1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Quyền tiếp cận thông tin về đất đai của công dân

72 5 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Quyền Tiếp Cận Thông Tin Về Đất Đai Của Công Dân
Tác giả Lâm Thị Bích Trâm
Người hướng dẫn TS. Thái Thị Tuyết Dung
Trường học Trường Đại Học Luật Tp Hồ Chí Minh
Chuyên ngành Luật Hiến Pháp và Luật Hành Chính
Thể loại Luận Văn Thạc Sĩ
Năm xuất bản 2018
Thành phố Tp. Hồ Chí Minh
Định dạng
Số trang 72
Dung lượng 1,82 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Cấu trúc

  • CHƯƠNG 1. KHÁI QUÁT VỀ QUYỀN TIẾP CẬN THÔNG TIN VỀ ĐẤT ĐAI CỦA CÔNG DÂN (12)
    • 1.1. Cơ sở lý luận về quyền tiếp cận thông tin về đất đai của công dân (12)
      • 1.1.1. Khái niệm quyền tiếp cận thông tin về đất đai của công dân (12)
      • 1.1.2. Nội dung quyền tiếp cận thông tin về đất đai của công dân (14)
      • 1.1.3. Ý nghĩa của quyền tiếp cận thông tin về đất đai của công dân (17)
    • 1.2. Quá trình phát triển của quyền tiếp cận thông tin về đất đai của công dân (19)
      • 1.2.1. Giai đoạn từ trước năm 2003 (19)
      • 1.2.2. Giai đoạn từ năm 2003 đến trước năm 2013 (19)
      • 1.2.3. Giai đoạn từ năm 2013 đến nay (21)
    • 1.3. Quy định pháp luật về quyền tiếp cận thông tin về đất đai của công dân (22)
      • 1.3.1. Pháp luật về quyền tiếp nhận thông tin về đất đai (22)
      • 1.3.2. Pháp luật về quyền tìm kiếm thông tin về đất đai (29)
  • CHƯƠNG 2. THỰC TRẠNG QUYỀN TIẾP CẬN THÔNG TIN VỀ ĐẤT ĐAI CỦA CÔNG DÂN VÀ MỘT SỐ KIẾN NGHỊ (36)
    • 2.1. Thực trạng quyền tiếp cận thông tin về đất đai của công dân (36)
      • 2.1.1. Thực trạng quyền tiếp nhận thông tin về đất đai (36)
      • 2.1.2. Thực trạng quyền tìm kiếm thông tin về đất đai (38)
    • 2.2. Nguyên nhân của thực trạng về quyền tiếp cận thông tin về đất đai của công dân (41)
      • 2.2.1. Hệ thống quy định pháp luật (41)
      • 2.2.2. Cơ cấu tổ chức cơ quan quản lý đất đai (43)
      • 2.2.3. Bộ máy nhân sự cơ quan quản lý đất đai (45)
      • 2.2.4. Trang thiết bị kỹ thuật và nguồn vốn đầu tư (49)
      • 2.2.6. Hệ thống thông tin đất đai (54)
      • 2.2.7. Ý thức của người sử dụng đất (57)
    • 2.3. Phương hướng hoàn thiện pháp luật đảm bảo quyền tiếp cận thông tin về đất đai của công dân (58)
      • 2.3.1. Hoàn thiện hệ thống, chính sách pháp luật (58)
      • 2.3.2. Kiện toàn cơ cấu tổ chức cơ quan quản lý đất đai (61)
      • 2.3.3. Nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ quản lý đất đai (61)
      • 2.3.4. Xây dựng và hoàn thiện hồ sơ địa chính, hệ thống thông tin đất đai (63)
      • 2.3.5. Nâng cao ý thức, phát huy vai trò của người sử dụng đất trong việc đảm bảo quyền tiếp cận thông tin trong hồ sơ địa chính (66)
  • KẾT LUẬN (67)

