Khái niệm về thông tin và quyền tiếp cận thông tin
Khái niệm thông tin
Thông tin đóng vai trò quan trọng trong cuộc sống của mỗi người, đặc biệt trong bối cảnh bùng nổ thông tin hiện nay Với sự dễ dàng tiếp cận từ nhiều nguồn như internet, báo chí, và truyền hình, thông tin ngày càng trở thành phần thiết yếu trong đời sống hàng ngày của con người.
Thông tin, từ góc độ triết học, là sự phản ánh của tự nhiên và xã hội qua ngôn từ, ký hiệu và hình ảnh, tức là tất cả các phương tiện tác động lên giác quan con người Trong cuốn “Bùng nổ truyền thông”, thông tin được hiểu theo hai nghĩa: một là hành động tạo ra hình dạng cụ thể, hai là truyền đạt ý tưởng, khái niệm hay biểu tượng, cả hai đều quan trọng trong việc tạo lập kiến thức Ở khía cạnh pháp luật, các khái niệm về thông tin có sự khác biệt giữa các quốc gia Theo Điều 2 của Luật về quyền TCTT của Ấn Độ năm 2005, thông tin được định nghĩa là bất kỳ tin tức nào dưới bất kỳ hình thức nào, bao gồm hồ sơ, tài liệu, thư điện tử, và các thông tin liên quan đến hoạt động hoặc quyết định của cơ quan hành chính, phải được công khai theo quy định của pháp luật hiện hành.
2Philipe Breton, Serge Proulx (1966), Bùng nổ truyền thông – Sự ra đời của một ý thức hệ mới, Nxb Văn hóa – Thông tin Hà Nội, tr.2.
3http://www.righttoinformation.gov.in/rtiact.asp (Truy cập ngày 06/05/2016).
Theo Luật công khai thông tin của các cơ quan chính quyền Hàn Quốc năm
Theo quy định năm 1996, "Thông tin được hiểu là những dữ liệu được soạn thảo, thu nhận và quản lý bởi các cơ quan chính quyền trong quá trình thực hiện nhiệm vụ của họ."
Tại Việt Nam, theo quy định tại khoản 1 Điều 2 Luật TCTT 2016 có định nghĩa:
Thông tin được định nghĩa là dữ liệu có sẵn dưới nhiều hình thức như văn bản, hồ sơ, tài liệu, hình ảnh, và bản ghi âm, do cơ quan nhà nước cung cấp Khái niệm "thông tin" có nhiều quan điểm khác nhau, tùy thuộc vào lĩnh vực nghiên cứu mà nó được áp dụng.
Mặc dù thông tin mang lại nhiều lợi ích cho xã hội và cuộc sống cá nhân, việc cho phép tiếp cận và chia sẻ thông tin một cách tự do mà không có kiểm soát có thể dẫn đến những hạn chế nghiêm trọng Thông tin xuất hiện dưới nhiều dạng và từ nhiều nguồn khác nhau, khiến việc xác minh tính chính xác, đầy đủ hay thiếu sót của nó trở nên khó khăn Hơn nữa, thông tin cũng có thể chứa đựng bí mật cá nhân, bí mật kinh doanh và bí mật nhà nước; việc dễ dàng tiếp cận những thông tin này có thể gây ảnh hưởng lớn đến cá nhân, doanh nghiệp và đặc biệt là tình hình kinh tế - chính trị của quốc gia.
Các quốc gia đã sớm nhận thức được tầm quan trọng của quyền tiếp cận thông tin (TCTT) và quy định rằng quyền này tập trung vào thông tin do Nhà nước nắm giữ Quyền TCTT cho phép người dân tiếp cận thông tin cần thiết cho cuộc sống, tuy nhiên, quyền này bị hạn chế bởi sự kiểm soát của Nhà nước Nhà nước có trách nhiệm đưa ra các điều kiện và chuẩn mực để kiểm soát thông tin nhằm ngăn chặn việc truyền tải thông tin có thể gây thiệt hại cho cá nhân hoặc tổ chức khác.
