nào đó
Ở phương diện quốc gia, mỗi quốc gia sẽ có những quy định riêng về quyền TCTT trong văn bản pháp luật của nước mình, nhằm cụ thể hóa quyền TCTT sao cho phù hợp với hoàn cảnh chính trị _ kinh tế _ xã hội của quốc gia, khu vực đó Chẳng hạn như
Cộng đồng chung Châu Âu xác định quyền TCTT môi trường là mỗi cá nhân có quyền
được thông tin về tính tương thích môi trường của sản phẩm, quy trình sản xuất và các tác động của chúng đối với môi trường và lắp đặt máy móc công nghiệp 8 , còn Ấn Độ
đề cập quyền này là quyền tự do ngôn luận và biểu đạt của công dân 9 , hay Armenia lại
giải thích quyền TCTT là quyền tự do tìm kiếm, tiếp nhận và phổ biến thông tin 10 … Sự
khác biệt trong quy định của các quốc gia về quyền TCTT là sự khác biệt về nội dung của quyền đó, còn bản chất “tự do thông tin” không hề khác nhau
Tổng hợp từ các định nghĩa quyền TCTT trong các điều ước quốc tế và pháp luật quốc gia, tác giả nhận thấy định nghĩa “quyền TCTT” gắn bó và bị chi phối bởi định nghĩa “tiếp cận thông tin” “Tiếp cận thông tin” là việc người dân tìm kiếm, thu thập,
và yêu cầu cung cấp để có được thông tin Cho nên, theo tác giả:
7 ThS, Nguyễn Quỳnh Liên, tlđd, tr 53
8 Professor Dinah Shelton, tlđd, tr 66
9 Tác giả dịch từ bản Tiếng Anh, Điều 19, Luật TCTT của Ấn Độ, trang web: http://www.righttoinformation.org/ (Xem http://www.righttoinformation.org/faqs.asp )
10 Chu Thị Thái Hà (2009), “Thông tin được tiếp cận và nội hàm của quyền TCTT”, Tạp chí Nghiên cứu lập
pháp, (số 154), tr 34
Trang 10“Quyền TCTT là quyền đọc, xem, nghe, ghi chép, sao chép, chụp, trích dẫn nội dung của hồ sơ, tài liệu có chứa thông tin môi trường”
Các hình thức biểu hiện cụ thể cho việc công dân, tổ chức tìm kiếm, thu thập, yêu cầu cung cấp thông tin là họ có quyền “đọc, xem, nghe, ghi chép, sao chép, chụp, trích dẫn” hồ sơ, tài liệu có chứa thông tin môi trường Đây là những hình thức tiếp cận cơ bản, phổ biến và dễ dàng cho người dân thực hiện Quyền TCTT do đó là quyền của người dân thực hiện đầy đủ các hình thức trên
“Hồ sơ, tài liệu có chứa thông tin môi trường” gồm bản viết, bản in trên giấy, bản chiếu, tranh, bản vẽ, hình ảnh, ảnh chụp, băng hình, băng ghi âm, đĩa mềm, thẻ nhớ hoặc bất kỳ một dạng vật chất nào có chứa tin tức, dữ liệu về môi trường Do hình thức chứa đựng thông tin môi trường đa dạng nên việc quy định cụ thể một loạt các hình thức tiếp cận sẽ dễ dàng cho công dân, tổ chức thực hiện quyền TCTT của mình
Hồ sơ, tài liệu chứa thông tin môi trường do các cơ quan Nhà nước nắm giữ, người dân chỉ có thể “đọc, xem, nghe, ghi chép, sao chép, chụp, trích dẫn” khi cơ quan Nhà nước thực hiện đúng nghĩa vụ cung cấp, phổ biến thông tin Nếu cơ quan Nhà nước không cung cấp, phổ biến thông tin môi trường thì công chúng không thể có điều kiện
“tiếp cận thông tin”
Do đó, định nghĩa trên đã thể hiện được cả hai góc độ: quyền TCTT của người dân thông qua các hình thức nhằm tìm kiếm, thu thập, yêu cầu cung cấp thông tin gắn liền với nghĩa vụ công khai, cung cấp thông tin môi trường của cơ quan Nhà nước Hơn nữa, thông qua định nghĩa “quyền TCTT” đã xác định cụ thể phương thức TCTT cho người dân
1.1.2 Vai trò của Quyền TCTT môi trường:
1.1.2.1 Mối quan hệ với các quyền môi trường cơ bản khác:
Môi trường là thành phần không thể thiếu trong cuộc sống con người, không ai có thể phủ nhận vai trò của môi trường Vấn đề môi trường luôn là vấn đề thu hút sự quan
Trang 11tâm của cả thế giới Nhu cầu phát triển của xã hội, nhu cầu cuộc sống của con người đã làm cho môi trường ngày càng bị ảnh hưởng nghiêm trọng Sự ô nhiễm, suy thoái, và những sự cố môi trường diễn ra ở mức độ ngày càng cao Môi trường bị tàn phá dẫn đến nhiều thiệt hại cho con người, ảnh hưởng các quyền môi trường cơ bản của con người
Mỗi cá nhân đều có những quyền cơ bản nhất định đối với môi trường Những quyền này có mối liên hệ qua lại, quyền này hỗ trợ, góp phần cho quyền khác được đảm bảo Quyền đối với môi trường gồm có các quyền:
+ Quyền được sống trong môi trường trong sạch, lành mạnh;
+ Quyền được tham gia vào quá trình ban hành các quyết định;
+ Quyền được bồi thường thiệt hại và khắc phục hậu quả;
+ Quyền TCTT môi trường
Đây có thể xem là những quyền cơ bản nhất mà mỗi cá nhân đều có và được đảm bảo, những quyền này đều được ghi nhận trong các văn kiện pháp lý quốc tế, bảo đảm
sự tuân thủ của mỗi quốc gia, vì sự phát triển chung của thế giới
Các quyền này có vai trò như nhau, quyền này hỗ trợ, góp phần cho quyền kia được đảm bảo Tuy nhiên, trong các quyền này, có thể nói quyền TCTT môi trường còn khá mới mẻ và ít được quan tâm đúng mực, xuất phát từ việc “thông tin” là một vấn đề nhạy cảm, việc tiếp cận hay cung cấp thông tin thuần túy là việc quy định của mỗi quốc gia, khu vực Quyền TCTT môi trường không đơn giản chỉ là hình thức yêu cầu thông tin _ cung cấp thông tin như một quá trình mua bán hay trao đổi, còn phải tùy thuộc vào quy định pháp lý của mỗi quốc gia mà quyền TCTT môi trường của công dân đến mức độ nào Quyền này đã được đề cập trong các văn kiện pháp lý quốc tế từ lâu, nhưng ở một số quốc gia quyền này đã phát triển mạnh và được áp dụng từ lâu, còn một số quốc gia quyền TCTT lại rất mới mẻ, người dân ít biết đến nên chưa có sự quan tâm cũng như áp dụng đúng đắn Tuy vậy, hiện nay, trước thực trạng môi trường
Trang 12cũng như nhu cầu của xã hội, quyền TCTT đã được thế giới nhìn nhận là “chìa khóa quan trọng” cho sự phát triển bền vững, phát triển kinh tế, xã hội đi đôi với bảo vệ môi trường Chính vì vậy cần phải xác định được tác động của quyền này với các quyền môi trường khác như thế nào
a) Quyền được sống trong môi trường trong sạch, lành mạnh:
Đây là quyền tự nhiên và được thừa nhận từ lâu của con người Nguyên tắc 1,
Tuyên bố Stockholm 1972 về Môi trường và Con người của LHQ đã khẳng định:
Con người có quyền cơ bản là quyền tự do, bình đẳng và đầy đủ các điều kiện sống, trong một môi trường chất lượng cho phép cuộc sống có phẩm giá và phúc lợi, mà con người có trách nhiệm bảo vệ và cải thiện môi trường cho thế hệ hôm nay và mai sau 11
Nguyên tắc đầu tiên này đã nối kết chặt chẽ quyền con người và việc bảo vệ môi trường Có thể thấy rằng, quyền được sống trong môi trường trong sạch, lành mạnh là mục tiêu cơ bản của con người và bảo vệ môi trường chính là phương thức hữu hiệu bảo đảm con người có được những điều kiện đầy đủ cho một cuộc sống no đủ, hạnh phúc Các quyền môi trường còn lại của con người _ quyền TCTT môi trường, quyền tham gia vào quá trình quyết định, và quyền được bồi thường thiệt hại, khắc phục hậu quả _ được đảm bảo thực hiện cũng nhằm đạt đến cái đích cuối cùng là “một môi trường trong sạch, lành mạnh” vì sức khỏe, tuổi thọ, chất lượng cuộc sống không chỉ của chúng ta mà những thế hệ sau này đều chịu ảnh hưởng trực tiếp của môi trường Hiện nay, vẫn chưa có điều ước toàn cầu về quyền con người nào tuyên bố quyền môi trường Tuy nhiên, trong số những văn bản pháp lý quốc tế không mang tính ràng buộc, đã có một số lượng đáng kể ghi nhận các quyền môi trường hoặc quyền được có
một môi trường trong sạch để sinh sống Chẳng hạn như, Báo cáo đặc biệt của LHQ
năm 1989 chứa đựng những nguyên tắc về quyền con người và môi trường đã khẳng
11 Trần Đình Nghiêm, tlđd, tr 12
Trang 13định một cách rõ ràng rằng “Mọi người đều có quyền có một môi trường an toàn, lành
mạnh và một hệ sinh thái trọn vẹn” 12
Như vậy, để có cuộc sống như mong muốn con người phải bảo vệ môi trường Nhưng vấn đề đặt ra là, do môi trường bao gồm tất cả các yếu tố vật chất bao quanh con người, để đạt được một môi trường trong sạch, lành mạnh là điều không hề dễ dàng Hơn nữa, môi trường “trong sạch, lành mạnh” phải hiểu như thế nào cho chính xác với thực trạng phát triển của xã hội Quyền được sống trong môi trường trong sạch,
lành mạnh, hiện nay theo như Tuyên bố Stockholm 1972 về Môi trường và Con
người, là quyền được sống trong một môi trường không bị ô nhiễm, đảm bảo cuộc
sống được hài hòa với tự nhiên, và môi trường trong sạch lành mạnh được xác định theo các tiêu chuẩn môi trường do con người đặt ra chứ không phải môi trường trong sạch lý tưởng Sở dĩ con người cần phải đặt ra các tiêu chuẩn môi trường để xác định
sự trong sạch, lành mạnh vì thực trạng môi trường hiện nay đang bị khai thác và tàn phá nghiêm trọng dẫn đến suy thoái, nên quyền tự nhiên này đang bị xâm phạm
Do đó, theo những cam kết quốc tế và xu hướng chung trên thế giới, quốc gia nào cũng thực hiện các biện pháp để bảo vệ, cải thiện chất lượng môi trường cho người dân
và nhất là tạo cơ sở pháp lý để người dân có thể tự chủ động bảo vệ quyền này của mình Minh chứng cho điều này, hiện nay, quy định của quốc gia tuyên bố quyền được
có một môi trường trong sạch, lành mạnh phổ biến hơn nhiều so với các văn bản quốc
tế Hiến pháp của hơn 60 quốc gia, bao gồm hầu như tất cả hiến pháp được thông qua hoặc sửa đổi từ năm 1970, khẳng định quyền này và đều quy định các nghĩa vụ của
Nhà nước trong vấn đề này Điều 50, Hiến Pháp Ukraine, có hiệu lực năm 1996, là
một ví dụ: “Mỗi người đều có quyền được sống trong môi trường trong sạch và lành
mạnh, và được yêu cầu bồi thường thiệt hại khi quyền này bị xâm phạm” 13 Hay Điều
12, Hiến Pháp của Cộng Hòa Nam Phi năm 1996 quy định cụ thể:
12 Giáo sư Dinah Shelton, tlđd, tr 73
13 Giáo sư Dinah Shelton, tlđd, tr 74
Trang 14Mọi người đều có quyền (a) có một môi trường trong sạch và lành mạnh; (b) được bảo vệ môi trường vì lợi ích thế hệ hiện tại và tương lai, thông qua biện pháp lập pháp và biện pháp hợp lý khác; (c) ngăn ngừa ô nhiễm
và suy thoái hệ sinh thái; (d) thúc đẩy việc bảo tồn; (d) đảm bảo an toàn, phát triển bền vững sinh thái và sử dụng tài nguyên thiên nhiên cùng với phát triển kinh tế - xã hội.
