1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Quyền tiếp cận thông tin trong hồ sơ địa chính của ngƣời sử dụng đất

93 10 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 93
Dung lượng 1,42 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Đến Luật Đất đai năm 2013, khái niệm “Hồ sơ địa chính” được quy định cụ thể hơn, không chỉ phục vụ quản lý nhà nước mà còn hỗ trợ nhu cầu thông tin của các tổ chức, cá nhân về đất đai, b

Trang 1

NGUYỄN THỊ DIỆU HIỀN

QUYỀN TIẾP CẬN THÔNG TIN TRONG HỒ SƠ ĐỊA

Trang 2

NGUYỄN THỊ DIỆU HIỀN

QUYỀN TIẾP CẬN THÔNG TIN TRONG HỒ SƠ ĐỊA CHÍNH CỦA NGƯỜI SỬ DỤNG ĐẤT

LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC Chuyên ngành Luật Kinh tế

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Tôi cam đoan những nội dung được trình bày ở đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các số liệu nêu trong luận văn này là trung thực và tất cả thông tin tham khảo đều được trích dẫn nguồn cụ thể, chính xác Tôi rất mong nhận được những ý kiến đóng góp đối với nội dung nghiên cứu của đề tài này

\

TP Hồ Chí Minh, ngày 14 tháng 11 năm 2014

Nguyễn Thị Diệu Hiền

Trang 4

DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT

BTNMT Bộ Tài nguyên và Môi trường

FIG Liên đoàn Chuyên viên Đo đạc quốc tế STNMT Sở Tài nguyên và Môi trường

Trang 5

MỤC LỤC

PHẦN MỞ ĐẦU 1

1 Lý do chọn đề tài 1

2 Tình hình nghiên cứu 2

3 Mục đích nghiên cứu 4

4 Phạm vi nghiên cứu 4

5 Phương pháp nghiên cứu 4

6 Ý nghĩa khoa học và giá trị ứng dụng của đề tài 5

7 Bố cục của đề tài 5

CHƯƠNG 1 KHÁI QUÁT VỀ QUYỀN TIẾP CẬN THÔNG TIN TRONG HỒ SƠ ĐỊA CHÍNH CỦA NGƯỜI SỬ DỤNG ĐẤT 6

1.1 Các khái niệm liên quan 6

1.1.1 Hồ sơ địa chính 6

1.1.2 Người sử dụng đất 11

1.1.3 Quyền tiếp cận thông tin trong hồ sơ địa chính của người sử dụng đất 14

1.2 Sự cần thiết phải đảm bảo quyền tiếp cận thông tin trong hồ sơ địa chính của người sử dụng đất 17

1.3 Nội dung pháp luật về quyền tiếp cận thông tin trong hồ sơ địa chính của người sử dụng đất 18

1.3.1 Xây dựng và quản lý hồ sơ địa chính 18

1.3.2 Cung cấp thông tin từ hồ sơ địa chính 22

KẾT LUẬN CHƯƠNG 1 26

CHƯƠNG 2 THỰC TRẠNG VÀ PHƯƠNG HƯỚNG HOÀN THIỆN PHÁP LUẬT ĐẢM BẢO QUYỀN TIẾP CẬN THÔNG TIN TRONG HỒ SƠ ĐỊA CHÍNH CỦA NGƯỜI SỬ DỤNG ĐẤT 27

2.1 Thực trạng quyền tiếp cận thông tin trong hồ sơ địa chính của người sử dụng đất 27

2.2 Đánh giá các điều kiện đảm bảo quyền tiếp cận thông tin trong hồ sơ địa chính của người sử dụng đất 30

2.2.1 Hệ thống chính sách pháp luật 30

2.2.2 Hệ thống cơ quan quản lý đất đai 41

2.2.3 Hồ sơ địa chính 56

Trang 6

2.2.4 Hệ thống thông tin đất đai 62

2.2.5 Ý thức của người sử dụng đất 65

2.3 Phương hướng hoàn thiện pháp luật đảm bảo quyền tiếp cận thông tin trong hồ sơ địa chính của người sử dụng đất 67

2.3.1 Hoàn thiện hệ thống, chính sách pháp luật 67

2.3.2 Kiện toàn cơ cấu tổ chức cơ quan quản lý đất đai 70

2.3.3 Nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ quản lý đất đai 71

2.3.4 Xây dựng và hoàn thiện hồ sơ địa chính, hệ thống thông tin đất đai 73

2.3.5 Nâng cao ý thức, phát huy vai trò của người sử dụng đất trong việc đảm bảo quyền tiếp cận thông tin trong hồ sơ địa chính 76

KẾT LUẬN CHƯƠNG 2 78

KẾT LUẬN 79

Trang 7

PHẦN MỞ ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài

Đất đai vừa là môi trường sống vừa là tư liệu sản xuất đặc biệt không thể thay thế Cùng với sự phát triển của xã hội, nhu cầu sử dụng đất ngày càng gia tăng, đất đai trở thành tài sản có giá trị lớn và được đưa vào đầu tư kinh doanh Theo đó, thông tin đất đai được lưu trữ trong hồ sơ địa chính sẽ mang lại những lợi ích to lớn cho nhiều chủ thể liên quan trong quá trình quản lý, sử dụng đất và bảo vệ chủ quyền của mình Ngoài ra, thông tin đất đai rõ ràng và chính xác là điều kiện đầu tiên đảm bảo an toàn pháp lý trong giao dịch và sự minh bạch của thị trường bất động sản, từ đó góp phần thúc đẩy kinh tế phát triển bền vững và ổn định xã hội Vì vậy, việc đảm bảo quyền tiếp cận thông tin trong hồ sơ địa chính của người sử dụng đất là một vấn đề hết sức quan trọng, không chỉ có ý nghĩa với người sử dụng đất, mà còn có ý nghĩa cho toàn xã hội Đặc biệt, với mục tiêu xây dựng nhà nước dân chủ, pháp trị thì việc ghi nhận và bảo đảm tất cả các quyền của con người, trong đó có quyền tiếp cận thông tin đất đai trở nên cực kỳ quan trọng, nó là cơ sở để người dân thực hiện quyền tự do, dân chủ của mình

Tuy nhiên, hiện nay quyền tiếp cận thông tin trong hồ sơ địa chính chưa được quy định cụ thể và tập trung trong một văn bản quy phạm pháp luật thống nhất Do đó, việc triển khai thực hiện tại mỗi địa phương mỗi khác Ngoài ra, vì nhiều nguyên nhân khác, như những hạn chế của hồ sơ địa chính, của cán bộ, cơ quan quản lý thông tin đất đai,…v.v dẫn đến việc tiếp cận, khai thác và sử dụng các thông tin trong hồ sơ địa chính của người sử dụng đất gặp rất nhiều khó khăn Vì vậy, mặc dù từ năm 1994, nhà nước ta đã bắt đầu chú trọng đến việc xây dựng hồ sơ địa chính, nhưng chủ yếu vẫn chỉ nhằm mục đích quản lý nhà nước về đất đai Từ sau Thông tư 09/2007/TT-BTNMT ngày 02 tháng 08 năm 20007 của Bộ Tài nguyên và Môi trường hướng dẫn việc lập, chỉnh lý, quản lý hồ sơ địa chính, vấn đề tiếp cận thông tin đất đai của người sử dụng đất đã được chú trọng hơn trước, nhưng cho đến nay vẫn còn rất nhiều hạn chế cần phải khắc phục

Vì những lẽ trên, vấn đề “Quyền tiếp cận thông tin trong hồ sơ địa chính của người sử dụng đất” là một đề tài mang tính cấp thiết, đòi hỏi cần có một nghiên cứu

Trang 8

nghiêm túc và cụ thể Do đó, tác giả đã chọn đề tài “Quyền tiếp cận thông tin trong

hồ sơ địa chính của người sử dụng đất” để làm đề tài Luận văn Thạc sĩ Luật học

2 Tình hình nghiên cứu

“Quyền tiếp cận thông tin” nói chung là một đề tài không quá mới mẻ Vấn đề này đã được thảo luận nhiều lần tại các buổi tọa đàm, hội thảo như Hội thảo Quốc tế về Quyền tiếp cận thông tin: thực tiễn ở Việt Nam, Đan Mạch và quốc tế do Viện nghiên cứu Quyền con người (thuộc Học viện Chính trị - Hành chính Quốc gia Hồ Chí Minh)

và Viện Nhân quyền Đan Mạch phối hợp tổ chức ngày 05 tháng 10 năm 2006 tại Hà Nội, Hội thảo Quốc tế về xây dựng Luật Tiếp cận thông tin tại Việt Nam vào tháng 05 năm 2009, Hội thảo về lấy ý kiến xây dựng Luật Tiếp cận thông tin: bảo vệ quyền được thông tin của công dân vào tháng 07 năm 2009 và Hội thảo Quốc tế: “Luật Tiếp cận thông tin - kinh nghiệm một số nước trên thế giới” được tổ chức tại Nha Trang vào tháng 08 năm 2009

Ngoài ra, cũng có nhiều Khóa luận tốt nghiệp, Luận văn, Luận án liên quan như:

“Quyền được thông tin của công dân - những vấn đề lý luận và thực tiễn” (Khóa luận tốt nghiệp năm 2011 của Nguyễn Thị Thanh Thúy), “Quyền được thông tin của công dân trong hoạt động quản lý nhà nước - những vấn đề lý luận và thực tiễn” (Khóa luận tốt nghiệp của Đào Thị Phương Mai năm 2012), “Pháp luật về quyền tiếp cận thông tin của công dân trong quản lý nhà nước” (Luận văn Thạc sĩ năm 2012 của Vũ Thị Tố Chinh) và gần đây nhất là Luận án Tiến sĩ Luật học năm 2014 “Quyền được thông tin của công dân ở Việt Nam hiện nay” của TS Thái Thị Tuyết Dung

Nhiều công trình nghiên cứu khác trong các tạp chí khoa học chuyên ngành, sách chuyên khảo cũng khá phong phú, có thể kể đến là “Quyền tiếp cận thông tin: Quy định quốc tế và đặc điểm chung của luật một số nước” (Tường Duy Kiên - Tạp chí Nghiên cứu Lập pháp số 30-31 tháng 1/2008); các bài viết đăng trên tạp chí Nghiên cứu Lập pháp số 17 tháng 9/2009 “Quyền tiếp cận thông tin - điều kiện thực hiện các quyền con người và quyền công dân”- PGS.TS Thái Vĩnh Thắng, “Thực trạng quyền tiếp cận thông tin ở Việt Nam”- ThS Dương Thị Bình, “Thông tin được tiếp cận và nội hàm của quyền tiếp cận thông tin”- Chu Thị Thái Hà; bài viết đăng trên Tạp chí Khoa học Pháp lý số 01(74)/2013 của TS Phan Huy Hồng “Quyền và bảo đảm quyền tiếp

Trang 9

cận thông tin trong luật quốc tế, luật nước ngoài và luật Việt Nam”; các bài viết của Lê Thị Hồng Nhung “Tiếp cận quyền tiếp cận thông tin dưới gốc độ quyền con người”- Tạp chí Nghiên cứu Lập pháp số 5 (190)/2011, “Quyền tiếp cận thông tin từ gốc độ xã hội quyền con người”- Tạp chí Nghiên cứu Lập pháp số 24 (209)/2011, “Khái niệm bảo đảm pháp lý quyền tiếp cận thông tin”- Tạp chí Nhà nước và Pháp luật số 4 (312)/2014; bài viết đăng trên Tạp chí Khoa học Pháp lý số 4 (59)/2010 “Quá trình phát triển của quyền tiếp cận thông tin” và sách chuyên khảo năm 2011 “Quyền tiếp cận thông tin và quyền riêng tư ở Việt Nam và một số quốc gia” của ThS Thái Thị Tuyết Dung

Những nghiên cứu trên đây là nguồn tài liệu quý giá để tác giả có cái nhìn tổng quan về lý luận và thực tiễn của quyền tiếp cận thông tin Tuy nhiên, tất cả các công trình này cũng chỉ là những nghiên cứu về quyền tiếp cận thông tin nói chung, chứ không phân tích trong một lĩnh vực cụ thể, đặc biệt là lĩnh vực đất đai

Do đó, đề tài mà tác giả lựa chọn “Quyền tiếp cận thông tin trong hồ sơ địa chính của người sử dụng đất” là một đề tài tương đối mới, không có nhiều công trình nghiên cứu chuyên sâu

Từ năm 2009 chỉ có một số công trình rải rác như bài viết đăng trên Tạp chí Nghiên cứu Lập pháp số 17 (154)/2009 của Nguyễn Thị Thu Vân “Cơ chế đảm bảo quyền tiếp cận thông tin đất đai”; Luận văn Thạc sĩ của Lê Thị Hồng Nhung năm 2010

“Bảo đảm pháp lý về quyền được thông tin của công dân trong quản lý nhà nước về đất đai” Từ sau năm 2010, liên quan đến “thông tin đất đai”, TS Đặng Anh Quân là người

có nhiều nghiên cứu nổi bật Cụ thể là Luận án Tiến sĩ “Hệ thống đăng ký đất đai theo pháp luật đất đai Việt Nam và Thụy Điển” năm 2011 và bài viết cùng với ThS Võ Trung Tín “Về hệ thống thông tin đất đai, một vài góp ý cho dự thảo Luật Đất đai sửa đổi”, được đăng trên tạp chí Khoa học Pháp lý năm 2013, số đặc san 01 Các tài liệu này có đề cập đến vấn đề xây dựng hệ thống thông tin đất đai, là một trong những điều kiện đảm bảo quyền tiếp cận thông tin đất đai Ngoài ra, năm 2013, TS Đặng Anh Quân tiếp tục có bài viết ngắn được đăng trên Tạp chí Nhà nước và Pháp luật, số 6 (302) “Tiếp cận thông tin đất đai trong hồ sơ địa chính” khái quát chung nhất về hồ sơ địa chính và tiếp cận thông tin đất đai Luận án và các bài viết này được viết trên cơ sở các quy định pháp luật đất đai cũ trước Luật Đất đai năm 2013 Do đó, đây là một