Theo quy định trong Luật TCTT 2016 của Việt Nam, quyền tiếp cận thông tin chủ yếu liên quan đến các thông tin do nhà nước nắm giữ Cụ thể, khoản 2 Điều 2 nêu rõ rằng thông tin do cơ quan nhà nước tạo ra bao gồm tin và dữ liệu được hình thành trong quá trình hoạt động của các cơ quan này.
Chức năng, nhiệm vụ và quyền hạn của các cơ quan nhà nước phải tuân thủ theo quy định của pháp luật và được xác nhận bằng chữ ký, con dấu hoặc văn bản của người có thẩm quyền.
Trong pháp luật về quyền tiếp cận thông tin (TCTT), hầu hết các quốc gia phân loại thông tin do Nhà nước nắm giữ thành ba loại: thông tin phải công bố, thông tin công bố khi thỏa mãn điều kiện nhất định, và thông tin không được công bố Việc phân loại này phụ thuộc vào nhiều yếu tố và tình hình của từng quốc gia Luật TCTT 2016 của Việt Nam quy định rõ các loại thông tin qua các Điều 5, 6, 7, chỉ ra các trường hợp ngoại lệ cho hai loại thông tin còn lại Quy định về thông tin được tiếp cận có điều kiện và không được tiếp cận phụ thuộc vào ý chí của các nhà làm luật Ví dụ, Điều 9 Luật Thông tin Chính phủ mở của Trung Quốc yêu cầu các cơ quan nhà nước công bố thông tin liên quan đến lợi ích cơ bản của công dân, thông tin cần biết rộng rãi, cấu trúc và thủ tục làm việc của cơ quan nhà nước, cùng các thông tin khác theo quy định của pháp luật.
Tùy thuộc vào đặc điểm và cơ cấu nhà nước, cũng như trình độ phát triển của từng quốc gia, quy định về thông tin tiếp cận có sự khác biệt Hệ thống pháp luật, sự phát triển kinh tế - xã hội, cùng với các yếu tố văn hóa và tôn giáo cũng ảnh hưởng lớn đến nội dung thông tin cần công bố Một số thông tin chính cần được cung cấp cho người dân bao gồm: 5.
- Thông tin về hoạt động, chức năng, cơ cấu tổ chức, mục tiêu, ngân sách, thông tin kiểm toán, kết quả đạt được…
5Chu Thị Thái Hà (2009), Thông tin được tiếp cận và nội hàm của quyền tiếp cận thông tin, Tạp chí nghiên cứu Lập pháp, số 154, tháng 9/2009.
Hướng dẫn thủ tục và quy trình cho người dân giúp họ dễ dàng sử dụng dịch vụ công từ cơ quan cung cấp, đồng thời tham gia tích cực vào quá trình xây dựng chính sách và đề xuất luật pháp.
- Các thông tin khác do nhà nước nắm giữ;
- Chủ thể yêu cầu thông tin có thể yêu cầu thông tin về bản thân họ từ các cơ quan nhà nước đang nắm giữ thông tin cá nhân.
Khái luận về quyền tiếp cận thông tin
1.1.2.1 Lịch sử về quyền tiếp cận thông tin
Quyền tiếp cận thông tin (TCTT) đã được xác lập từ rất sớm, lần đầu tiên được quy định trong Đạo luật tự do báo chí năm 1766 của Thụy Điển, cho phép công dân có quyền tự do ngôn luận với một số giới hạn và đảm bảo quyền công dân được tiếp cận văn bản nhà nước Hai yếu tố này vẫn là nền tảng quan trọng của quyền TCTT cho đến nay, với khái niệm này vẫn được coi là tiến bộ trong pháp luật Thụy Điển Sau đó, nhiều quốc gia khác cũng bắt đầu công nhận quyền TCTT, như trong Tuyên ngôn Nhân quyền và Dân quyền của Pháp năm 1789, nhấn mạnh rằng tự do trao đổi tư tưởng là quyền quý giá và công dân có trách nhiệm về việc lạm dụng quyền này Điều 14 và Điều 15 của Tuyên ngôn cũng quy định quyền của công dân trong việc xác định và giám sát thuế công cộng, khẳng định sự cần thiết của quyền báo cáo về công việc quản lý của xã hội.