Nội dung

KHÁI QUÁT VỀ QUYỀN TIẾP CẬN THÔNG TIN VỀ ĐẤT ĐAI CỦA CÔNG DÂN

Cơ sở lý luận về quyền tiếp cận thông tin về đất đai của công dân

1.1.1 Khái niệm quyền tiếp cận thông tin về đất đai của công dân

Thông tin là nhu cầu thiết yếu của con người trong xã hội, đóng vai trò quan trọng trong sự phát triển và tiến hóa của nhân loại, đặc biệt là thông tin do cơ quan nhà nước quản lý Quyền tiếp cận thông tin đã được ghi nhận là một trong những quyền pháp lý quan trọng của con người trong pháp luật quốc tế Điều 19 của Tuyên ngôn toàn thế giới về nhân quyền năm 1948 và Công ước quốc tế về các quyền dân sự và chính trị năm 1966 khẳng định rằng mọi người đều có quyền tự do ngôn luận, bao gồm quyền tìm kiếm, tiếp nhận và truyền đạt thông tin mà không bị hạn chế Quyền tiếp cận thông tin là một quyền con người độc lập, nằm trong phạm vi quyền tự do ngôn luận Các quốc gia khác nhau sử dụng các thuật ngữ khác nhau để quy định quyền này, như Luật tự do thông tin của Nauy hay Luật công khai thông tin của Hàn Quốc, nhưng đều có điểm chung là thông tin được tiếp cận là thông tin do cơ quan nhà nước nắm giữ.

2 Nguyễn Đăng Dung và đồng chủ biên (2011), Tiếp cận thông tin: pháp luật và thực tiễn trên thế giới và

Việt Nam, NXB Đại học Quốc gia Hà Nội, tr.537

Theo Toby Mendel (2003) trong cuốn "Tự do thông tin: Một khảo sát so sánh pháp lý" của UNESCO, quyền tiếp cận thông tin của công dân bao gồm việc nhận thông tin từ cơ quan nhà nước và yêu cầu cung cấp thông tin từ các bên có trách nhiệm Tại Việt Nam, quyền được thông tin lần đầu tiên được ghi nhận trong Hiến pháp năm 1992, quy định rằng “công dân… có quyền được thông tin… theo quy định của pháp luật” Hiến pháp năm 2013 đã tiếp tục khẳng định và nâng cao quyền này.

Quyền tiếp cận thông tin của công dân được khẳng định trong Điều 25 Hiến pháp năm 2013, cho phép công dân tự do ngôn luận, tự do báo chí, và tiếp cận thông tin Để cụ thể hóa quyền này, Luật Tiếp cận thông tin năm 2016 đã được ban hành, tạo khung pháp lý bảo vệ và đảm bảo quyền tiếp cận thông tin Theo luật, thông tin được định nghĩa là dữ liệu có trong văn bản, hồ sơ, tài liệu dưới nhiều dạng khác nhau Quyền tiếp cận thông tin bao gồm việc đọc, xem, nghe, ghi chép, sao chép và chụp thông tin, trong khi việc cung cấp thông tin được thực hiện thông qua việc cơ quan nhà nước công khai hoặc đáp ứng yêu cầu của công dân Do đó, công dân có quyền tiếp nhận thông tin công khai hoặc yêu cầu cơ quan nhà nước cung cấp thông tin cần thiết.

Thông tin do cơ quan nhà nước nắm giữ có ảnh hưởng lớn đến đời sống xã hội, đặc biệt là thông tin về đất đai Đất đai giữ vai trò quan trọng trong các lĩnh vực kinh tế, chính trị và văn hóa, ảnh hưởng trực tiếp đến cuộc sống của người dân và sự phát triển của nhà nước.

5 Khoản 1 Điều 3 Luật tiếp cận thông tin năm 2016

6 Khoản 3 Điều 3 Luật tiếp cận thông tin năm 2016

Khoản 4 Điều 3 Luật tiếp cận thông tin năm 2016 quy định rằng thông tin đất đai có vai trò quan trọng trong đời sống và hoạt động của người dân cũng như của nhà nước Thông tin này bao gồm quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất, thông tin thửa đất, người sử dụng và quản lý đất, hình thức và nguồn gốc sử dụng đất, thời hạn, mục đích, giá đất, hạn chế quyền sử dụng và nghĩa vụ tài chính liên quan Các thông tin này tồn tại dưới nhiều dạng như bản viết, bản in và bản điện tử, được lưu trữ trong các văn bản, hồ sơ và tài liệu do cơ quan nhà nước tạo ra Cơ quan có thẩm quyền sẽ công khai hoặc cung cấp thông tin đất đai khi có yêu cầu từ công dân, tuy nhiên, quyền tiếp cận thông tin không phải là quyền tuyệt đối và không phải tất cả thông tin đều có thể được tiếp cận.