Trang 10

nguồn tài liệu quan trọng, gợi mở cho tác giả định hướng và tiếp tục nghiên cứu hoàn thiện pháp luật đảm bảo quyền tiếp cận thông tin trong hồ sơ địa chính của người sử dụng đất

3 Mục đích nghiên cứu

Với việc chọn đề tài : “Quyền tiếp cận thông tin trong hồ sơ địa chính của người

sử dụng đất”, tác giả mong muốn làm rõ một số vấn đề lý luận về quyền tiếp cận thông tin trong hồ sơ địa chính của người sử dụng đất và thực trạng đảm bảo quyền này tại Việt Nam Qua đó đánh giá những thành tựu và hạn chế còn tồn tại để đưa ra những kiến nghị nhằm đảm bảo quyền tiếp cận thông tin trong hồ sơ địa chính của người sử dụng đất, góp phần vào công cuộc bảo vệ quyền công dân, quyền con người để tiến tới xây dựng nhà nước pháp quyền đúng nghĩa ở Việt Nam

Để đạt được mục đích đã đề ra, Luận văn tập trung nghiên cứu về quyền tiếp cận thông tin trong hồ sơ địa chính của người sử dụng đất và các điều kiện để đảm bảo quyền Đề tài hướng đến phân tích những đảm bảo về mặt pháp lý, chứ không hướng đến những khía cạnh không phải là lĩnh vực pháp luật mà tác giả có thể khai thác

Đồng thời tác giả cũng phân tích thực trạng và làm rõ những thành tựu đã đạt được cũng như là những hạn chế trong việc đảm bảo quyền tiếp cận thông tin trong hồ

sơ địa chính của người sử dụng đất ở Việt Nam hiện nay Từ đó đưa ra những kiến nghị nhằm hoàn thiện pháp luật đảm bảo quyền tiếp cận thông tin trong hồ sơ địa chính của người sử dụng đất

Phương pháp nghiên cứu được sử dụng trong đề tài là sự kết hợp của nhiều phương pháp, như phương pháp tổng hợp, phân tích, so sánh, đánh giá và chứng minh

Tác giả sử dụng các phương pháp trên là nhằm mục đích tổng hợp các quy định pháp luật hiện hành về quyền và các điều kiện đảm bảo quyền tiếp cận thông tin trong

Trang 11

hồ sơ địa chính của người sử dụng đất Trên cơ sở đó, đưa ra những phân tích, so sánh, đánh giá việc áp dụng pháp luật trên thực tế và chứng minh những thiếu sót, hạn chế dẫn đến những bất cập đang tồn tại ở Việt Nam và từ đó đưa ra phương hướng hoàn thiện pháp luật đảm bảo quyền tiếp cận thông tin trong hồ sơ địa chính của người sử dụng đất

6 Ý nghĩa khoa học và giá trị ứng dụng của đề tài

Tiếp cận thông tin đất đai đang là một vấn đề được cả Nhà nước và xã hội quan tâm Theo đó, đề tài “Quyền tiếp cận thông tin trong hồ sơ địa chính của người sử dụng đất” sẽ là những gợi ý giải quyết các vấn đề còn hạn chế của hoạt động xây dựng và quản lý hồ sơ địa chính, từ đó đưa ra các kiến nghị nhằm đảm bảo quyền tiếp cận thông tin trong hồ sơ địa chính của người sử dụng đất được thực hiện trên thực tế nói riêng và tiếp cận thông tin đất đai nói chung

Chương 2: Thực trạng và phương hướng hoàn thiện pháp luật đảm bảo quyền tiếp cận thông tin trong hồ sơ địa chính của người sử dụng đất

Trong Chương này, tác giả nêu lên thực trạng và đánh giá các điều kiện đảm bảo quyền tiếp cận thông tin trong hồ sơ địa chính của người sử dụng đất ở Việt Nam hiện nay Trên cơ sở đó, tác giả đưa ra một số gợi ý, kiến nghị góp phần đảm bảo quyền tiếp cận thông tin trong hồ sơ địa chính của người sử dụng đất

Trang 12

CHƯƠNG 1 KHÁI QUÁT VỀ QUYỀN TIẾP CẬN THÔNG TIN TRONG HỒ SƠ ĐỊA

là để quản lý ruộng đất, thu thuế, vạch định ranh giới giữa các đơn vị hành chính và tránh tranh chấp đất đai2 Do đó, sổ ruộng đất chứa đựng các thông tin về đơn vị hành chính, địa giới, tổng diện tích, các loại đất, vị trí, tình trạng và hình thức sử dụng đất, lịch sử các vùng đất, những biến đổi về địa danh, địa giới qua thời gian và biến động về đất đai qua các thời kỳ3

Kể từ khi Luật Đất đai được ban hành năm 1987 và có hiệu lực năm 1988, việc lập bản đồ địa chính, sổ địa chính để quản lý đất đai bắt đầu được quy định4

và “địa chính” trở thành một từ gắn liền với sổ sách lưu trữ thông tin đất đai Theo FIG, địa chính là một dạng của hệ thống thông tin đất đai, cập nhật và lưu trữ những thông tin

về tự nhiên của thửa đất (tọa độ, bản đồ, vị trí, kích thước,…v.v.), về tài sản trên đất (nhà, công trình xây dựng,…v.v.), quyền sở hữu, giá trị, việc sử dụng đất đai và các dữ liệu môi trường, kinh tế, xã hội có liên quan đến từng thửa đất hay toàn bộ các thửa đất

1 Vũ Văn Quân (2005), “Tư liệu địa bạ trong nghiên cứu làng xã Việt Nam truyền thống (khảo sát địa bạ làng

Việt vùng đồng bằng Bắc Bộ”, Tạp chí Dân tộc học, (2), tr 3-7

2

Đặng Anh Quân (2011), “Hệ thống đăng ký đất đai theo pháp luật đất đai Việt Nam và Thụy Điển”, Luận án

Tiến sĩ Luật học, Trường Đại học Luật Thành phố Hồ Chí Minh, tr 123-140

3 Nguyễn Thu Hoài, “Địa bạ triều Nguyễn: Một sưu tập quốc bảo về tư liệu Hán Nôm tại Việt Nam”, http://www.archives.gov.vn/Pages/Tin%20chi%20ti%E1%BA%BFt.aspx?itemid=140&listId=c2d480fb-e285- 4961-b9cd-b018b58b22d0&ws=content, truy cập lúc 21h ngày 10/11/2014

4 Luật Đất đai năm 1987, Điều 9

Trang 13

(dân cư, thuế đất,…v.v.)5 Như vậy, hồ sơ địa chính có thể được hiểu là những tài liệu chứa đựng thông tin thửa đất, quyền sở hữu, sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất

Khái niệm “Hồ sơ địa chính” lần đầu tiên được nhắc đến trong Luật Đất đai năm

2003 chính là hồ sơ phục vụ quản lý nhà nước đối với việc sử dụng đất6 Đến Luật Đất đai năm 2013, khái niệm “Hồ sơ địa chính” được quy định cụ thể hơn, không chỉ phục

vụ quản lý nhà nước mà còn hỗ trợ nhu cầu thông tin của các tổ chức, cá nhân về đất đai, bao gồm các tài liệu dạng giấy hoặc dạng số thể hiện thông tin chi tiết về từng thửa đất, người được giao quản lý đất, người sử dụng đất, chủ sở hữu tài sản gắn liền với đất

và tình trạng pháp lý của thửa đất, tài sản gắn liền với đất7 Hồ sơ địa chính được lập theo từng đơn vị hành chính xã, phường, thị trấn và có nội dung thống nhất với giấy chứng nhận được cấp và phù hợp với hiện trạng sử dụng đất8

Hồ sơ địa chính bao gồm các tài liệu như: bản đồ địa chính, sổ mục kê đất đai,

sổ địa chính và bản lưu Giấy chứng nhận Ngoài ra, tùy thuộc vào tình hình xây dựng

cơ sở địa chính mà thành phần hồ sơ địa chính có thể gồm thêm sổ theo dõi biến động đất đai Những địa phương đã xây dựng và vận hành cơ sở địa chính thì hồ sơ địa chính được lập dưới dạng số và lưu trong cơ sở dữ liệu đất đai và khi có biến động trong quá trình sử dụng đất thì thông tin về biến động sẽ được cập nhật vào cơ sở dữ liệu địa chính Còn các địa phương chưa xây dựng cơ sở dữ liệu địa chính thì hồ sơ địa chính sẽ được lưu dưới dạng giấy hoặc dạng số (nếu có), nên các biến động trong quá trình sử dụng đất sẽ được cập nhật vào sổ theo dõi biến động đất đai dưới dạng giấy9

Bản đồ địa chính là bản đồ chuyên ngành dùng trong quản lý đất đai, mô tả các yếu tố tự nhiên của thửa đất như dữ liệu thửa đất và dữ liệu về đối tượng chiếm đất không tạo thành thửa đất Bản đồ địa chính được lập theo đơn vị hành chính cấp xã và phù hợp với hiện trạng quản lý, sử dụng đất

5 Đặng Anh Quân (2011), “Hệ thống đăng ký đất đai theo pháp luật đất đai Việt Nam và Thụy Điển”, Luận án

Tiến sĩ Luật học, Trường Đại học Luật thành phố Hồ Chí Minh, tr 35

6 Luật Đất đai năm 2003, Điều 4, Khoản 12

7 Thông tư 24/2014/TT-BTNMT ngày 19 tháng 05 năm 2014 của Bộ Tài Nguyên và Môi trường quy định về hồ

sơ địa chính (“Thông tư 24/2014/TT-BTNMT”), Điều 3, Khoản 1 và Luật Đất đai năm 2013, Điều 96

8

Thông tư 24/2014/TT-BTNMT, Điều 5

9 Thông tư 24/2014/TT-BTNMT, Điều 4

Trang 14

Dữ liệu về thửa đất thể hiện các thông tin về số hiệu thửa đất, địa chỉ, hình dạng, kích thước các cạnh thửa, tọa độ đỉnh thửa, diện tích và các dữ liệu khác thể hiện tài liệu đo đạc đã sử dụng là bản đồ địa chính hay bản trích đo địa chính và ngày hoàn thành việc đo đạc Diện tích thửa đất được tính theo đơn vị m2 và xác định cụ thể diện tích sử dụng chung, riêng10

Dữ liệu về đối tượng chiếm đất không tạo thành thửa đất bao gồm: tên thường gọi ở địa phương của đối tượng chiếm đất không tạo thành thửa đất, số tờ bản đồ có đối tượng, số hiệu của đối tượng chiếm đất trên từng tờ bản đồ, dữ liệu ranh giới và diện tích từng đối tượng trên từng tờ bản đồ11

Bản đồ địa chính được lập trước khi tổ chức việc đăng ký quyền sử dụng đất và hoàn thành sau khi được kiểm tra, ký xác nhận chất lượng sản phẩm của đơn vị thi công, đơn vị kiểm tra, UBND cấp xã và được nghiệm thu bởi STNMT Những nơi chưa có điều kiện lập bản đồ địa chính trước khi đăng ký quyền sử dụng đất thì được

sử dụng các loại bản đồ, sơ đồ hiện có, hoặc trích đo địa chính thửa đất để phục vụ cho việc đăng ký và cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất12

Sổ mục kê đất đai là sản phẩm của việc điều tra, đo đạc địa chính, tổng hợp các thông tin thuộc tính của thửa đất và các đối tượng chiếm đất không tạo thành thửa đất theo bản đồ địa chính, trích đo địa chính thửa đất trong phạm vi đơn vị hành chính cấp

xã, bao gồm: số hiệu tờ bản đồ/ mảnh trích đo địa chính, số hiệu thửa đất, đối tượng chiếm đất không tạo thành thửa đất, tên người sử dụng/ quản lý đất, mã đối tượng quản lý/ sử dụng đất, diện tích, loại đất theo hiện trạng hoặc theo giấy tờ pháp lý về quyền sử dụng đất hay theo quy hoạch sử dụng đất đã được phê duyệt Sổ mục kê đất đai được lập sau khi hoàn thành việc biên tập bản đồ địa chính/ mảnh trích đo địa chính13

Bản đồ địa chính, sổ mục kê đất đai được lập và lưu giữ dưới dạng số trong cơ

sở dữ liệu địa chính để sử dụng cho quản lý đất đai ở các cấp và được in ra giấy để sử dụng ở những nơi chưa hoàn thành việc xây dựng cơ sở dữ liệu địa chính hoặc chưa có

10

Thông tư 24/2014/TT-BTNMT, Điều 13

11 Thông tư 24/2014/TT-BTNMT, Điều 14

12 Luật Đất đai năm 2013, Điều 3, Khoản 4 và Thông tư 25/2014/TT-BTNMT ngày 19 tháng 05 năm 2014 của

Bộ Tài nguyên và Môi trường quy định về bản đồ địa chính (“Thông tư 25/2014/TT-BTNMT”), Điều 22, Khoản

6

13 Thông tư 24/2014/TT-BTNMT, Điều 20 và Thông tư 25/2014/TT-BTNMT, Điều 20

Trang 15

điều kiện để khai thác sử dụng bản đồ địa chính, sổ mục kê đất đai dạng số14.