Luật tự do báo chí của Thụy Điển năm 1766 là đạo luật lâu đời nhất về báo chí trên thế giới, đánh dấu lần đầu tiên quy định quyền tiếp cận thông tin Quyền này sau đó đã được củng cố và quy định rõ ràng trong các văn bản pháp luật sau này.
Luật về tự do ngôn luận năm 1991 của Thụy Điển.
Hội Luật gia Việt Nam (2009) đã thực hiện nghiên cứu về Luật tiếp cận thông tin tại các nước Bắc Âu Nghiên cứu này được trình bày tại Hội thảo quốc tế “Xây dựng Luật tiếp cận thông tin tại Việt Nam”, diễn ra ở Hà Nội vào ngày 06 và 07 tháng 5 năm 2009, với thông tin được ghi lại trên trang 26.
8http://www.historyguide.org/intellect/declaration.html (Truy cập ngày 06/05/2016).
TCTT của công dân cũng được quy định trong bản Tuyên ngôn của Hà Lan vào năm
Điều 7 của năm 1795 khẳng định rằng mọi người có quyền bày tỏ suy nghĩ và cảm giác của mình qua các phương tiện truyền thông Tương tự, Colombia cũng quy định quyền tiếp cận thông tin trong Luật về các tổ chức chính trị địa phương, cho phép cá nhân yêu cầu truy cập tài liệu từ chính phủ Điều này cho thấy khái niệm quyền tiếp cận thông tin đã được đề cập từ sớm trong lịch sử quyền con người Tuy nhiên, vào thời điểm đó, các quy định về quyền này chủ yếu chỉ dừng lại ở mức nguyên tắc và chưa có hướng dẫn chi tiết về cách thực hiện.
Vào thế kỷ XIX, nhiều sự kiện lịch sử đã ảnh hưởng lớn đến quyền TCTT, như sự sụp đổ của chủ nghĩa xã hội ở Liên Xô và Trung tâm thương mại thế giới Sự chuyển động mạnh mẽ của xã hội do sự xuất hiện của chủ nghĩa cộng sản và sự sụp đổ của chế độ độc tài đã dẫn đến nhu cầu cao hơn về dân chủ và chính quyền có trách nhiệm Các chính quyền đã đáp ứng yêu cầu này, như cựu tổng thống Nga Boris Yeltsin mở Cục lưu trữ xã hội và cựu tổng thống Mỹ Bill Clinton công khai nhiều thông tin bí mật hơn các người tiền nhiệm.
Trong thời kỳ hiện tại, 26 quốc gia như Nhật Bản, Bulgaria, Iceland, Nam Phi và Thái Lan đã thực thi các đạo luật bảo đảm quyền tiếp cận thông tin của công dân Sự ra đời của Liên hợp quốc đã nâng cao tầm quan trọng của quyền tiếp cận thông tin (TCTT) trên toàn cầu Tại phiên họp đầu tiên, Đại hội đồng Liên hợp quốc đã thông qua Nghị quyết số 59(1), khẳng định tự do thông tin là quyền con người cơ bản và là nền tảng cho các quyền tự do khác Quyền này cũng được ghi nhận gián tiếp trong Bản tuyên ngôn toàn thế giới về nhân quyền năm 1948.
9 http://comparativeconstitutionsproject.org/1795-dutch-declaration-of-rights-now-available-in-english/ (Truy cập ngày 06/05/2016).
10 http://www.freedominfo.org/regions/latin-america/colombia/ (Truy cập ngày (07/05/2016). 11Thomas Blanton (2002), The World’s Right to Know, Foreign Policy, tr.50.
