1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Quyền tiếp cận thông tin cửa người bị buộc tội trong tố tụng hình sự

79 6 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 79
Dung lượng 2 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Cấu trúc

  • CHƯƠNG 1 KHÁI QUÁT CHUNG VỀ QUYỀN TIẾP CẬN THÔNG TIN CỦA CÔNG DÂN VÀ QUYỀN TIẾP CẬN THÔNG TIN CỦA NGƯỜI BỊ BUỘC TỘI TRONG TỐ TỤNG HÌNH SỰ (11)
    • 1.1. Khái niệm về thông tin và quyền tiếp cận thông tin (12)
      • 1.1.1. Khái niệm thông tin (12)
      • 1.1.2. Khái luận về quyền tiếp cận thông tin (15)
        • 1.1.2.1. Lịch sử về quyền tiếp cận thông tin (15)
        • 1.1.2.2. Quyền TCTT trong các văn bản pháp lý quốc tế và một số quốc gia (20)
    • 1.2. Khái niệm và đặc điểm về quyền TCTT của người bị buộc tội trong TTHS (26)
      • 1.2.1. Khái niệm về quyền TCTT của người bị buộc tội trong TTHS (26)
      • 1.2.2. Đặc điểm quyền TCTT của người bị buộc tội trong TTHS (32)
  • CHƯƠNG 2 THỰC TRẠNG VỀ QUYỀN TIẾP CẬN THÔNG TIN CỦA NGƯỜI BỊ BUỘC TỘI TRONG PHÁP LUẬT TỐ TỤNG HÌNH SỰ VIỆT (37)
    • 2.1. Quy định của pháp luật tố tụng hình sự Việt Nam về quyền tiếp cận thông tin của người bị buộc tội (37)
      • 2.1.1. Định hướng của Đảng về xây dựng pháp luật liên quan đến quyền tiếp cận thông tin của người bị buộc tội (37)
      • 2.1.2. Quy định của Hiến pháp liên quan đến quyền tiếp cận thông tin của người bị buộc tội (40)
      • 2.1.3. Quy định của Bộ luật tố tụng hình sự 2015 liên quan đến quyền tiếp cận thông (41)
        • 2.1.3.1. Những nguyên tắc cơ bản của Luật TTHS liên quan đến quyền TCTT của người bị buộc tội (42)
        • 2.1.3.2. Những quy định cụ thể của BLTTHS Việt Nam về quyền TCTT của người bị buộc tội (44)
    • 2.2. Thực trạng về bảo đảm quyền tiếp cận thông tin của người bị buộc tội trong các hoạt động tố tụng hình sự (52)
    • 2.3. Một số kiến nghị hoàn thiện pháp luật tố tụng hình sự Việt Nam về quyền tiếp cận thông tin của người bị buộc tội (63)
      • 2.3.1. Một số kiến nghị mang tính định hướng về quyền tiếp cận thông tin của người bị buộc tội (63)
      • 2.3.2. Những kiến nghị cụ thể về quyền tiếp cận thông tin của người bị buộc tội trong pháp luật tố tụng hình sự (66)
  • KẾT LUẬN (18)

Nội dung

Ý nghĩa khoa học, ý nghĩa thực tiễn Trong bối cảnh luật TCTT vừa được thông qua và chưa được áp dụng chính thức trên thực tiễn, đề tài đóng góp một phần trong việc đưa ra các kiến nghị,

KHÁI QUÁT CHUNG VỀ QUYỀN TIẾP CẬN THÔNG TIN CỦA CÔNG DÂN VÀ QUYỀN TIẾP CẬN THÔNG TIN CỦA NGƯỜI BỊ BUỘC TỘI TRONG TỐ TỤNG HÌNH SỰ

Khái niệm về thông tin và quyền tiếp cận thông tin

Thông tin luôn đóng vai trò thiết yếu trong cuộc sống của mỗi người Trong bối cảnh bùng nổ thông tin hiện nay và sự dễ dàng tiếp cận từ nhiều nguồn như Internet, tin tức, báo chí và truyền hình, thông tin ngày càng trở thành một phần không thể thiếu, ảnh hưởng sâu rộng đến cách chúng ta học tập, làm việc và đưa ra quyết định hàng ngày.