b) Quyền được tham gia vào quá trình ra quyết định:
“Dân chủ” là để dân được làm chủ, mức độ tham gia của người dân vào các quyết định của cơ quan Nhà nước chính là cách thức phản ánh sự dân chủ của Nhà nước đó Một quyết định của cơ quan Nhà nước được ban hành luôn ảnh hưởng đến cuộc sống người dân, đặc biệt trong lĩnh vực môi trường vì tính cưỡng chế của nó Hơn nữa, đây
là quyền cơ bản, dựa trên nhu cầu tất yếu của những cộng đồng trực tiếp chịu tác động của vùng môi trường mà họ sinh sống, nên họ có quyền có tiếng nói quyết định cho việc xác định tương lai môi trường của họ Do đó, dù ở khía cạnh phát triển đất nước hay bảo vệ con người thì sự tham gia của người dân cũng đều quan trọng
Chương trình Nghị sự 21 của LHQ năm 1992 cũng đã nhấn mạnh tầm quan
trọng sự tham gia của dân chúng, khuyến khích Chính phủ các nước nên xây dựng các chính sách để tạo điều kiện trao đổi thông tin trực tiếp giữa Chính phủ và công chúng
trong vấn đề môi trường Trước đó, Nguyên tắc 23, Hiến chương Thế giới năm 1982
về Thiên nhiên khẳng định quyền này một cách rõ ràng nhất:
Tất cả mọi người, theo quy định luật pháp quốc gia của họ, sẽ có cơ hội tham gia, riêng lẻ hoặc với người khác, trong việc xây dựng các quyết định liên quan trực tiếp đến môi trường của họ, và sẽ có quyền tiếp cận với các phương thức khắc phục tình trạng môi trường của họ khi đã bị tổn hại hoặc suy thoái 14
14 Giáo sư Dinah Shelton, tlđd, tr 69
Trang 15Theo đó, ta hiểu công chúng có quyền tham gia vào quá trình xây dựng và ban hành các quyết định về vấn đề môi trường liên quan đến họ Vậy thì “công chúng có liên quan” là những đối tượng nào? Xu hướng thế giới hiện nay, thể hiện qua các Hội
nghị hay điều ước, “công chúng có liên quan” là “công chúng bị ảnh hưởng hoặc có
khả năng bị ảnh hưởng bởi, hoặc có quan tâm đến quá trình ra quyết định môi trường” 15 Hội nghị Rio về Môi trường và Phát triển năm 1992 khuyến khích sự tham
gia của các tổ chức phi chính phủ và đại diện của những nhóm người với lợi ích kinh tế
khác nhau có liên quan, và sau đó Tuyên bố Rio 1992 về Môi trường và Phát triển
đã nhấn mạnh tầm quan trọng của việc tham gia giải quyết các vấn đề môi trường của các thành phần xã hội khác nhau từ phụ nữ (Điều 20), thanh niên (Điều 21), người bản địa và cộng đồng có liên quan (Điều 22) Việc mở rộng các đối tượng tham gia vào quá trình ban hành các quyết định giải quyết vấn đề môi trường với trình độ và khả năng hiểu biết khác nhau góp phần mang lại sự dân chủ và tính minh bạch cho quyết định cuối cùng khi được ban hành Vấn đề là làm cách nào tận dụng tốt nhất ưu thế của sự tham gia rộng rãi này
Những đối tượng này phải được bảo đảm các cơ hội thể hiện mối quan tâm, ý kiến của mình, và cơ quan công quyền phải tạo thuận lợi cho họ thực hiện quyền của mình Đảm bảo quyền tham gia của công chúng là đảm bảo cả hai quyền sau đây:
+ quyền được biết về các quyết định;
+ và quyền tác động đến những quyết định
Quyền được biết về các quyết định bảo đảm rằng công chúng có được những thông tin cần thiết và có ích, nhờ đó việc tác động đến các quyết định mới có hiệu quả và không sai sót Đồng thời, công chúng chỉ thực sự có khả năng tham gia vào quá trình ra quyết định khi họ có đầy đủ các thông tin về các chính sách và hoạt động của Chính phủ Từ những hiểu biết đó, người dân mới có cơ sở thực hiện quyền tác động của
15 Công ước Aarhus 1998 của LHQ tại Đan Mạch về TCTT, sự tham gia của công chúng vào quá trình ra quyết định, tiếp cận công lý đối với các vấn đề môi trường
Trang 16mình trong từng giai đoạn, quá trình ban hành quyết định cũng như quyết định cuối cùng Quyền này cũng gián tiếp tăng cường trách nhiệm của các cơ quan trước khi ban hành bất kì quyết định nào, tăng cường chất lượng của các quyết định này Bảo đảm cả hai quyền này thì sự tham gia của người dân mới đạt được kết quả mong muốn, như trường hợp của New Zealand, từ những năm 1970, nhiều luật (như: y tế, quản lý môi trường…) yêu cầu các quan chức Chính phủ phải công bố thông tin, tham khảo ý kiến của những người bị ảnh hưởng trong từng vấn đề và phải đưa các ý kiến này vào xem xét khi quyết định 16
c) Quyền được bồi thường thiệt hại và khắc phục hậu quả:
Khi môi trường chưa bị tàn phá, hay chịu sự tổn hại nghiêm trọng nào thì con người được giáo dục và tuyên truyền phải phòng ngừa các sự cố và làm mọi cách để bảo vệ môi trường Nhưng khi môi trường đứng trước sự suy thoái, ô nhiễm và ảnh hưởng nặng nề đến đời sống con người thì vấn đề trách nhiệm tất yếu phải được xem xét Quyền được bồi thường thiệt hại và khắc phục hậu quả không chỉ góp phần hỗ trợ cải thiện, giúp đỡ cuộc sống người dân, tái tạo, khắc phục tình trạng môi trường, mà còn là chế tài đối với chủ thể gây ra thiệt hại cho môi trường và con người Do đó đây
là quyền đương nhiên và đặc biệt quan trọng trong tình trạng môi trường hiện nay
Quyền được bồi thường và khắc phục hậu quả được đề cập từ lâu trong các văn
kiện pháp lý về quyền con người hay về môi trường Điều 10 Công ước Châu Âu về
Quyền con người năm 1950, bảo đảm sự bồi thường hay khắc phục hậu quả khi có bất
cứ vi phạm các quyền và tự do quy định trong Công ước, bao gồm cả hành vi vi phạm
quyền thông tin Chương trình Nghị sự 21 của LHQ kêu gọi các Chính phủ và các
nhà lập pháp thiết lập các thủ tục tư pháp và hành chính để khắc phục tình trạng pháp
lý và khắc phục các hành động ảnh hưởng đến môi trường mà có thể trái pháp luật
hoặc xâm phạm các quyền theo pháp luật Sau đó, trong Công ước Luật biển của
LHQ năm 1982, Điều 235 Khoản 2 cũng quy định rằng:
16 Bách khoa toàn thư mở, trang web: http://en.wikipedia.org/
(Xem http://en.wikipedia.org/wiki/Public_participation )
Trang 17Các quốc gia phải bảo đảm quyền khiếu kiện, yêu cầu bồi thường nhanh chóng, kịp thời hoặc hoạt động cứu trợ khác đối với các thiệt hại do ô nhiễm môi trường biển bị gây ra bởi các cá nhân, pháp nhân trong phạm
vi tài phán của các quốc gia đó 17
Như vậy, quyền được khắc phục và bồi thường thiệt hại không giới hạn chỉ cho công dân của một quốc gia Một số điều ước quốc tế quy định nghĩa vụ của quốc gia đảm bảo cho những người bị tổn hại, trên thực tế có khả năng hay có quyền tiếp cận với bất kỳ thủ tục hành chính hoặc tư pháp nào của quốc gia, ngang bằng với công dân hoặc những người đang thường trú ở quốc gia đó Những quy định về sự bình đẳng khi yêu cầu các biện pháp khắc phục và bồi thường của những người chịu thiệt hại trong pháp luật quốc gia hết sức quan trọng
Tuy nhiên, thực tế việc yêu cầu bồi thường thiệt hại, khắc phục hậu quả môi trường của cá nhân, tổ chức, thậm chí quốc gia là một vấn đề khó khăn, vì quyền tiếp cận thông tin khi xảy ra thiệt hại còn hạn chế, rào cản ngôn ngữ, sự bất cập trong quy định pháp luật, và các rào cản pháp lý giữa các quốc gia Đây là vấn đề cần được khắc phục để quyền này được đảm bảo trên thực tế vì xu hướng hợp tác quốc tế ngày một gia tăng Các quốc gia có thể tăng cường ký kết nhiều điều ước quốc tế song phương hay đa phương về vấn đề trách nhiệm bồi thường thiệt hại do một trong các bên gây ra cho bên còn lại Các điều quốc tế này là căn cứ pháp lý quan trọng, góp phần giải quyết các rào cản pháp lý giữa các quốc gia khi xảy ra tranh chấp về vấn đề bồi thường thiệt hại, khắc phục hậu quả môi trường Đồng thời buộc các quốc gia, các cơ quan, tổ chức phải thường xuyên phổ biến thông tin cho cộng đồng Ví dụ, vụ tàu chở dầu của Singapore “Neptune Aries” đâm vào cầu tàu ở cảng Cát Lái (TP HCM, Việt Nam) ngày 3/10/1994 làm tràn 1.700 tấn dầu, gây thiệt hại cho người dân và Chính phủ VN