Theo Điều 19 của Công ước này, công dân có quyền tự do tìm kiếm, tiếp nhận và chia sẻ thông tin mà không bị giới hạn Quyền này cũng được ghi nhận trong hai công ước quốc tế quan trọng là Công ước quốc tế về các quyền dân sự và chính trị, cùng với Công ước quốc tế về các quyền kinh tế, văn hóa và xã hội, xác nhận quyền tiếp cận thông tin là một trong những quyền cơ bản nhất Ngoài ra, quyền này còn được nhấn mạnh trong nhiều văn bản quốc tế khác như Công ước chống tham nhũng và Tuyên bố Rio về Môi trường Ở cấp độ khu vực, quyền tiếp cận thông tin được quy định trong các công ước bảo vệ nhân quyền tại Châu Âu và Châu Mỹ, cũng như trong các chương trình hành động chống tham nhũng tại khu vực Châu Á – Thái Bình Dương Tuy nhiên, việc ban hành luật về quyền tiếp cận thông tin ở khu vực này diễn ra chậm hơn so với các khu vực khác; Australia và New Zealand là những quốc gia đầu tiên có luật này, trong khi Nhật Bản ban hành Luật tự do thông tin vào năm 2000 Tại Đông Nam Á, chỉ có Indonesia và Thái Lan đã thông qua luật TCTT, trong khi các quốc gia như Campuchia, Myanmar, Philippines và Việt Nam đang nỗ lực xây dựng luật này.
Khu vực Trung Đông chỉ có Israel ban hành Luật tự do thông tin quốc gia, trong khi Jordan, Palestine, Morocco và Hy Lạp đang xem xét việc ban hành luật này Tại châu Phi, Uganda đã thông qua Luật tự do thông tin vào tháng 5/2005, và các nhà lãnh đạo Kenya cùng Nigeria cũng cam kết sẽ thực hiện điều tương tự.
13 TS Thái Thị Tuyết Dung (2016), Quyền tiếp cận thông tin của công dân ở Việt Nam, NXB.Đại học quốc gia TP.HCM, tr.89.
Trong tương lai gần, nhiều quốc gia châu Phi, đặc biệt là các thành viên khối thịnh vượng chung, đang xem xét ban hành Luật tiếp cận thông tin (TCCT) Quyền tiếp cận thông tin, được công nhận là một trong những quyền cơ bản của công dân, đã được ghi trong nhiều bản Hiến pháp toàn cầu Các quốc gia Bắc Âu như Thụy Điển, Phần Lan và Đan Mạch là những nước đầu tiên ban hành luật TCCT, với Phần Lan có Đạo luật công khai văn bản công năm 1951 và Đan Mạch có Luật tiếp cận hồ sơ quản lý công năm 1970 Ngoài ra, Hoa Kỳ và Hà Lan cũng đã có những văn bản liên quan đến quyền TCCT Tuy nhiên, đến năm 1990, chỉ có 13 quốc gia trên thế giới thông qua luật TCCT, cho thấy sự phát triển còn chậm so với các quyền con người khác.
Hiện nay, hơn 90 quốc gia đã ghi nhận và ban hành luật về quyền TCTT, với nhiều quốc gia khác đang trong quá trình xây dựng luật này Quyền TCTT được công nhận là một trong những quyền cơ bản của con người trong nhiều văn kiện quốc tế và hệ thống pháp luật của nhiều quốc gia Qua các giai đoạn lịch sử, nhu cầu ban hành luật TCTT ngày càng gia tăng; từ chỉ 13 quốc gia có luật này vào năm 1990, đến nay đã có hơn 90 quốc gia thông qua luật TCTT tính đến năm 2016.
Khi xem xét khái niệm quyền TCTT, mỗi quốc gia có quy định riêng phù hợp với hệ thống pháp luật của mình Tuy nhiên, tất cả các khái niệm này đều công nhận quyền TCTT là một quyền pháp lý quan trọng của mỗi cá nhân Như đã phân tích, hầu hết các khái niệm này tập trung vào thông tin do nhà nước nắm giữ, ít đề cập đến việc tiếp cận các loại thông tin khác.
Các quyền công dân liên quan đến thông tin bao gồm quyền tự do ngôn luận và tự do lập hội để tạo ra và truyền đạt thông tin, quyền kiểm soát truy cập thông tin của người khác như quyền riêng tư và sở hữu trí tuệ, cũng như quyền tiếp cận thông tin một cách công bằng và minh bạch.
14 http://www.freedominfo.org/documents/global_survey2006.pdf (Truy cập ngày 7/5/2016).