Quyền tiếp cận thông tin về đất đai của công dân được hiểu là khả năng nhận và tìm kiếm thông tin liên quan đến đất đai từ các cơ quan nhà nước Công dân có quyền nhận thông tin công khai và yêu cầu các cơ quan nhà nước cung cấp thông tin về đất đai khi cần thiết.

1.1.2 Nội dung quyền tiếp cận thông tin về đất đai của công dân

Quyền tiếp cận thông tin bao gồm quyền tiếp nhận, tìm kiếm và phổ biến thông tin Quyền tiếp nhận thông tin cho phép công dân nhận được thông tin cần thiết từ các kênh truyền thông công khai mà không cần yêu cầu Trong khi đó, quyền tìm kiếm thông tin cho phép công dân yêu cầu các chủ thể có nghĩa vụ cung cấp thông tin trong khuôn khổ pháp luật cho phép.

Quyền phổ biến thông tin là khả năng của cá nhân hoặc tổ chức trong việc truyền đạt và chia sẻ thông tin mà không bị giới hạn bởi biên giới hay hình thức Tuy nhiên, có ý kiến cho rằng quyền tiếp cận thông tin chỉ bao gồm quyền nhận và tìm kiếm thông tin Người viết đồng tình với quan điểm này, vì quyền phổ biến thông tin là một phần của quyền tự do thông tin, quyền này có nội hàm rộng hơn so với quyền tiếp cận thông tin.

8 Nguyễn Đăng Dung và đồng chủ biên, tlđd (2), tr.574

9 Lê Thị Hồng Nhung (2011), “Tiếp cận quyền tiếp cận thông tin dưới góc độ quyền con người”, Tạp chí

Quyền tiếp cận thông tin về đất đai bao gồm hai thành tố chính: quyền nhận thông tin và quyền tìm kiếm thông tin liên quan đến đất đai.

Quyền tiếp nhận thông tin về đất đai của công dân bao gồm khả năng nhận thông tin công khai từ Nhà nước Để thực hiện quyền này, Nhà nước cần công khai thông tin về quy hoạch và kế hoạch sử dụng đất qua nhiều hình thức, như trên trang thông tin điện tử của Bộ Tài nguyên và Môi trường và các cấp ủy ban nhân dân Các cuộc hội nghị cũng cần được tổ chức để lấy ý kiến nhân dân về quy hoạch cấp huyện Sau khi quy hoạch được phê duyệt, thông tin phải được công bố công khai tại trụ sở cơ quan và trên website Trong trường hợp thu hồi đất, Nhà nước phải thông báo đến từng cá nhân bị ảnh hưởng và tổ chức họp để lấy ý kiến về phương án bồi thường, hỗ trợ, tái định cư Sau khi phương án được phê duyệt, quyết định cũng phải được niêm yết công khai tại trụ sở ủy ban nhân dân cấp xã và nơi sinh hoạt chung của cộng đồng Như vậy, công dân có thể tiếp nhận thông tin về quy hoạch, bồi thường và tái định cư qua các kênh công khai và các cuộc họp trực tiếp.

Nhà nước cần chủ động công khai thông tin về đất đai để công dân có thể thực hiện quyền tiếp nhận thông tin Quyền này thể hiện tính chủ động của Nhà nước trong việc cung cấp thông tin Việc công dân tiếp nhận thông tin chính là kết quả từ chế độ công khai của Nhà nước, do đó, Nhà nước phải đảm bảo thông tin về đất đai được công khai một cách dễ tiếp cận cho người dân.