ước tính lên đến 28 triệu USD nhưng chủ tàu chỉ chấp nhận đền bù thiệt hại 1 triệu
USD Hay ngày 15/1/1999, tàu Vega I mắc cạn ở luồng Định An, TP Cần Thơ (Việt
17 Giáo sư Dinah Shelton, tlđd, tr 71
Trang 18Nam) làm tràn khoảng 100 tấn dầu, chủ tàu bỏ chạy và phía VN phải gánh chịu toàn bộ thiệt hại, ảnh hưởng đến sinh hoạt, môi trường của cư dân nơi đây 18
Vấn đề VN yêu cầu bồi thường thiệt hại do ô nhiễm dầu gặp nhiều trở ngại và khoản bồi thường nhận được thường thấp thậm chí không đáng kể, nguyên nhân chủ yếu là do pháp luật về vấn đề này có nhiều bất cập, thông tin chưa được chú trọng; và vào thời điểm này, VN chưa tham gia điều ước quốc tế về ô nhiễm dầu, nên không có căn cứ để yêu cầu chủ tàu chở dầu mang quốc tịch nước ngoài bồi thường Tuy nhiên,
từ ngày 17/6/2004, Công ước quốc tế về trách nhiệm dân sự đối với thiệt hại do ô
nhiễm dầu 1992 (CLC 92) có hiệu lực ở VN, là cơ sở pháp lý quan trọng giúp VN yêu
cầu các đối tượng gây ô nhiễm môi trường từ sự cố tràn dầu phải bồi thường thiệt hại một cách thỏa đáng Đồng thời, do có 98 quốc gia tham gia, nên Công ước này là giải pháp quan trọng cho các quốc gia thành viên hạn chế được các rào cản pháp lý, quy định pháp luật quốc gia rõ ràng hơn do nội luật hóa, và cung cấp thông tin cho công chúng khi có yêu cầu bồi thường thiệt hại
Qua việc phân tích cả ba quyền môi trường cơ bản trên, tuy mỗi quyền mang lại cho con người những khả năng trên thực tế rất khác nhau Quyền được sống trong môi trường trong sạch lành mạnh giúp con người được đảm bảo các tiêu chuẩn tối thiểu về môi trường sống, hoạt động; quyền được tham gia vào quá trình ban hành các quyết định lại mang đến cho con người phương thức thực hiện vai trò, ảnh hưởng khi tham gia tác động đến những quyết định liên quan đến chính tương lai của mình; và quyền được bồi thường thiệt hại, khắc phục hậu quả là quyền trực tiếp bảo vệ cho lợi ích của con người khi nó bị xâm hại Nhưng những khả năng đó chỉ thành hiện thực khi những quyền trên được thực thi trên thực tế và được đảm bảo ở mức tốt nhất Để làm được điều này thì quyền TCTT chính là công cụ hỗ trợ tối đa cho các quyền trên Ở thời đại hiện nay, “có được thông tin” chính là điều kiện tiên quyết để một cá nhân hay một
18 Trung tâm Dữ liệu – Thông tin chuyên ngành Bảo hiểm, trường Đại học Kinh Tế TP HCM, trang web:
http://www.baohiem.pro.vn/
(Xem http://www.baohiem.pro.vn/Ins_News_Article.asp?CatID=56&ID=354 )
Trang 19Nhà nước đạt được lợi ích nào đó, đặc biệt trong lĩnh vực môi trường, vai trò của thông tin môi trường tỷ lệ thuận với sự phát triển của xã hội
Điều 4 Công ước Aarhus năm 1998 của LHQ về tiếp cận thông tin, sự tham
gia của công chúng và tiếp cận tư pháp trong các vấn đề môi trường cũng quy
định, các Chính phủ phải ban hành và thực thi pháp luật cho phép công dân được quyền tiếp cận các thông tin (bao gồm cả các tài liệu) về môi trường do các cơ quan Chính phủ đang nắm giữ Quy định này nhằm đảm bảo các thông tin về môi trường được thông báo công khai và đúng hiện thực đến công chúng, cũng như cho phép người dân nắm bắt được kịp thời thông tin có liên quan Thực tiễn cho thấy thông tin môi trường thường không được quan tâm đúng mức, không được chú trọng hay có khi
cố tình bị che giấu Vì vậy, người dân không thể sớm biết được tình trạng môi trường ảnh hưởng đến mình như thế nào, mà bản chất của suy thoái môi trường thường phát sinh sau một thời gian dài khi các chương trình, dự án tác động đến nó hoàn thành và thường là không thể cứu vãn nổi khi xảy ra hoặc nếu khắc phục được thì cũng rất tốn kém và lâu dài
Khi quyền TCTT môi trường được đảm bảo thực thi một cách rõ ràng, toàn diện thì những thông tin cụ thể về môi trường, như những thông tin về tiêu chuẩn, quy chuẩn môi trường, những hiểu biết về sự trong sạch lành mạnh của môi trường, khả năng chịu đựng và phân hủy của môi trường, những thông tin pháp lý quy định về môi trường ở cấp độ quốc gia hay quốc tế, nhất là thông tin liên kết chặt chẽ với quá trình đánh giá tác động môi trường của một dự án, một công trình từ lớn đến nhỏ… sẽ giúp ích rất lớn và rất hữu hiệu tạo điều kiện thuận lợi để bảo vệ các thành phần dù là nhỏ nhất tạo nên môi trường Đồng thời cho phép cộng đồng dễ dàng hơn trong việc biết, tham gia vào quá trình ban hành một quyết định hay tác động đến quyết định cuối cùng trong việc giải quyết vấn đề môi trường
Hơn nữa, khi có thiệt hại từ môi trường xảy ra, gây ảnh hưởng đến đời sống của người dân thì việc bồi thường thiệt hại và khắc phục hậu quả càng liên quan mật thiết
Trang 20đến thông tin môi trường Ở phạm vi thiệt hại trong một quốc gia thì quyền TCTT cung cấp thông tin về sự ô nhiễm, sự suy thoái môi trường, các thông số ô nhiễm cũng như cần thiết để khắc phục, biết được các hoạt động gây tổn hại cho môi trường, chủ thể gây tổn hại đến môi trường, còn ở phạm vi quốc tế, bên cạnh những thông tin môi trường cơ bản vừa nêu thì quyền TCTT còn cung cấp những thông tin về các thủ tục, các biện pháp bồi thường, ngăn chặn… tạo thuận lợi cho quyền được bồi thường thiệt hại và khắc phục hậu quả của mọi người
Tóm lại, đối với sự phát triển toàn diện và đảm bảo cuộc sống có chất lượng của con người thì các quyền môi trường cơ bản là những quyền không thể thiếu cũng như phải được thực thi, tuân thủ và hiện thực hóa Và để đạt đến mục tiêu cuối cùng thì càng phải không ngừng cải thiện, nâng cao và tìm kiếm những phương thức góp phần giải quyết vấn đề môi trường ngày một cấp thiết như hiện nay Quyền TCTT môi trường chính là một công cụ hữu hiệu, vì nó không chỉ mang đến sự đảm bảo về thông tin môi trường cho con người kịp thời, nhanh chóng mà còn hỗ trợ đạt được các quyền khác dễ dàng hơn, kết hợp với các biện pháp khác nhằm giải quyết tốt vấn đề môi trường, đặc biệt trong hoàn cảnh môi trường đang dần có những biến đổi theo chiều hướng xấu
1.1.2.2 Vai trò quyền TCTT môi trường với sự phát triển của xã hội:
Quyền TCTT đã được ghi nhận từ lâu, nhưng quyền TCTT môi trường được xem
là một sự phát triển, tiến bộ gần đây của luật pháp quốc tế Con người đã nhận thức và thừa nhận rằng, sự quan trọng của quyền TCTT môi trường không chỉ trong lĩnh vực môi trường mà còn trong các lĩnh vực khác của cuộc sống, góp phần thúc đẩy xã hội ngày một đi lên Quyền TCTT môi trường đã đáp ứng nhu cầu cần thiết, tối ưu trong cuộc sống là nhu cầu “thông tin môi trường”, nó không chỉ giúp ích cho công cuộc bảo
vệ, phòng ngừa và tái tạo lại môi trường mà còn mang đến những ích lợi đáng kể từ những thông tin đó
Trang 21Trong bối cảnh hội nhập và phát triển kinh tế quốc tế, quyền TCTT môi trường đã trao cho quốc gia, tổ chức và cả cá nhân trên thế giới những cơ hội trong mọi lĩnh vực
Nguyên tắc 10, Tuyên bố Rio 1992 về Môi trường và Phát triển đã ghi nhận: “các
quốc gia phải tạo điều kiện và nâng cao nhận thức, sự tham gia của công chúng bằng cách làm cho thông tin phổ biến rộng rãi” 19