Ở góc độ triết học, thông tin là sự phản ánh của tự nhiên và xã hội (thế giới vật chất) bằng ngôn từ, ký hiệu, hình ảnh và mọi phương tiện tác động lên giác quan người nhận Trong cuốn “Bùng nổ truyền thông 2”, từ thông tin (tiếng Latinh informatio hay information) được diễn giải theo hai nghĩa: một là một hành động cụ thể để tạo ra một hình dạng, hai là sự truyền đạt một ý tưởng, một khái niệm hay một biểu tượng; hai nghĩa này đồng tồn tại, một nhằm hình thành hình thức, một nhằm hình thành kiến thức và truyền đạt Về mặt pháp luật, ở những quốc gia đã ban hành luật về quyền TCTT, khái niệm thông tin có phần khác nhau Theo Điều 2 Luật quyền TCTT của Ấn Độ năm 2005, thông tin được định nghĩa là bất cứ tin tức nào ở bất cứ hình thức nào, bao gồm hồ sơ, tài liệu, bản ghi nhớ, thư điện tử, quan điểm, lời tư vấn, thông cáo, báo chí, thông tư, sắc lệnh, sổ hồ sơ, hợp đồng, báo cáo, bài thuyết trình, vật mẫu, mô hình, tư liệu lưu giữ dưới dạng điện tử và bất cứ tin tức nào về các chủ thể tư nhân liên quan đến hành chính, các hoạt động hoặc quyết định của một cơ quan hành chính nào đó, mà phải được tiếp cận bởi một cơ quan công chúng theo quy định của luật hiện hành.

2 Philipe Breton, Serge Proulx (1966), Bùng nổ truyền thông – Sự ra đời của một ý thức hệ mới, Nxb Văn hóa – Thông tin Hà Nội, tr.2

3 http://www.righttoinformation.gov.in/rtiact.asp (Truy cập ngày 06/05/2016)

Theo Luật công khai thông tin của các cơ quan chính quyền Hàn Quốc năm

Theo quy định năm 1996, thông tin được hiểu là những gì các cơ quan nhà nước soạn thảo, tiếp nhận và quản lý trong quá trình thi hành nhiệm vụ của mình.

Ở Việt Nam, theo khoản 1 Điều 2 của Luật Tiếp cận Thông tin 2016, thông tin được định nghĩa là tin, dữ liệu chứa đựng trong văn bản, hồ sơ hoặc tài liệu có sẵn và tồn tại dưới nhiều hình thức như văn bản viết, văn bản in, tài liệu điện tử, tranh, ảnh, bản vẽ, băng đĩa, bản ghi hình hoặc bản ghi âm và các dạng khác do cơ quan nhà nước tạo ra Như vậy, quy định này cho thấy khái niệm thông tin mang tính đa diện và có nhiều quan điểm khác nhau tùy thuộc vào lĩnh vực nghiên cứu.

Thông tin mang lại lợi ích to lớn cho xã hội và đời sống mỗi người, nhưng khi việc tiếp cận và chia sẻ thông tin diễn ra tự do mà thiếu sự kiểm soát, các rủi ro và mặt hạn chế của thông tin sẽ nổi lên Thông tin có nhiều dạng và nguồn gốc đa dạng, khiến việc xác thực độ chính xác, tính đầy đủ hay sự thiếu sót trở nên vô cùng khó khăn Đồng thời, thông tin có thể chứa bí mật cá nhân, bí mật kinh doanh và bí mật nhà nước; sự dễ dàng tiếp cận các loại bí mật này có thể gây ảnh hưởng nghiêm trọng đến cá nhân, doanh nghiệp và đặc biệt là tới bối cảnh kinh tế – chính trị của cả một quốc gia.

Trên thế giới, nhiều quốc gia nhận thức sớm và quy định phạm vi quyền tiếp cận thông tin dựa trên thực tế thông tin chủ yếu do Nhà nước nắm giữ Vì vậy, quyền tiếp cận thông tin là quyền của người dân được tiếp cận các thông tin cần thiết cho đời sống, nhưng quyền này bị giới hạn bởi sự kiểm soát của Nhà nước đối với các thông tin đó Nhà nước có quyền và nghĩa vụ thiết lập các điều kiện, chuẩn mực nhằm kiểm soát thông tin, đặc biệt khi thông tin được phổ biến bởi cá nhân hoặc tổ chức với mục đích gây thiệt hại cho người khác.

Trong Luật TCTT 2016 của Việt Nam, quyền TCTT nhắm tới những thông tin do nhà nước nắm giữ; điều này được thể hiện rõ tại Khoản 2 Điều 2 khi nêu rằng thông tin do cơ quan nhà nước tạo ra là tin và dữ liệu được tạo ra trong quá trình cơ quan nhà nước thực hiện chức năng của mình.

Thông tin tham khảo từ freedominfo.org về vùng Đông Á – Hàn Quốc (truy cập ngày 06/05/2016) cho thấy chức năng, nhiệm vụ và quyền hạn của cơ quan nhà nước được quy định theo pháp luật và chỉ có hiệu lực khi được người có thẩm quyền của cơ quan đó ký, đóng dấu hoặc xác nhận bằng văn bản.