Sổ địa chính được lập ở dạng số, do Thủ trưởng Cơ quan Đăng ký đất đai ký duyệt bằng chữ ký điện tử và được lưu giữ trong cơ sở dữ liệu đất đai để ghi nhận kết quả đăng ký và xác định tình trạng pháp lý, giám sát, bảo hộ các quyền và nghĩa vụ của người sử dụng đất, chủ sở hữu tài sản gắn liền với đất, người quản lý đất Các địa phương chưa xây dựng cơ sở dữ liệu địa chính và chưa có điều kiện lập sổ địa chính dạng số thì tiếp tục cập nhật vào sổ địa chính dạng giấy đang sử dụng15

Sổ địa chính bao gồm các dữ liệu sau:

(i) Dữ liệu về số hiệu, địa chỉ, diện tích của thửa đất hoặc đối tượng chiếm đất

không tạo thành thửa đất;

(ii) Dữ liệu về người quản lý/ sử dụng đất, chủ sở hữu tài sản gắn liền với đất được

xây dựng đối với tất cả các thửa đất đang có người quản lý/ sử dụng, chủ sở hữu tài sản gắn liền với đất, thể hiện các thông tin về mã đối tượng, thông tin về tên, năm sinh, địa chỉ, giấy tờ nhân thân hoặc giấy tờ pháp nhân và các thông tin khác của người quản lý/ sử dụng đất, chủ sở hữu tài sản gắn liền với đất16

;

(iii) Dữ liệu về quyền quản lý/ sử dụng đất, bao gồm các thông tin: hình thức, mục

đích và thời hạn sử dụng/ quản lý đất, nguồn gốc sử dụng đất, dữ liệu nghĩa vụ tài chính và hạn chế quyền sử dụng đất

Dữ liệu hình thức sử dụng đất được xây dựng đối với các thửa đất đã cấp giấy chứng nhận, thể hiện diện tích sử dụng đất chung và riêng

Dữ liệu mục đích sử dụng đất được xây dựng đối với tất cả các thửa đất, các đối tượng chiếm đất nhưng không tạo thành thửa đất theo Giấy chứng nhận đã cấp, chỉ tiêu kiểm kê đất đai hoặc theo quy hoạch sử dụng đất đã được xét duyệt và mục đích sử dụng đất chi tiết (nếu địa phương có quy định) Nó thể hiện tên gọi loại đất, mã ký hiệu và được sử dụng thống nhất trong cả nước

14 Thông tư 24/2014/TT-BTNMT, Điều 20

15

Thông tư 24/2014/TT-BTNMT, Điều 21

16 Thông tư 24/2014/TT-BTNMT, Điều 15

Trang 16

Dữ liệu thời hạn quản lý/ sử dụng đất thể hiện thông tin thửa đất được quản lý/

sử dụng lâu dài (không xác định thời hạn) hay có thời hạn (xác định thời điểm hết hạn quản lý/ sử dụng đất)

Dữ liệu nguồn gốc sử dụng đất bao gồm tên gọi và mã, thể hiện thửa đất được Nhà nước giao không/ có thu tiền sử dụng đất, cho thuê đất trả tiền thuê một lần/ hàng năm hoặc được Nhà nước công nhận quyền sử dụng hoặc giao quyền quản

lý đất

Dữ liệu nghĩa vụ tài chính về đất đai cung cấp thông tin về mức thu tiền và việc người sử dụng đất đã thực hiện nghĩa vụ tài chính (thể hiện thông qua tổng số tiền sử dụng đất hoặc tiền thuê đất phải nộp và đã nộp) hoặc chưa thực hiện nghĩa vụ tài chính (ghi nợ)

Dữ liệu những hạn chế về quyền sử dụng đất thể hiện phạm vi đất bị hạn chế và nội dung hạn chế như thửa đất thuộc quy hoạch sử dụng đất phải thu hồi, thuộc hành lang bảo vệ an toàn công trình hoặc trường hợp có quy định hạn chế diện tích xây dựng Dữ liệu quyền sử dụng hạn chế đối với thửa đất liền kề được thể hiện đối với cả thửa đất được hưởng quyền sử dụng hạn chế và thửa đất cung cấp quyền sử dụng hạn chế17

;

(iv) Dữ liệu về tài sản gắn liền với đất và chủ sở hữu tài sản gắn liền được xây dựng

đối với các thửa đất được cấp Giấy chứng nhận có ghi nhận về tài sản gắn liền với đất, thể hiện thông tin về loại tài sản, đặc điểm của tài sản, thông tin về chủ

sở hữu, hình thức và thời hạn sở hữu18;

(v) Dữ liệu tình trạng pháp lý về quyền sử dụng đất, quyền sở hữu tài sản gắn liền

với đất, quyền quản lý đất thể hiện tất cả các thông tin về tình hình đăng ký quyền sử dụng đất, quyền sở hữu tài sản gắn liền với đất như thời điểm nhận hồ

sơ đăng ký, thời điểm đăng ký vào sổ địa chính, số thứ tự của hồ sơ thủ tục đăng

ký và dữ liệu Giấy chứng nhận Ngoài ra còn có dữ liệu giấy tờ pháp lý về nguồn gốc và sự thay đổi quyền sử dụng đất, quyền sở hữu tài sản gắn liền với

17

Thông tư 24/2014/TT-BTNMT, Điều 16

18 Thông tư 24/2014/TT-BTNMT, Điều 17

Trang 17

đất thể hiện các thông tin về nguồn gốc sử dụng đất, nguồn gốc sở hữu tài sản gắn liền với đất, hợp đồng hoặc văn bản về chuyển quyền sử dụng đất, quyền sở hữu tài sản gắn liền với đất, văn bản về việc giải quyết tranh chấp, khiếu nại về đất đai, tài sản gắn liền với đất của cơ quan có thẩm quyền đã có hiệu lực thi hành, văn bản về trúng đấu giá quyền sử dụng đất, quyền sở hữu tài sản gắn liền với đất, hợp đồng hoặc văn bản thỏa thuận về quyền sử dụng hạn chế thửa đất liền kề và Giấy chứng nhận cũ đã cấp (nếu có)19

;

(vi) Dữ liệu về sự thay đổi trong quá trình sử dụng đất, sở hữu tài sản gắn liền với

đất bao gồm những thay đổi về thửa đất, về người quản lý sử dụng/ chủ sở hữu

và tình trạng sử dụng đất, thể hiện các thông tin về thời điểm và nội dung đăng

ký biến động20

Bản gốc Giấy chứng nhận được cấp cho người quản lý/ sử dụng đất, chủ sở hữu tài sản gắn liền với đất sau khi đăng ký sẽ được quét và lưu lại một bản gọi là Bản lưu Giấy chứng nhận Đối với địa phương chưa xây dựng cơ sở dữ liệu địa chính thì lập hệ thống bản lưu Giấy chứng nhận ở dạng giấy Nếu Giấy chứng nhận đã cấp mà chưa được quét thì Văn phòng Đăng ký đất đai phải quét bản lưu Giấy chứng nhận đó khi thực hiện đăng ký biến động về sử dụng đất21

1.1.2 Người sử dụng đất

Người sử dụng đất chính là chủ thể có quyền sử dụng đất, trong đó, quyền sử dụng đất được xác định như thế nào tùy thuộc vào quy định pháp luật, nhưng thường dựa trên hai tiêu chí

Tiêu chí thứ nhất, quyền sử dụng đất xác lập khi được nhà nước cho phép sử dụng đất thông qua một trong các hình thức như: giao đất, cho thuê đất, cho phép nhận chuyển nhượng quyền sử dụng đất hay công nhận quyền sử dụng đất Trung Quốc là nước quy định quyền sử dụng đất theo tiêu chí thứ nhất, tức người sử dụng đất phải là người được Nhà nước giao đất, cho thuê đất, cho phép nhận chuyển nhượng quyền sử

19 Thông tư 24/2014/TT-BTNMT, Điều 18

20

Thông tư 24/2014/TT-BTNMT, Điều 19

21 Thông tư 24/2014/TT-BTNMT, Điều 22

Trang 18

dụng đất hay công nhận quyền sử dụng đất22 Do đó, đối tượng thuê lại đất của người

sử dụng đất không được coi là người sử dụng đất và họ không được hưởng quyền và nghĩa vụ mà pháp luật quy định cho người sử dụng đất trong thời hạn thuê lại quyền sử dụng đất

Còn tiêu chí thứ hai dựa vào thực tế sử dụng đất, tức người sử dụng đất chính là những người đang sử dụng đất trên thực tế23 Nếu chỉ dựa vào tiêu chí thứ hai để xác định người sử dụng đất thì sẽ không phù hợp, vì đối với trường hợp sử dụng đất bất hợp pháp như lấn, chiếm, …vv thì không thể xem đây là người sử dụng đất được

Như vậy, khi xác định người sử dụng đất, yếu tố sử dụng đất hợp pháp nên là một điều kiện cần thiết, chủ thể sử dụng đất có thể xác lập quyền sử dụng đất khi được Nhà nước cho phép hoặc thông qua việc thuê lại quyền sử dụng đất của người sử dụng đất Pháp luật đất đai của Nga cũng quy định tương tự, theo đó, trong trường hợp cho thuê đất thì tư cách của người sử dụng đất sẽ được chuyển giao cùng với diện tích đất thuê từ bên cho thuê sang người thuê trong thời hạn thuê đất24

Ở nước ta, khái niệm người sử dụng đất được quy định từ Luật Đất đai năm

1987 đến Luật Đất đai năm 2013 cũng không giống nhau25

, nhưng về cơ bản đều thống nhất ở căn cứ xác định người sử dụng đất là được Nhà nước cho phép sử dụng đất Và điều này phù hợp với chế độ sở hữu đất đai ở Việt Nam là sở hữu toàn dân, do Nhà nước đại diện chủ sở hữu Do đó, Nhà nước không phải là đối tượng trực tiếp sử dụng đất, mà trao quyền sử dụng đất cho các chủ thể bằng các hình thức khác nhau và các chủ thể này được gọi là “Người sử dụng đất”

Từ những phân tích ở trên, có thể đưa ra khái niệm về “Người sử dụng đất” như sau: “Người sử dụng đất là các chủ thể được Nhà nước cho phép sử dụng đất bằng một trong các hình thức như giao đất, cho thuê đất, cho phép nhận chuyển nhượng quyền sử dụng đất hoặc công nhận quyền sử dụng đất, có quyền và nghĩa vụ theo quy định pháp

22

Đại học Luật Hà Nội (2006), Giáo trình Luật Đất đai, Nhà xuất bản Tư pháp, tr 180-183

23 Đại học Luật Hà Nội (2006), Giáo trình Luật Đất đai, Nhà xuất bản Tư pháp, tr 180-183

24 Đại học Luật Hà Nội (2006), Giáo trình Luật Đất đai, Nhà xuất bản Tư pháp, tr 180-183

25 Quy định về người sử dụng đất khác nhau của pháp luật đất đai các thời kỳ: Luật Đất đai năm 1987, Điều 1; Luật Đất đai năm 1993, Điều 1; Luật sửa đổi, bổ sung Luật Đất đai năm 1998; Luật Đất đai năm 2003, Điều 9; Luật Đất đai năm 2013

Trang 19

luật trong thời hạn sử dụng đất”26 Luật Đất đai năm 2013 cũng quy định tương tự và chia người sử dụng đất thành 7 nhóm đối tượng:

(1) Các tổ chức trong nước bao gồm cơ quan nhà nước, tổ chức chính trị, tổ chức

chính trị - xã hội, tổ chức chính trị xã hội - nghề nghiệp, tổ chức xã hội, tổ chức

xã hội - nghề nghiệp, tổ chức kinh tế, tổ chức sự nghiệp công, đơn vị vũ trang nhân dân và các tổ chức khác theo quy định của Chính phủ

(2) Hộ gia đình, cá nhân trong nước;

(3) Cộng đồng dân cư gồm cộng đồng người Việt Nam sinh sống trên cùng địa bàn

thôn, làng, ấp, bản, buôn, phum, sóc và các điểm dân cư tương tự có cùng phong tục, tập quán hoặc có chung dòng họ;

(4) Cơ sở tôn giáo gồm chùa, nhà thờ, nhà nguyện, thánh thất, thánh đường, niệm

phật đường, tu viện, trường đào tạo riêng của tôn giáo, trụ sở của tổ chức tôn giáo và các cơ sở khác của tôn giáo;

(5) Tổ chức nước ngoài có chức năng ngoại giao gồm cơ quan đại diện ngoại giao,

cơ quan lãnh sự, cơ quan đại diện khác của nước ngoài có chức năng ngoại giao được Chính phủ Việt Nam thừa nhận; cơ quan đại diện của tổ chức thuộc Liên hợp quốc, cơ quan hoặc tổ chức liên chính phủ, cơ quan đại diện của tổ chức liên chính phủ;

(6) Người Việt Nam định cư ở nước ngoài;

(7) Doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài gồm doanh nghiệp 100% vốn đầu tư

nước ngoài, doanh nghiệp liên doanh, doanh nghiệp Việt Nam mà nhà đầu tư nước ngoài mua cổ phần, sáp nhập, mua lại27

So với Luật Đất đai năm 2003, Luật Đất đai năm 2013 đã bổ sung thêm một số chủ thể phù hợp với tình hình sử dụng đất thực tế tại Việt Nam như nhà nguyện, niệm phật đường Chủ thể sử dụng đất người Việt Nam định cư ở nước ngoài được quy định rộng hơn, không chỉ giới hạn ở đối tượng về đầu tư, hoạt động văn hóa, hoạt động khoa học thường xuyên hoặc về sống ổn định tại Việt Nam, quy định này nhằm thực hiện chính sách đại đoàn kết toàn dân tộc, khuyến khích và thu hút đầu tư nước ngoài

Trang 20

Việc phân chia người sử dụng đất thành 7 (bảy) nhóm đối tượng chủ yếu trong phân hóa quyền và nghĩa vụ cho từng loại chủ thể, chứ không có ý nghĩa trong phân biệt quyền tiếp cận thông tin trong hồ sơ địa chính Do tính chất đặc thù của chế độ sở hữu toàn dân về đất đai ở nước ta nên quyền sử dụng đất là một quyền không trọn vẹn

và người sử dụng đất không được tự mình quyết định mọi vấn đề phát sinh trong quá trình sử dụng đất Vì vậy, không phải mọi người sử dụng đất đều có đầy đủ tất cả 9 (chín) quyền năng Ví dụ như tổ chức được Nhà nước giao đất không thu tiền sử dụng đất, cơ sở tôn giáo, cộng đồng dân cư không có quyền chuyển đổi, chuyển nhượng, tặng cho, cho thuê quyền sử dụng đất, thế chấp và góp vốn bằng quyền sử dụng đất28