Bên cạnh đó, tác động tích cực làm cho “hoạt động của cơ quan Nhà nước minh bạch, rõ ràng, có trách nhiệm hơn khi người dân được biết, được kiểm tra và được yêu cầu; hoàn thiện tính dân chủ và bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của người dân” 20không chỉ khi quyền môi trường bị xâm hại mà còn các quyền có liên quan khác
Do đó, mỗi Nhà nước cần có cơ chế tạo điều kiện cho các cơ quan, tổ chức, cá nhân tham gia vào môi trường thông tin mở, có thể không ngừng trao đổi và tạo ra các nguồn thông tin hữu ích Các cơ quan công quyền không những cần phải công bố rộng rãi một số loại thông tin nhất định như hiện nay (thông tin về pháp luật, chính sách và hoạt động của các cơ quan nhà nước, thông tin về môi trường, văn hóa, xã hội ), mà còn phải tạo điều kiện cho người dân tiếp cận thông tin, tiếp cận các hồ sơ, tài liệu khác khi họ có nhu cầu Đó mới chính là “sự phát triển bền vững” - một sự phát triển dung hòa được tăng trưởng kinh tế với việc bảo vệ môi trường và tài nguyên thiên nhiên, và thực hiện sự bình đẳng trong phạm vi mỗi quốc gia, giữa các quốc gia và giữa các thế hệ - mà con người luôn mong muốn
Chẳng hạn, ở Ấn Độ, có những làng rất nghèo, hẻo lánh, người dân không có khả năng tiếp cận thông tin Chính phủ nước này đã cung cấp các phương tiện hiện đại để người dân có thể tiếp cận thông tin như trang bị máy tính để cập nhật thông tin bằng Internet Hay là dùng các xe thồ mang các ấn phẩm, báo, tài liệu về thông tin hoạt động của Chính phủ, biểu mẫu kế hoạch, hồ sơ đất đai, thông tin giáo dục, nông nghiệp, thời tiết, chăm sóc y tế, giải trí… tới những người dân và người thu nhập thấp Hoặc dùng
19 Philippe Sands, tlđd, tr 620
20 TS Nguyễn Kim Thoa (2009), “Nội dung luật TCTT một số nước”, Tạp chí nghiên cứu lập pháp, (số 154), tr
43-45
Trang 22các xe khách liên tỉnh sử dụng công nghệ không dây đi khắp các thành phố để thu thập thông tin; sau đó đối chiếu và đưa vào cơ sở dữ liệu, chuyển toàn bộ thông tin này về
cơ quan Chính phủ Một cơ quan chuyên trách sẽ đảm nhận công việc này (Sở Thông tin Truyền thông tại các địa phương), và xây dựng cơ sở dữ liệu dùng chung Nhờ đó, việc xử lý thông tin rất nhanh chóng, thuận tiện và với chi phí rẻ Ở vùng sâu, vùng xa, ngoài các biện pháp trên, có một giải pháp hữu hiệu là cơ quan chức năng khảo sát tận nơi Những vùng này có nhiều nhu cầu về thông tin quản lý đất đai, khai sinh, dự báo thời tiết và các thông tin môi trường… Ngoài ra, Chính phủ còn tập trung phát triển cộng đồng về tri thức, kiến thức về pháp luật, công nghệ thông tin như phổ biến kiến thức tới thế hệ trẻ để họ có thể sử dụng được ngay và chung tay đóng góp cho gia đình, cộng đồng Đây là những cách đơn giản nhất mà Chính phủ có thể đưa các phương tiện giúp người dân tiếp cận thông tin của Nhà nước và phục vụ người dân tốt nhất 21
1.2 Nguyên tắc TCTT môi trường:
Các nguyên tắc khi tiếp cận thông tin môi trường dựa trên các nguyên tắc cơ bản của Luật quốc tế nói chung (nguyên tắc bình đẳng về chủ quyền giữa các quốc gia, nguyên tắc các quốc gia có nghĩa vụ hợp tác với nhau, hay nguyên tắc Pacta sunt servanda 22) và Luật môi trường quốc tế nói riêng (nguyên tắc bảo tồn và bảo vệ môi trường, nguyên tắc phòng ngừa, nguyên tắc người gây ô nhiễm phải trả tiền, hay nguyên tắc trợ giúp trong những trường hợp khẩn cấp) Sự hình thành các nguyên tắc này chưa lâu nhưng đều đã được ghi nhận trong các văn kiện pháp lý quốc tế quan trọng, có giá trị ràng buộc lẫn không ràng buộc Do đó, các nguyên tắc này được xem như những ứng xử cơ bản, đương nhiên trong vấn đề môi trường quốc tế, đặc biệt là vấn đề TCTT môi trường, mà các quốc gia cần tuân thủ
21 Tạp chí thế giới ví tính, thuộc Sở Khoa học và Công nghệ TP HCM, trang web: http://www.pcworld.com.vn/ (Xem http://www.pcworld.com.vn/articles/quan-ly/nha-nuoc/2009/10/1194747/xay-dung-chinh-phu-dien-tu- nguoi-dan-la-trung-tam/ )
22 Nguyên tắc Pacta sunt servanda nghĩa là nguyên tắc tự nguyện thực hiện các cam kết quốc tế giữa các quốc gia – đây được xem là nguyên tắc cổ xưa nhất trong Luật quốc tế
Trang 231.2.1 Nguyên tắc công bằng và không phân biệt đối xử khi TCTT:
Nguyên tắc xuất hiện đầu tiên trong các văn bản quốc tế không ràng buộc, chẳng
hạn như Bản Giới Thiệu của Hội đồng Hợp tác và Phát triển Kinh tế (OECD) năm
1976 về quyền bình đẳng trong việc TCTT liên quan đến ô nhiễm môi trường xuyên quốc gia:
Nếu các hoạt động diễn ra trong phạm vi tài phán hay kiểm soát của một quốc gia, mà gây ra hoặc đe dọa suy thoái đến môi trường của một quốc gia khác, thì các cư dân đang hoặc có nguy cơ bị ảnh hưởng có quyền tiếp cận đến những thủ tục hành chính hoặc tư pháp của quốc gia gây ra những tác hại môi trường, với những điều kiện ngang bằng như công dân của quốc gia đó 23
Sau đó, nguyên tắc này đã được cụ thể hóa thành nguyên tắc pháp lý trong hầu hết các văn bản pháp lý sau này, nhất là những văn bản liên quan đến vấn đề môi trường
Trước hết cần xác định những chủ thể nào được hưởng sự công bằng, không phân biệt đối xử trong vấn đề TCTT môi trường Theo nguyên tắc này thì quốc gia không phải là chủ thể duy nhất được thông báo thông tin, tiếp cận đến các vấn đề khẩn cấp của môi trường hay các hoạt động ảnh hưởng xấu đến môi trường Trong các văn kiện quốc tế về vấn đề bảo vệ môi trường thừa nhận cá nhân cũng có quyền này, “quyền tiếp cận thông tin của cá nhân đặc biệt quan trọng khi họ muốn sử dụng để tiếp cận quá trình tố tụng dân sự và hành chính của quốc gia khác” 24 Điều lệ về Môi trường và Y
tế của Tổ chức Y tế Thế giới khẳng định rằng “mỗi cá nhân có quyền thông tin và
tham vấn về tình trạng của môi trường” Sự “công bằng” không chỉ đặt ra giữa quốc
23 Tác giả dịch từ bản tiếng Anh, theo nội dung Bản Giới thiệu về quyền bình đẳng TCTT liên quan đến ô nhiễm môi trường xuyên quốc gia củaTổ chức Hợp tác và Phát triển Kinh tế (OECD), trang web: http://webnet.oecd.org/ (Xem
http://webnet.oecd.org/oecdacts/Instruments/ShowInstrumentView.aspx?InstrumentID=13&Lang=en&Book=Fal
se )
24 Tác giả dịch từ bản Tiếng Anh, Patricia W.Birnie and Alan E.Boyle (1992), Rights and Obligations of States,
International Law and The Environment, Oxford Uniersity Press, New York, tr 112
(Patricia W.Birnie and Alan E.Boyle (1992), Quyền và Nghĩa vụ của các Quốc gia, Luật Quốc tế và Môi trường,
Xuất bản bởi Đại học Oxford, New York, tr 112)
Trang 24gia với nhau mà còn giữa cá nhân hay pháp nhân với nhau, không chỉ các công dân của quốc gia là nạn nhân của ô nhiễm xuyên quốc gia, mà là tất cả những người sinh sống trên lãnh thổ, kể cả nếu họ có quốc tịch khác, đều có quyền tiếp cận với thông tin Hầu hết các quốc gia hiện nay đều cho phép bất kỳ ai cũng có quyền yêu cầu cung cấp thông tin mà không tính đến việc họ có lợi ích pháp lý liên quan hay không, có là công dân hay cư trú tại quốc gia đó hay không, thậm chí tổ chức phi Chính phủ cũng có thể
yêu cầu cung cấp thông tin Tuyên bố Bangkok về quyền con người và môi trường,
thông qua năm 1990, khẳng định việc áp dụng quyền này ở khu vực châu Á - Thái
Bình Dương trong khi Tuyên bố Ả Rập về Môi trường, Phát triển và Viễn cảnh
tương lai năm 1991 thừa nhận quyền của cá nhân và các tổ chức phi Chính phủ được
có thông tin về vấn đề môi trường liên quan đến họ Một số quốc gia như Phần Lan còn cho phép cá nhân ẩn danh khi đưa ra các yêu cầu nhằm đảm bảo rằng người yêu cầu cung cấp thông tin không bị đối xử bất bình đẳng 25