Ở hầu hết các quốc gia, hệ thống pháp lý về quyền tiếp cận thông tin (TCTT) phân loại thông tin do Nhà nước nắm giữ thành ba nhóm: thông tin phải được công khai, thông tin được công khai khi thỏa mãn các điều kiện nhất định, và thông tin không được công khai; việc xác định loại nào thuộc nhóm nào phụ thuộc vào nhiều yếu tố và tùy thuộc vào quy định của từng quốc gia Ở Việt Nam, Luật TCTT 2016 thể hiện rõ các nhóm này qua các Điều 5, 6 và 7, với việc các nhà làm luật quy định các trường hợp phải công khai và đưa ra các ngoại lệ cho hai loại còn lại, đồng thời việc xác định thông tin được tiếp cận có điều kiện hay không phụ thuộc vào ý chí của cơ quan lập pháp của nước đó Ví dụ, tại Điều 9 của Luật Thông tin Chính phủ mở của Trung Quốc, các cơ quan nhà nước phải công bố những thông tin thỏa mãn các điều kiện cơ bản như liên quan đến lợi ích cơ bản của công dân, pháp nhân hay tổ chức; có sự tham gia của cộng đồng hoặc sự biết rộng rãi; cho thấy cấu trúc, cơ cấu và thủ tục làm việc của cơ quan; và các thông tin khác được công bố theo chủ trương và quy định liên quan của nhà nước.

Quy định về thông tin được tiếp cận phụ thuộc vào đặc điểm, cơ cấu nhà nước và trình độ phát triển của từng quốc gia, nên có thể khác nhau giữa các nước Hệ thống pháp luật, mức độ phát triển kinh tế - xã hội và cả các yếu tố văn hóa, tôn giáo cũng ảnh hưởng không nhỏ đến nội dung thông tin phải được công khai Vì vậy, một số thông tin chính cần được cung cấp cho người dân như 5 :

- Thông tin về hoạt động, chức năng, cơ cấu tổ chức, mục tiêu, ngân sách, thông tin kiểm toán, kết quả đạt được…

5 Chu Thị Thái Hà (2009), Thông tin được tiếp cận và nội hàm của quyền tiếp cận thông tin, Tạp chí nghiên cứu Lập pháp, số 154, tháng 9/2009

Thông tin hướng dẫn thủ tục và quy trình là nguồn dữ liệu thiết yếu giúp người dân nắm rõ cách tiếp cận và sử dụng các dịch vụ công do cơ quan nhà nước cung cấp, từ việc chuẩn bị hồ sơ, trình tự xử lý đến thời gian giải quyết Người dân có thể áp dụng những hướng dẫn này để thuận tiện sử dụng dịch vụ công và đồng thời tham gia vào quá trình xây dựng chính sách hoặc đề xuất luật pháp thông qua các kênh tham vấn, góp ý và các diễn đàn công khai do cơ quan có thẩm quyền tổ chức.

- Các thông tin khác do nhà nước nắm giữ;

- Chủ thể yêu cầu thông tin có thể yêu cầu thông tin về bản thân họ từ các cơ quan nhà nước đang nắm giữ thông tin cá nhân.

1.1.2 Khái luận về quyền tiếp cận thông tin

1.1.2.1 Lịch sử về quyền tiếp cận thông tin

Quyền TCTT đã được xác lập từ rất sớm và được quy định lần đầu tiên trong Đạo luật tự do báo chí năm 1766 của Thụy Điển 6 Đạo luật này không những cho phép công dân có quyền tự do ngôn luận “trừ trường hợp báng bổ và chỉ trích Nhà nước”, mà còn xác lập nguyên tắc “các văn bản nhà nước phải được công khai và bảo đảm rằng công dân có quyền được nhận các văn bản mà mình yêu cầu từ cơ quan nhà nước” 7 Có thể nói đây là hai yếu tố cơ bản, quan trọng nhất trong nội hàm của khái niệm quyền tiếp cận thông tin cho đến nay, sau gần hai thế kỷ, khái niệm quyền được thông tin trong pháp luật Thụy Điển vẫn được coi là tiến bộ và sâu sắc Tiếp đến, một số quốc gia khác cũng bắt đầu thừa nhận quyền TCTT của công dân trong pháp luật của mình, như trong bản Tuyên ngôn Nhân quyền và Dân quyền của Pháp năm 1789 trong nguyên tắc: “Việc tự do trao đổi về tư tưởng và ý kiến là một trong những quyền quý giá nhất của con người; mọi công dân có thể phát ngôn, viết hay tiến hành in ấn một cách tự do, nhưng phải chịu trách nhiệm về sự lạm dụng quyền tự do đó” (Điều 11) và tại Điều 14 cũng quy định : “Mọi công dân đều có quyền xác định, tự bản thân mình hoặc thông qua người đại diện, sự cần thiết của thuế công cộng, để đóng góp một cách tự do, để theo dõi việc sử dụng và ấn định chỉ tiêu thuế, cách thức và thời hạn đóng góp”; “Xã hội có quyền bắt mọi công dân phải báo cáo về công việc quản lý của họ”(Điều 15) 8 Bên cạnh đó, quyền

6 Luật tự do báo chí của Thụy Điển năm 1766 là đạo luật về báo chí lâu đời nhất trên thế giới, trong đó lần đầu tiên quy định về quyền tiếp cận thông tin Sau này, quyền tiếp cận thông tin còn được quy định trong Luật về tự do ngôn luận năm 1991 của Thụy Điển

Bài nghiên cứu 'Nghiên cứu về Luật tiếp cận thông tin của Bắc Âu' được in trong tài liệu Hội thảo quốc tế 'Xây dựng Luật tiếp cận thông tin tại Việt Nam' tổ chức tại Hà Nội ngày 06–07/5/2009, do 7 Hội Luật gia Việt Nam xuất bản (2009), trang 26.