Đối với quyền tiếp cận thông tin trong hồ sơ địa chính, trước 05/07/2014, hình thức cung cấp thông tin đất đai sẽ khác nhau tùy thuộc vào người sử dụng đất là cá nhân hay tổ chức Cá nhân chỉ được khai thác thông tin đất đai từ hồ sơ địa chính dưới các hình thức như: tra cứu thông tin; trích lục bản đồ địa chính đối với từng thửa đất; trích sao sổ địa chính, sổ mục kê đất đai đối với từng thửa đất hoặc từng chủ sử dụng

và tổng hợp thông tin đất đai Tổ chức thì được khai thác dưới tất cả các hình thức trên

và thêm hình thức sao thông tin hồ sơ địa chính vào thiết bị nhớ của máy tính29

Từ sau ngày 05/07/2014, tổ chức và cá nhân đều được khai thác thông tin đất đai dưới các hình thức như nhau, bao gồm: qua mạng internet, cổng thông tin đất đai, dịch vụ tin nhắn SMS hoặc yêu cầu cơ quan cung cấp dữ liệu đất đai30

Tuy nhiên, mức phí cung cấp thông tin sẽ không giống nhau giữa người yêu cầu là cá nhân, tổ chức hay cơ quan nhà nước khi thực hiện nhiệm vụ31

1.1.3 Quyền tiếp cận thông tin trong hồ sơ địa chính của người sử dụng đất

Quyền tiếp cận thông tin là một trong những quyền tự nhiên, cơ bản của con người, đây không phải là khái niệm mới mà nó đã xuất hiện vào thế kỷ 18 Đạo luật đầu tiên đề cập đến quyền được thông tin là Luật về Tự do báo chí của Thụy Điển được ban hành năm 1766 thiết lập nguyên tắc hồ sơ của chính phủ phải công khai cho công

30 Thông tư 34/2014/TT-BTNMT ngày 30 tháng 06 năm 2014 của Bộ Tài nguyên và Môi trường quy định về xây dựng, quản lý, khai thác hệ thống thông tin đất đai (“Thông tư 34/2014/TT-BTNMT”), Điều 9

31 Thông tư 34/2014/TT-BTNMT, Điều 9

Trang 21

chúng và trao cho người dân quyền được yêu cầu tiếp cận các văn bản của cơ quan chính phủ, trừ một số loại thông tin và tài liệu như thông tin và tài liệu của cơ quan an ninh và quân đội32

Trong gần hai thế kỷ tiếp theo, quyền tiếp cận thông tin vẫn chưa được các quốc gia khác ghi nhận Đến nửa cuối thế kỷ 20, một số quốc gia mới ban hành Luật về Tiếp cận thông tin: Phần Lan năm 1951, Hoa Kỳ năm 1966, vv Đến nay trên thế giới đã

có trên 80 quốc gia ban hành Luật về Quyền tiếp cận thông tin với các tên gọi khác nhau như Luật về Tự do thông tin ở Hoa Kỳ, Anh, Luật về Nghĩa vụ cung cấp thông tin

ở Áo, Luật về Nguyên tắc công khai trong hành chính ở Thụy Sỹ, vv33

Quyền tiếp cận thông tin chỉ trở thành mối quan tâm trên phạm vi quốc tế như quyền cơ bản nhất mà mọi người đều phải có được, không phân biệt chủng tộc, màu

da, giới tính, ngôn ngữ, tôn giáo và chính kiến,…vv34 sau Tuyên ngôn Quốc tế về Nhân quyền và Công ước Quốc tế về Quyền Dân sự và Chính trị Trong đó, quyền tiếp cận thông tin được bao hàm trong quyền tự do ngôn luận thông qua quyền tìm kiếm và tiếp nhận thông tin35 Về sau này, quyền tiếp cận thông tin ngày càng được nhìn nhận như một quyền tương đối độc lập với quyền tự do ngôn luận Nhưng dù cho quyền này được nhìn nhận độc lập với quyền tự do ngôn luận hay là một cấu thành tiên quyết của quyền tự do ngôn luận thì có thể khẳng định rằng quyền tiếp cận thông tin đã được ghi nhận là một quyền cơ bản của con người36

Căn cứ vào đối tượng được quyền tiếp cận thông tin, trên thế giới có thể có hai cách hiểu về quyền tiếp cận thông tin như sau:

32 Tường Duy Kiên (2008), “Quyền tiếp cận thông tin: Quy định quốc tế và đặc điểm chung của luật một số

nước”, Tạp chí Nghiên cứu Lập pháp, (30-31), tr 112-114.

33

Phan Huy Hồng (2013), “Quyền và bảo đảm quyền tiếp cận thông tin trong luật quốc tế, luật nước ngoài và luật

Việt Nam”, Tạp chí Khoa học Pháp lý, (01 (74)), tr 62-71

34 Tuyên ngôn Quốc tế về Nhân quyền, Điều 2

35

Tuyên ngôn Quốc tế về Nhân quyền, Điều 19: “Mọi người đều có quyền tự do ngôn luận và bày tỏ quan điểm; quyền này bao gồm sự tự do chính kiến mà không bị cản trở, tự do tìm kiếm, tiếp nhận, truyền đạt thông tin và tư tưởng qua mọi phương tiện truyền thông bất kể biên giới quốc gia”

Công ước Quốc tế về Quyền Dân sự và Chính trị, Điều 19: “Mọi người đều có quyền tự do ngôn luận Quyền này bao gồm tự do tìm kiếm, tiếp nhận và truyền đạt mọi thông tin, ý kiến, không phân biệt lĩnh vực, hình thức tuyên truyền bằng miệng, bằng bản viết, in, hoặc dưới hình thức nghệ thuật, thông qua bất kỳ phương tiện thông tin đại chúng nào tùy theo sự lựa chọn của họ”

36

Phan Huy Hồng (2013), “Quyền và bảo đảm quyền tiếp cận thông tin trong luật quốc tế, luật nước ngoài và luật

Việt Nam”, Tạp chí Khoa học Pháp lý, (01 (74)), tr 62-71

Trang 22

(i) Thứ nhất, quyền tiếp cận thông tin có thể chỉ bao gồm quyền được tiếp

cận các thông tin được cung cấp rộng rãi Còn các thông tin khác, chỉ các đối tượng bị ảnh hưởng bởi hành vi hay quyết định hành chính mới có quyền được tiếp cận trong một phạm vi và theo một trình tự thủ tục nhất định

(ii) Thứ hai, quyền tiếp cận thông tin bao gồm cả quyền của mọi người được

tiếp cận thông tin đối với mọi thông tin mà cơ quan nhà nước nắm giữ (trừ một số trường hợp ngoại lệ), mà không phụ thuộc vào tính liên quan của thông tin tới người được thông tin37

Trên thế giới, các ngoại lệ phổ biến là thông tin thuộc bí mật nhà nước, thông tin

mà việc tiết lộ có thể gây phương hại đến an ninh quốc gia, chủ quyền lãnh thổ hay lợi ích quốc gia khác, cũng như thông tin thuộc bí mật đời tư hay thông tin thuộc bí mật kinh doanh38 Quy định về phạm vi ngoại lệ luôn là vấn đề tranh cãi trong các quốc gia,

vì quyền tiếp cận thông tin của người dân tỷ lệ nghịch với phạm vi ngoại lệ, phạm vi ngoại lệ càng rộng thì quyền tiếp cận thông tin bị thu hẹp hơn

Việt Nam đã tham gia Công ước Quốc tế về Quyền Dân sự và Chính trị và Công ước Quốc tế về Quyền Kinh tế, Văn hóa và Xã hội từ năm 1982 Trên cơ sở đó, Hiến pháp năm 1992 đã ghi nhận đầy đủ các quyền cơ bản của con người, của công dân mà Việt Nam cam kết tôn trọng và bảo vệ, trong đó có quyền được thông tin39 Quy định này là một bước tiến quan trọng về mặt pháp lý và phù hợp với xu hướng bảo vệ quyền con người và quá trình xây dựng Nhà nước pháp quyền của nước ta hiện nay Tuy nhiên, cho đến nay, nước ta vẫn chưa có Luật chung về Tiếp cận thông tin Do đó, tùy từng lĩnh vực cụ thể mà trình tự, thủ tục, nội dung thông tin được tiếp cận sẽ khác nhau

37 Phan Huy Hồng (2013), “Quyền và bảo đảm quyền tiếp cận thông tin trong luật quốc tế, luật nước ngoài và luật

Việt Nam”, Tạp chí Khoa học Pháp lý, (01 (74)), tr 62-71

38 Tường Duy Kiên (2008), “Quyền tiếp cận thông tin: Quy định quốc tế và đặc điểm chung của luật một số

nước”, Tạp chí Nghiên cứu Lập pháp, (30-31), tr 112-114

39 Hiến pháp năm 1992, Điều 69

Trang 23

Trong lĩnh vực đất đai, Luật Đất đai năm 2003 cũng không quy định cụ thể về quyền tiếp cận thông tin trong hồ sơ địa chính của người sử dụng đất Quyền này được ghi nhận cụ thể trong Thông tư 09/2007/TT-BTNMT ngày 02 tháng 08 năm 2007 của

Bộ Tài nguyên và Môi trường hướng dẫn việc lập, chỉnh lý, quản lý hồ sơ địa chính Theo đó, mọi cá nhân, tổ chức đều được khai thác thông tin đất đai từ hồ sơ địa chính (trừ các thông tin thuộc danh mục bí mật nhà nước không được phép công bố)40

Sau

đó, Luật Đất đai năm 2013 tiếp tục quy định quyền được khai thác, sử dụng thông tin,

dữ liệu đất đai qua cổng thông tin đất đai ở trung ương, địa phương của tổ chức, cá nhân41 và cùng với đó trách nhiệm của Nhà nước là bảo đảm quyền tiếp cận thông tin đất đai thông qua việc xây dựng, quản lý hệ thống thông tin đất đai và công bố kịp thời, công khai và cung cấp thông tin từ hệ thống thông tin đất đai, trừ những thông tin thuộc bí mật42

Như vậy, quyền tiếp cận thông tin trong hồ sơ địa chính của người sử dụng đất

là quyền được khai thác và sử dụng tất cả các thông tin thuộc hồ sơ địa chính, trừ những thông tin thuộc bí mật

1.2 Sự cần thiết phải đảm bảo quyền tiếp cận thông tin trong hồ sơ địa chính

của người sử dụng đất

Đất đai là một loại tài sản đặc biệt và có giá trị lớn, nên sẽ mang lại nhiều lợi ích trên những lĩnh vực khác nhau Cùng với thời gian, nhu cầu của con người về đất đai gia tăng, trong khi nguồn cung lại có giới hạn, dẫn đến giá trị của nó ngày càng tăng lên Vì vậy, tranh chấp đất đai xảy ra thường xuyên khi quyền sử dụng đất không được xác định rõ ràng Trên thực tế, việc giải quyết tranh chấp đất đai thường kéo dài rất lâu, gây tốn kém về thời gian, công sức và tiền bạc cho cả Nhà nước và các bên tranh chấp Bên cạnh đó, nó còn làm rạn nứt các mối quan hệ xã hội, vì trong nhiều trường hợp, tranh chấp đất đai thường nảy sinh giữa những người họ hàng hoặc làng xóm Do vậy, khi thông tin đất đai được đăng ký, lưu trữ chính xác và đầy đủ sẽ xác định rõ vị trí,

40 Thông tư 09/2007/TT-BTNMT ngày 02 tháng 08 năm 2007 của Bộ Tài nguyên và Môi trường hướng dẫn việc lập, chỉnh lý, quản lý hồ sơ địa chính (“Thông tư 09/2007/TT-BTNMT” đã hết hiệu lực từ ngày 05/07/2014), phần VI

41

Luật Đất đai năm 2013, Điều 122

42 Luật Đất đai năm 2013, Điều 28

Trang 24

ranh giới và công nhận chủ quyền đối với đất đai Và dựa vào đó, cơ quan nhà nước có thẩm quyền mới có được cơ sở pháp lý vững vàng để giải quyết tranh chấp

Cùng với đó, người sử dụng đất có thể bảo vệ được quyền sở hữu/ sử dụng bất động sản của mình và họ sẽ yên tâm đưa tài sản này vào giao dịch, đầu tư nhằm tạo ra lợi nhuận cho bản thân cũng như thúc đẩy thị trường bất động sản phát triển, kéo theo

sự phát triển của các thị trường tài chính tín dụng, xây dựng, lao động, vv và thúc đẩy nền kinh tế phát triển Trong giao dịch về quyền sử dụng đất, các thông tin liên quan đến thửa đất thường được quan tâm đó là: vị trí, diện tích và quy hoạch của thửa đất; chủ sở hữu/ sử dụng đất; hạn chế của quyền sở hữu/ sử dụng đất Do đó, việc tiếp cận thông tin đất đai chính xác và kịp thời trong trường hợp này có ý nghĩa quyết định đối với hiệu quả đầu tư, đảm bảo an toàn pháp lý cho các chủ thể tham gia giao dịch và hạn chế tranh chấp

Ngoài ra, khi thông tin đất đai đầy đủ thì các chủ thể đều nhận thức được chủ quyền của mình, nên sẽ tôn trọng chủ quyền của người khác và lợi ích công cộng, từ đó góp phần ngăn chặn hoặc hạn chế những tranh chấp có thể nảy sinh, đảm bảo sự ổn định của xã hội

Với tất cả những lợi ích của thông tin đất đai như trên, có thể thấy rằng việc đảm bảo quyền tiếp cận thông tin trong hồ sơ địa chính của người sử dụng đất ngày càng trở nên cấp bách, cần được sự quan tâm sâu sắc của Nhà nước, xã hội và mọi người dân

1.3 Nội dung pháp luật về quyền tiếp cận thông tin trong hồ sơ địa chính của

người sử dụng đất

1.3.1 Xây dựng và quản lý hồ sơ địa chính

Thông tin đất đai sau khi đăng ký hoặc chỉnh lý sẽ được tập hợp lập thành hồ sơ địa chính chi tiết đến từng thửa đất và được lưu giữ, quản lý dưới dạng tài liệu trên giấy

và hiện nay đang chuyển sang dạng số để quản lý trên máy tính Hồ sơ địa chính được lập theo đơn vị hành chính cấp xã và phải thể hiện đầy đủ, chính xác và thống nhất nội