Quyền TCTT của công dân được xem là quyền cơ bản của con người vì các lý do sau:
Quyền tiếp cận thông tin (TCTT) được công nhận trong Hiến pháp và các văn bản pháp luật của từng quốc gia, với cá nhân là chủ thể chính trong mối quan hệ với nhà nước Nhà nước có trách nhiệm đảm bảo quyền này thông qua hệ thống pháp luật Mọi công dân, kể cả khi ở nước ngoài, đều có quyền tiếp cận thông tin, trong khi những người không phải công dân (như người không có quốc tịch và người nước ngoài) cũng có thể được đảm bảo quyền này, nhưng thường sẽ phải chịu nhiều hạn chế hơn.
Quyền tiếp cận thông tin (TCTT) là một quyền thiết yếu cho con người, giúp họ có cuộc sống tối thiểu Con người, với khả năng nhận thức, luôn có nhu cầu tìm kiếm và tiếp nhận thông tin Thông tin không chỉ cần thiết cho mỗi cá nhân mà còn hỗ trợ họ thực hiện các quyền khác Việc tiếp cận thông tin giúp con người bảo vệ quyền lợi và lợi ích của mình một cách hiệu quả.
Quyền tiếp cận thông tin (TCTT) được công nhận là quyền cơ bản của con người trong các văn kiện pháp lý quốc tế, là một phần quan trọng của quyền tự do thông tin thuộc nhóm quyền chính trị Quyền này được ghi nhận trong các công ước quốc tế như Tuyên ngôn thế giới về nhân quyền và Công ước quốc tế về các quyền dân sự, chính trị năm 1966.
Khái niệm và đặc điểm về quyền TCTT của người bị buộc tội trong TTHS
Khái niệm về quyền TCTT của người bị buộc tội trong TTHS
Trong Chương 1, tác giả đã khái quát về quyền TCTT và sẽ tiếp tục phân tích vấn đề này trong TTHS Bằng cách nghiên cứu các quy định pháp luật của các quốc gia, tác giả làm rõ những đặc điểm cơ bản của quyền TCTT của người bị buộc tội Điều này nhấn mạnh tầm quan trọng của việc bảo đảm quyền TCTT trong thủ tục TTHS để bảo vệ quyền lợi hợp pháp của người bị buộc tội.
Quyền tiếp cận thông tin (TCTT) là một quyền cơ bản của con người, cho phép mọi người có quyền truy cập vào thông tin, trừ khi bị giới hạn bởi pháp luật Quyền này được công nhận trong Hiến pháp nhiều quốc gia, yêu cầu nhà nước bảo vệ quyền lợi của công dân trong mọi lĩnh vực Nguyên tắc "suy đoán vô tội" khẳng định rằng không ai được coi là có tội cho đến khi có bản án hợp pháp, do đó, những người bị buộc tội trong lĩnh vực tố tụng hình sự cũng cần được bảo đảm quyền TCTT của mình Điều này đặc biệt quan trọng vì hậu quả của tố tụng hình sự có thể ảnh hưởng nghiêm trọng đến tính mạng và tự do của cá nhân.
Thủ tục tố tụng hình sự (TTHS) yêu cầu cơ quan tiến hành tố tụng (THTT) tuân thủ các nguyên tắc trong Bộ luật Tố tụng hình sự (BLTTHS) nhằm đảm bảo điều tra và xét xử hiệu quả, công minh Các nguyên tắc cơ bản của TTHS có mối liên hệ chặt chẽ với quyền của người bị buộc tội.
Nguyên tắc xét xử công bằng yêu cầu công dân phải được đảm bảo quyền lợi khi tham gia tố tụng, phản ánh trong học thuyết "tố tụng công bằng" (Due Process of Law) Mô hình này dựa trên sự bình đẳng và khách quan, yêu cầu bên bào chữa và bên buộc tội được đối xử công bằng Tất cả chứng cứ từ phía buộc tội phải được thông báo cho bên bào chữa để họ có thể bảo vệ quyền lợi của mình Các văn bản pháp lý về quyền con người cũng bảo vệ quyền được xét xử công bằng của người bị buộc tội, bao gồm quyền được thông báo về cáo buộc, thời gian chuẩn bị bào chữa, quyền tự bào chữa, trình bày chứng cứ, không phải tự buộc tội, và quyền kháng cáo Những nguyên tắc này được hình thành nhằm bảo vệ quyền lợi của người bị buộc tội, đặc biệt trong việc đảm bảo quyền bào chữa của họ.