8 http://www.historyguide.org/intellect/declaration.html (Truy cập ngày 06/05/2016)

Quyền tự do thông tin (TCTT) xuất hiện từ rất sớm trong tiến trình công nhận các quyền cơ bản của con người, được minh chứng ở bản Tuyên ngôn Hà Lan năm 1795 với Điều 7: “Mọi người có quyền được phép đưa ra suy nghĩ và cảm giác muốn biết đối với những người khác bằng phương tiện báo chí in ấn hoặc bằng bất kỳ phương thức nào khác.” Một ví dụ khác là Colombia, nơi Luật về các tổ chức chính trị địa phương cho phép cá nhân yêu cầu tiếp cận các tài liệu do các cơ quan chính phủ nắm giữ hoặc lưu trữ, cho thấy một nỗ lực cụ thể trong bảo vệ quyền TCTT Tuy vậy ở giai đoạn ban đầu, khái niệm quyền TCTT chủ yếu được ghi nhận như một nguyên tắc chứ không có các quy định chi tiết về cách thực thi quyền này.

Khái niệm và đặc điểm về quyền TCTT của người bị buộc tội trong TTHS

1.2.1 Khái niệm về quyền TCTT của người bị buộc tội trong TTHS Ở phần đầu của Chương 1, tác giả đã tổng hợp và phân tích một cách khái nhất về quyền TCTT Trong phần hai của chương này tác giả sẽ tập trung phân tích phần chính của khóa luận đó là vấn đề về quyền TCTT trong TTHS Thông qua việc tìm hiểu một số quy đinh trong pháp luật của các quốc gia có quyền TCTT được xây dựng trong hệ thống thủ tục TTHS để làm rõ những đặc điểm cơ bản của quyền TCTT của người bị buộc tội trong TTHS Tại sao trong thủ tục TTHS, người bị buộc tội cần phải được bảo đảm quyền TCTT?

Quyền TCTT là một quyền cơ bản của con người, đồng nghĩa với quyền được tiếp cận thông tin mình muốn nếu thông tin đó không nằm trong các trường hợp ngoại lệ do pháp luật quy định Vì là quyền cơ bản được ghi nhận trong Hiến pháp của nhiều quốc gia, nhà nước phải bảo đảm quyền này trên mọi lĩnh vực của đời sống công dân Theo nguyên tắc suy đoán vô tội được thừa nhận rộng rãi trong hệ thống tố tụng, không ai được coi là có tội cho tới khi có bản án hoặc quyết định có hiệu lực từ cơ quan có thẩm quyền Như vậy, người bị buộc tội trong lĩnh vực TTHS cũng phải được bảo đảm quyền TCTT, họ là công dân chưa bị kết án và pháp luật không thể cấm họ tiếp cận những thông tin mình muốn Hơn nữa, do hậu quả của TTHS có thể ảnh hưởng đến tính mạng và sự tự do của một con người, việc bảo đảm quyền TCTT càng có ý nghĩa quan trọng.

Thứ hai, thủ tục TTHS đòi hỏi phía cơ quan THTT phải tuân thủ các nguyên tắc được đặt ra trong BLTTHS nhằm đảm bảo cho việc điều tra, xét xử được hiệu quả và công bằng Một số nguyên tắc cơ bản của TTHS có liên hệ chặt chẽ đến quyền của người bị buộc tội như quyền được bào chữa đầy đủ, quyền được thông báo và tiếp cận chứng cứ, quyền tham gia tranh tụng và đối thoại với cơ quan tiến hành tố tụng, cũng như nguyên tắc công khai, minh bạch và bình đẳng trước pháp luật nhằm bảo đảm một quá trình tố tụng thận trọng, khách quan và tôn trọng quyền lợi hợp pháp của mọi bên.