Trang 25

dung thông tin đất đai dạng số, trên giấy với Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất và hiện trạng sử dụng đất

Đồng thời với việc lưu giữ, nếu có biến động trong quá trình sử dụng đất thì hồ

sơ địa chính phải được cập nhật, chỉnh lý thường xuyên và kịp thời Địa phương đã xây dựng cơ sở dữ liệu địa chính thì cập nhật, chỉnh lý hồ sơ địa chính gắn với quá trình đăng ký Sau khi tiếp nhận hồ sơ hợp lệ, thông tin đất đai sẽ được đăng ký và cập nhật vào cơ sở dữ liệu địa chính và giấy tờ pháp lý về quyền quản lý/ sử dụng đất, quyền sở hữu tài sản gắn liền với đất sau khi cập nhật sẽ được quét để lưu trên máy tính Nếu có

sự thay đổi các yếu tố tự nhiên của thửa đất, cần phải đo đạc lại thì bản đồ địa chính/ trích đo địa chính thửa đất và sổ mục kê đất đai cũng phải được chỉnh lý và cập nhật Nếu nghĩa vụ tài chính của người sử dụng đất có sự thay đổi thì sau khi nhận được chứng từ nộp nghĩa vụ tài chính hoặc văn bản của cơ quan thẩm quyền về việc ghi nợ hoặc miễn, giảm nghĩa vụ tài chính thì thông tin này cũng sẽ được cập nhật vào dữ liệu

về quyền quản lý/ sử dụng đất Những thông tin biến động sau khi cập nhật, chỉnh lý trong bản đồ địa chính/ trích đo địa chính, sổ mục kê đất đai, Giấy chứng nhận thì phải được trích xuất vào sổ địa chính và ký duyệt trang sổ địa chính đã lập hoặc chỉnh lý43

Địa phương chưa xây dựng cơ sở dữ liệu địa chính thì việc cập nhật, chỉnh lý hồ

sơ địa chính được thực hiện trên giấy và sao lại một bản Giấy chứng nhận lần đầu hoặc sau khi đã đăng ký biến động để lưu trước khi trao cho người được cấp Trường hợp đăng ký đất đai lần đầu mà không đủ điều kiện được cấp Giấy chứng nhận thì hồ sơ địa chính được cập nhật, chỉnh lý sau khi nhận được ý kiến bằng văn bản của cơ quan có thẩm quyền về việc không đủ điều kiện cấp Giấy chứng nhận Hoặc nếu đăng ký đất đai lần đầu mà người sử dụng đất không có nhu cầu cấp Giấy chứng nhận hay đăng ký đất được Nhà nước giao quản lý thì hồ sơ địa chính được cập nhật, chỉnh lý sau khi hoàn thành việc kiểm tra hồ sơ44

Việc cập nhật, chỉnh lý hồ sơ địa chính đối với trường hợp đăng ký lần đầu và đăng ký biến động đất đai, tài sản gắn liền với đất, giao hoặc cho thuê đất, cấp lại, cấp đổi hoặc đính chính Giấy chứng nhận bị mất thì phải được thực hiện trước khi trao Giấy chứng nhận cho người được cấp và không quá 03 (ba) ngày làm việc kể từ ngày

43

Thông tư 24/2014/TT-BTNMT, Điều 26

44 Thông tư 24/2014/TT-BTNMT, Điều 26

Trang 26

ký cấp Giấy chứng nhận hoặc ngày xác nhận thay đổi vào Giấy chứng nhận đã cấp hoặc ngày hoàn thành việc kiểm tra hồ sơ đăng ký đối với trường hợp không có nhu cầu cấp Giấy chứng nhận hoặc đăng ký đất được giao quản lý Đối với trường hợp thu hồi đất thì phải hoàn thành việc cập nhật, chỉnh lý hồ sơ địa chính trong thời gian không quá 05 (năm) ngày làm việc kể từ ngày bàn giao đất trên thực địa45

Hồ sơ địa chính phải được lập, cập nhật và chỉnh lý đồng bộ ở cả ba cấp hành chính Sau khi cập nhật đồng bộ cơ sở dữ liệu địa chính đã tiếp nhận, cơ quan đăng ký đất đai phải thực hiện việc chiết xuất vào hồ sơ địa chính dạng số các dữ liệu đăng ký lần đầu bổ sung, dữ liệu đăng ký biến động từ cơ sở dữ liệu địa chính đã được cập nhật Những đơn vị hành chính cấp xã sử dụng trực tiếp hồ sơ địa chính dạng số thông qua đường truyền kết nối với cơ sở dữ liệu địa chính của tỉnh, huyện thì công chức địa chính cấp xã không phải thực hiện việc đồng bộ hóa dữ liệu Còn trường hợp địa phương đã lập hồ sơ địa chính dạng số nhưng đơn vị hành chính cấp xã chưa khai thác

sử dụng trực tiếp hồ sơ địa chính dạng số từ cơ sở dữ liệu địa chính của tỉnh, huyện thì Chi nhánh Văn phòng Đăng ký đất đai hoặc Văn phòng Đăng ký quyền sử dụng đất cấp huyện thực hiện định kỳ việc chiết xuất, sao vào thiết bị nhớ các dữ liệu mới cập nhật, chỉnh lý trong kỳ và gửi cho công chức địa chính cấp xã để cập nhật vào bản sao

hồ sơ địa chính dạng số của xã Thời gian định kỳ thực hiện việc chiết xuất, gửi dữ liệu cho cấp xã do Chi nhánh Văn phòng Đăng ký đất đai hoặc Văn phòng Đăng ký quyền

sử dụng đất cấp huyện quy định tùy thuộc điều kiện từng xã nhưng không quá 15 (mười lăm) ngày một lần Trong vòng 02 (hai) ngày làm việc sau khi nhận được dữ liệu cập nhật, chỉnh lý do cấp huyện gửi, công chức địa chính cấp xã phải nhập dữ liệu mới vào bản sao hồ sơ địa chính dạng số của xã Đối với những đơn vị hành chính cấp xã còn sử dụng hồ sơ địa chính dạng giấy thì trong thời hạn không quá 03 (ba) ngày làm việc, kể từ ngày cập nhật, chỉnh lý hồ sơ địa chính, cơ quan đăng ký đất đai phải gửi thông báo cho công chức địa chính cấp xã và trong vòng 03 (ba) ngày làm việc kể từ ngày nhận được thông báo, hồ sơ địa chính phải được cập nhật, chỉnh lý tại cấp xã46

Trước khi được đưa vào sử dụng và trong quá trình cập nhật, chỉnh lý, hồ sơ địa chính phải được kiểm tra về hình thức và tính đầy đủ của nội dung và sự thống nhất giữa bản đồ địa chính, sổ mục kê, sổ địa chính, bản lưu Giấy chứng nhận và hiện trạng

45

Thông tư 24/2014/TT-BTNMT, Điều 26

46 Thông tư 24/2014/TT-BTNMT, Điều 27

Trang 27

sử dụng đất STNMT sẽ kiểm tra, nghiệm thu chất lượng hồ sơ địa chính được lập ban đầu trước khi đưa vào sử dụng Văn phòng Đăng ký đất đai hoặc Văn phòng Đăng ký quyền sử dụng đất cấp tỉnh có trách nhiệm kiểm tra định kỳ việc cập nhật, chỉnh lý hồ

sơ địa chính do Chi nhánh Văn phòng Đăng ký đất đai hoặc Văn phòng Đăng ký quyền

sử dụng đất cấp huyện thực hiện, ít nhất 20% số trường hợp đã cập nhật, chỉnh lý Chi nhánh Văn phòng Đăng ký đất đai hoặc Văn phòng Đăng ký quyền sử dụng đất cấp huyện có trách nhiệm kiểm tra tối thiểu 6 (sáu) tháng một lần việc cập nhật, chỉnh lý bản sao hồ sơ địa chính do công chức địa chính cấp xã thực hiện47

Hồ sơ địa chính được bảo đảm an toàn và quản lý theo phân cấp Văn phòng Đăng ký đất đai hoặc Văn phòng Đăng ký quyền sử dụng đất cấp tỉnh quản lý hồ sơ địa chính dạng số của tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương Các quận, huyện, thị xã, thành phố thuộc tỉnh xây dựng cơ sở dữ liệu địa chính mà chưa kết nối với cơ sở dữ liệu địa chính của cấp tỉnh thì Chi nhánh Văn phòng Đăng ký đất đai hoặc Văn phòng Đăng ký quyền sử dụng đất cấp huyện quản lý hồ sơ địa chính dạng số của địa phương mình Đối với địa phương chưa xây dựng hồ sơ địa chính dạng số thì việc quản lý hồ

sơ địa chính sẽ khác nhau tùy theo đối tượng sử dụng đất Văn phòng Đăng ký đất đai hoặc Văn phòng Đăng ký quyền sử dụng đất cấp tỉnh quản lý hồ sơ địa chính của tổ chức, cơ sở tôn giáo, cá nhân nước ngoài, doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài, tổ chức nước ngoài có chức năng ngoại giao, người Việt Nam định cư ở nước ngoài thực hiện dự án đầu tư và hồ sơ địa chính đã lập qua các thời kỳ không sử dụng thường xuyên trong quản lý đất đai Chi nhánh Văn phòng Đăng ký đất đai hoặc Văn phòng Đăng ký quyền sử dụng đất cấp huyện quản lý hồ sơ địa chính của hộ gia đình, cá nhân, cộng đồng dân cư, người Việt Nam định cư ở nước ngoài được sở hữu nhà ở tại Việt Nam Còn các trường hợp nộp hồ sơ đăng ký tại UBND cấp xã thì công chức địa chính cấp xã sẽ quản lý bản sao bản đồ địa chính, sổ địa chính và sổ mục kê đất đai48

Hồ sơ địa chính dạng số và thiết bị nhớ chứa hồ sơ địa chính số, các tài liệu dạng giấy đã lập như: tài liệu đo đạc địa chính, sổ địa chính, sổ mục kê đất đai, sổ cấp Giấy chứng nhận, bản lưu Giấy chứng nhận, hồ sơ thủ tục đăng ký đất đai, tài sản gắn liền với đất được bảo quản vĩnh viễn, thông báo về việc cập nhật, chỉnh lý hồ sơ địa

47

Thông tư 24/2014/TT-BTNMT, Điều 28

48 Thông tư 24/2014/TT-BTNMT, Điều 29

Trang 28

chính và các giấy tờ khác kèm theo được bảo quản trong 5 năm49

Đất và nhà ở là hai loại tài sản có sự gắn kết và không thể tách rời Tuy nhiên, việc quy định thẩm quyền quản lý thông tin đất đai và nhà ở lại không thống nhất, tại hai hệ thống cơ quan khác nhau Nhà ở sau khi đăng ký thì thông tin được ghi nhận và lưu trữ tại cơ quan quản lý nhà ở cấp tỉnh và cấp huyện Hồ sơ nhà ở được lập theo từng nhà ở, phân định rõ khu vực đô thị và nông thôn 50 Sở Xây dựng sẽ quản lý hồ sơ nhà ở của tổ chức, người Việt Nam định cư ở nước ngoài thực hiện dự án đầu tư xây dựng nhà ở tại Việt Nam, cá nhân nước ngoài và nhà ở thuộc sở hữu chung của tổ chức

và cá nhân Còn hồ sơ nhà ở của cá nhân trong nước và người Việt Nam định cư ở nước ngoài sở hữu nhà ở gắn liền với quyền sử dụng đất do Phòng có chức năng quản

lý nhà ở cấp huyện quản lý51 Việc lập cơ sở dữ liệu số và quản lý hồ sơ nhà ở qua mạng máy tính và cung cấp thông tin trong hồ sơ nhà ở cũng được quy định52, nhưng không cụ thể như quy định cung cấp thông tin trong hồ sơ địa chính53

1.3.2 Cung cấp thông tin từ hồ sơ địa chính

Hiện tại, ở Việt Nam, vấn đề cung cấp thông tin không được quy định trong một văn bản luật thống nhất mà chỉ được quy định rải rác tại các văn bản pháp luật khác nhau theo từng lĩnh vực cụ thể Theo đó, cung cấp thông tin đất đai từ hồ sơ địa chính cũng đã được quy định lần đầu tại Thông tư 09/2007/TT-BTNMT và hiện nay Thông

tư này đã được thay thế bởi các quy định mới Theo Thông tư 04/2013/TT-BTNMT ngày 24 tháng 04 năm 2013 của Bộ Tài nguyên và Môi trường quy định về cơ sở dữ liệu đất đai thì nội dung thông tin đất đai được cung cấp sẽ tùy thuộc vào hình thức và đối tượng yêu cầu cung cấp Đối với trường hợp tra cứu trực tuyến tự do trên mạng, nội dung thông tin đất đai được cung cấp bao gồm:

49 Thông tư 24/2014/TT-BTNMT, Điều 30

50

Luật Nhà ở năm 2005, Điều 66 và Điều 139

51 Nghị định 71/2010/ND-CP ngày 23 tháng 06 năm 2010 của Chính phủ quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành Luật Nhà ở (“Nghị định 71/2010/ND-CP”), Điều 76

52 Nghị định 71/2010/ND-CP, Điều 76

53

Thông tư 16/2010/TT-BXD ngày 01 tháng 09 năm 2010 của Bộ Xây dựng quy định cụ thể và hướng dẫn thực hiện một số nội dung của Nghị định 71/2010/ND-CP, Điều 22

Trang 29

(i) Thông tin thuộc tính địa chính, gồm có: số hiệu thửa, số hiệu tờ bản đồ

địa chính, diện tích, mục đích sử dụng đất, tình trạng đăng ký và cấp Giấy chứng nhận;

(ii) Thông tin quy hoạch sử dụng đất đã được xét duyệt gồm: sơ đồ không

gian quy hoạch và mục đích sử dụng đất;