Nội dung của nguyên tắc này đòi hỏi bốn yếu tố quan trọng, là những hành động
cụ thể thể hiện mức độ, và khả năng đảm bảo thực thi quyền TCTT trong thực tiễn, gồm: thông báo cho người không cư trú; cho phép sự tham gia của họ trong quá trình, thủ tục ban hành quyết định; cho phép khiếu nại khi không được áp dụng đầy đủ các quy định có liên quan trong quá trình tham gia thủ tục đó; và cung cấp các biện pháp khắc phục nếu có thiệt hại
a) Thông báo cho người không cư trú:
“Người không cư trú” được hiểu là những người không sinh sống trên lãnh thổ của
quốc gia gây ra hay có khả năng gây ra tác động xấu tới môi trường, nhưng họ chịu ảnh hưởng hay có liên quan tới, khi những tác động xấu đó xảy ra
Việc thông báo cho người không cư trú thực ra là một phần trong quá trình TCTT của họ, nhưng việc thông báo được yêu cầu vì nó đảm bảo thông tin đến được với những người cần biết và phải biết, do đó sự công bằng trong thông tin sẽ được đảm bảo
25 TS Nguyễn Kim Thoa, tlđd, tr 48
Trang 25cho tất cả đối tượng chứ không chỉ giới hạn trong một số đối tượng cụ thể Tuy nhiên, một vấn đề quan trọng là phải xác định những chủ thể nào được nhận thông tin, bởi vấn
đề này tồn tại hai khía cạnh cần phân biệt rõ Một mặt, cần xác định khu vực địa lý cần được thông báo; mặt khác, trong khu vực đó những đối tượng nào cần được thông báo Nguyên tắc chung trong vấn đề này là tất cả những người có quyền lợi có thể bị ảnh hưởng phải được thông báo, không phải chỉ công dân sinh sống ở khu vực đó mà
kể cả những cư dân ở vùng khác, có quốc tịch khác nếu chịu ảnh hưởng thì cũng phải được thông báo những thông tin cần thiết về các dự án, hoạt động và chương trình phát triển mới… có thể gây ra nguy cơ tổn hại đến môi trường của người không cư trú Ví
dụ, Điều 9, Công ước Helsinki 1992 về những tác động xuyên biên giới của các
hoạt động công nghiệp, đã cung cấp những quy định chi tiết vấn đề thông tin này
Các Bên phải bảo đảm rằng các thông tin đầy đủ được đưa ra cho công chúng trong khu vực có khả năng bị ảnh hưởng bởi một tai nạn công nghiệp phát sinh từ một hoạt động nguy hiểm xảy ra ngoài khu vực sống của họ, và thông tin này được truyền thông qua các kênh mà các bên cho
Đó chính là đảm bảo sự công bằng cho người dân đối với các hoạt động của Nhà nước
26 Tác giả dịc từ bản Tiếng Anh, Professor Alexandre Kiss, Fundamental Principles of International
Environmental Law, Course 1 “Introduction to International Environmental Law” (UNITAR Programme of
training for the Application of Environmental Law), tr 95
(Giáo sư Alexandre Kiss, Những nguyên tắc cơ bản của Luật Môi trường Quốc tế, Khóa 1 “Giới thiệu Luật Môi
trường Quốc tế”, UNITAR Chương trình đào tạo Ứng dụng Luật Môi trường)
Trang 26Điều 9 Khoản 2, Công ước Helsinki về vấn đề những tác động xuyên biên giới của
các hoạt động công nghiệp quy định rằng Nhà nước với thẩm quyền xét xử của mình,
khi một tai nạn công nghiệp xảy ra hoặc có khả năng xảy ra, sẽ cho công chúng, bất cứ
khi nào có thể và thích hợp, quyền được tham gia “vào những vấn đề có khả năng bị
tác động, tạo cơ hội để công chúng được tham gia vào các thủ tục có liên quan với mục đích làm cho Nhà nước biết được cách nhìn và mối quan tâm của họ về phòng chống và các biện pháp đã được chuẩn bị”.
c) Cho phép khiếu nại khi không được áp dụng đầy đủ các quy định có liên quan trong quá trình tham gia thủ tục ban hành quyết định:
Khiếu nại là công cụ hữu hiệu để người dân mạnh dạn yêu cầu thông tin và bảo đảm nghĩa vụ của chủ thể phải cung cấp thông tin Nguyên nhân của việc đặt ra yêu cầu này vì sự thiếu tôn trọng của các cơ quan, tổ chức trong việc áp dụng các quy định cho phép sự tham gia của người dân Trong nhiều trường hợp, một số cơ quan Nhà nước của quốc gia gây ra hay có thể gây ra tác động xấu cho môi trường, đã áp dụng không đầy đủ hoặc không áp dụng những quy định, trình tự, thủ tục liên quan đến sự tham gia của công chúng vào quá trình ban hành quyết định Điều này đã làm hạn chế quyền tiếp cận thông tin và quyền tham gia của công chúng, vi phạm nguyên tắc công bằng trong TCTT vì người không cư trú không có được giải pháp phù hợp khi quyền
lợi của họ bị xâm phạm Vì thế, người không cư trú cần thiết phải được có quyền khiếu
nại hay kháng cáo tương tự như chính cư dân của quốc gia đó, thúc đẩy người dân tích cực tìm hiểu thông tin và tham gia vào quá trình ban hành quyết định Điều 9 Khoản 3,
Công ước Helsinki 1992 về những tác động xuyên biên giới của các hoạt động công nghiệp quy định:
Các Bên sẽ, theo quy định của hệ thống pháp luật của họ, và nếu muốn, trên cơ sở hợp tác, cung cấp cho cá nhân hoặc pháp nhân đang bị hoặc có khả năng bị ảnh hưởng bất lợi bởi những tác động xuyên biên giới của một
Trang 27tai nạn công nghiệp trên lãnh thổ của một Bên… khả năng kháng cáo một quyết định ảnh hưởng đến quyền lợi của mình.
Hay chẳng hạn pháp luật ở Pháp, thừa nhận rằng người nước ngoài, bao gồm cả các hiệp hội và các tổ chức xã hội có thể đưa ra một đơn khiếu nại chống lại, ví dụ một
cơ quan chính quyền ở địa phương, khi có hành động xả thải vào một dòng sông quốc
tế gây hại cho môi trường quốc tế
d) Cung cấp các biện pháp khắc phục khi có thiệt hại:
Hay nói cách khác đây chính là yếu tố đảm bảo quyền được yêu cầu bồi thường thiệt hại của những người không cư trú, khi họ phải chịu sự ô nhiễm xuyên biên giới Đây là quy tắc được thừa nhận đảm bảo sự bình đẳng khi tiếp cận thông tin Tạm thời không đề cập đến vấn đề thẩm quyền xét xử, các quốc gia dù theo luật thành văn hay bất thành văn đều công nhận quyền được bồi thường thiệt hại của người không cư trú
Cũng tại Điều 9 Khoản 3, Công ước Helsinki 1992 về vấn đề những tác động xuyên
biên giới của các hoạt động công nghiệp đã nói rõ:
Các Bên sẽ, theo quy định của hệ thống pháp luật của họ, và nếu muốn, trên cơ sở hợp tác, cung cấp cho cá nhân hoặc pháp nhân đang bị hoặc có khả năng bị ảnh hưởng bất lợi bởi những tác động xuyên biên giới của một tai nạn công nghiệp trên lãnh thổ của một Bên, quyền tiếp cận, và phương
án khắc phục trong tố tụng hành chính và tư pháp có liên quan 27
Nội dung quy đinh này tuân thủ theo quyền được bồi thường thiệt hại và khắc phục hậu quả như đã nêu tại mục 1.1.2.1, và đảm bảo sự công bằng cho những người phải gánh chịu những bất lợi từ những người gây ra những bất lợi cho môi trường
“Không phân biệt đối xử” trong việc áp dụng pháp luật chính là một biểu hiện quan trọng của sự công bằng khi tiếp cận thông tin Có nghĩa là, một Nhà nước không thể phân biệt đối xử trong việc làm luật của mình dựa theo các nguồn gây tổn hại môi
27 Giáo sư Alexandre Kiss, tlđd, tr 97
Trang 28trường, bằng cách áp dụng pháp luật của mình ít nghiêm khắc hơn đối với hoạt động sản xuất gây hại cho môi trường chỉ vì những hoạt động đó nằm ngoài giới hạn lãnh thổ Do đó, ngay cả khi các chất độc hại, chất thải nguy hại được xuất khẩu ra nước ngoài thì Nhà nước vẫn phải kiểm soát và áp dụng pháp luật có liên quan của quốc gia mình Tương tự, một nhà máy xây dựng trên biên giới thải tất cả các chất gây ô nhiễm vào một dòng sông quốc tế, và ngay lập tức các chất gây ô nhiễm đó theo dòng chảy rời khỏi lãnh thổ của nó gây ảnh hưởng đến các nơi khác, phải bị áp dụng các quy định pháp luật tương tự như đối với việc xả thải của nhà máy thuộc thẩm quyền xét xử của Nhà nước đó.