Nguyên tắc xét xử công bằng, hay còn gọi là quyền hoặc nguyên tắc tố tụng công bằng, đặt nền tảng ở việc bảo đảm công dân được xét xử công bằng khi tham gia tố tụng và gắn liền với học thuyết Due Process of Law; mô hình tố tụng công bằng dựa trên bình đẳng, tính khách quan và yêu cầu các bên trong vụ án hình sự được đối xử công bằng với nhau, trong đó mọi chứng cứ bằng văn bản do phía buộc tội trình lên phải được thông báo cho phía bào chữa để phản ánh quan điểm bào chữa Dựa trên tinh thần của Tuyên ngôn Nhân quyền, hàng loạt văn bản pháp lý khác cũng bảo vệ quyền được xét xử công bằng cho người bị buộc tội trong thủ tục tố tụng hình sự, với các quyền cơ bản như (1) được thông báo kịp thời về cáo buộc; (2) có thời gian hợp lý và điều kiện thuận lợi để chuẩn bị bào chữa; (3) quyền tự bào chữa hoặc nhờ người khác bào chữa, và được tự do trao đổi riêng tư với người bào chữa; (4) quyền trình bày chứng cứ; (5) quyền không phải tự buộc tội mình; (6) quyền kháng cáo Từ nguyên tắc này, các nguyên tắc khác của thủ tục tố tụng được hình thành nhằm bảo đảm quyền của người bị buộc tội, cho thấy quyền được xét xử công bằng được bảo đảm ở mức cơ bản thông qua các khía cạnh (1)-(3); ngay từ đầu, trong thủ tục tố tụng đã hình thành các khái niệm liên quan đến quyền TCTT của người bị buộc tội, thể hiện sự bảo vệ quyền được bào chữa của họ.

26 Theo nguyên tắc này, Tuyên ngôn thế giới về nhân quyền quy định các quyền cơ bản mà mỗi người được hưởng khi đối mặt với cáo buộc hình sự, được thể hiện qua các điều khoản như Điều 9, Điều 10 và Điều 11 Các điều khoản này thể hiện các quyền đó một cách cụ thể trong bối cảnh tố tụng hình sự.

Quyền có người bào chữa là nền tảng của quyền công bằng trong tố tụng hình sự và được thể hiện với những cách khác nhau ở Việt Nam, Đức và Mỹ Việt Nam đảm bảo cho người bị buộc tội quyền được có luật sư tham gia từ giai đoạn điều tra và xét xử, đồng thời có cơ chế trợ giúp pháp lý để người nghèo vẫn được đại diện hợp pháp Đức chú trọng sự độc lập và chất lượng bào chữa, bắt buộc có sự tham gia của luật sư ngay từ giai đoạn điều tra và trong quá trình tranh tụng tại tòa, nhằm đảm bảo tính công bằng và thẩm quyền của quá trình tố tụng Mỹ coi quyền được tư vấn và có luật sư là quyền căn bản từ lúc bắt giữ và xuyên suốt quá trình tố tụng, với hệ thống luật sư miễn phí dành cho người không có đủ khả năng chi trả Sự so sánh này cho thấy các điểm mạnh và hạn chế về thời điểm tham gia của luật sư, sự đảm bảo tiếp cận chứng cứ và hiệu quả bào chữa, từ đó gợi ý các bài học cho cải cách luật tố tụng hình sự Việt Nam để tăng cường bảo đảm quyền có người bào chữa và nâng cao công bằng trong xét xử.

28 TS Lương Thị Mỹ Quỳnh, tlđd, tr.31

Để hiểu rõ quyền dân sự và chính trị ở cấp quốc tế và khu vực, ta xem các điều sau: Điều 14 và Điều 16 của Công ước quốc tế về quyền dân sự và chính trị (ICCPR); Điều 5 và Điều 6 của Công ước Nhân quyền châu Âu (ECHR); Các Điều 3, 8, 9 và 10 của Công ước Nhân quyền châu Mỹ (ACHR); cùng với Điều 2, 7 và 26 của Hiến chương Châu Phi về quyền con người và các quyền dân tộc.

30 TS Lương Thị Mỹ Quỳnh, tldd, tr.33

Nguyên tắc tranh tụng là nền tảng của xét xử công bằng, đóng vai trò quan trọng trong bảo đảm quyền được TCTT cho người bị buộc tội trong thủ tục TTHS bằng cách bảo đảm cho họ có các quyền cơ bản và có NBC để thực hiện việc bào chữa, từ đó phiên tòa diễn ra một cách công minh và bình đẳng giữa các bên Đây là nguyên tắc được nhiều quốc gia ghi nhận trong BLTTHS của mình và cho thấy mô hình tố tụng tranh tụng là biện pháp quan trọng đảm bảo sự tham gia của NBC trong TTHS Bên cạnh đó, nguyên tắc này yêu cầu các bên trong TTHS (bên buộc tội và bên bào chữa) được đối xử công bằng trong các cơ hội thu thập và trình bày chứng cứ, và người bị buộc tội cùng NBC của họ phải được tiếp cận đầy đủ thông tin cần thiết để thực hiện việc bào chữa và đảm bảo tính công bằng của phiên tòa.