(iii) Bảng giá đất đã công bố

Thông tin về dữ liệu đất đai của từng thửa đất chỉ được cung cấp cho chủ sử dụng đất/ sở hữu tài sản gắn liền với đất khi họ có nhu cầu hoặc cung cấp cho các Cơ quan Nhà nước để thực hiện nhiệm vụ được giao như UBND, Cơ quan quản lý đất đai, Thanh tra Nhà nước và Tòa án nhân dân các cấp Còn khi các tổ chức, cá nhân khác có nhu cầu cung cấp thông tin về thửa đất không thuộc quyền sở hữu/ sử dụng của mình thì sẽ bị hạn chế một số thông tin như:

(i) Tên cơ quan, đơn vị quốc phòng, an ninh;

(ii) Thông tin về giấy tờ pháp nhân, nhân thân và địa chỉ của người sử dụng

đất, chủ sở hữu tài sản gắn liền với đất;

(iii) Thông tin tọa độ thửa đất;

(iv) Dữ liệu quét Giấy chứng nhận và các giấy tờ pháp lý về quyền sử dụng

đất có trong hồ sơ cấp Giấy chứng nhận;

(v) Hồ sơ đăng ký thế chấp bằng quyền sử dụng đất, quyền sở hữu tài sản

gắn liền với đất54

Sau đó, Luật Đất đai năm 2013 và các văn bản hướng dẫn cũng đã quy định trách nhiệm của cơ quan nhà nước trong việc tạo điều kiện và cung cấp thông tin đất đai cho tổ chức, cá nhân55 dưới nhiều hình thức phong phú như: khai thác thông tin đất đai qua mạng internet, cổng thông tin đất đai, dịch vụ tin nhắn SMS, hoặc thông qua phiếu/ văn bản yêu cầu hay ký hợp đồng với cơ quan cung cấp dữ liệu đất đai56 Theo

đó, tổ chức, cá nhân có quyền được cung cấp thông tin đất đai, trừ những thông tin thuộc bí mật57 Dữ liệu địa chính được quản lý theo chế độ mật bao gồm: (i) Thông tin

54 Thông tư 04/2013/TT-BTNMT, Điều 18

55 Luật Đất đai năm 2013, Điều 28, Khoản 4

56 Thông tư 34/2014/TT-BTNMT ngày 30 tháng 06 năm 2014 của Bộ Tài nguyên và Môi trường quy định về xây dựng, quản lý, khai thác hệ thống thông tin đất đai (“Thông tư 34/2014/TT-BTNMT”), Điều 9

57 Luật Đất đai năm 2013, Điều 28

Trang 30

về người sử dụng đất và thông tin thuộc tính thửa đất của các đơn vị quốc phòng, an ninh; (ii) Thông tin về cá nhân của người sử dụng đất, chủ sở hữu tài sản gắn liền với đất mà người đó có yêu cầu bảo mật phù hợp với quy định của pháp luật và (iii) Các thông tin thuộc bí mật Nhà nước58

Dữ liệu đất đai ở Trung ương do Trung tâm Dữ liệu và Thông tin đất đai thuộc Tổng cục Quản lý đất đai, BTNMT cung cấp Còn Văn phòng Đăng ký đất đai sẽ cung cấp dữ liệu đất đai ở địa phương Những nơi chưa xây dựng cơ sở dữ liệu đất đai thì Văn phòng Đăng ký đất đai, UBND cấp xã cung cấp dữ liệu đất đai từ hồ sơ địa chính theo phân cấp quản lý59

Tổ chức, cá nhân muốn khai thác dữ liệu đất đai trên mạng internet, cổng thông tin đất đai, dịch vụ tin nhắn SMS thì phải đăng ký và được cấp quyền truy cập, khai thác dữ liệu từ hệ thống thông tin đất đai Mỗi đối tượng sẽ được cấp một mã truy cập, nên không được làm lộ địa chỉ, mã khóa truy cập đã được cấp và chỉ khai thác dữ liệu trong phạm vi được cấp, không xâm nhập trái phép cơ sở dữ liệu đất đai Dữ liệu khai thác phải được quản lý, sử dụng đúng mục đích và không được cung cấp cho tổ chức,

cá nhân khác trừ khi đã thỏa thuận hoặc được cơ quan cung cấp dữ liệu đất đai cho phép bằng văn bản60

Ngoài ra, tổ chức, cá nhân cũng có thể nộp phiếu/ văn bản yêu cầu cho cơ quan cung cấp dữ liệu đất đai theo một trong các phương thức: gửi trực tiếp, fax, bưu điện hoặc gửi thư điện tử hay qua cổng thông tin đất đai Sau khi tổ chức, cá nhân thực hiện xong nghĩa vụ tài chính, cơ quan được yêu cầu phải cung cấp dữ liệu ngay trong ngày nếu nhận được yêu cầu trước 15 giờ hoặc vào ngày làm việc tiếp theo nếu nhận được yêu cầu sau 15 giờ Và nếu từ chối cung cấp thì phải có văn bản trả lời nêu rõ lý do61 Trong trường hợp dữ liệu cần phải tổng hợp, xử lý trước khi cung cấp thì tổ chức, cá nhân phải ký hợp đồng với cơ quan cung cấp dữ liệu đất đai và thời hạn cung cấp thông tin tùy theo thỏa thuận trong hợp đồng62

58 Thông tư 24/2014/TT-BTNMT, Điều 31

59 Thông tư 34/2014/TT-BTNMT, Điều 15

60 Thông tư 34/2014/TT-BTNMT, Điều 10

61

Thông tư 34/2014/TT-BTNMT, Điều 11 và Điều 12

62 Thông tư 34/2014/TT-BTNMT, Điều 12 và Điều 14

Trang 31

Người được cung cấp thông tin phải trả phí khai thác và sử dụng tài liệu đất đai, chi phí in ấn, sao chụp hồ sơ, tài liệu, chi phí gửi tài liệu (nếu có), trừ BTNMT, cơ quan Tài nguyên và Môi trường ở địa phương, UBND các cấp trong khi thực hiện nhiệm vụ quản lý nhà nước về đất đai hoặc khi cung cấp dữ liệu đất đai để phục vụ cho các mục đích quốc phòng và an ninh, phục vụ yêu cầu trực tiếp của lãnh đạo Đảng và Nhà nước hay trong tình trạng khẩn cấp Ngoài ra, một số thông tin đất đai cũng sẽ được khai thác miễn phí như: Danh mục dữ liệu có trong cơ sở dữ liệu đất đai; Thông tin về quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất đã được cơ quan nhà nước có thẩm quyền xét duyệt; Khung giá đất, bảng giá đất đã công bố; Thông tin về các thủ tục hành chính trong lĩnh vực đất đai và các văn bản quy phạm pháp luật về đất đai63

Dữ liệu đất đai sẽ không được cung cấp cho người có yêu cầu trong những trường hợp sau:

(i) Văn bản, phiếu yêu cầu cung cấp dữ liệu mà nội dung không rõ ràng, cụ thể; (ii) Yêu cầu cung cấp dữ liệu thuộc phạm vi bí mật nhà nước;

(iii) Văn bản yêu cầu không có chữ ký của người có thẩm quyền và đóng dấu xác

nhận đối với tổ chức; phiếu yêu cầu không có chữ ký, tên và địa chỉ cụ thể của

cá nhân yêu cầu cung cấp dữ liệu;

(iv) Mục đích sử dụng dữ liệu không phù hợp theo quy định của pháp luật

(v) Không thực hiện nghĩa vụ tài chính64

Đối với nhà ở, khi có văn bản đề nghị cung cấp thông tin về nhà ở từ cơ quan nhà nước có thẩm quyền để phục vụ cho công tác quản lý nhà nước hoặc từ cơ quan điều tra, Viện kiểm sát nhân dân, Tòa án nhân dân nhằm phục vụ cho công tác điều tra, giải quyết tranh chấp, khiếu nại, tố cáo và các vụ án về nhà ở thì cơ quan quản lý hồ sơ nhà ở có trách nhiệm cung cấp miễn phí Còn các cơ quan, tổ chức và cá nhân khác chỉ được cung cấp thông tin về hiện trạng và tình trạng pháp lý của đất ở, nhà ở mà họ có quyền và nghĩa vụ liên quan đến nhà ở đó và phải trả phí cung cấp thông tin Hình thức cung cấp thông tin có thể bằng văn bản hoặc qua mạng điện tử hay sao chụp, trích lục

hồ sơ tùy theo nhu cầu65

63 Thông tư 34/2014/TT-BTNMT, Điều 9 và Điều 16

64

Thông tư 34/2014/TT-BTNMT, Điều 13

65 Luật Nhà ở năm 2005, Điều 139 và Nghị định 71/2010/ND-CP, Điều 76

Trang 32

KẾT LUẬN CHƯƠNG 1

Hiểu được vai trò đặc biệt quan trọng của đất đai, Nhà nước đã quản lý đất đai bằng việc lưu trữ thông tin đất đai dựa trên “điền bạ”, “địa bạ”, “địa bộ” hay hồ sơ địa chính Dù được thể hiện dưới các tên gọi khác nhau, nhưng tựu chung lại, chúng đều là những tài liệu phục vụ quản lý nhà nước về đất đai

Trong đó, hồ sơ địa chính là nơi lưu trữ thông tin đất đai đầy đủ nhất phục vụ cho cả nhu cầu của tổ chức, cá nhân về thông tin đất đai, chứa đựng các thông tin về tự nhiên và thuộc tính của thửa đất Các thông tin về tự nhiên được thể hiện chi tiết trên bản đồ địa chính, bản đồ hiện trạng sử dụng đất và bản đồ quy hoạch sử dụng đất, bao gồm: thông tin về vị trí, hình thửa, kích thước, tính chất tự nhiên của thửa đất; các thông tin về phân hạng, giá trị thửa đất; các công trình trên đất (bất động sản trên đất); các thông tin về quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất; các thông tin về giao thông và thủy lợi Thông tin về thuộc tính thửa đất được thể hiện trên sổ mục kê, sổ địa chính, bao gồm: thông tin về loại đất, mục đích sử dụng, người quản lý/ sử dụng đất, chủ sở hữu tài sản gắn liền với đất, tình trạng pháp lý và trạng thái sử dụng của thửa đất, thông tin

về đăng ký sử dụng đất, giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, thông tin về các tài sản khác gắn liền với đất, thông tin về biến động và thông tin về các tài liệu pháp lý khác

có liên quan

Như vậy, có thể khẳng định rằng những thông tin trong hồ sơ địa chính rất quan trọng đối với người sử dụng đất và các chủ thể liên quan trong việc xác định chủ quyền, hạn chế tranh chấp đất đai và ổn định xã hội

Do đó, việc bảo đảm quyền tiếp cận thông tin trong hồ sơ địa chính của người

sử dụng đất là rất cần thiết Và để đạt được điều đó, Việt Nam cần một sự thay đổi toàn diện, từ hệ thống, chính sách pháp luật, cơ cấu tổ chức và nhận thức của cán bộ, cơ quan quản lý đất đai, đến việc triển khai xây dựng hệ thống đăng ký đất đai, hệ thống thông tin đất đai và nâng cao nhận thức của người dân

Trang 33

CHƯƠNG 2 THỰC TRẠNG VÀ PHƯƠNG HƯỚNG HOÀN THIỆN PHÁP LUẬT ĐẢM BẢO QUYỀN TIẾP CẬN THÔNG TIN TRONG HỒ SƠ ĐỊA

Thông tin quy hoạch và tình trạng pháp lý của căn nhà là một trong những thông tin quan trọng hàng đầu mà bên mua nhà muốn tìm hiểu trước khi xác lập giao dịch nhận chuyển quyền sử dụng đất/ sở hữu nhà ở Nhưng khi họ liên hệ với PTNMT một

số quận ở TP Hồ Chí Minh thì bị từ chối cung cấp thông tin với rất nhiều lý do Cán

bộ địa chính ở PTNMT Quận 3, TP Hồ Chí Minh giải thích rằng thông tin về nhà đất chỉ cung cấp cho chủ sử dụng đất/ sở hữu nhà nếu có nhu cầu, chứ không cung cấp cho bên mua nhà, còn thông tin quy hoạch thì phải hỏi Phòng Quản lý đô thị Hoặc PTNMT Quận Bình Thạnh, TP Hồ Chí Minh thì từ chối cung cấp với lý do ngắn gọn

“bên mua không cần thiết phải biết thông tin nhà đất, vì khi xảy ra tranh chấp, trách nhiệm thuộc về phòng công chứng” và yêu cầu xuống hỏi cán bộ địa chính phường Và khi hỏi cán bộ địa chính ở UBND phường 25, Quận Bình Thạnh thì chỉ được trả lời bằng miệng là nhà đất không có tranh chấp Như vậy, bên mua nhà đã mất rất nhiều thời gian và công sức, nhưng vẫn không thể có được thông tin đất đai chính xác bằng văn bản, việc trả lời qua loa bằng miệng sẽ không đảm bảo giá trị pháp lý của thông tin được cung cấp66 Hoặc ngay cả chủ sở hữu/ sử dụng bất động sản cũng không dễ dàng

gì khi xin thông tin quy hoạch, tại Quận 7, người dân được yêu cầu phải mua đơn xin

66An Hòa (2013), “Cải cách hành chính – những điều trông thấy”, Báo điện tử Công an TP HCM, ngày

24/10/2013, http://www.congan.com.vn/?mod=detnews&catid=681&id=505838, truy cập lúc 15h ngày 12/05/2014

Trang 34

thông tin quy hoạch, 20 ngày sau mới có kết quả hoặc Quận Bình Thạnh lại yêu cầu đợi đến mỗi chiều thứ Hai hàng tuần mới được gặp những người phụ trách lĩnh vực này67 Ngay tại TP Hồ Chí Minh, một trong những trung tâm kinh tế lớn của cả nước

mà còn tồn tại tình trạng này thì ở các tỉnh thành khác, khả năng tiếp cận thông tin đất đai có thể còn khó khăn hơn Ví dụ như STNMT An Giang chỉ cung cấp thông tin từ

hồ sơ địa chính cho chủ sử dụng đất/ sở hữu nhà nhằm tránh các khiếu kiện liên quan đến quyền sử sụng đất, còn yêu cầu cung cấp địa bộ thời Pháp thuộc thì chỉ cung cấp cho cơ quan nhà nước như Công an, Tòa án, vv chứ không cung cấp cho tổ chức, hộ gia đình, cá nhân, thậm chí ngay cả khi chủ sử dụng đất/ sở hữu nhà hay Phòng công chứng yêu cầu cung cấp thông tin liên quan đến tài liệu này cũng bị từ chối với lý do nguồn tài liệu từ thời Pháp thuộc không đầy đủ, không đáng tin cậy, nên Sở hạn chế cung cấp68 Do đó, ở Việt Nam vẫn luôn tồn tại tình trạng “luật thì nhiều nhưng thực thi không bao nhiêu” và nhiều người phải dựa vào các mối quan hệ cá nhân để có được thông tin đất đai