Tóm lại, nguyên tắc thứ nhất của quyền TCTT môi trường đã giúp xác định được: chủ thể nào có quyền yêu cầu cung cấp thông tin; quyền được thông báo; quyền được khiếu nại cũng như quyền được bồi thường thiệt hại, khắc phục hậu quả của những chủ thể này trong vấn đề thông tin môi trường Thực hiện được các quyền đó cũng chính là đảm bảo sự công bằng, không phân biệt đối xử của người dân đối với thông tin
1.2.2 Nghĩa vụ cung cấp thông tin của cơ quan, tổ chức nắm giữ thông tin:
Xét trên phương diện lý thuyết, nguyên tắc này hình thành cùng với quyền TCTT môi trường của cộng đồng, vì nguyên tắc này đề cập đến nghĩa vụ cung cấp thông tin của cơ quan, tổ chức nắm giữ thông tin Quyền TCTT của người dân được thực hiện gắn liền với nghĩa vụ này Các chủ thể nắm giữ thông tin phải đảm bảo việc trả lời, cung cấp và công khai thông tin Khi nhận được yêu cầu từ chủ thể có quyền TCTT, chủ thể đang nắm giữ thông tin có nghĩa vụ trả lời cung cấp hay không cung cấp thông tin, đặc biệt là có những thông tin buộc các chủ thể đang quản lý phải đương nhiên công khai mà không cần có yêu cầu
Nội dung của nguyên tắc này thể hiện trong các vấn đề sau:
Trang 29a) Chủ thể cung cấp thông tin:
Liên quan đến vấn đề này, năm 1990 Cộng đồng Châu Âu đã ban hành Chỉ thị
tiếp cận thông tin môi trường; Chỉ thị này được xem là công cụ quốc tế đầu tiên tạo
ra quyền TCTT thông tin môi trường một cách hoàn chỉnh Bởi vì nội dung Chỉ thị đã đảm bảo quyền được tiếp cận và được phổ biến thông tin môi trường do các “cơ quan công quyền” nắm giữ trong toàn thể Cộng đồng Châu Âu Như vậy, theo Chỉ thị thì chủ thể có trách nhiệm cung cấp thông tin là “cơ quan công quyền” Thuật ngữ này được giải thích tại Điều 2 là “tất cả các cơ quan hành chính đều có trách nhiệm cung cấp thông tin liên quan đến môi trường”; tiếp đó, Điều 6 mở rộng phạm vi áp dụng đối với tất cả những cơ quan, tổ chức được thành lập từ cơ quan công quyền có trách nhiệm liên quan đến thông tin môi trường
Sau đó, Công ước 1993 về Trách nhiệm Dân sự, Chương III “Tiếp cận thông tin”
đã quy định rõ ràng hơn về chủ thể có nghĩa vụ cung cấp thông tin Theo đó, các cơ quan, tổ chức được thành lập từ cơ quan công quyền có hoạt động liên quan đến môi trường, đang nắm giữ thông tin môi trường, đều có nghĩa vụ cung cấp thông tin cho mọi người như chính cơ quan công quyền Bên cạnh đó, mọi người còn có quyền tiếp cận các thông tin riêng biệt được quản lý bởi những người thi hành, kể cả cơ quan lập pháp và tư pháp Tương tự quy định chung của Cộng đồng Châu Âu về vấn đề này, các quốc gia, khu vực khác đều xác định chủ thể có nghĩa vụ cung cấp thông tin nói chung,
thông tin môi trường nói riêng trong văn bản pháp lý quốc gia mình Chẳng hạn, Luật
Minh bạch và Tiếp cận thông tin của Peru, Điều 2 quy định các cơ quan Nhà nước
có trách nhiệm cung cấp thông tin là những cơ quan được quy định tại Luật Thủ tục hành chính, bao gồm các cơ quan thuộc cả 3 lĩnh vực hành pháp, lập pháp và tư pháp; chính quyền địa phương và khu vực; tất cả các cơ quan được Hiến pháp hoặc Luật trao quyền; các tổ chức, bộ phận của Nhà nước mà hoạt động của các đơn vị đó có sử dụng quyền lực hành chính; các đơn vị tư nhân cung cấp dịch vụ công hoặc cung cấp dịch vụ hành chính do Nhà nước ủy quyền, trao quyền hoặc thuê khoán; doanh nghiệp Nhà
Trang 30nước 28 Tương tự, Luật Tiếp cận thông tin của Thái Lan, được thông qua năm 1997,
quy định thông tin được tiếp cận là thông tin mà các cơ quan Nhà nước đang nắm giữ,
dù thông tin đó liên quan đến hoạt động của cơ quan Nhà nước hay cá nhân, bao quát hầu hết các cơ quan thuộc hành pháp, lập pháp và tư pháp cũng như một loạt các tổ chức khác, nhưng không bao gồm các tổ chức, cơ quan có sử dụng ngân sách Nhà nước 29
Như vậy, hầu hết các nước đều quy định phạm vi chủ thể thực hiện nghĩa vụ này rất rộng, bao gồm tất cả những cơ quan, tổ chức được giao chức năng hoạt động liên quan đến môi trường đều có nghĩa vụ cung cấp thông tin môi trường, trả lời khi nhận được yêu cầu cung cấp thông tin môi trường, dù là cơ quan lập pháp, hành pháp hay tư pháp
b) Nghĩa vụ trả lời, công khai, cung cấp thông tin:
Khi đã xác định chủ thể nào có nghĩa vụ cung cấp thông tin môi trường thì tiếp theo cần xác định nghĩa vụ này thực hiện như thế nào theo quy định quốc tế nhằm đảm bảo quyền TCTT môi trường của người dân Nghĩa vụ của các chủ thể này không chỉ đơn giản là công khai, phổ biến hay cung cấp những thông tin môi trường sẵn có cho cộng đồng, mà cần phải làm nhiều hơn thế, vì khi thông tin môi trường không được đưa đến công chúng kịp thời, đầy đủ sẽ gây ra nhiều hệ quả nghiêm trọng
Tiêu biểu là bài học từ vụ việc Anna Maria Guerra và 39 người khác kiện một nhà máy hóa chất ở Italy _ nhà máy sản xuất phân bón trong quá khứ Vụ kiện diễn ra khi những người nộp đơn cho rằng, trong quá trình sản xuất của nhà máy đã phát thải số lượng lớn khí dễ cháy có thể có phản ứng hóa học dẫn đến nổ, giải phóng các chất có độc tính cao Một tai nạn nghiêm trọng do trục trặc đã xảy ra vào ngày 26 tháng 9 năm
1976, khi tháp chà chứa các khí tổng hợp amoniac phát nổ, làm cho một vài tấn kali cacbonac và dung dịch bicacbonac, triôxít asen thoát ra ngoài Một trăm năm mươi
28 ThS Mai Thị Kim Huế, “Phạm vi chủ thể có trách nhiệm cung cấp thông tin”, Tạp chí nghiên cứu lập pháp số
154, 2009, tr 26
29 ThS Mai Thị Kim Huế, tlđd, tr 27
Trang 31người đã nhập viện vì ngộ độc asen cấp tính Những người khởi kiện cáo buộc rằng họ
là nạn nhân của hành vi vi phạm Điều 10, Công ước Châu Âu về Nhân quyền:
Mọi người đều có quyền tự do ngôn luận Quyền này bao gồm tự do giữ ý kiến và tiếp nhận và truyền đạt thông tin và ý tưởng mà không có sự can thiệp của cơ quan công quyền và không phân biệt biên giới.
Sự vi phạm của nhà máy được khẳng định là “kết quả từ sự thất bại của chính quyền trong việc thực hiện các bước đảm bảo cho công chúng được thông báo về những rủi ro, và những gì đã được thực hiện khi tai nạn xảy ra liên quan tới hoạt động của nhà máy Cơ quan Nhà nước đã không kịp thời nắm giữ thông tin và truyền đạt cho
cư dân địa phương đó” 30 Vụ kiện nêu trên đã bộc lộ vai trò quan trọng của thu thập,
tìm kiếm và phổ biến thông tin từ cơ quan công quyền cho người dân Do đó gần đây, một báo cáo vào tháng 7 năm 1996 của Ủy ban châu Âu về Nhân quyền căn cứ trên vụ
kiện vừa nêu, kết luận rằng Điều 10, Công ước Châu Âu về Nhân quyền ràng buộc
các quốc gia nghĩa vụ không chỉ là tiết lộ các thông tin có sẵn về môi trường cho công chúng, mà còn tích cực thu thập, đối chiếu và phổ biến thông tin, thu hút sự chú ý của công chúng Từ đó dẫn đến các quy định cụ thể về trách nhiệm của Nhà nước khi có bất cứ sự kiện tác động đến môi trường nào diễn ra Các cơ quan có thẩm quyền có trách nhiệm thu thập và cập nhập thông tin, giải thích thông tin một cách dễ hiểu để công chúng có thể tiếp cận được, thông báo cho công chúng loại thông tin môi trường
mà họ có và chủ động phổ biến một số loại thông tin nào đó; ví dụ như công bố các báo cáo về hiện trạng môi trường; hay khi có sự đe dọa sức khỏe con người, môi trường sắp xảy ra (như khả năng xảy ra một thảm họa hạt nhân) thì chính quyền ngay lập tức phải phân phối tất cả các thông tin do họ quản lý để có thể giúp đưa ra các biện pháp ngăn chặn hoặc giảm thiểu tác hại Đồng thời, cơ quan Nhà nước cũng phải quy
30 Tác giả dịch từ bản tiếng Anh, vụ kiện Guerra và Italia của Tòa Án Châu Âu về quyền con người, tại trang web của Trung tâm Nhân quyền Iceland, http://www.humanrights.is/
(Xem
http://www.humanrights.is/the-human-rights-rpoject/humanrightscasesandmaterials/cases/regionalcases/europeancourtofhumanrights/nr/2600 )
Và trang web Luật Hiến Pháp của Nhà nước Israel, http://www.constitution.org.il/
(Xem http://www.constitution.org.il/index.php?option=com_consti_comp&class=2&mytask=view&id=667 )
Trang 32định các thủ tục về việc thu thập thông tin; công bố các thông tin, các phân tích, báo cáo về tình trạng môi trường
Đặc biệt, cần phải có các quy định về trách nhiệm trả lời của cơ quan công quyền khi nhận được yêu cầu từ người dân, đảm bảo quyền được biết thông tin của người
dân Theo Công ước Aarhus năm 1998 của LHQ về tiếp cận thông tin, sự tham gia
của công chúng và tiếp cận tư pháp trong các vấn đề môi trường, quy định tại Điều
4, Điều 5 và Công ước OSPAR về Bảo vệ môi trường biển Đông Bắc Đại Tây