Nguyên tắc suy đoán vô tội được hiểu là mỗi người được coi là vô tội cho đến khi có bản án kết tội của cơ quan có thẩm quyền tuyên bố Hai vấn đề chính của nguyên tắc này gồm: thứ nhất, không ai bị coi là có tội trước khi tòa án tuyên án; thứ hai, trong quá trình điều tra và xét xử, người bị cáo được bảo vệ quyền được xem là vô tội và được đảm bảo các quyền cơ bản như quyền được trợ giúp pháp lý, quyền trình bày chứng cứ và quyền không bị phỉ báng cho tới khi phán quyết cuối cùng được công bố Nguyên tắc suy đoán vô tội nhằm đảm bảo công lý, ngăn ngừa kết luận dựa trên nghi ngờ vô căn cứ và duy trì sự tôn trọng danh dự của cá nhân trong hệ thống tư pháp.

Theo Bộ luật Tố tụng hình sự (BLTTHS), tòa án có thẩm quyền tuyên án và bản án có hiệu lực pháp luật; đồng thời người bị tình nghi, bị can, bị cáo không có nghĩa vụ chứng minh sự vô tội của mình, vì nghĩa vụ chứng minh tội phạm thuộc trách nhiệm của các cơ quan tiến hành tố tụng; mọi nghi ngờ trong quá trình chứng minh tội phạm nếu không được loại trừ theo trình tự, thủ tục do BLTTHS quy định thì phải được giải thích có lợi cho người bị tình nghi, bị can, bị cáo Những nguyên tắc này cho thấy người bị buộc tội vẫn được coi là vô tội cho tới khi có bản án hoặc quyết định kết tội từ tòa án có thẩm quyền Vì vậy họ được xem như một công dân có các quyền cơ bản như những người khác, trong đó có quyền TCTT.

Nguyên tắc bảo đảm quyền bào chữa là đảm bảo cho người bị buộc tội được tiếp cận NBC, từ đó tăng khả năng bào chữa và bảo vệ các quyền hợp pháp liên quan trong vụ án hình sự NBC có đầy đủ kiến thức pháp lý để bào chữa hiệu quả và có thể phát hiện các sai phạm trong quá trình tham gia tố tụng Vì vậy, nguyên tắc này đóng vai trò then chốt đối với quyền lợi của người bị buộc tội, và sự tiếp cận với thông tin liên quan đến điều tra, truy tố và xét xử là nền tảng cho họ bảo vệ mình trước cáo buộc Nhiều quốc gia quy định quyền tiếp cận hồ sơ và tài liệu vụ án cho NBC và thiết lập điều kiện thuận lợi hơn cho người bị buộc tội trong việc bào chữa Việc các cơ quan có thẩm quyền bảo đảm NBC cho người bị buộc tội cũng chính là cách bảo đảm cho họ quyền được tiếp cận và xử lý những tài liệu, hồ sơ liên quan đến việc bào chữa của mình.

Thực tế, ở nhiều nước, hệ thống TTHS đã quy định quyền được thông tin của người bị buộc tội; tại Italia, BLTTHS quy định quyền này thông qua các Điều 369 và 345, gồm quyền được bảo đảm, quyền bào chữa và thông báo kết thúc giai đoạn điều tra Theo TTHS Italia, quyền được nhận thông báo bảo đảm có nghĩa là người bị tình nghi phải được thông báo về công tác điều tra sắp tới ngay khi công tố viên tiến hành hoạt động cụ thể, và thông báo này phải nêu rõ quyền được có luật sư bào chữa, định nghĩa pháp lý về tội danh bị cáo buộc, ngày giờ và địa điểm của những hành vi bị cáo buộc đã thực hiện cùng dữ liệu TTHS như số vụ án và tên công tố viên Thông báo về quyền bào chữa phải được gửi cho nghi phạm ngay sau thời điểm họ phát sinh quyền bào chữa và phải nêu ra những quyền chủ yếu của bên bào chữa trong TTHS Cuối cùng, khi kết thúc điều tra theo Điều 415 của BLTTHS Italia, công tố viên phải thông báo cho người bị tình nghi và luật sư bào chữa rằng cuộc điều tra đã kết thúc; thông tin này phải bao gồm phần mô tả các tình tiết bị cáo buộc và định nghĩa pháp luật về tội danh, và nghi phạm được thông báo kể từ thời điểm đó được tiếp cận hồ sơ của công tố viên mà không có giới hạn Việc thông báo này là nghĩa vụ của công tố viên; nếu nghi phạm không được thông báo đầy đủ về thông tin này, thẩm phán xét xử sơ bộ sẽ xem xét tính hợp lệ của thủ tục và tội danh do công tố viên quy định.