Ngoài ra, việc cung cấp thông tin đất đai mỗi nơi một kiểu, tùy thuộc vào quy trình thủ tục riêng của cơ quan quản lý đất đai tại địa phương cũng gây không ít khó khăn cho người sử dụng đất Tại Bình Dương, hồ sơ yêu cầu cung cấp thông tin ngoài một số giấy tờ như: phiếu yêu cầu hoặc văn bản yêu cầu hay hợp đồng cung cấp thông tin thì STNMT tỉnh Bình Dương còn đòi hỏi thêm những giấy tờ khác như Giấy giới thiệu (đối với tổ chức) hoặc Giấy ủy quyền (nếu đối tượng yêu cầu cung cấp thông tin không phải chủ sử dụng đất) Đối với trường hợp xin trích lục hồ sơ địa bộ cũ thì phải

có văn bản có xác nhận của cấp xã nơi đang cư trú thể hiện rõ mối quan hệ của người xin trích lục với người đứng tên trên địa bộ, còn nếu yêu cầu cung cấp thông tin phục

vụ tranh chấp, khiếu nại, tố cáo thì đơn đề nghị cung cấp thông tin phải được xác nhận bởi cơ quan đang giải quyết vụ án và việc có được cung cấp thông tin hay không tùy theo quyết định của Ban Giám đốc STNMT69 Tương tự, STNMT Lâm Đồng cũng yêu cầu phải có Giấy giới thiệu và hồ sơ văn bản có liên quan đến thửa đất cần cung cấp

67 Đình Sơn (2014), “Bất động sản chờ tháo nút thủ tục”, Báo Thanh niên online, ngày 11/02/2014,

http://www.thanhnien.com.vn/pages/20140210/bat-dong-san-cho-thao-nut-thu-tuc.aspx, truy cập lúc 11h20 ngày 20/03/2014

68 Tin hoạt động khảo sát về “Nhu cầu tiếp cận thông tin và các điều kiện đảm bảo thực hiện quyền tiếp cận thông tin của công dân, tổ chức tại tỉnh An Giang ngày 30/03/2012”, http://vienkhpl.ac.vn/index.php?cid=500, truy cập lúc 12h20 ngày 13/05/2014

69

Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh Bình Dương, Thủ tục hành chính cung cấp thông tin đất đai từ hồ sơ địa chính, http://stnmt.binhduong.gov.vn/3cms/, truy cập lúc 18h35 ngày 12/05/2014

Trang 35

thông tin70 Thủ tục cung cấp thông tin đất đai từ hồ sơ địa chính được áp dụng trên địa bàn TP Hồ Chí Minh cũng yêu cầu phải có giấy tờ chứng minh là tổ chức, cá nhân có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan đến nhà đất cần cung cấp thông tin hoặc Giấy uỷ quyền (nếu là cá nhân) hoặc Giấy giới thiệu/ Công văn (nếu là tổ chức)71 Đối với nhà ở cũng vậy, khi trích lục hồ sơ nhà ở tại Sở Xây dựng Hậu Giang, văn bản đề nghị cung cấp thông tin phải nêu rõ mục đích của việc đề nghị cung cấp thông tin72

Hay như ở Quận Cầu Giấy, Hà Nội, hướng dẫn thủ tục trên website73

và trên thực tế hoàn toàn khác nhau, cán bộ địa chính thường yêu cầu thêm một số giấy tờ như Giấy giới thiệu hoặc Giấy ủy quyền và Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà yêu cầu cung cấp thông tin74

Theo Khung đánh giá quản trị đất đai (LGAF) và kết quả nghiên cứu ở Việt Nam, việc cung cấp thông tin đất đai cho người dân còn nhiều hạn chế, chưa minh bạch Thông tin trong hồ sơ địa chính còn thiếu, không được cập nhật và chưa được quy chiếu không gian75 Việc tra cứu thông tin thửa đất trên mạng vẫn chưa thể thực hiện được mặc dù trên website của nhiều STNMT đã xây dựng nội dung tra cứu thông tin đất đai Ngay cả website của STNMT TP Hồ Chí Minh và Hà Nội cũng vậy, phần tra cứu thông tin đất đai chỉ hỗ trợ tra cứu dữ liệu hồ sơ giao dịch chứ không thể khai thác dữ liệu thửa đất 76 Website của STNMT Vĩnh Long và Thái Nguyên là một trong

số ít tỉnh có hỗ trợ tra cứu thông tin thửa đất qua mạng dựa vào thông tin theo đơn vị

70

Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh Lâm Đồng, Thủ tục hành chính cung cấp thông tin đất đai từ hồ sơ địa chính, http://w3.lamdong.gov.vn/vi-VN/congdan/Lists/ThuTuc/DispForm.aspx?ID=1781&Source=%2Fvi- VN%2Fcongdan%2FPages%2FThu-tuc-hanh-chinh.aspx%3Fq%3D%26c%3D156%26o%3D, truy cập lúc 19h ngày 12/05/2014

71

Quyết định 4034/QĐ-UBND ngày 26 tháng 07 năm 2013 của Ủy Ban Nhân Dân Thành phố Hồ Chí Minh về việc công bố thủ tục hành chính mới ban hành, sửa đổi, bổ sung và bãi bỏ thuộc thẩm quyền giải quyết của Sở Tài Nguyên và Môi Trường trên địa bàn Thành phố Hồ Chí Minh, mục 22

72 Sở Xây dựng tỉnh Hậu Giang, Thủ tục hành chính cung cấp thông tin hồ sơ nhà ở, haugiang.gov.vn/thutucct.php?id=40, truy cập lúc 18h30 ngày 12/05/2014

http://sxd-73 Cổng thông tin điện tử Quận Cầu Giấy - Hà Nội, Thủ tục hành chính cung cấp thông tin từ hồ sơ địa chính, http://www.hcccaugiay.hanoi.gov.vn/TTHC/DocViewer.aspx?LinhVucID=13&ID=2230, truy cập lúc 10h ngày 13/05/2014

74 Phạm Thị Bích Hảo (2014), “Quận Cầu Giấy (HN): Cải cách hành chính đã thực sự cải cách”, Báo Kinh tế Việt

Nam, ngày 19/04/2014, http://baokinhte.vn/Quan-Cau-Giay-HN-Cai-cach-hanh-chinh-da-thuc-su-cai-cach.aspx,

truy cập lúc 10h15 ngày 12/05/2014

75

Đặng Hùng Võ và Nguyễn Văn Thắng (2014), “Khung đánh giá quản trị đất đai (LGAF) và kết quả nghiên cứu

ở Việt Nam”, Tạp chí Kinh tế & Phát triển, (202), tr.12-20

76 Sở Tài nguyên và Môi trường Thành phố Hồ Chí Minh, Tra cứu thông tin đất đai, http://lis.donre.hochiminhcity.gov.vn/, truy cập lúc 10h30 ngày 12/05/2014

Sở Tài nguyên và Môi trường Hà Nội, Tra cứu thông tin đất đai, http://tnmtnd.hanoi.gov.vn/dvctt/ , truy cập lúc 10h35 ngày 12/05/2014

Trang 36

hành chính, số hiệu tờ bản đồ và số thứ tự77 Tra cứu thông tin thửa đất trên mạng sẽ giúp người sử dụng đất không phải đến trực tiếp cơ quan quản lý đất đai để yêu cầu cung cấp thông tin, như vậy sẽ tiết kiệm thời gian và chi phí cho cả họ và nhà nước Tuy nhiên, do hiện nay cơ sở dữ liệu đất đai chưa được xây dựng hoàn chỉnh78 nên mặc

dù tỉnh, thành phố và Sở, ngành nào tại các địa phương hầu như cũng đều xây dựng website nhưng khả năng người sử dụng đất có thể tìm thấy đầy đủ dữ liệu đất đai và hồ

sơ địa chính trên các trang web này thường không dễ dàng

Những địa phương chưa công khai thông tin đất đai trên website thì sẽ được cung cấp tại trụ sở cơ quan quản lý đất đai cấp tỉnh, cấp huyện và cấp xã Theo Báo cáo Khảo sát tình hình công khai thông tin trong quản lý đất đai, mức độ khó dễ khi tiếp cận thông tin tại các địa phương cũng rất khác nhau Ví dụ như đối với thông tin về quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất chi tiết, mức độ khó khăn khi tiếp cận thông tin là 50% đối với cấp tỉnh, 20% ở cấp huyện, trong khi đó 63,3% địa phương ở cấp xã lại được đánh giá là tiếp cận thông tin dễ và rất dễ Cuối cùng, theo Khảo sát79 thì những tỉnh/ thành phố có thu nhập cao thường nằm trong nhóm thực hiện tốt việc cung cấp thông tin đất đai, trong đó Thành phố Hồ Chí Minh thực hiện tốt nhất ở cấp xã, Khánh Hòa,

Hà Nội và Đà Nẵng thực hiện tốt nhất ở cấp huyện và ở cấp tỉnh thực hiện tốt nhất là

Đà Nẵng

2.2 Đánh giá các điều kiện đảm bảo quyền tiếp cận thông tin trong hồ sơ địa

chính của người sử dụng đất

2.2.1 Hệ thống, chính sách pháp luật

Hệ thống, chính sách pháp luật đất đai Việt Nam là một hệ thống pháp luật đồ

sộ, bao gồm các văn bản do nhiều cơ quan nhà nước có thẩm quyền ban hành, từ năm

1987 đến nay, nhà nước ta đã không ngừng xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật

78 Vấn đề này sẽ được phân tích cụ thể hơn ở mục 2.2.3 bên dưới

79 Trung tâm nghiên cứu chính sách và phát triển (Depocen) Hà Nội (2010), Báo cáo Khảo sát tình hình công

khai thông tin trong quản lý đất đai, https:// siteresources.worldbank.org/ /LandTransparencyReportVie.pdf,

truy cập lúc 21h ngày 13/05/2014

Trang 37

đất đai thể hiện qua các lần sửa đổi Luật Đất đai vào năm 1993, 1998, 2001, 2003,

2009 và mới đây nhất là năm 2013 Việc sửa đổi Luật Đất đai cùng các văn bản hướng dẫn nhiều lần như vậy trong thời gian ngắn cho thấy tính không ổn định và thiếu khả thi của những quy định này, dẫn đến tình trạng các văn bản dễ trùng lặp, chồng chéo, thậm chí mâu thuẫn nhau Hệ thống pháp luật như vậy làm cho ngay cả những cán bộ,

cơ quan nhà nước có trách nhiệm thực thi pháp luật cũng gặp khó khăn, thì người dân càng khó khăn hơn trong việc nắm bắt hết quy định pháp luật

Pháp luật đất đai thay đổi thường xuyên như vậy, nhưng đến Luật Đất đai năm

2003 cũng không có điều khoản nào quy định về quyền tiếp cận thông tin trong hồ sơ địa chính của người sử dụng đất, mà vấn đề này chỉ được thực hiện thông qua các quy định tại Thông tư 09/2007/TT-BTNMT và Thông tư 04/2013/TT-BTNMT Lẽ tất nhiên, tính hiệu lực và ổn định của Thông tư sẽ thấp hơn nhiều so với Luật Do đó, để quyền tiếp cận thông tin trong hồ sơ địa chính của người sử dụng đất được đảm bảo thì quyền, trình tự thủ tục và cơ chế để đảm bảo quyền cần phải được quy định cụ thể, không phải chỉ ở tầm Nghị định, Thông tư hướng dẫn mà phải được nâng lên thành Luật Qua hơn 10 năm thi hành, Luật Đất đai 2003 đã bộc lộ những hạn chế nhất định, làm cho việc triển khai pháp luật còn nhiều bất cập và quyền tiếp cận thông tin trong

hồ sơ địa chính của người sử dụng đất chưa được bảo đảm trên thực tế

Đầu tiên, một trong những nguyên nhân khiến cho tình trạng vi phạm quyền tiếp cận thông tin của người sử dụng đất diễn ra phổ biến là vì pháp luật đất đai trước năm

2013 không quy định cụ thể trách nhiệm và chế tài đối với cán bộ, cơ quan quản lý nhà nước về thông tin đất đai trong việc đảm bảo quyền tiếp cận thông tin trong hồ sơ địa chính của người sử dụng đất Luật Đất đai 2003 chỉ liệt kê các hành vi vi phạm do làm trái với quy định trong quản lý đất đai như: giao đất, cho thuê đất, thu hồi đất, thực hiện quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất, quản lý hồ sơ địa chính hoặc có hành vi khác gây thiệt hại đến quyền và nghĩa vụ của người sử dụng đất…vv80

Tuy nhiên, quy định

về vi phạm trong thực hiện trình tự, thủ tục hành chính trong quản lý và sử dụng đất tại Nghị định 181/2004/ND-CP lại bao gồm các hành vi: không nhận hồ sơ đã hợp lệ, đầy

đủ, không hướng dẫn cụ thể khi tiếp nhận hồ sơ, tự đặt ra các thủ tục hành chính ngoài quy định chung, gây phiền hà, giải quyết thủ tục hành chính chậm trễ so với thời hạn quy định, từ chối thực hiện hoặc không thực hiện thủ tục hành chính mà theo quy định