10 Điều 42 Luật Đất đai năm 2013

11 Điều 48 Luật Đất đai năm 2013

Điều 69 Luật Đất đai năm 2013 quy định rằng thông tin về đất đai phải được công khai một cách đầy đủ và kịp thời để bảo đảm quyền tiếp nhận thông tin của công dân Để đáp ứng nhu cầu của mọi đối tượng, thông tin cần được truyền đạt qua nhiều hình thức khác nhau, giúp công dân từ các vùng miền và trình độ dân trí khác nhau có thể tiếp cận dễ dàng Sự đa dạng trong hình thức công khai và phạm vi thông tin sẽ tạo điều kiện thuận lợi cho người dân trong việc tìm hiểu về đất đai.

Quyền tìm kiếm thông tin về đất đai cho phép công dân yêu cầu các cơ quan có trách nhiệm cung cấp thông tin mà họ nắm giữ Điều này thể hiện tính chủ động của công dân trong việc tiếp cận thông tin, bởi không phải tất cả thông tin về đất đai đều được công khai Do đó, công dân cần yêu cầu Nhà nước cung cấp thông tin Quyền tìm kiếm thông tin của công dân tương ứng với nghĩa vụ cung cấp thông tin của Nhà nước Công dân có thể tìm kiếm thông tin bằng cách đến trực tiếp trụ sở hoặc gửi yêu cầu qua mạng điện tử, bưu chính, hoặc fax Các cơ quan phải cung cấp thông tin tại trụ sở hoặc qua các hình thức trực tuyến Trong khi công dân không phải trả phí cho thông tin đã công khai, họ sẽ phải trả phí khi yêu cầu thông tin không công khai.

Khi nhận được phiếu yêu cầu hợp lệ, cơ quan có trách nhiệm cung cấp thông tin cho cá nhân yêu cầu Tuy nhiên, không phải tất cả thông tin đều có thể được cung cấp Những thông tin liên quan đến người sử dụng đất, thuộc tính thửa đất của các đơn vị quốc phòng, an ninh; thông tin cá nhân của người sử dụng đất và chủ sở hữu tài sản gắn liền với đất mà họ yêu cầu bảo mật theo quy định pháp luật, cùng với các thông tin khác được quy định về bảo vệ bí mật Nhà nước, sẽ được quản lý ở chế độ mật.

13 Thái Thị Tuyết Dung (2015), Quyền tiếp cận thông tin của công dân ở Việt Nam, NXB Đại học Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh, tr.27

14 Điều 24 Luật Tiếp cận thông tin năm 2016

Theo Điều 25 của Luật Tiếp cận thông tin năm 2016, có 15 trường hợp mà thông tin sẽ không được cung cấp khi có yêu cầu Không phải mọi yêu cầu đều được chấp nhận, ngay cả khi thông tin không thuộc chế độ mật Các lý do từ chối có thể bao gồm việc người yêu cầu chưa thực hiện nghĩa vụ tài chính, nội dung yêu cầu không rõ ràng hoặc mục đích sử dụng thông tin không phù hợp với quy định pháp luật Trong trường hợp từ chối cung cấp thông tin, cơ quan có trách nhiệm phải gửi văn bản trả lời nêu rõ lý do từ chối.

Quá trình phát triển của quyền tiếp cận thông tin về đất đai của công dân

sở để công dân thực hiện quyền giám sát trong quản lý, sử dụng đất đai

1.2 Quá trình phát triển của quyền tiếp cận thông tin về đất đai của công dân

1.2.1 Giai đoạn từ trước năm 2003

Việt Nam tham gia Công ước quốc tế về quyền dân sự và chính trị từ năm

Hiến pháp năm 1992 lần đầu tiên ghi nhận quyền được thông tin của công dân, nhưng quyền tiếp cận thông tin về đất đai chưa được luật hóa trong Luật Đất đai năm 1993 và các sửa đổi năm 1998, 2001 Thực tế, quyền này chủ yếu dựa vào các quy định về dân chủ ở cơ sở, như Chỉ thị 30/CT-TW ngày 18/02/1998 của Ban Chấp hành Trung ương Đảng, yêu cầu thông tin về pháp luật và chính sách Nhà nước phải được cung cấp cho người dân Nghị định 29/1998/NĐ-CP ngày 11/5/1998 cũng quy định trách nhiệm của chính quyền địa phương trong việc công khai thông tin quy hoạch và kế hoạch sử dụng đất Tuy nhiên, trước năm 2003, quyền tiếp cận thông tin, đặc biệt là thông tin về đất đai, vẫn chỉ được ghi nhận một cách rời rạc thông qua các quy định về thực hiện dân chủ ở cơ sở.