Dương 1992, “các cơ quan có thẩm quyền cần phải đáp ứng yêu cầu về thông tin môi
trường trong phạm vi một tháng (hai tháng đối với những trường hợp đặc biệt) kể từ khi có yêu cầu và không được bắt người có yêu cầu phải giải thích về sự cần thiết về thông tin đó” 31 Nếu thông tin rất khó sử dụng hoặc phức tạp, phải mất nhiều thời gian
biên dịch (có thể tới một tháng), thì phải có nghĩa vụ thông báo lý do chậm trễ cho cá nhân, tổ chức đã yêu cầu Ngược lại, cơ quan công quyền có quyền quyết định từ chối không cung cấp thông tin, nhưng quyết định này có thể bị khiếu nại Nhìn chung, khi nhận được yêu cầu cung cấp thông tin, cơ quan công quyền buộc phải trả lời theo yêu cầu, trong thời gian sớm nhất có thể Mọi hành vi vi phạm, như không trả lời cho người yêu cầu trong thời hạn bắt buộc, từ chối cung cấp thông tin theo quy định pháp luật, cố tình chậm trễ cung cấp thông tin gây khó khăn cho người yêu cầu, hay cung cấp không đầy đủ thông tin… đều có thể bị người yêu cầu khiếu nại và phải chịu trách nhiệm, có thể là trách nhiệm hành chính, thậm chí là trách nhiệm hình sự khi sự vi phạm của cá nhân có thẩm quyền gây ra những thiệt hại nghiêm trọng tới môi trường, sức khỏe và tính mạng của cộng đồng Đây là một phần trách nhiệm của các cơ quan công quyền
“để xuất bản, biên soạn và duy trì thông tin công cộng” 32
31 Tác giả dịch từ bản Tiếng Anh, Ủy Ban OSPAR bảo vệ và bảo tồn môi trường biển Đông Bắc Đại Tây Dương, trang web: http://www.ospar.org/
(Xem http://www.ospar.org/content/content.asp?menu=00340108070000_000000_000000 )
32 Tác giả dịch từ bản tiếng Anh, ấn phẩm “Quyền được có một môi trường trong sạch, lành mạnh” của Chương
trình Môi trường của LHQ, trang web: http://www.unep.org/
(Xem http://www.unep.org/dec/docs/Aarhus_Convention_English.pdf )
Trang 33Bên cạnh đó, các cơ quan có thẩm quyền có thể yêu cầu trả phí cung cấp thông tin nhưng phải trên cơ sở hợp lý, được hạn chế ở một mức độ phù hợp Vấn đề thu phí được đề cập vì có những thông tin muốn thu thập được phải trải qua nhiều giai đoạn, phức tạp và khó khăn, nên khi người yêu cầu muốn có được thông tin phục vụ cho nhu cầu của mình thì sẽ trải một khoản phí hợp lý cho công tác hành chính
Tóm lại, việc đề ra và yêu cầu tuân thủ nghĩa vụ công khai, cung cấp thông tin môi trường từ các Nhà nước, cơ quan công quyền nhằm bảo đảm tính minh bạch và kịp thời trong việc cung cấp thông tin; bảo đảm quyền TCTT môi trường chính đáng của cộng đồng Những nội dung cần thiết, quan trọng của nguyên tắc đã được thể hiện gần như
đầy đủ tại Tuyên ngôn về các Nguyên tắc Tự do Ngôn luận của Ủy ban Châu Phi
về quyền con người năm 2002, cụ thể tại Phần IV “Tự do thông tin”:
2 Quyền được thông tin được pháp luật bảo đảm phù hợp với các nguyên tắc sau:
Mọi người đều có quyền tiếp cận thông tin do các cơ quan Nhà nước nắm giữ; mọi người đều có quyền tiếp cận thông tin do các tổ chức tư nhân nắm giữ trong trường hợp thông tin đó là cần thiết cho việc thực hiện hoặc bảo
vệ bất kỳ quyền công dân nào; việc từ chối cung cấp thông tin có thể bị khiếu nại đến một cơ quan độc lập hoặc tòa án; các cơ quan Nhà nước, ngay cả trong trường hợp không có yêu cầu cũng phải chủ động công bố các thông tin quan trọng đối với các lợi ích thiết yếu của công chúng; những người cung cấp thông tin về các việc làm sai trái hoặc các thông tin công bố về một mối đe dọa nghiêm trọng đến sức khỏe, an toàn hoặc môi trường một cách ngay tình sẽ không thể bị trừng phạt trừ trường hợp việc trừng phạt là vì một lợi ích hợp pháp và là cần thiết trong một xã hội dân chủ; pháp luật về bảo vệ bí mật Nhà nước sẽ được sửa đổi trong phạm vi cần thiết để tuân thủ các nguyên tắc về tự do thông tin 33
33 ThS Nguyễn Quỳnh Liên, tlđd, tr 56
Trang 341.2.3 Đảm bảo lợi ích cộng đồng và bảo vệ bí mật Nhà nước, bí mật đời tư, bí mật kinh doanh:
Nguyên tắc này thực chất cũng chính là mục tiêu mà các quốc gia hướng đến, thông qua việc tạo điều kiện cho mọi người được TCTT, trong đó có thông tin môi trường Việc thực hiện nghĩa vụ cung cấp thông tin của cơ quan nắm giữ thông tin là tiền đề đảm bảo lợi ích cộng đồng Theo đó, vì lợi ích cộng đồng mà các cơ quan Nhà nước phải công khai, cung cấp thông tin môi trường rộng rãi Trong một số trường hợp, đối với thông tin không buộc phải công khai rộng rãi (phải yêu cầu mới được cung cấp) nhưng nếu việc công khai là cần thiết nhằm bảo vệ an toàn tính mạng, sức khoẻ của con người, bảo vệ môi trường, bảo vệ lợi ích cộng đồng thì cơ quan, tổ chức nắm giữ
thông tin có trách nhiệm công bố công khai dưới mọi hình thức Chẳng hạn, Công ước
Helsinki năm 1992 về bảo vệ và sử dụng nguồn nước xuyên biên giới và hồ quốc tế
đã quy định phạm vi của thông tin được đưa ra cho công chúng là rất rộng, đó là những thông tin môi trường cơ bản phải được công khai vì lợi ích công cộng, theo Điều 16 của Công ước thì:
1 Các Bên ven sông phải đảm bảo rằng thông tin về các điều kiện của vùng nước xuyên biên giới, các biện pháp thực hiện hoặc kế hoạch sẽ được thực hiện để ngăn chặn, kiểm soát và giảm thiểu tác động xuyên biên giới,
và hiệu quả của biện pháp đó, được làm sẵn cho công chúng Cho mục đích này, các bên ven sông phải đảm bảo rằng các thông tin sau đây được thực hiện cho công chúng:
a) Những tiêu chuẩn về chất lượng nước
b) Giấy phép được ban hành và các điều kiện cần thiết để có thể đáp ứng
Trang 35c) Kết quả của mẫu thử nước và chất thải lỏng được thực hiện vì mục đích theo dõi và đánh giá, cũng như kết quả kiểm tra tính phù hợp với các tiêu chuẩn chất lượng nước hoặc các điều kiện được cho phép khác
2 Các Bên ven sông phải đảm bảo rằng thông tin này sẽ có sẵn cho công chúng tại mọi thời điểm hợp lý để kiểm tra miễn phí hoặc trả phí, và sẽ cung cấp cho các thành viên của công chúng các phương tiện hợp lý cho việc thu thập từ các Bên ven sông, về thanh toán chi phí hợp lý, và các bản sao của những thông tin này 34
Hay như Phụ lục VIII, Công ước Helsinki 1992 về những tác động xuyên biên
giới của các hoạt động công nghiệp xác định các yếu tố của thông tin được phổ biến,
bao gồm: tên, địa chỉ của công ty; địa điểm của các hoạt động có thể gây hại; giải thích
sơ lược các thuật ngữ của hoạt động nguy hại, bao gồm những rủi ro, tên của các chất
và chế phẩm tham gia vào các hoạt động nguy hiểm, mô tả dấu hiệu, đặc điểm chính của những chất này; thông tin liên quan đến nguyên nhân tai nạn công nghiệp có thể xảy ra trong các hoạt động nguy hại, bao gồm các tác động xấu tiềm tàng trên các quần thể và môi trường; thông tin về việc nhân dân bị ảnh hưởng… Những thông tin này sẽ được cảnh báo và công khai đến nhân dân trong trường hợp xảy ra tai nạn công nghiệp
và thông tin về các giải pháp được tiến hành
Tất cả những thông tin liệt kê trong hai Công ước trên được xem là thông tin môi trường cơ bản và phải được công khai dù có yêu cầu hay không, vì đó là những thông tin cung cấp cho người dân kiến thức cần có đối với hoạt động ảnh hưởng đến môi trường
Xu thế hiện nay của các quốc gia trên thế giới là liệt kê những thông tin môi trường buộc phải cung cấp cho cộng đồng biết trong các văn bản pháp luật của quốc
34 Giáo sư Alexandre Kiss, tlđd, tr 96
Trang 36gia mình Ví dụ như Khoản 2 Điều 51, Luật Môi trường của Cộng hòa Macedonia
liệt kê những thông tin môi trường phải được công khai liên quan đến:
1 Tình trạng của thành phần môi trường, như không khí, bầu khí quyển, nước, đất, sự đa dạng của hệ sinh thái và cảnh quan tự nhiên, bao gồm cả các sinh vật biến đổi gen;
2 Các yếu tố, như chẳng hạn như vật chất tự nhiên, năng lượng, nhiên liệu hạt nhân và năng lượng hạt nhân, tiếng ồn, bức xạ hoặc chất thải, bao gồm cả chất thải phóng xạ, khí thải và các dạng xả thải khác vào môi trường, ảnh hưởng hoặc có khả năng ảnh hưởng đến môi trường và sự sống, sức khỏe con người;
3 Các biện pháp, bao gồm cả biện pháp hành chính, chẳng hạn như chính sách,
pháp luật, kế hoạch, chương trình, các thỏa thuận về các vấn đề môi trường, cũng như các hoạt động trực tiếp hoặc gián tiếp ảnh hưởng đến môi trường, các yếu tố của môi trường, và các biện pháp hoặc các hoạt động để bảo vệ những yếu tố đó;
4 Các báo cáo, về việc thực hiện pháp luật môi trường và các luật hay các nguyên tắc có liên quan khác;
5 Các phân tích chi phí lợi nhuận, các phân tích tài chính, kinh tế khác và các giả định được áp dụng như các biện pháp và hoạt động nhằm mục đícch bảo vệ và cải thiện môi trường;