80 Luật Đất đai năm 2003, Điều 141

Trang 38

của pháp luật đã đủ điều kiện để thực hiện81 Pháp luật quy định không rõ ràng như vậy

sẽ khó có cơ sở để xử lý vi phạm và cán bộ, cơ quan nhà nước cũng sẽ không thấy cần phải thực hiện trách nhiệm của mình, kể cả khi trách nhiệm cung cấp thông tin đất đai được quy định trong luật Luật Đất đai năm 2013 đã khắc phục những hạn chế nêu trên bằng việc quy định trách nhiệm của nhà nước trong việc xây dựng, cung cấp thông tin đất đai Theo đó, nhà nước có trách nhiệm xây dựng, quản lý hệ thống thông tin đất đai, công bố kịp thời, công khai thông tin và bảo đảm quyền tiếp cận của tổ chức, cá nhân đối với hệ thống thông tin đất đai82

Và Luật Đất đai năm 2013 cũng đã bổ sung chế tài đối với hành vi vi phạm pháp luật liên quan đến việc công bố, công khai và cung cấp thông tin đất đai83

Luật Đất đai 2003 đưa ra các chế tài để xử lý người vi phạm pháp luật đất đai, bao gồm: bị xử lý kỷ luật hoặc bị truy cứu trách nhiệm hình sự tùy theo tính chất và mức độ vi phạm và bồi thường thiệt hại (nếu gây thiệt hại cho người khác)84 Giống như Luật Đất đai năm 2003, Luật Đất đai 2013 cũng quy định tương tự85

Đối với trách nhiệm hình sự, Khoản 1, Điều 174, Bộ luật Hình sự năm 1999, sửa đổi năm 2009 liệt kê những hành vi vi phạm quy định về quản lý đất đai trong các lĩnh vực, bao gồm: giao đất, thu hồi, cho thuê, cho phép chuyển quyền sử dụng, cho phép chuyển mục đích sử dụng đất trái pháp luật Như vậy, mặc dù Luật Đất đai có đề cập đến trách nhiệm hình sự trong vi phạm liên quan đến cung cấp thông tin đất đai, nhưng Bộ luật Hình sự lại không quy định hành vi vi phạm trong cung cấp thông tin đất đai phải chịu trách nhiệm hình sự Do đó, chế tài hình sự trong cung cấp thông tin đất đai không thể được thực hiện trên thực tế

Đối với trách nhiệm bồi thường của Nhà nước, một trong những căn cứ để xác định là thuộc phạm vi trách nhiệm bồi thường theo quy định tại Luật Trách nhiệm bồi thường Nhà nước năm 200986 Trong hoạt động quản lý đất đai, phạm vi trách nhiệm bồi thường chỉ bao gồm: giao đất, cho thuê đất, thu hồi đất, cho phép chuyển mục đích

sử dụng đất, bồi thường, hỗ trợ, giải phóng mặt bằng, tái định cư, cấp hoặc thu hồi

81

Nghị định 181/2004/ND-CP, Điều 175

82 Luật Đất đai năm 2013, Điều 28

83 Luật Đất đai năm 2013, Điều 207

84 Luật Đất đai năm 2003, Điều 141 và Điều 142

85

Luật Đất đai năm 2013, Điều 207

86 Luật Trách nhiệm bồi thường của Nhà nước năm 2009, Điều 6, Khoản 1, Điểm a

Trang 39

Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà và tài sản khác gắn liền với đất87, không bao gồm hoạt động liên quan đến việc cung cấp thông tin đất đai Mặc dù luật vẫn để ngỏ “Các trường hợp được bồi thường khác do pháp luật quy định”, tuy nhiên trường hợp khác là trường hợp nào thì không được hướng dẫn Theo quy định của Luật Trách nhiệm bồi thường nhà nước, đầu tiên cá nhân, tổ chức khi cho rằng mình bị thiệt hại do người thi hành công vụ gây ra thì sẽ khiếu nại cơ quan có thẩm quyền giải quyết, sau đó, trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày hết thời hạn ra quyết định giải quyết bồi thường mà cơ quan có trách nhiệm bồi thường không ra quyết định hoặc

kể từ ngày người bị thiệt hại nhận được quyết định nhưng không đồng ý thì người bị thiệt hại có quyền khởi kiện ra Tòa án có thẩm quyền để yêu cầu giải quyết bồi thường88 Như vậy, trong trường hợp người sử dụng đất bị thiệt hại do cơ quan, cán bộ nhà nước vi phạm quyền tiếp cận thông tin trong hồ sơ địa chính thì có thể áp dụng Luật Trách nhiệm bồi thường nhà nước để yêu cầu bồi thường thiệt hại hay không, và nếu không được áp dụng bằng con đường hành chính, thì người sử dụng đất có quyền yêu cầu bồi thường thiệt hại thông qua thủ tục tố tụng dân sự đối với cá nhân, tổ chức gây thiệt hại hay không Vấn đề này hiện nay vẫn chưa rõ ràng, do đó khi người sử dụng đất không thể thực hiện quyền tiếp cận thông tin đất đai, nhưng không biết phải liên hệ cơ quan nào để yêu cầu bồi thường thiệt hại khi chưa có quy định cụ thể trong trường hợp này và thực tế nhiều trường hợp không được bồi thường thiệt hại do hành

vi vi phạm trong cung cấp thông tin đất đai Như trường hợp của anh Lê Hồ Minh Trí,

do tin vào thông tin quy hoạch của Phòng Kinh tế - Hạ tầng huyện Long Điền (Bà Vũng Tàu) phát hành sai rằng khu đất anh định mua là đất ở, nên anh đã bỏ ra 700 triệu đồng để nhận chuyển nhượng quyền sử dụng đất Sau đó, cơ quan này đính chính khu đất của anh Trí nằm trong quy hoạch, không phải là đất ở Tại TP Hồ Chí Minh cũng xảy ra tương tự, chị Nguyễn Thị Thanh Huyền, phường Tân Thới Nhất, Quận 12 cũng xây nhà theo lộ giới hẻm 4,5m như văn bản cung cấp thông tin quy hoạch của quận này Nhưng khi xây xong, Quận thông báo thu hồi lại Giấy chứng nhận vì trước đó họ cung cấp thông tin quy hoạch sai và hệ quả là hẻm nhà chị Huyền giảm xuống chỉ còn được nửa mét Hoặc cũng có một số trường hợp mua nhà đất được công nhận là đất ở, sau đó đính chính là đất kênh rạch, đất không phù hợp quy hoạch Khi mua nhà đất, thông tin quy hoạch là căn cứ quan trọng, ảnh hưởng đến giá cả cũng như là quyết định của người mua Do đó, nếu như thông tin quy hoạch sai thì sẽ gây thiệt hại không nhỏ

87

Luật Trách nhiệm bồi thường của Nhà nước năm 2009, Điều 13

88 Luật Trách nhiệm bồi thường của Nhà nước năm 2009, Điều 22

Trang 40

cho người dân Nhưng trong tất cả các trường hợp trên, người sử dụng đất đều không được bồi thường vì cơ quan nhà nước có thẩm quyền cho rằng không biết bồi thường theo mức nào, không có căn cứ để bồi thường và trong nhiều trường hợp không thể chứng minh được thiệt hại là bao nhiêu89

Để quyền tiếp cận thông tin của người dân được thực thi trong thực tế, đồng thời hạn chế việc các cơ quan, tổ chức nắm giữ thông tin lạm dụng quyền hạn của mình từ chối cung cấp thông tin hoặc cung cấp thông tin không kịp thời cho người dân thì cần thiết phải có cơ chế theo dõi, đánh giá và giám sát việc thực thi quyền tiếp cận thông tin Tuy nhiên, Luật Đất đai 2003 chỉ quy định trách nhiệm giám sát chung chung của Quốc hội, Hội đồng nhân dân các cấp90, Mật trận Tổ quốc Việt Nam, các tổ chức thành viên của Mật trận91 và Thanh tra chuyên ngành đất đai92 đối với việc quản lý đất đai Luật Đất đai năm 2013 đã dành hẳn một chương để quy định cụ thể hơn về hệ thống giám sát, theo dõi, đánh giá đối với việc quản lý đất đai Hệ thống được xây dựng dựa trên hệ thống thông tin đất đai và việc thu thập các thông tin khác từ quá trình thi hành pháp luật về đất đai trên phạm vi cả nước Cơ quan TNMT có trách nhiệm quản lý hệ thống, tổ chức thực hiện đánh giá việc thực thi pháp luật, cập nhật thông tin vào hệ thống thông tin đất đai và gửi kết quả đánh giá định kỳ đến Chính phủ, Quốc hội Ngoài trách nhiệm giám sát như Luật Đất đai 2003, Luật Đất đai mới bổ sung quyền giám sát của công dân93 Theo đó, công dân có quyền tự mình hoặc thông qua các tổ chức đại diện thực hiện quyền giám sát và phản ánh các sai phạm trong quản lý đất đai Hình thức giám sát là trực tiếp thực hiện quyền giám sát thông qua việc phản ánh, gửi đơn kiến nghị đến các cơ quan, người có thẩm quyền giải quyết, hoặc gửi đơn kiến nghị đến các tổ chức đại diện được pháp luật công nhận để các tổ chức này thực hiện quyền giám sát94 Nhưng nhìn chung, cơ chế giám sát như trên không hề mới, vì vẫn tiếp tục áp dụng cơ chế giám sát có tính chất truyền thống mà hầu hết các quốc gia đều thực hiện đó là cơ chế giám sát trong nội bộ hệ thống hành chính thông qua việc giải quyết khiếu nại, như tất cả các luật khác của Việt Nam có đề cập đến cơ chế giám sát Quy trình này có thể được xem là ít tốn kém, nhưng tính hiệu quả không cao, vì các cơ

89 Cẩm Tú (2014), “Cung cấp thông tin sai - Không thể phủi tay”, Báo pháp luật online, ngày 25/01/2014,

http://plo.vn/do-thi/cung-cap-thong-tin-sai-khong-the-phui-tay-446587.html , truy cập lúc 14h ngày 10/03/2014

90 Luật Đất đai 2003, Điều 7

91 Luật Đất đai 2003, Điều 8

92 Luật Đất đai 2003, chương VI, mục 1

93

Luật Đất đai năm 2013, chương 13

94 Luật Đất đai năm 2013, Điều 199

Ngày đăng: 21/02/2022, 21:08

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
11. Nghị định 95/1998/NĐ-CP ngày 17 tháng 11 năm 1998 của Chính phủ về tuyển dụng, sử dụng và quản lý công chức Khác
12. Nghị định 77/2000/NĐ-CP ngày 15 tháng 12 năm 2000 của Chính phủ về việc điều chỉnh mức lương tối thiểu, mức trợ cấp và sinh hoạt phí đối với các đối tượng hưởng lương, phụ cấp, trợ cấp và sinh hoạt phí Khác
13. Nghị định 33/2002/NĐ-CP ngày 28 tháng 03 năm 2002 của Chính phủ quy định chi tiết thi hành Pháp lệnh Bảo vệ bí mật nhà nước Khác
14. Nghị định 117/2003/NĐ-CP ngày 10 tháng 10 năm 2003 của Chính phủ về việc tuyển dụng, sử dụng và quản lý cán bộ, công chức trong các cơ quan nhà nước Khác
15. Nghị định 181/2004/NĐ-CP ngày 29 tháng 10 năm 2004 của Chính phủ về thi hành Luật Đất đai năm 2003 Khác
16. Nghị định 95/2005/NĐ-CP ngày 15 tháng 07 năm 2005 của Chính phủ về việc cấp Giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà ở, quyền sở hữu công trình xây dựng Khác
17. Nghị định 90/2006/NĐ-CP ngày 06 tháng 09 năm 2014 của Chính phủ hướng dẫn Luật Nhà ở Khác
18. Nghị định 09/2007/NĐ-CP ngày 15 tháng 01 năm 2007 của Chính phủ sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định 117/2003/NĐ-CP Khác
19. Nghị định 01/2008/NĐ-CP ngày 03 tháng 01 năm 2008 của Chính phủ quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn Khác
20. Nghị định 88/2009/NĐ-CP ngày 19 tháng 10 năm 2009 của Chính phủ về cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất Khác
21. Nghị định 24/2010/NĐ-CP ngày 15 tháng 03 năm 2010 của Chính phủ về tuyển dụng, sử dụng và quản lý công chức Khác
22. Nghị định 71/2010/NĐ-CP ngày 23 tháng 06 năm 2010 của Chính phủ quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành Luật Nhà ở Khác
23. Nghị định 66/2013/NĐ-CP ngày 27 tháng 06 năm 2013 của Chính phủ quy định mức lương cơ sở đối với cán bộ, viên chức và lực lượng vũ trang Khác
24. Nghị định 43/2014/NĐ-CP ngày 15 tháng 05 năm 2014 của Chính phủ quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật Đất đai năm 2013 Khác
25. Thông tư 01/2005/TT-BTNMT ngày 13 tháng 04 năm 2005 của Bộ Tài nguyên và Môi trường hướng dẫn thực hiện một số điều của Nghị định 181/2004/NĐ- CP Khác
26. Thông tư 09/2007/TT-BTNMT ngày 02 tháng 08 năm 2007 của Bộ Tài nguyên và Môi trường hướng dẫn việc lập, chỉnh lý, quản lý hồ sơ địa chính Khác
27. Thông tư 26/2009/TT-BTTTT ngày 31 tháng 07 năm 2009 của Bộ Tài nguyên và Môi trường quy định về việc cung cấp thông tin và đảm bảo khả năng truy cập thuận tiện đối với trang thông tin điện tử của cơ quan nhà nước Khác
28. Thông tư 17/2009/TT-BTNMT ngày 21 tháng 10 năm 2009 của Bộ Tài nguyên và Môi trường quy định về Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất Khác
29. Thông tư 16/2010/TT-BXD ngày 01 tháng 09 năm 2010 của Bộ Xây dựng quy định cụ thể và hướng dẫn thực hiện một số nội dung của Nghị định 71/2010/NĐ-CP Khác
30. Thông tư 17/2010/TT-BTNMT ngày 04 tháng 10 năm 2010 của Bộ Tài nguyên và Môi trường quy định kỹ thuật về chuẩn dữ liệu địa chính Khác

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w