Các mô hình tố tụng hình sự trên thế giới cho thấy khi hồ sơ bị cho là vô hiệu, thủ tục tố tụng phải quay lại giai đoạn điều tra và công tố viên có nghĩa vụ thông báo hợp thức cho bị cáo về những thông tin chưa được công khai Ở Hoa Kỳ, dù quyền TCTT chưa được quy định rõ trong TTHS, Miranda thể hiện quyền này bằng quy tắc công tố viên phải tiết lộ cho bị cáo bất cứ bằng chứng tiềm năng nào có thể có lợi cho bị cáo khi bị cáo yêu cầu, và vụ Brandy v Maryland năm 1963 củng cố nguyên tắc này với yêu cầu công tố viên tiết lộ những bằng chứng có thể làm nghi ngờ độ tin cậy của nhân chứng hoặc hồ sơ phạm tội trước đây Ở Nga, quyền TCTT được thể hiện thông qua các quyền của người bị buộc tội theo luật TTHS, như khi kết thúc giai đoạn điều tra sơ bộ mọi bên, đặc biệt bị cáo, có cơ hội xem xét lại hồ sơ và yêu cầu điều tra bổ sung Ở nhiều nước khác, quyền TCTT được thể hiện qua quyền có luật sư bào chữa, người có vai trò là nguồn thông tin quan trọng để bị cáo tiếp cận thông tin NBC và các quy định liên quan đến quyền của NBC đóng vai trò quan trọng trong việc bảo đảm quyền TCTT trong TTHS Theo Điều 33 của luật TTHS Trung Quốc có quy định khi viện kiểm sát bắt đầu xem xét vụ án và ra quyết định.

32 TS.Tô Văn Hòa (chủ biên), tlđd, tr.237

34 Vụ Brandy kiện Bang Maryland 373 U.S 83, 87 (1963)

35 Vụ Giglio kiện Hoa Kỳ, 405 U.S 150, 153-55 (1972)

Theo Điều 215–220 của Luật tố tụng hình sự CHLB Nga, khi bị truy tố nghi phạm có quyền chính thức thuê luật sư (NBC) và viện kiểm sát có nghĩa vụ thông báo cho nghi phạm về quyền được thuê luật sư; ở giai đoạn này luật sư có thể tra cứu, trích dẫn và sao chép các tài liệu tố tụng, văn bản, phỏng vấn và liên lạc với nghi phạm bị giam giữ Tương tự, luật Tố tụng hình sự Nhật Bản quy định sau khi bị truy tố, bị cáo được tự do gặp gỡ luật sư bào chữa để chuẩn bị các lý lẽ biện hộ, đồng thời luật sư có quyền hạn rất toàn diện để thực hiện mọi hành vi tố tụng mà bị cáo hoặc người bị tình nghi phạm tội có thể thực hiện Như vậy, có thể thấy rõ tầm quan trọng của luật sư và NBC trong việc tiếp cận thông tin của người bị buộc tội.

Quyền TCTT của người bị buộc tội trong tố tụng hình sự đã được ghi nhận trong nhiều văn bản pháp lý ở nhiều quốc gia, cho thấy sự nhất quán trong việc bảo đảm quyền tham gia và được xử lý công bằng trong quá trình tố tụng Các quy định này nhằm thực thi các nguyên tắc cơ bản của tố tụng hình sự và được thừa nhận rộng rãi từ trước đến nay; dựa trên phân tích cho thấy quyền TCTT được thể hiện qua các nội dung chính của tố tụng hình sự.