Theo Tuyên ngôn thế giới về nhân quyền, 26 nguyên tắc cơ bản đã được thiết lập nhằm bảo vệ quyền lợi của cá nhân khi bị cáo buộc hình sự Những quyền này được thể hiện qua các điều khoản quan trọng như Điều 9, Điều 10 và Điều 11, nhấn mạnh sự cần thiết của một quy trình công bằng và minh bạch trong các vụ án hình sự.
Bài viết của TS Lương Thị Mỹ Quỳnh (2011) tập trung vào việc bảo đảm quyền có người bào chữa cho người bị buộc tội, so sánh giữa luật tố tụng hình sự của Việt Nam, Đức và Mỹ Nghiên cứu này được thực hiện tại Trường Đại học Luật TP.HCM và nhấn mạnh tầm quan trọng của quyền bào chữa trong hệ thống pháp luật.
28 TS Lương Thị Mỹ Quỳnh, tlđd, tr.31.
Nội dung của Công ước quốc tế về quyền dân sự và chính trị, cùng với các điều khoản trong Công ước nhân quyền Châu Âu, Châu Mỹ và Hiến chương Châu Phi, nhấn mạnh tầm quan trọng của quyền con người và quyền dân tộc, bao gồm các quyền cơ bản như quyền sống, quyền tự do và quyền tham gia vào đời sống chính trị Các điều 14 và 16 của Công ước quốc tế, cũng như các điều 5, 6, 3, 8, 9, 10 và 26 của các công ước khác, tạo ra một khung pháp lý vững chắc nhằm bảo vệ và thúc đẩy quyền lợi của mọi cá nhân và cộng đồng.
30 TS Lương Thị Mỹ Quỳnh, tldd, tr.33.
Nguyên tắc tranh tụng là một nguyên tắc quan trọng, xuất phát từ nguyên tắc xét xử công bằng, nhằm bảo đảm quyền lợi cho người bị buộc tội trong thủ tục tố tụng hình sự Nguyên tắc này đảm bảo rằng các bên, bao gồm bên buộc tội và bên bào chữa, được đối xử công bằng trong việc thu thập và trình bày chứng cứ Việc áp dụng mô hình tố tụng tranh tụng không chỉ tạo điều kiện cho sự tham gia của người bào chữa mà còn yêu cầu cung cấp thông tin cần thiết để đảm bảo tính công bằng trong phiên tòa.
Nguyên tắc suy đoán vô tội quy định rằng không ai bị coi là có tội cho đến khi có bản án kết tội chính thức Điều này bảo đảm quyền lợi của cá nhân trong quá trình xét xử và phản ánh nguyên tắc công bằng trong hệ thống pháp luật.
Tòa án có hiệu lực pháp luật, và người bị tình nghi, bị can, bị cáo không có nghĩa vụ chứng minh sự vô tội của mình; trách nhiệm chứng minh tội phạm thuộc về các cơ quan tố tụng Mọi nghi ngờ trong quá trình chứng minh tội phạm phải được giải thích có lợi cho người bị tình nghi, bị can, bị cáo nếu không được loại trừ theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự Điều này cho thấy rằng người bị buộc tội vẫn được coi là vô tội cho đến khi có bản án hoặc quyết định kết tội từ Tòa án có thẩm quyền, do đó, họ cần được xem như công dân với các quyền cơ bản, bao gồm quyền được bảo vệ quyền lợi hợp pháp.