6 Các điều kiện liên quan đến cuộc sống, sức khỏe, an toàn của con người, an toàn thực phẩm, điều kiện sống của con người, các trang web văn hóa quan trọng; các mức độ mà con người bị ảnh hưởng hay có khả
Trang 37năng bị ảnh hưởng bởi môi trường, hoặc thông qua tác động của các thành phần, yếu tố môi trường 35
Do đó, để bảo vệ lợi ích của cộng đồng thì phạm vi thông tin về môi trường được công khai càng rộng, số lượng càng nhiều, càng chính xác sẽ càng tốt
Tuy nhiên, bảo đảm lợi ích cho cộng đồng phải đi đôi với bảo đảm lợi ích chính đáng của cá nhân, bảo vệ được bí mật của Nhà nước, bí mật kinh doanh của các doanh nghiệp, vì khi thông tin được tiếp cận một cách quá tự do, không có sự kiểm soát sẽ gây bất lợi lớn cho mỗi cá nhân, tổ chức, mỗi quốc gia Trong thực tế, để bảo vệ an ninh, chủ quyền quốc gia, để đảm bảo sự hoạt động bình thường của các tổ chức, doanh nghiệp trong xã hội cần có hình thức bảo mật một số thông tin nhất định Đây là
sự giới hạn duy nhất của quyền TCTT, không chỉ riêng trong các quy định pháp luật quốc tế về môi trường mà hầu hết các luật tiếp cận thông tin của các quốc gia đều có những quy định về hạn chế tiếp cận các thông tin và coi những thông tin này thuộc trường hợp ngoại lệ _ không thuộc diện thông tin phải công bố, cung cấp theo yêu cầu (trừ trường hợp muốn tiếp cận phải có những điều kiện nhất định và điều kiện đó cũng phải được pháp luật quy định cụ thể) Dựa trên nguyên tắc này mà các chủ thể nắm giữ thông tin có thể từ chối công khai, cung cấp thông tin một cách hợp pháp khi những thông tin đó là những thông tin cần được bảo mật Đối với thông tin môi trường thì càng phải thận trọng, vì thông tin môi trường là dạng thông tin nhạy cảm và ảnh hưởng
lớn đến cuộc sống, hoạt động của rất nhiều cá nhân, tổ chức Theo Chỉ thị về TCTT
môi trường của Châu Âu năm 1990, thông tin có thể được giữ kín nếu như việc cung
cấp sẽ ảnh hưởng nghiêm trọng đến tính bí mật của quá trình tố tụng, đến quan hệ quốc
tế, đến quốc phòng và an ninh quốc gia, trật tự công cộng, đến công lý, điều tra, xét xử công bằng và thi hành pháp luật, đến bí mật thương mại, quyền sở hữu trí tuệ, các thông tin cá nhân và các thông tin nhạy cảm về môi trường, các thông tin mà nếu công
35 Tác giả dịch từ bản tiếng Anh, Bộ Môi trường và Kế hoạch Vật lý nước Cộng hòa Macedonia, trang web: http://www.moepp.gov.mk/
(Xem http://www.moepp.gov.mk/WBStorage/Files/Law%20on%20Environment.pdf )
Trang 38khai có thể gây tổn hại cho môi trường, chẳng hạn như các trang điện tử của các giống loài quý hiếm Có những trường hợp, dù theo quy định sẽ được yêu cầu cung cấp thông tin nhưng chủ thể quản lý thông tin có thể từ chối cung cấp khi thông tin yêu cầu không
có, không hợp lý, hoặc yêu cầu đưa ra quá tổng quát, chung chung Chi tiết danh mục những thông tin nào thuộc trường hợp cần được bảo mật, khi tiến hành nội luật hóa những cam kết quốc tế về TCTT và dựa trên hoàn cảnh riêng biệt của mình, các quốc
gia đã quy định trong pháp luật quốc gia mình Có thể nêu ví dụ Điều 9, Luật Tiếp
Cận Thông Tin của Cộng Hòa Serbia quy định các thông tin mà cơ quan công quyền
có thể từ chối cung cấp khi những thông tin đó:
1 Để lộ các nguy cơ về đời sống, sức khỏe, an toàn hoặc lợi ích quan trọng khác của một cá nhân;
2 Gây nguy hiểm, cản trở hay trì hoãn việc ngăn chặn hoặc phát hiện hành vi phạm tội hình sự, khởi tố tội phạm, điều tra, xét xử, thi hành án, hay bất kỳ thủ tục pháp lý khác;
3 Gây nguy hiểm cho an ninh quốc phòng, hay quan hệ quốc tế;
4 Nguy cơ làm suy yếu khả năng quản lý chính sách kinh tế của Chính phủ hay cản trở đáng kể việc thực hiện các quyền lợi kinh tế hợp lý;
5 Là những thông tin hay tài liệu đủ các điều kiện luật định, được lưu giữ như là bí mật Nhà nước, bí mật kinh doanh, các bí mật khác… nếu việc công bố có thể gây hậu quả nghiêm trọng hay làm phương hại đến những lợi ích được pháp luật bảo vệ và có giá trị lớn hơn mục đích đạt được khi tiếp cận 36
36 Tác giả dịch từ bản Tiếng Anh, Tổ chức Bảo mật Quốc tế, trang web: http://www.privacyinternational.org/ (Xem http://www.privacyinternational.org/countries/serbia/serbia-foi-law-2004.pdf )
Trang 39Vấn đề đặt ra là có tồn tại mâu thuẫn giữa việc quy định bảo mật một số thông tin môi trường với xu thế phổ biến thông tin càng nhiều cho người dân thì càng ích lợi Câu trả lời là không, vì cả hai xu thế này thực chất cùng đạt đến một mục đích là bảo
vệ quyền lợi chung cho cả người dân lẫn Nhà nước, thực hiện quyền TCTT của mọi người Lợi ích của việc công khai, cung cấp thông tin môi trường đã quá rõ ràng, còn việc hạn chế một số thông tin không cung cấp là một cách thức bảo vệ lợi ích chung trong những trường hợp cần thiết, không vì thực hiện quyền TCTT của cá nhân, tổ chức này mà lại xâm hại sự riêng tư, quyền lợi của cá nhân, tổ chức khác Tuy thông tin môi trường được khuyến khích công bố rộng rãi cho người dân nhưng với những thông tin có tính chất nghiêm trọng và có khả năng dẫn đến nhiều hệ quả không tốt khi chưa được làm rõ, kiểm chứng; hoặc những thông tin môi trường thuộc bí mật quốc gia, bí mật kinh doanh được bảo hộ thì việc mọi người đều biết có thể sẽ mang lại những rối loạn hay tác động xấu đến cộng đồng, xã hội
Tóm lại, nguyên tắc này kết hợp cả hai xu thế hiện nay về quyền TCTT môi trường
để đảm bảo phát triển tốt nhất cho Nhà nước và cộng đồng Sự giới hạn quyền TCTT môi trường của cộng đồng chỉ có thể xảy ra trong những trường hợp hết sức đặc biệt, khi có những lý do thật hợp lý, và phải được thực hiện vì quyền lợi của công dân, không đi ngược lại quyền tiếp cận thông tin của họ Bên cạnh đó, không vì lý do bảo vệ lợi ích quốc gia, lợi ích xã hội mà lạm dụng vấn đề “bảo mật” để hạn chế bớt thông tin,
khiến cho quyền TCTT không được thực thi hiệu quả Như Công ước Aarhus năm
1998 của LHQ về tiếp cận thông tin, sự tham gia của công chúng và tiếp cận tư pháp trong các vấn đề môi trường hạn chế khả năng của các cơ quan Nhà nước viện
dẫn lý do các bí mật thương mại làm cơ sở từ chối việc cung cấp thông tin về môi trường
1.3 Các phương thức cung cấp và tiếp nhận thông tin môi trường:
Những phương thức này xuất phát từ nghĩa vụ hợp tác quốc tế và nghĩa vụ thông tin của quốc gia trong vấn đề môi trường toàn cầu Thông qua các phương thức này,
Trang 40thông tin môi trường đã được truyền đi từ chủ thể này sang chủ thể khác; và trên cơ sở các nguyên tắc TCTT môi trường, những phương thức này đã tạo điều kiện cho quyền TCTT môi trường được đảm bảo, thống nhất ở hầu hết các quốc gia
1.3.1 Trao đổi thông tin:
Các cách thức cũng như nhiệm vụ trao đổi thông tin môi trường được ghi nhận trong hầu hết tất cả các thỏa thuận môi trường quốc tế
“Trao đổi thông tin” được hiểu là nghĩa vụ của một Nhà nước cung cấp thông tin
về một hay nhiều vấn đề đặc biệt cho Nhà nước khác, đặc biệt là thông tin khoa học, kỹ thuật và môi trường Cần phân biệt “trao đổi thông tin” với nghĩa vụ “báo cáo” hoặc nghĩa vụ “thông báo” của Nhà nước “Trao đổi thông tin môi trường” đề cập đến các thông tin được yêu cầu chung, hầu hết liên quan đến lĩnh vực khoa học kỹ thuật đối với môi trường; còn nghĩa vụ “báo cáo” quy định trách nhiệm cung cấp thông tin thường xuyên hay định kỳ cho các chủ thể đã được quy định; nghĩa vụ “thông báo” được thực hiện khi có thông tin chi tiết về sự xuất hiện của một sự kiện môi trường, như tai nạn hay trường hợp khẩn cấp
“Trao đổi thông tin” được ghi nhận tại Nguyên tắc 20, Tuyên bố Stockholm 1972
về Môi trường và Con người và Nguyên tắc 9, Tuyên bố Rio 1992 về Môi trường
và Phát triển, trong đó yêu cầu các quốc gia hỗ trợ trao đổi các kiến thức khoa học, kỹ
thuật và môi trường nhằm thúc đẩy sự “phát triển bền vững” của mỗi quốc gia 37 Các
văn bản khác có liên quan bao gồm Nguyên tắc 7, Dự thảo Các Nguyên tắc Ứng Xử
năm 1978 của Chương trình Môi trường LHQ (UNEP), kêu gọi trao đổi thông tin môi
trường dựa trên nguyên tắc hợp tác và tinh thần hữu nghị giữa các quốc gia láng giềng;
Điều 5 Những Nguyên tắc Pháp Lý năm 1986 của Nhóm chuyên gia pháp lý Hội
đồng Thế giới về Môi trường và Phát triển (WCED), hỗ trợ trao đổi thông tin giữa
các quốc gia theo yêu cầu một cách kịp thời, liên quan đến tài nguyên thiên nhiên xuyên biên giới Các quốc gia có thể được yêu cầu trao đổi thông tin đối với các vấn đề
37 Philippe Sands, tlđd, tr 598