1.2.2 Giai đoạn từ năm 2003 đến trước năm 2013

Luật Đất đai năm 2003 cùng với các văn bản hướng dẫn thi hành đã mang lại những cải tiến đáng kể trong việc công dân tiếp cận thông tin về đất đai Những thay đổi này không chỉ nâng cao tính minh bạch mà còn tạo điều kiện thuận lợi cho người dân trong việc tìm hiểu quyền lợi và nghĩa vụ liên quan đến đất đai.

20 Điều 199 Luật Đất đai năm 2013 đất đai Đơn cử như quy định công bố công khai quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất tại Điều 28 Luật Đất đai năm 2003:

Trong vòng ba mươi ngày làm việc kể từ khi cơ quan nhà nước có thẩm quyền ra quyết định hoặc phê duyệt quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất, việc công bố thông tin phải được thực hiện công khai theo quy định.

1 Uỷ ban nhân dân xã, phường, thị trấn có trách nhiệm công bố công khai quy hoạch sử dụng đất chi tiết, kế hoạch sử dụng đất chi tiết của địa phương tại trụ sở Uỷ ban nhân dân;

2 Cơ quan quản lý đất đai các cấp có trách nhiệm công bố công khai quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất của địa phương tại trụ sở cơ quan và trên các phương tiện thông tin đại chúng.”

Luật đã xác định rõ trách nhiệm công bố quy hoạch và kế hoạch sử dụng đất, tạo điều kiện thuận lợi cho người dân tiếp cận thông tin Thông tin về giá đất do Nhà nước quy định cũng cần được công khai Dù giá đất nhà nước còn chênh lệch so với giá thị trường, việc công khai khung giá đất và bảng giá đất giúp người sử dụng đất xác định nghĩa vụ tài chính và tiền bồi thường khi Nhà nước thu hồi đất.

Trong giai đoạn hiện nay, các nhà lập pháp đã quy định rõ ràng về việc cung cấp thông tin đất đai trong hồ sơ địa chính Theo Thông tư 29/2004/TT-BTNMT, các Văn phòng Đăng ký quyền sử dụng đất cấp tỉnh, huyện và Ủy ban nhân dân cấp xã có trách nhiệm cung cấp thông tin khi có yêu cầu từ tổ chức, cá nhân Dịch vụ thông tin đất đai được thực hiện qua các hình thức như tra cứu thông tin, trích lục bản đồ địa chính cho từng thửa đất, trích sao sổ địa chính và sổ mục kê đất đai.

21 Điều 56 Luật Đất đai năm 2003 (sửa đổi, bổ sung năm 2009)

22 Vũ Ngọc Hà, “Một số bất cập của Luật Đất đai 2003”, https://thanhtra.thuathienhue.gov.vn/?gd=1&cn

Thông tư 09/2007/TT-BTNMT, được ban hành theo Mục VII của Thông tư 29/2004/TT-BTNMT, hướng dẫn việc lập, chỉnh lý và quản lý hồ sơ địa chính Thông tư này thay thế cho Thông tư 29/2004/TT-BTNMT và quy định về cung cấp thông tin trong hồ sơ địa chính vẫn giữ nguyên các nội dung tương tự như trong Thông tư trước đó.

Kể từ khi Luật Đất đai năm 2003 được ban hành, quy định về quyền tiếp cận thông tin đất đai của công dân đã được cải thiện, tuy nhiên vẫn còn phân tán trong nhiều văn bản khác nhau.

1.2.3 Giai đoạn từ năm 2013 đến nay

Hiến pháp năm 2013 đã nhấn mạnh quyền con người và quyền tiếp cận thông tin của công dân, đặc biệt là trong lĩnh vực đất đai Luật Đất đai năm 2013 đã cụ thể hóa quyền này, cho phép công dân khai thác và sử dụng thông tin đất đai qua hệ thống thông tin đất đai ở trung ương và địa phương Đồng thời, Nhà nước có nghĩa vụ cung cấp thông tin và xây dựng, quản lý hệ thống thông tin đất đai, đảm bảo quyền tiếp cận của tổ chức, cá nhân Thông tin về quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất và giá đất được công bố công khai, trừ những thông tin bí mật theo quy định pháp luật, nhằm tạo điều kiện thuận lợi cho công dân trong việc tiếp cận thông tin đất đai.