Nguyên tắc bảo đảm quyền bào chữa là yếu tố quan trọng giúp người bị buộc tội tiếp cận với người bào chữa (NBC), từ đó nâng cao khả năng bảo vệ quyền lợi hợp pháp trong vụ án hình sự NBC, với kiến thức pháp lý vững vàng, có khả năng phát hiện sai phạm trong quá trình tố tụng, giúp người bị buộc tội có được thông tin cần thiết về điều tra, truy tố và xét xử Nhiều quốc gia quy định NBC có quyền tiếp xúc với tài liệu và hồ sơ vụ án, tạo điều kiện thuận lợi hơn cho việc bào chữa Việc đảm bảo quyền tiếp cận chứng cứ và tài liệu liên quan sẽ hỗ trợ người bị buộc tội trong việc bảo vệ mình trước các cáo buộc Do đó, việc các cơ quan tố tụng hình sự thực hiện nguyên tắc có NBC không chỉ bảo đảm quyền bào chữa mà còn bảo vệ quyền tiếp cận thông tin của người bị buộc tội.
Trong hệ thống TTHS của nhiều quốc gia, quyền TCTT của người bị buộc tội được quy định cụ thể Tại Italia, BLTTHS quy định quyền được thông tin cho người bị tình nghi tại các Điều 369 và 345, bao gồm thông báo bảo đảm, quyền bào chữa và kết thúc giai đoạn điều tra Người bị tình nghi phải được thông báo về các hoạt động điều tra sắp tới, quyền có luật sư, và thông tin liên quan đến vụ án Thông báo về quyền bào chữa phải được gửi ngay khi quyền này phát sinh, nêu rõ các quyền của bên bào chữa Khi kết thúc điều tra, công tố viên phải thông báo cho người bị tình nghi và luật sư về việc này, bao gồm mô tả các tình tiết và quyền truy cập hồ sơ vụ án Nếu không thực hiện nghĩa vụ thông báo, thẩm phán có thể tuyên bố vô hiệu tội danh của công tố viên.
Trong lĩnh vực tố tụng hình sự, việc đưa vào hồ sơ thông tin không hợp lệ sẽ dẫn đến việc phải quay lại giai đoạn điều tra, và công tố viên phải thông báo hợp pháp cho bị cáo về những thông tin chưa được tiết lộ Tại Hoa Kỳ, quyền tiếp cận thông tin của bị can được thể hiện qua quy tắc Miranda, yêu cầu công tố viên tiết lộ bất kỳ bằng chứng tiềm năng nào có thể có lợi cho bị can Vụ Brandy kiện Bang Maryland đã xác định nghĩa vụ của công tố viên trong việc cung cấp thông tin có thể làm giảm tội hoặc ảnh hưởng đến án phạt Ở Nga, quyền tiếp cận thông tin cũng được bảo đảm khi bị cáo có cơ hội xem xét hồ sơ vụ án sau giai đoạn điều tra sơ bộ Tại các quốc gia khác, quyền có luật sư bào chữa đóng vai trò quan trọng trong việc đảm bảo quyền tiếp cận thông tin cho người bị buộc tội, theo quy định của luật tố tụng hình sự.
32 TS.Tô Văn Hòa (chủ biên), tlđd, tr.237.
34 Vụ Brandy kiện Bang Maryland 373 U.S 83, 87 (1963).
35 Vụ Giglio kiện Hoa Kỳ, 405 U.S 150, 153-55 (1972).
Theo Điều 215 – 220 của Luật tố tụng hình sự CHLB Nga, nghi phạm có quyền thuê luật sư sau khi bị truy tố, và viện kiểm sát có trách nhiệm thông báo cho họ về quyền này Trong giai đoạn này, luật sư có thể tra cứu và sao chép tài liệu tố tụng cũng như liên lạc với nghi phạm Tương tự, Luật TTHS Nhật Bản cũng quy định rằng sau khi bị truy tố, bị cáo có quyền tự do gặp gỡ luật sư để chuẩn bị bào chữa Luật sư được trao quyền hạn rộng rãi để thực hiện các hành vi tố tụng cho bị cáo hoặc người bị tình nghi, điều này cho thấy tầm quan trọng của luật sư trong việc tiếp cận thông tin của người bị buộc tội.
Quyền TCTT của người bị buộc tội trong TTHS đã được xác nhận trong nhiều văn bản pháp lý trên thế giới, nhằm tuân thủ các nguyên tắc cơ bản của TTHS được công nhận rộng rãi Phân tích cho thấy quyền này được thể hiện qua các nội dung quan trọng sau đây.