THỰC TRẠNG VỀ QUYỀN TIẾP CẬN THÔNG TIN CỦA NGƯỜI BỊ BUỘC TỘI TRONG PHÁP LUẬT TỐ TỤNG HÌNH SỰ VIỆT

Ngày đăng: 21/02/2022, 21:08

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
27. Chu Thị Thái Hà (2009), Thông tin được tiếp cận và nội hàm của quyền tiếp cận thông tin, Tạp chí nghiên cứu Lập pháp, số 154, tháng 9/2009 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thông tin được tiếp cận và nội hàm của quyền tiếp cận thông tin
Tác giả: Chu Thị Thái Hà
Năm: 2009
28. GS.TSKH Đào Trí Úc (2013), Sửa đổi bộ luật tố tụng hình sự theo yêu cầu cải cách tư pháp và thi hành hiến pháp năm 20 3, Kỷ yếu hội thảo “Hiến pháp 2013 và vấn đề đổi mới tố tụng hình sự ở Việt Nam” Sách, tạp chí
Tiêu đề: Sửa đổi bộ luật tố tụng hình sự theo yêu cầu cải cách tư pháp và thi hành hiến pháp năm 20 3", Kỷ yếu hội thảo “Hiến pháp 2013 và vấn đề đổi mới tố tụng hình sự ở Việt Nam
Tác giả: GS.TSKH Đào Trí Úc
Năm: 2013
29. Hội Luật gia Việt Nam (2009), Nghiên cứu về Luật tiếp cận thông tin của Bắc Âu, Tài liệu tại Hội thảo quốc tế “Xây dựng Luật tiếp cận thông tin tại Việt Nam” tổ chức tại Hà Nội ngày 06, 07-5-2009 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghiên cứu về Luật tiếp cận thông tin của Bắc Âu", Tài liệu tại Hội thảo quốc tế “Xây dựng Luật tiếp cận thông tin tại Việt Nam
Tác giả: Hội Luật gia Việt Nam
Năm: 2009
30. Luật sư, Nguyễn Huy Quang, Cần đảm bảo quyền tiếp cận thông tin của người bị tạm giam, tạm giữ Sách, tạp chí
Tiêu đề: Cần đảm bảo quyền tiếp cận thông tin của
31. Philipe Breton, Serge Proulx (1966), Bùng nổ truyền thông – Sự ra đời của một thức hệ mới, Nxb. Văn hóa – Thông tin Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bùng nổ truyền thông – Sự ra đời của một thức hệ mới
Tác giả: Philipe Breton, Serge Proulx
Nhà XB: Nxb. Văn hóa – Thông tin Hà Nội
Năm: 1966
32. Thái Thị Tuyết Dung (2016), Quyền tiếp cận thông tin của công dân ở Việt Nam, NXB.Đại học quốc gia TP.HCM Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quyền tiếp cận thông tin của công dân ở Việt Nam
Tác giả: Thái Thị Tuyết Dung
Nhà XB: NXB.Đại học quốc gia TP.HCM
Năm: 2016
33. TS. Lại Văn Trình (2011), Bảo đảm quyền con người của người bị tạm giữ, bị can, bị cáo trong TTHS Việt Nam, Trường Đại học Luật TP.HCM Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bảo đảm quyền con người của người bị tạm giữ, bị can, bị cáo trong TTHS Việt Nam
Tác giả: TS. Lại Văn Trình
Năm: 2011
34. TS. Lương Thị Mỹ Quỳnh (2011), Bảo đảm quyền có người bào chữa của người bị buộc tội – so sánh giữa luật tố tụng hình sự Việt Nam, Đức và Mỹ, Trường Đại học Luật TP.HCM Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bảo đảm quyền có người bào chữa của người bị buộc tội – so sánh giữa luật tố tụng hình sự Việt Nam, Đức và Mỹ
Tác giả: TS. Lương Thị Mỹ Quỳnh
Năm: 2011
35. TS. Tô Văn Hòa (chủ biên) (2012), Những mô hình tố tụng hình sự điển hình trên thế giới, NXB Hồng Đức Sách, tạp chí
Tiêu đề: Những mô hình tố tụng hình sự điển hình trên thế giới
Tác giả: TS. Tô Văn Hòa (chủ biên)
Nhà XB: NXB Hồng Đức
Năm: 2012
36. TS. Võ Thị Kim Anh (chủ biên) (2012), Giáo trình Luật tố tụng hình sự Việt Nam, Trường đại học Luật TP.HCM Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình Luật tố tụng hình sự Việt Nam
Tác giả: TS. Võ Thị Kim Anh (chủ biên)
Năm: 2012
43. Chen, Yongxi (2012), Freedom of Information in China? The Paradox of Access to Information in a Closed Regime, FOI 10 Years on: Freedom Fighting or Lazy Journalism?, UK: Abramis Academic Publishing Sách, tạp chí
Tiêu đề: Freedom of Information in China? The Paradox of Access to Information in a Closed Regime, FOI 10 Years on: Freedom Fighting or Lazy Journalism
Tác giả: Chen, Yongxi
Năm: 2012
48. Jamie P. Horsley, Update on China’s Open Government Information Regulations: 45. Surprising Public Demand Yielding Some Positive Results, http://www.freedominfo.org/201/04/update-on-china-open-government-information-regulations/ (Truy cập ngày 10/6/2016) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Update on China’s Open Government Information Regulations: " 45. "Surprising Public Demand Yielding Some Positive Results
49. Thomas Blanton (2002), The World’s Right to Know, Foreign Policy Sách, tạp chí
Tiêu đề: The World’s Right to Know
Tác giả: Thomas Blanton
Năm: 2002
17. Luật Tiếp cận thông tin Bungari, http://www.aip- bg.org/en/legislation/Text_of_the_APIA/200432/ Link
18. Luật Tiếp cận thông tin Canada năm 1985, http://laws- lois.justice.gc.ca/eng/acts/a-1/page-1.html#h-6 Link
19. Luật tố tụng hình sự CHLB Nga năm 2001 (sửa đổi, bổ sung năm 2012), http://legislationline.org/documents/section/criminal-codes/country/7 Link
20. Luật Tự do báo chí Thụy Điển năm 1766, https://sweden.se/society/openness-shapes-swedish-society/ Link
21. Luật Tự do thông tin Anh năm 2000, http://www.legislation.gov.uk/ukpga/2000/36/schedule/1 Link
22. Luật Về các tổ chức chính trị địa phương Colombia, http://www.freedominfo.org/regions/latin-america/colombia/ Link
23. Pháp lệnh về công khai thông tin của nhà nước Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa, http://www.freedominfo.org/regions/east-asia/china/ Link

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w