Vào ngày 04/06/2016, Quốc hội đã thông qua Luật Tiếp cận thông tin, đánh dấu bước tiến quan trọng trong việc bảo vệ quyền tiếp cận thông tin của công dân theo hiến pháp Đây là lần đầu tiên, Nhà nước cam kết đảm bảo quyền này thông qua một đạo luật với nội dung chi tiết và rõ ràng.

24 Điều 28 Luật Đất đai năm 2013 đủ Đây là một hành lang pháp lý vững chắc để công dân thực hiện quyền tiếp cận thông tin về đất đai.

Quy định pháp luật về quyền tiếp cận thông tin về đất đai của công dân

1.3.1 Pháp luật về quyền tiếp nhận thông tin về đất đai

1.3.1.1 Chủ thể có quyền tiếp nhận thông tin về đất đai

Nhà nước công khai thông tin về đất đai nhằm đảm bảo mọi người, bao gồm cả đối tượng trong nước và nước ngoài, đều có quyền tiếp cận Quy trình này được thực hiện thông qua việc công khai nội dung quy hoạch và kế hoạch sử dụng đất trên trang thông tin điện tử của Bộ Tài nguyên và Môi trường cùng Ủy ban nhân dân cấp tỉnh Sau khi quy hoạch được phê duyệt, thông tin sẽ được công bố trên trang điện tử và tại trụ sở của cơ quan có thẩm quyền Đối với việc quy định giá đất, khung giá và bảng giá đất cũng được công khai theo quy định của Chính phủ và Ủy ban nhân dân cấp tỉnh Trong trường hợp thu hồi đất, thông báo và phương án bồi thường sẽ được niêm yết tại Ủy ban nhân dân cấp xã và công khai trên các phương tiện thông tin đại chúng, giúp mọi người, không chỉ công dân Việt Nam, đều có thể tiếp cận thông tin này.

1.3.1.2 Chủ thể có nghĩa vụ công khai thông tin về đất đai

Chủ thể có nghĩa vụ công khai thông tin về đất đai sẽ phụ thuộc vào từng hoạt động cụ thể, từ đó xác định cơ quan có trách nhiệm thực hiện việc công khai.

Thông tin quy hoạch và kế hoạch sử dụng đất được công khai qua hai giai đoạn: đầu tiên là để lấy ý kiến của nhân dân về quy hoạch và kế hoạch, và thứ hai là công khai sau khi quy hoạch đã được phê duyệt.

25 Khoản 2 Điều 42 Luật Đất đai năm 2013

Theo Điều 48 Luật Đất đai năm 2013, quy hoạch sử dụng đất phải được phê duyệt và công khai trong quá trình lấy ý kiến nhân dân Cơ quan có trách nhiệm sẽ công bố thông tin về quy hoạch và kế hoạch sử dụng đất để đảm bảo sự minh bạch và tham gia của cộng đồng.

Bộ Tài nguyên và Môi trường có trách nhiệm công khai thông tin về quy hoạch và kế hoạch sử dụng đất trên trang thông tin điện tử của mình.

Ủy ban nhân dân cấp tỉnh có trách nhiệm công khai quy hoạch và kế hoạch sử dụng đất trên trang thông tin điện tử của mình.

Ủy ban nhân dân cấp huyện có trách nhiệm công khai thông tin về quy hoạch và kế hoạch sử dụng đất thông qua hai hình thức: công khai trên trang thông tin điện tử của Ủy ban nhân dân cấp tỉnh và huyện, và tổ chức hội nghị để lấy ý kiến trực tiếp từ nhân dân tại trụ sở Ủy ban nhân dân cấp xã.

Sau khi quy hoạch và kế hoạch sử dụng đất cấp quốc gia, cấp tỉnh và cấp huyện được quyết định và phê duyệt, cơ quan có trách nhiệm sẽ công bố công khai các thông tin này.

Bộ Tài nguyên và Môi trường có trách nhiệm công khai quy hoạch và kế hoạch sử dụng đất cấp quốc gia tại trụ sở của cơ quan cũng như trên cổng thông tin điện tử của Bộ.

Ủy ban nhân dân cấp tỉnh có nghĩa vụ công khai quy hoạch và kế hoạch sử dụng đất cấp tỉnh tại trụ sở cơ quan cũng như trên cổng thông tin điện tử của Ủy ban.

Ủy ban nhân dân cấp huyện có trách nhiệm công khai quy hoạch và kế hoạch sử dụng đất tại trụ sở cơ quan và trên cổng thông tin điện tử của Ủy ban Đồng thời, nội dung quy hoạch và kế hoạch sử dụng đất liên quan đến các xã, phường, thị trấn cũng cần được công bố tại trụ sở Ủy ban nhân dân cấp xã.

Trong quá trình Nhà nước thu hồi đất, thông tin được công khai qua ba giai đoạn quan trọng Đầu tiên, giai đoạn thông báo thu hồi đất diễn ra, đảm bảo rằng người dân và các bên liên quan được thông tin đầy đủ về quyết định này.

27 Khoản 6 Điều 14 Thông tư 29/2014/TT-BTNMT

28 Khoản 6 Điều 33 Thông tư 29/2014/TT-BTNMT

Theo Khoản 2 Điều 43 Luật Đất đai năm 2013, quy trình thu hồi đất bao gồm việc lấy ý kiến về phương án bồi thường, hỗ trợ và tái định cư Trong giai đoạn thông báo thu hồi đất, Ủy ban nhân dân có thẩm quyền phải gửi thông báo đến từng hộ gia đình có đất bị thu hồi, tổ chức họp với người dân trong khu vực và công khai thông tin trên các phương tiện thông tin đại chúng, cũng như niêm yết tại trụ sở Ủy ban nhân dân cấp xã Tổ chức chịu trách nhiệm bồi thường và giải phóng mặt bằng sẽ lập phương án bồi thường và phối hợp với Ủy ban nhân dân cấp xã để lấy ý kiến của người dân thông qua họp trực tiếp và niêm yết công khai tại các địa điểm phù hợp Sau khi phương án bồi thường được phê duyệt, tổ chức này tiếp tục phối hợp với Ủy ban nhân dân cấp xã để phổ biến và niêm yết quyết định phê duyệt tại các địa điểm công cộng trong khu dân cư.

Trong quá trình Nhà nước thu hồi đất, tổ chức có trách nhiệm công khai thông tin bao gồm Tổ chức phát triển quỹ đất và Hội đồng bồi thường, hỗ trợ, tái định cư Tổ chức dịch vụ công về đất đai, với chức năng thực hiện bồi thường, hỗ trợ và tái định cư, đóng vai trò quan trọng trong việc đảm bảo quyền lợi cho người bị thu hồi đất.

30 Khoản 1 Điều 69 Luật Đất đai năm 2013

31 Khoản 2 Điều 69 Luật Đất đai năm 2013

32 Khoản 1 Điều 68 Luật Đất đai năm 2013

33 Điều 5 Nghị định 43/2014/NĐ-CP ngày 15/5/2014 của Chính phủ quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật Đất đai

Chính phủ và Ủy ban nhân dân cấp tỉnh có trách nhiệm công khai thông tin về khung giá đất và bảng giá đất Cụ thể, Chính phủ sẽ ban hành khung giá đất định kỳ 5 năm cho từng loại đất theo từng vùng Dựa trên khung giá này, Ủy ban nhân dân cấp tỉnh sẽ xây dựng và công bố bảng giá đất định kỳ 5 năm vào ngày 1 tháng 1 của năm đầu kỳ.

1.3.1.3 Thông tin về đất đai được công khai

Luật Tiếp cận thông tin quy định rất nhiều loại thông tin phải được công khai rộng rãi, bao gồm:

THỰC TRẠNG QUYỀN TIẾP CẬN THÔNG TIN VỀ ĐẤT ĐAI CỦA CÔNG DÂN VÀ MỘT SỐ KIẾN NGHỊ

Ngày đăng: 15/01/2022, 22:31

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w